|
VIỆC ĐỘ VONG
TRONG KITÔ GIÁO VÀ PHẬT GIÁO(tt)
Những
điểm tương đồng
• Điểm căn bản nhất là cả hai tôn giáo đều cho rằng các tín đồ
còn sống đều có thể cứu độ những vong linh quá cố.
•
Những đau khổ sau khi chết đều là kết quả của những việc làm sai
trái, không hoàn hảo của đương sự khi còn sống. Vì điều thiện
sinh quả lành là hạnh phúc, điều dữ sinh quả dữ là đau khổ.
•
Mỗi năm, cả hai tôn giáo đều có một ngày lễ đặc biệt để tưởng
nhớ và cứu độ người quá cố, thậm chí dành ra cả tháng để làm công
việc này.
•
Việc cầu nguyện của Kitô hữu, hay việc chú nguyện của Phật tử
để độ vong có hữu hiệu hay không thì tùy thuộc vào lòng thành
tâm, sự trong sạch, thánh thiện hay mức độ tu luyện tâm linh của
tín hữu còn sống. Và nhiều người cùng họp nhau cầu nguyện hay
chú nguyện thì việc độ vong có kết quả hơn.
•
Việc độ vong trong cả hai tôn giáo đều được coi là bổn phận của
những người còn sống, để tỏ lòng thảo hiếu đối với ông bà cha
mẹ cũng như cửu huyền thất tổ, để tỏ lòng biết ơn đối với các
ân nhân, và lòng từ bi bác ái đối với những vong linh khác, nhất
là những vong linh mồ côi.
Những
điểm dị biệt
• Theo Phật giáo, mọi việc lành dữ của con người đều gây ra những
hậu quả tốt xấu theo định luật tự nhiên trong vũ trụ, không có
ai xét xử hay luận phạt cả. –– Còn theo Kitô giáo, Thiên Chúa
là Đấng xét xử mọi việc làm và thưởng phạt công bằng. Như thế,
một đằng chỉ có định luật tự nhiên tác động một cách máy móc,
một đằng là có Đấng cầm cân nảy mực.
•
Kitô giáo quan niệm chỉ có hai «đời»: đời này và đời đời (vĩnh
cửu). Đối với những người tốt lành nhưng chưa hoàn hảo thì còn
một giai đoạn trung gian để chịu những đau khổ thanh luyện. Việc
độ vong chỉ nhắm đối tượng là những người này, chứ không độ vong
cho những người đã hưởng mặt Chúa hay vĩnh viễn phải xa lìa Chúa.
–– Còn Phật giáo quan niệm có vô số kiếp liên tục tiếp theo nhau,
không có giai đoạn trung gian (15). Trừ những người tu giải thoát
hay thành Phật, tất cả mọi người đều phải đầu thai lại vào một
trong sáu nẻo của lục đạo. Việc độ vong chỉ nhắm tới những người
đang đau khổ từ kiếp người trở xuống. Không có một sinh linh nào
đáng thất vọng vì bị hư mất đời đời đến nỗi không độ vong được.
•
Việc độ vong của Phật giáo là dùng sức mạnh tinh thần của việc
chú nguyện để ảnh hưởng trực tiếp tới tâm địa của những người
đang bị đau khổ trong kiếp sau của họ, hầu trợ thêm sức lực tâm
linh cho họ để họ thay đổi tâm địa từ xấu thành tốt. Nhờ vậy họ
thay đổi được số phận. Như vậy cũng là áp dụng những định luật
tâm linh vốn tác động một cách máy móc để đạt mục đích. Người
sống cũng có thể nhờ những người khác có nhiều năng lực tinh thần
hơn càng đông càng tốt để chú nguyện thay cho mình. Những
người khác đó có thể là những người đang cùng sống với mình, mà
cũng có thể là những vị Phật hay Bồ Tát hoặc đang ở một cõi nào
đó hoặc đang hiện thân làm người đồng thời với mình. Việc cầu
siêu chính là nhờ những vị «thánh» ấy chú nguyện dùm. –– Còn người
Kitô hữu dùng lời cầu nguyện, những việc đạo đức, những việc thiện,
sự hy sinh hãm mình, và nhất là dâng thánh lễ hay xin lễ để cầu
xin Thiên Chúa, hoặc gián tiếp nhờ các thánh cầu bầu cùng Chúa.
Thiên Chúa sẽ tác động tới các linh hồn đang thanh luyện cách
nào đó để họ vẫn trở nên hoàn hảo xứng đáng hưởng hạnh phúc bên
Thiên Chúa, nhưng được giảm phần đau khổ do thanh luyện. Mọi sự
đều hoàn toàn tùy thuộc vào tình thương của Thiên Chúa chứ không
theo định luật tự nhiên nào tác động cách máy móc cả. Người sống
không thể tác động trực tiếp tới các linh hồn được.
Để
kết luận
Việc độ vong trong Kitô giáo và Phật giáo có những nét tương đồng
và dị biệt: tương đồng ở những nét rất căn bản, còn khác biệt
ở những nét phụ thuộc. Cả hai bên đều tin tưởng rằng chết không
phải là hết, mà là bước vào một cuộc sống khác. Cả hai đều nói
lên sự liên hệ giữa người sống và người chết. Người còn sống và
người đã chết tuy sống trong hai cảnh giới khác biệt, nhưng vẫn
có thể lo lắng cho nhau, biểu lộ tình yêu thương, sự quan tâm
lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, làm lợi cho nhau.
Chính
nhờ niềm tin ấy, mà trong tâm tư người còn sống, thì người đã
chết dường như vẫn sống, vẫn hiện diện một cách nào đó bên người
sống. Vì thế, người còn sống nhiều khi vẫn nói chuyện với người
đã khuất, và tin tưởng rằng người đã khuất kia vẫn nghe được lời
của họ. Nhiều người chết đã lâu, cả hàng mấy chục năm, nhưng người
sống vẫn luôn luôn nhớ tới trong kinh nguyện, trong lời nguyện
cầu. Nhờ vậy mà người chết vẫn cứ sống mãi trong lòng người còn
ở lại trần thế. Chính tình yêu giữa người sống và người chết đã
làm được như thế.
Chỉ
có sự quên lãng, do thiếu tình yêu, hay do tình yêu quá phai lạt
của người còn sống đối với người đã chết, mới làm cho người chết
chết thật sự. Nghĩa là làm cho người chết không còn hiện diện
trong tư tưởng của người sống nữa. Vì thế, sự hờ hững, quên lãng
của người còn sống đối với người đã khuất khiến cho người chết
chết thêm một lần nữa.
Chú
thích
(1) Độ vong: cứu những linh hồn đã quá cố đang đau khổ vì hình
phạt.
(2) DS 856/464.
(3) Xem DS 1580 / 840; 1620 / 983; 1867 / 998, v.v...
(4)
Tạm gọi như thế. Thật ra, Thiên đàng, luyện ngục hay hỏa ngục
không phải là những nơi hiểu theo nghĩa không gian vật lý cho
bằng là những tình trạng tâm linh hoặc tâm lý. Chẳng hạn Thiên
Đàng là tình trạng tâm linh hoàn toàn hạnh phúc, không còn một
chút đau khổ, của những tâm hồn hoàn hảo, thánh thiện, còn Hỏa
Ngục là tình trạng tâm linh hết sức đau khổ của những tâm hồn
độc ác, xấu xa, ích kỷ...
(5) Đức Innôcentiô IV (1243-1254)và Đức Clêmentê VI (1342-1352).
Lửa ở đây là lửa mầu nhiệm, vừa là vật chất vừa là tinh thần,
vì có thể vừa đốt được thân xác mà vừa đốt được cả linh hồn.
(6) Xem DS 1488 / 778.
(7) Xem DS 1753 / 950.
(8) Xem DS 1743 / 940.
(9) Xem DS 1820 / 693.
(10) Xem DS 856 / 464.
(11) Nguyên nghĩa là quỉ đói.
(12) Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Phật Đạo (phẩm 8) nói rõ điều đó.
(13) An cư kiết hạ: là thời gian Phật qui định cho chư tăng ở
mỗi địa phương phải hội về một nơi thuận tiện để chuyên tu mỗi
năm, từ 16-4 đến 15-7 âm lịch. Tương tự như tĩnh tâm, cấm phòng,
hay linh thao bên Kitô giáo.
(14) Chú nguyện: (chú: chú ý, tâp trung tư tưởng hay năng lực
tinh thần vào việc gì; nguyện: cầu mong, ước muốn) Khác với cầu
nguyện ở bên Kitô giáo, chú nguyện là tập trung hết năng lực tinh
thần của mình để ước muốn điều gì, năng lực được tập trung lại
đó nếu đủ có thể làm biến chuyển, thay đổi tình thế. Đây là vấn
đề sức mạnh của tư tưởng mà các nhà tâm lý học hiện đại đều công
nhận.
(15) Tuy nhiên, cũng có những giáo phái Phật giáo tin có giai
đoạn trung gian giữa lúc chết và lúc đi đầu thai. Giai đoạn này
lâu hay mau tùy theo từng trường hợp.
Nguyễn
Chính Kết
|