dongcong.net
 
   
 
 
 
 

 

 
Chứng Nhân Chúa Kitô
 
 
Biên soạn: Rev. John, CMC
 
<<<    

 

Thánh Gabriel Possenti 

Người con cưng của Mẹ Đau Thương. (1838-1862)

     Lúc còn niên thiếu, Phanxicô Possenti đã tận hưởng các thú vui của trần gian.  Nhưng khi được sự hướng dẫn của Mẹ Maria, chàng đã vào Dòng Thương Khó và trở nên một tông đồ của Mẹ Đồng Công.

     Bề ngoài, cuộc đời Phanxicô xem ra không có gì lạ, và sự thánh thiện của Phanxicô chỉ bao gồm trong việc yêu mến, và trung thành với đời hy sinh cầu nguyện. Tất cả những điều đó đã được thể hiện với một tâm hồn thật vui tươi. Khi còn sống, Phanxicô đã không làm phép lạ nào, nhưng sau cái chết anh hùng của Phanxicô, mộ của ngài đã biến thành một nơi hành hương và nhiều lời cầu xin đã được chấp nhận. Sau khi Phanxicô được tôn phong lên bậc Hiển Thánh vào năm 1920, Đức Thánh Cha Beneđictô XV đã đặt Thánh Gabriel làm bổn mạng của giới trẻ Công Giáo.

     Là người đồng hương với Thánh Phanxicô Nghèo, Phanxicô Possenti chào đời năm 1838 tại Assisi, Ý, và là con thứ 11 trong 13 người con của một công chức.

     Khi Phanxicô được 4 tuổi, bà thân mẫu đã qua đời vì bệnh phổi. Trên giường hấp hối, mỗi người con của bà đã đến hôn bà để giã từ. Khi đến lượt Phanxicô, mẹ em đã nói, "Con nhỏ của mẹ, xin Đức Mẹ gìn giữ con".  Ngày hôm sau, trong khi Phanxicô khóc thương mẹ, chị của em là Maria Luy đã vỗ về em và hứa sẽ thay mẹ chăm sóc em. Người chị này đã giữ lời hứa đó cho đến khi chị chết sớm vì bệnh dịch tả vào năm 1855. Chị đã giúp ba để coi sóc nhà cửa và giúp các em trong việc giáo dục, nhất là việc dạy giáo lý. Hơn mọi điều khác, cái chết của người chị mến thương này đã khiến cho Phanxicô hiểu được mục đích của cuộc sống con người trên trần gian này. Sau biến cố ấy, Phanxicô đã quyết định muốn làm linh mục. Chàng đã xin sự trợ giúp của người Mẹ trên trời và xin Mẹ soi sáng cho chàng biết phương thế nào tốt nhất để đạt được ơn gọi này.

     Vì cơn dịch tả năm 1855 quá dữ dội, nên dân thành Spoleto đã phải xin ơn trợ giúp của trời cao. Họ đã xin Đức Tổng Giám Mục ban phép lành cho họ bằng bức ảnh Đức Mẹ Byzantine mà truyền thuyết cho rằng chính Thánh Luca là tác giả. Trong khi ban phép lành, Đức Tổng Giám Mục đã thay dân để hứa với Đức Mẹ là sẽ tổ chức cung nghinh Mẹ hằng năm nếu cơn dịch tả chấm dứt. Quả thật, từ khi phép lành được ban, không còn ai bị chết và cũng không ai mắc phải chứng bệnh này nữa.

     Một năm sau, trong khi cung nghinh Mẹ như lời đã hứa, Phanxicô đã quì trong đám đông để tôn vinh Đức Mẹ. Trong khi cuộc rước đi ngang qua chỗ Phanxicô đang quì, chàng nghe thấy một tiếng nói từ sâu thẳm linh hồn của chàng, "Phanxicô, tại sao con còn ở thế gian?  Nơi đó không dành cho con. Hãy theo đuổi ơn gọi của con!"  Lúc đó, Phanxicô đang theo lớp 12 tại trường các cha Dòng Tên. Được ơn soi sáng của Đức Mẹ, chàng đã xin thân phụ cho phép vào Dòng Thương Khó. Nhưng cũng như những lần trước, thân phụ chàng đã từ chối. Sau nhiều lần thảo luận về vấn đề này, bề ngoài xem ra ông phải chiều theo ý chàng, nhưng trong thực tế ông vẫn cố gắng làm chàng đổi ý. Ông cũng nhờ một số họ hàng thân quyến thuyết phục chàng bỏ ơn gọi.

     Lần trước, khi Phanxicô xin phép thân phụ để vào Dòng Thương Khó, ông đã thẳng thắn từ chối và vấn đề đã được tạm thời gác qua một bên. Vì lòng thảo hiếu và kính phục đối với ông thân sinh, Phanxicô tạm gác lại ý định đi tu, và tiếp tục cho xong chương trình trung học. Lúc ấy, 7 trong số 13 người con của gia đình Ông Possenti đã qua đời. Trong 6 người còn sống, một người đã làm linh mục, một lập gia đình, và hai người đang đi học ở xa. Thân phụ của Phanxicô, lúc này đã ngoài 60 tuổi, muốn giữ hai người con còn lại ở nhà bao lâu có thể. Vì tính tình cởi mở và trí khôn thông minh, ông có nhiều chương trình cho chàng. Thêm vào đó, ông cảm thấy đời tu sĩ Dòng Thương Khó quá khắc khổ đối với người con mà ông biết rằng rất ham thú vui trần tục. Tu sĩ Dòng Thương Khó phải sống một cuộc đời chiệm niệm nghiêm nhặt trong khi làm việc tông đồ. Cuộc sống đó chắc chắn sẽ đòi Phanxicô phải hy sinh tất cả những gì chàng đang được hưởng.

     Sau lần xin đầu tiên đó, Phanxicô tiếp tục cuộc sống bình thường. Là một học sinh ưu tú, Phanxicô đã được chọn để đọc bài diễn văn mãn khoá. Chàng thích săn bắn và cũng là một tay thiện xạ. Chàng thích cưỡi ngựa và khiêu vũ. Chàng thích các thiếu nữ và cố gắng để được khiêu vũ với các cô, nhiều bao nhiêu có thể. Ngoài ra, chàng cũng biết ăn diện, và mái tóc chàng luôn được chải chuốt đàng hoàng.

     Đôi khi chàng cũng thích làm trò hề, vì chàng thấy nhờ đó có thể đem nụ cười đến cho các bạn. Vì khả năng này, Phanxicô có rất nhiều bạn. Chàng thường cùng với các bạn tham dự các buổi nhạc kịch và làm thơ.

     Lúc còn nhỏ tuổi, Phanxicô cũng tham dự trong nhiều cuộc phá phách liều lĩnh. Trong một lần vật lộn, Phanxicô đã bị đối phương đánh cho dập mũi. Là thành viên của một "đảng" gọi là Lãnh Chúa thành Spoleto, chàng đã cùng với chúng bạn làm nhiều chuyện động trời. Đáng kể nhất là có lần cả bọn cưỡi ngựa vào thành phố, rồi để cho ngựa đá lên cửa nhà người ta. Cùng với bọn họ, chàng cũng lén hút thuốc, cờ bạc, và nhiều khi cũng cá tiền khiến cho cuộc vui trở nên thật là náo nhiệt.

     Về đường tình ái, vì đã có ước vọng đi tu, nên tuy tính tình ham vui chơi, chàng cũng không đeo đuổi một bóng hồng nào. Trong đám bạn bè giao tiếp, có cô Maria Pannechetti rất thích chàng (sau này, Maria Pannechetti đã được tham dự lễ phong thánh cho Phanxicô). Hơn nữa, cha mẹ đôi bên coi hai người như đã hứa hôn với nhau.

     Sau khi xin phép thân phụ lần thứ hai, Phanxicô đã viết thư xin nhập Dòng Thương Khó. Khi lá thư của Cha Bề trên gửi cho biết bằng lòng nhận chàng, thân phụ chàng đã giấu không cho chàng biết. Chờ mãi mà không thấy thư trả lời của nhà dòng, Phanxicô đã nhất quyết lên đường đến tu viện Dòng Thương Khó tại Morrovale để đích thân xin nhập Dòng.

     Ông Possenti đã nhờ hai người anh của Phanxicô thuyết phục chàng bỏ ý định đi tu Dòng, nhưng họ đã không thành công. Sau cùng, ông cụ đành để cho Phanxicô lên đường, và cho một người anh của chàng đi theo. Trong khi đó, ông cụ đã nói với họ hàng thân thuộc là hai anh em đi thăm một gia đình họ hàng ở phương xa, để nếu lỡ mà chàng tu không đắc đạo, thì khi trở về Phanxicô khỏi phải xấu hổ với bà con lối xóm. Ông cũng xin một vài gia đình họ hàng mà hai anh em sẽ ghé thăm trên đường đến nhà Dòng, để họ can ngăn Phanxicô. Nhưng với cử chỉ điềm tĩnh, Phanxicô đã trả lời tất cả những thắc mắc của họ một cách chân thành nhưng cương quyết. Sau cùng, tất cả đã đồng ý, chỉ trừ có ông thân sinh của chàng.

     Khi đã gần đến nhà Dòng, chàng thật lo âu vì sợ không được nhận vào Dòng. Đến nơi, Phanxicô đã thật ngỡ ngàng khi nghe vị Giám Tập nói với chàng, "Chúng tôi đã không còn hy vọng được gặp anh".

     Phanxicô và một người anh của chàng là linh mục Dòng Đaminh, đến lúc ấy mới biết là thân phụ của chàng đã dấu bức thư nhận chàng vào Dòng. Mặc dù cha Luy tỏ ra rất buồn khi giã từ em, vì cảm thấy sẽ không bao giờ được gặp lại em nữa, cha đã thật hãnh diện vì lòng can đảm của Phanxicô khi chàng quyết định đi đến nhà Dòng mà không biết mình có được nhận hay không.

     Để nói lên cuộc đời bỏ mình của các tu sĩ Dòng Thương Khó, trong một nghi thức thật cảm động, Phanxicô đã được nhận một Thánh Giá, cùng với mạo gai, và lời khuyên bảo "Hãy hạ mình xuống và lệ thuộc mọi người vì Chúa Kitô".  Thêm vào đó, Phanxicô cũng được nhận tên mới là Gabriel Mẹ Sầu Bi.

     Vị Giám tập đã khôn ngoan hướng dẫn cho thầy Gabriel hiểu rằng, trong khi làm việc, chủ ý của việc làm thì quan trọng hơn là kết quả của việc làm. Do đó, thầy đã dùng nhiều giờ để suy gẫm về ý nghĩa và giá trị của đức khiêm nhượng. Thầy luôn cố gắng tập nhân đức này trong những điều nhỏ mọn hằng ngày. Suốt thời gian ở nhà tập, Thầy đã sống trong tinh thần bỏ mình, hy sinh, và luôn cố gắng tuân giữ mọi kỷ luật. Người ta thường nói, đời tu là một cuộc tử đạo liên lỉ. Câu nói đó đã được thực hiện từng nét trong trường hợp Thầy Gabriel. Dầu vậy, trong một lá thư gửi cho ông thân sinh, Thầy Gabriel đã thưa với ông, "Đời con là một chuỗi dài những hạnh phúc bất tận". Là một người rất quý mến gia đình, nên có thể nói điều làm cho Thầy phải khổ hơn cả trong thời gian này là ông thân sinh đã từ chối không tham dự lễ Khấn của Thầy.

     Như những vị thánh khác, Gabriel cũng đã trải qua một giai đoạn mà các nhà tu đức gọi là đêm tăm tối của linh hồn. Trong đêm tăm tối này, có lúc linh hồn cảm thấy như bị Thiên Chúa ruồng bỏ; lúc khác lại bị những cơn cám dỗ hay những cơn thử thách thật hãi hùng. Nhờ ơn phù trợ của Chúa và với ý chí sắt đá, Thầy đã kiên vững trong đời cầu nguyện và luôn cố gắng tuân giữ mọi luật lệ trong Dòng.

     Sau khi nghe tin một thầy trẻ Dòng Thương Khó mới qua đời tại một tu viện gần đó, Thầy Gabriel đã đến nhà thờ để xin Chúa ban cho mau được chết. Khi Thầy tỏ điều đó cho vị Giám Tập, ngài liền cấm Thầy không được cầu xin như thế nữa. Dầu vậy, có lẽ Thiên Chúa đã nhận của lễ hiến tế tự tình này, vì từ hôm ấy, sức khoẻ Thầy Gabriel bắt đầu yếu dần. Thầy bắt đầu bị ho, một dấu của bệnh phổi.

     Khi đã xong năm tập, Thầy Gabriel được gửi đến tu viện nằm trên một ngọn núi tại Isola. Vì tình hình chính trị lúc đó không được yên ổn, các vị bề trên nghĩ rằng tu viện này là nơi an toàn nhất để cho Thầy tiếp tục học hành.

     Tại tu viện này, Thầy Gabriel cùng với các thầy khác tiếp tục học để sửa soạn làm linh mục. Một ngày nọ, trong khi thu dọn phòng chứa đồ, Thầy Gabriel tìm thấy một tượng Đức Mẹ đã bị sứt mẻ và phai mầu. Sau khi đã được phép Bề trên, Thầy bắt đầu sửa sang và sơn lại bức tượng. Thầy cũng may áo cho tượng Đức Mẹ. Khi đã hoàn tất, bức tượng này đẹp đến nỗi Cha Bề trên đã đặt bức tượng vào một chỗ đặc biệt trong nhà nguyện của tu viện để tôn kính.

     Trong những ngày theo học tại đây, lòng kính mến Đức Mẹ của Thầy mỗi ngày một tăng. Mỗi lần Thầy thấy một tài liệu nào về Đức Mẹ, Thầy liền chép vào một cuốn sổ. Từ những tài liệu này, Thầy đã soạn cuốn "Simbolo Mariano" (Dấu hiệu của Đức Mẹ), gồm 52 bài nói về Đức Mẹ. Lòng sùng kính Đức Mẹ của Thầy cũng được bày tỏ qua bức thư gửi cho một người em, "Hãy yêu mến Đức Mẹ... Mẹ thật đáng yêu; Người là Đấng trung tín và bền vững. Nếu em yêu mến Mẹ, em sẽ không phải luống công vô ích. Nếu em gặp nguy hiểm, Mẹ sẽ vội đến cứu giúp. Nếu em gặp khó khăn, Mẹ sẽ ủi an vỗ về em. Nếu em bị bệnh tật, Mẹ sẽ kíp cứu chữa em. Nếu em cần sự trợ giúp, Mẹ sẽ đến bên em để phụ giúp em. Mẹ sẽ không xét em là người thế nào. Điều cần duy nhất là em phải có một trái tim muốn yêu mến Mẹ. Mẹ sẽ kíp đến và mở rộng trái tim đầy lòng thương xót của Mẹ trên em; Người sẽ ôm ấp, ủi an và phù trợ em. Mẹ cũng sẽ ở bên cạnh em để đồng hành với em trong cuộc hành trình về quê trời".

     Cũng thời gian đó, chiến tranh ngày càng lan tới Isola. Đến năm 1859, Vua Victor Emmanuen nước Piemontê đã bắt tay hợp tác với Garibanđi. Quân đội Piemontê tiến đến thành nào là lập tức ra tay cướp của, hãm hiếp, và phóng hoả tất cả. Không lâu sau, có lời đồn một bọn lính đang tiến gần đến Isola. Nhiều người đã bỏ thành phố đi nơi khác, chỉ còn sót lại vài người.

     Sau khi truyền lệnh cho các thầy vào nhà thờ để cầu nguyện xin Chúa ban cho thành phố được thoát nạn, Cha Bề trên tu viện đã giấu tất cả các đồ quí giá và ẩn mình trong phòng riêng. Những người còn ở lại trong thành Isola đã phải trải qua một đêm kinh hoàng. Quân lính cướp bóc, phá phách nhà cửa. Có một đội lính được chỉ định bảo vệ thành phố cũng bị chúng đánh đuổi. Vì cảm thấy đây là một điều quá bất công, cơn nóng đã bùng lên trong lòng Thầy Gabriel. Bất chấp mọi sợ hãi, Thầy đã xin phép vào thành phố để giúp dân chúng.

     Lúc đó có quãng 20 quân lính đang phá phách khắp nơi. Họ đang say rượu và bắt đầu đốt các nhà gần đó. Một tên lính khác, trong khi đang kéo lê một cô gái thì thấy một Thầy tu đang một mình đi trên đường. Hắn đã mỉa mai thầy. Thầy Gabriel liền nhanh tay rút khẩu súng của hắn ra khỏi bao và doạ nếu hắn nhúch nhích, hoặc không chịu thả cô gái ra thì Thầy sẽ bắn. Khi thấy một tên lính khác đang tiến tới, Thầy liền ra lệnh cho hắn phải bỏ súng xuống. Không ngờ hắn đã mau mắn vâng lời. Với khẩu súng trong tay, tài săn bắn đã trở lại với Thầy. Tiếng ồn ào đã làm cho cả đội lính chạy đến, nhưng khi thấy một ông Thầy, bọn họ liền hết lo lắng. Khi cả bọn đã đến, Thầy bắt họ phải bó súng xuống hết. Cả bọn đều cười nhạo một ông Thầy cô thân cô thế mà đòi cản ngăn cả một đội lính. Ngay lúc đó, một con thằn lằn chạy qua đường, Thầy liền giơ súng, chưa thấy Thầy nhắm thì một tiếng súng đã nổi lên và con thằn lằn lăn ra chết tại chỗ. Sau đó, Thầy chĩa súng vào tên trung sĩ đầu bọn, và một lần nữa bắt họ phải hạ khí giới. Được chứng kiến tài thiện xạ của Thầy, cả bọn liền bỏ súng xuống. Thầy bắt họ trả lại tất cả những gì đã cướp được của dân chúng. Và sau khi đã bắt tên trung sĩ làm con tin, Thầy bắt họ phải dập tắt ba chỗ cháy. Sau cùng, Thầy dẫn cả bọn ra khỏi thành và đuổi họ đi. Một số dân chúng còn lại trong phố được chứng kiến hành động can đảm của ông Thầy dòng trẻ, cũng theo Thầy đuổi bọn lính và cùng với Thầy chiếm lại khu vực tu viện.

     Sau biến cố này, sức khoẻ của Thầy tiếp tục sa sút. Hy vọng làn khí trong lành có thể làm cho sức khoẻ Thầy phục hồi khá hơn, đôi khi Bề trên đã sai Thầy ra ngoài đồng chăn chiên và dạy giáo lý cho trẻ em. Thầy rất thích những việc ấy, và đám dân quê cũng rất mến Thầy.

     Sau một cuộc hành trình thật vất vả bằng lừa đến Thành Penne để chịu bốn chức nhỏ, bệnh tình của Thầy càng trở nên trầm trọng hơn. Thầy bắt đầu ho ra máu và thường bị những cơn đau đầu dữ dội. Trong thời gian đó, sự kết hiệp nội tâm với Thiên Chúa đã làm cho cuộc sống Thầy trở nên một cuộc cầu nguyện liên lỉ.

     Khi dân thành Isola thấy Thầy Gabriel ra dự các giờ kinh lễ ở nhà thờ, họ bắt đầu thắc mắc, và khi được biết là Thầy đang bị bệnh, họ đã mang đến các thứ đồ ăn như bơ, kem, trứng, và thịt để biếu Thầy, vị ân nhân của họ trong lúc khốn khó, bây giờ họ muốn đáp trả cho Thầy trong số những điều họ có thể.

     Trong lá thư sau cùng gửi cho người em, Thầy Gabriel xin em chuyển đến cả gia đình tấm lòng trìu mến của Thầy. Thầy tiếp, "Hày nói cho cả nhà biết là anh luôn được hạnh phúc ở đây... Nhờ tình thương Chúa, anh thà là kẻ hèn mọn nhất trong nhà Dòng hơn là một hoàng tử của một vua chúa trần gian".

     Trong cơn bệnh sau cùng, các bạn học cũng như các anh em Dòng đều nhận ra Thầy đang phải đau đớn cùng cực, nhưng vẻ mặt của Thầy luôn tươi cười, và Thầy luôn giữ được một thái độ vui tươi. Những ai đến thăm đều được Thầy kể cho nghe một câu chuyện vui. Dù mình đang mang bệnh, Thầy vẫn không ngừng lo lắng cho người khác. Một học sinh đã được chỉ định để canh chừng Thầy ban đêm. Sáng ra, Thầy xin lỗi anh ta vì đã ho suốt đêm làm cho anh ta không ngủ được. Sau đó, Thầy xin Bề trên cho phép anh ta được ngủ thêm.

     Đến ngày 27-2-1862, trong khi cầm ảnh Đức Mẹ trong tay, Thầy cố gắng đọc theo kinh cầu cho người hấp hối. Sau cùng, Thầy thì thào, "Giêsu, Maria, Giuse," rồi nhắm mắt một lần cuối.

     Năm 1891, Giáo quyền tại Terni bắt đầu điều tra về cuộc đời và nhân đức của Thầy. Thầy Gabriel đã được phong chân phước năm 1908, và được phong hiển thánh năm 1920. Lễ phong thánh cho Thầy Gabriel có sự hiện diện của 45 Hồng y, 280 Giám mục, và 61 ngàn tín hữu. Một người em của Thầy là ông Micae, cùng với bà Maria Pannechetti (người tình cũ), và người y tá coi sóc Thầy trong cơn bệnh sau cùng cũng có mặt trong ngày lễ phong thánh của Thầy.

     Xin Thánh Gabriel cầu cho chúng tôi được noi gương bắt chước Người biết dâng trọn cuộc đời phụng sự Chúa và hết lòng yêu mến Đức Mẹ.

 
<tiểu mục <trang nhà

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)