dongcong.net
 
   
 
 
 

 

 

 
Các Thánh Tử Đạo Việt Nam
 
     
<<<    

Tĩnh tâm trước lễ các thánh tử đạo Việt nam

CHỨNG NHÂN TRONG KINH THÁNH

I.- Truyền thống Luca
Ngoài Tin Mừng IV, Sách Công vụ tông đồ là quyển sách thuộc bộ Tân Ước trong đó từ "chứng nhân" (martys) và các từ phái sinh (làm chứng, martyreô; chứng tá, martyria; chứng từ, martyrion) được sử dụng nhiều nhất: 29 lần. Lý do: Đây là tác phẩm viết về việc làm chứng.

Không được lẫn lộn từ "chứng nhân" (martys) với "mục chứng" (autoptês, eyewitness) của hy ngữ cổ điển (và chính tác giả Luca có dùng, Lc 1,2). Vai trò của một autoptês khá thụ động, với lại vai trò này chỉ là một tình trạng thực tế : một autoptês được may mắn chứng kiến một biến cố nào đó, nên nếu cần phải làm hoặc toà án buộc làm, người ấy có thể trình bày những gì mình đã được thấy, như mình đã thấy, bằng mắt. Còn "chứng nhân" (martys) có một vai trò tích cực hơn nhiều, có một sứ mạng phải hoàn tất: đó là không những công khai trình bày những gì mình đã chứng kiến, mà còn xác định ý nghĩa, tầm mức của biến cố ấy nữa. Là người đã đi qua biến cố, chứng nhân trở thành người tuyên cáo sứ điệp được hàm chứa trong biến cố ấy. Câu truyện tuyển chọn Mátthia thay thế cho Giuđa minh họa điểm phân biệt này (x. Cv 1,15-26). Trong thực tế, ta khó mà hiểu được vì sao lại phải đi tới một cuộc tuyển chọn, thậm chí một sự chuẩn nhận, để cắt đặt một chứng nhân, nếu người này chỉ cần một điều kiện là hiện diện bằng thể lý tại một biến cố thuộc quá khứ. Trái lại, ta hiểu là quả thật, cần phải có một cuộc tuyển chọn (ở đây là "rút thăm"), nếu vai trò của người được tuyển vượt quá công việc giới hạn là kể lại biến cố, nếu cùng với việc công bố biến cố, người ấy còn phải biết minh giải đúng đắn biến cố ấy. Vậy các chứng nhân mà truyền thống Luca nói tới (các tông đồ: Lc 24,48; Cv 1,8.21-22; 10,41; 13,31; Têphanô: Cv 22,20;  Phaolô: Cv 26,26) là những nhà thần học về các hoạt động cứu chuộc của Thiên Chúa. 

II.- Truyền thống Gioan
Với thánh Gioan, từ ngữ "chứng nhân" có một giá trị đặc biệt. Theo một nghĩa có một không hai, Đức Giêsu là chứng nhân về sự thật (Ga 18,37), về những gì Người đã thấy và đã nghe nơi Chúa Cha (Ga 3,11.32t). Gioan Tẩy Giả, các công việc Đức Giêsu làm, chính Chúa Cha, đó là nền tảng Đức Giêsu dựa vào để làm chứng (Ga 5,19-47). Nếu không nhận lời chứng này, ta biến Thiên Chúa thành kẻ nói dối (1 Ga 5,9-11). Ở trong lòng người tín hữu, Thánh Thần làm chứng cho Đức Giêsu (Ga 15,26), về tư cách của Người là Con Thiên Chúa và về sự công chính của Người (Ga 16,8-11). Gioan đã bắt gặp những khẳng định của Phaolô (Rm 8,16) và thư Do-thái (Dt 10,15).
Còn sách Khải huyền thì tóm tắt bằng cách gọi Đức Giêsu là "Chứng nhân trung thành" (Kh 1,5; 3,14). Chứng tá tối hậu là chứng tá bằng máu (x. Kh 11,3-12): khi đó chứng nhân được liên kết vào định mệnh của Đấng mà mình làm chứng cho (Kh 2,13; 17,6; 22,20).
FX Long, ofm, tổng hợp

CÁC CHỨNG NHÂN TRÊN QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM
I.- Đôi nét lịch sử
Ngày 19-6-1988, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã tôn phong hiển thánh 117 chứng nhân tử đạo Việt Nam. Đó là các vị đã từng được tôn phong chân phước trong bốn đợt: Năm 1900, Đức Lêô XIII tôn phong 64 vị; năm 1906, Đức Piô X tôn phong 8 vị; năm 1909, cũng chính ngài tôn phong 20 vị; năm 1912, Đức Piô XII tôn phong 25 vị. Trong số 117 vị, có 8 giám mục, 50 linh mục, 16 thày giảng, 1 chủng sinh và 42 giáo dân.
Hồ sơ phong thánh đặc biệt chú ý đến các tên tuổi sau đây:
- Người Việt Nam: Thánh Anrê Dũng Lạc, linh mục (+1839), thánh Tôma Trần Văn Thiện, chủng sinh (+1838), thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh, linh mục (+1857), thánh Emmanuen Lê Văn Phụng, giáo lý viên và cha gia đình (+1859).
- Người ngoại quốc: Các tu sĩ Đa-minh người Tây-ban-nha thuộc Tỉnh Dòng Mân Côi: thánh Giêrônimô Hécmôxila Liêm, giám quản tông tòa địa phân Đông đàng ngoài (+1861), thánh Valentinô Beriô Ôchoa, giám mục (+1861) và một vị người Pháp thuộc Hội Thừa Sai Paris (MEP), thánh Têôphan Vêna (+1861).

II.- Gương chứng nhân
A.- Biết chết cho một lý tưởng siêu việt
1.- Không làm tổn thương truyền thống cao quí của dân tộc
Khi rao giảng hoặc sống niềm tin Kitô giáo, các chứng nhân của chúng ta không những không đi ngược lại truyền thống của dân tộc, mà còn củng cố truyền thống đó khi thanh lọc khỏi truyền thống ấy những gì là mê tín dị đoan. Chẳng hạn cha ông ta tin vào "Ông Trời", "thiên mệnh". Chính "Ông Trời" ấy đã được nhắc tới và tôn dương trong bài giáo lý hoặc giờ cầu nguyện của người tín hữu. Các chứng nhân giảng giải cho rõ hơn: vị Thượng Đế ấy là ai, đã làm những gì cho loài người chúng ta… Các ngài cũng đưa tình huynh đệ đại đồng tới chỗ yêu thương vô vị lợi, tha thứ không cùng, do đón nhận tình yêu của chính Thiên Chúa vào lòng. Thánh Carôlô Tân (= Gioan Carôlô Cornay, người Pháp) đã thưa: "Chúng tôi chỉ chuyên lo giảng đạo, khuyên người ta ăn ngay ở lành, dạy con cái thờ cha kính mẹ, kêu gọi thần dân vâng phục vua quan. Thế thì tôi đâu có thể đi ngược lại giáo huấn của mình mà chống nhà vua được?" hoặc, như thánh Phaolô Khoan: "Chúng tôi không phạm tội ác, không chống lệnh vua, không lỗi luật nước. Chúng tôi chết chỉ vì là Kitô hữu".
Các ngài đã phải chết, vì  dám tuân theo Thiên Chúa hơn vua. Các ngài đã chết vì đã hùng hồn xác định rằng phải tôn thờ Đấng Tối Cao và sẵn sàng hy sinh cả mạng sống để trung thành với niềm tin. Thánh Têôphan Vêna: "Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hóa đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua?", hoặc thánh Anrê Thông: "Thà tôi bị lưu đày và phải chết vì Chúa, chứ tôi không chối đạo".

2.- Không bỏ cha mẹ
Người ta gán cho các ngài tội dạy người ta bất hiếu. Thánh Phêrô Quý đã nói: "Dù trăng trói, gông cùm tù rạc, chén ngục hình xiềng tỏa chi nề, Miễn vui lòng cam chịu một  bề cho trọn đạo trung thần hiếu tử", hoặc thánh Carôlô Tân, như đã nói trên. Thật ra, các ngài đã đặt gia đình vào đúng chỗ của nó, và đã truyền vào trong gia đình một  tinh thần mới, đó là tình yêu phổ quát, lấy từng con người làm đối tượng, lấy Thiên Chúa Ba Ngôi làm kiểu mẫu. Chúng ta cứ nghe lời thánh Simon Phan Đắc Hòa nói với các con: "Cha yêu thương và hằng săn sóc các con, nhưng cha phải yêu Chúa nhiều hơn nữa".

3.- Không làm tay sai cho ngoại quốc
Nếu tính từ 1615 là năm mà Sử VN ghi lại rằng giáo sĩ đầu tiên đã tới đất Ninh Cường (= Bùi Chu) cho đến đầu thế kỷ XIX, thì đạo công giáo đã có tới 300 năm lịch sử. Thế mà mãi đến hậu bán thế kỷ XIX, đất nước mới bị người Pháp chiếm. Theo những biên bản còn lưu lại, các vị tử đạo nhất mực chối tất cả những bỏ vạ cáo gian về phương diện chính tri. Như thánh Phaolô Khoan: "Chúng tôi không phạm tội ác, không chống lệnh vua, không lỗi luật nước. Chúng tôi chết chỉ vì là Kitô hữu". Trong số những nguyên nhân đưa đến mất nước, ông Trần Trọng Kim kể ra lòng tàn bạo của giới cầm quyền thời ấy, bất chấp chữ nhân của cha ông, cũng như sự thiển cận của họ (chẳng hạn Tổng đốc Trịnh Quang Khanh đã coi nước Pháp không bằng tỉnh Nam Định của ông!). Không ai quên rằng người dâng sớ lên nhà vua để xin cải cách quốc gia là ông Nguyễn Trường Tộ, một  người công giáo. Các ngài chết chỉ vì một  lý tưởng: "Ai khôn mới biết hiến mình cho chân lý, để chiếm hữu phần gia nghiệp muôn đời" (thánh Phêrô Truật).

B.- Biết chết một cách  sáng suốt, như một chọn lựa tự do
Các ngài không tự mình đi tìm cái chết, vì đó là tự tử: "Chúng tôi không được tự vẫn vì đó là trọng tội. Nhưng nếu vì đạo mà quan truyền giết tôi, thì tôi vui mừng khôn kể xiết" (thánh Inhaxiô Y).Theo lời dạy của Thầy chí thánh, các môn đệ Người không tự phụ, coi rẻ sự sống. Các ngài vẫn sợ chết; các ngài vẫn muốn sống như ai. Thánh Vinhsơn Liêm đã tuyên bố: "Nếu vua quan tha cho, thì chúng tôi thành thực cám ơn." Nhưng các ngài muốn sống là để phụng sự Thiên Chúa, để tiếp tục giữ đạo, chứ không phải trong thân phận phản bội niềm tin: "Tôi đã suy xét kỹ, và tin nhận đạo Thiên Chúa là đạo thật, nên tôi không chối bỏ bao giờ" (Thánh Micaen Mỹ).
Nếu trốn tránh mà vẫn bị bắt, các ngài bình thản đi theo lý hình, đến trước mặt quan quyền. Ở đây các ngài đã nói lên chọn lựa ý thức và tự do: "Thân xác tôi ở trong tay quan, quan muốn làm khổ thế nào tùy ý. Nhưng linh hồn tôi là của Chúa, không có gì khiến tôi hy sinh nó được" (thánh Phaolô Tịnh). Khi nghe thánh Giaxintô Castaneda bị xử vì là người ngoại quốc, còn mình được  tha về, thánh Vinhsơn Liêm đã nài xin cho được theo chân bạn, để cũng lấy máu đào tưới vườn nho Giáo Hội VN.

C.- Biết chết với một quả tim vững niềm tin cậy và yêu thương
Các ngài đã chấp nhận chết, không phải vì các ngài cuồng tín, cũng không phải vì các ngài đầy ơn Chúa như một chất thuốc mê hay thuốc tê làm cho các ngài không còn cảm thấy đau đớn gì !  Các ngài đã can đảm chết vì  tin vào Chúa: "Vinh danh chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa là Chúa Cả trời đất. Chúng con xin dâng mạng sống cho Ngài" (thánh Phaolô Khoan). Các ngài tin vào Thiên Chúa là Đấng toàn năng đã tạo dựng nên mình, thì cũng có thể tái tạo mình.  
Các ngài dám chết, vì cậy trông vào Chúa: "Đức Kitô không chỉ nhìn tôi chiến đấu, mà chính Người đang chiến đấu và chiến thắng" (thánh Phaolô Tịnh). Các ngài tin Thiên Chúa có toàn quyền trên mình mà lại yêu thương mình, thì mình hoàn toàn có thể cậy dựa nơi Người.   
Các ngài sẵn sàng chết trong tình yêu và vì  tình yêu: "Cha yêu thương và hằng săn sóc các con, nhưng cha phải yêu Chúa nhiều hơn nữa. Chúa đã muốn cha chịu khổ hình, cha xin vâng ý Người cho trọn" (thánh Simon Hòa). Các ngài nhận thức rằng Thiên Chúa đã yêu thương mình đến nỗi ban tặng chính Con Một của Người, không tiếc gì với mình, thì giờ đây các ngài dùng cái chết như một lời bày tỏ lòng cảm mến ân tình bao la đó.

Lạy các thánh Tử Đạo Việt Nam,
các ngài đã dám sống đến cùng ơn gọi Kitô hữu
trong một hoàn cảnh khó khăn nguy hiểm.
Sự hy sinh của các ngài
cho thấy tình yêu mạnh hơn sự chết
và chết là cửa mở vào cõi sống bất diệt.
Dù mang phận người yếu đuối,
nhưng nhờ ơn Chúa đỡ nâng,
các ngài đã chiến thắng khải hoàn.
Xin cầu cho chung con là con cháu các ngài
biết can trường sống đức tin của bậc cha anh
trong một thế giới vắng bóng Thiên Chúa,
biết nhiệt thành làm chứng về tình yêu
bằng một đời hiến thân phục vụ.
Ước gì ngọn lửa đức tin
mà các ngài đã thắp lên
bằng cuộc sống và cái chết,
được bừng tỏa trên Tổ quốc Việt Nam.
Ước gì máu thắm của các ngài
thấm vào mảnh đất quê hương
để công cuộc truyền giáo sinh nhiều hoa trái.


FX Long, ofm, tổng hợp

 

<<<    

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)