dongcong.net
 
   
 
 
 
   

 

 
Hỏi & Đáp
 
 
L.m. Francis Lương Minh Tri,CMC Phụ Trách
 
<<<    

70. Hôn Nhân Có Buộc Phải Có Con Không

Thưa cha, con có một người bạn nhờ con hỏi dùm một vấn đề. Xin cha giúp giải đáp để họ được hiểu rõ ràng hơn. Trước khi lập gia đình, hai người đã sống chung với nhau gần 2 năm. Sau đó do sự khuyến khích của gia đình, hai người đã làm phép cưới. Người vợ rửa tội theo đạo. Trước và sau khi làm phép cưới, người chồng vẫn dứt khoát là không muốn có con vì thấy sự phiền phức của con cái. Gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng không kết quả. Xin Cha giúp giải quyết:

a/ Luật Chúa có buộc hôn nhân là phải có con không?

b/ Để ngừa thai, có được phép dùng bao không?

c/ Nếu bắt buộc phải có con rồi người chồng không chịu cực được, dễ nóng giận sẽ đem đến hậu quả thảm khốc như các báo vẫn đăng tin thì còn nguy hiểm bội phần. Nên giải quyết làm sao?

Xin cha giúp cho trong những vấn đề này. Xin cám ơn cha và kính chúc cha nhiều ơn lành để giúp giáo dân nhiều thắc mắc. (Xin Dấu Tên)  

DT thân mến,
a/ Việc sinh sản con cái là do lệnh truyền của Thiên Chúa, và là mục đích nội tại của phái tính.  Chính Thiên Chúa ngay từ đầu dựng nên người nam và người nữ, đã muốn loài người nối tiếp nhau có mặt đông đảo trên mặt đất này.  Thiên Chúa ban cho con người vinh dự được cộng tác với người trong việc tạo dựng.  Hơn  nữa, tự bản tính, nam nữ quyến luyến nhau.  Sự thu hút ấy thể hiện trọn vẹn khi đôi bạn hiến dâng tâm hồn và thể xác cho nhau; kết quả việc tự hiến ấy, vừa là niềm hạnh phúc cho nhau, vừa sinh ra những con người mới.

Luật Giáo Hội đã nhắc lại luật Chúa khi ghi rằng: "Do giao ước hôn phối, người nam và người nữ tạo nên với nhau một cuộc thông hiệp trọn cả cuộc sống.  Tự bản tính, giao ước hôn phối hướng về thiện ích của đôi bạn và việc sinh sản cùng  giáo dục con cái" (GL c. 1055).

Một trong những mục đích của hôn nhân là sinh sản và giáo dục con cái.  Do đó, nếu khi giao kết hôn ước mà một trong hai người hay cả hai người có ý nhất định phủ nhận quyền lợi giao hợp để có con thì giao ước hôn phối ấy không thành.  Tuy nhiên, đôi bạn có thể hoãn một thời gian rồi mới có con, hoặc không thể có con vì lý do tuổi tác hay bệnh tật (xem GL cc. 1101, #2;  1084, #3).  Điều làm cho giao ước hôn phối bất thành là chủ ý phủ nhận quyền lợi giao hợp để có con (hành động xứng hợp để có thể sinh sản con cái).  Quyền lợi ấy có thể không sử dụng với sự đồng ý của người phối ngẫu.

b/  Theo giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, vì những lý do chính đáng, hai vợ chồng có thể muốn cách quãng những lần sinh con.  Họ phải xét xem ước muốn của họ có do lòng ích kỷ chăng, hoặc phù hợp với sự quảng đại chính đáng của tư cách làm cha mẹ có trách nhiệm.  Hơn nữa, họ phải lo cho hành động của họ phù hợp với những tiêu chuẩn khách quan về luân lý.

Sự tiết dục từng thời kỳ, những phương pháp điều hòa sinh sản dựa trên sự tự chế, hoặc dựa vào những thời gian không thể thụ thai, được coi là phù hợp với những tiêu chuẩn khách quan của luân lý.  Còn "bất cứ hành động nào, hoặc trước, hoặc đang khi diễn ra hành vi phu phụ, hoặc trong những phát triển của hành vi này sau đó, nhằm làm cho không thể có sự sinh sản" phải coi tự bản chất là xấu (GLCG 2368, 2370).  Do đó, việc dùng bao cao su (hay áo mưa) là phương pháp ngừa thai nhân tạo, không phù hợp với tiêu chuẩn khách quan luân lý.

c/ Việc có con cái không thể được coi tự nó là căn do gây nên những sự bất hòa trong gia đình.  Nên duyệt xét những lý do sâu xa hơn và chính xác về những bất hòa để giải quyết chứ không nên vội vàng kết luận rằng vì có con nên gia đình bất hòa.  Việc sinh sản con cái trong chương trình thánh thiện của Thiên Chúa là điều tốt lành mọi người liên hệ phải tôn trọng và xử trí theo tinh thần trách nhiệm và can đảm, cộng tác vào công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa. (Lm Phi Quang).

71. Có Được Làm Lễ Cưới Không

Kính thưa cha, con có một chị bạn, hiện đang sống chung với một người Phật giáo. Trước khi anh ta đi vượt biên, anh ấy đã có vợ và một con, nhưng anh ta nói không quen biết và yêu thương người vợ này; chỉ vì khi mẹ anh ấy bệnh và sắp chết bà muốn con trai bà có người vợ đàng hoàng thì bà nhắm mắt mới vui lòng. Do vậy đám cưới được cử hành. Vì cả hai theo Phật giáo nên được tổ chức theo nghi thức Phật giáo. Sau đó anh ta đã vượt biên một mình, để lại người vợ ấy và đứa con trai. Sau khi qua bên này, anh có quen rồi ở với người khác, có được 2 người con. Trong thời gian đó, vì có mở nhà hàng nên suốt ngày anh không mấy quan tâm đến việc gia đình mà chỉ lo làm ăn, để rồi cuối cùng mới biết "vợ" mình quan hệ thân thiết với người đàn ông khác. Giận quá anh ấy quyết định chia tay. Khi ra toà, anh đồng ý ra đi với hai bàn tay trắng, để lại tất cả vốn làm ăn, nhà hàng, xe cộ cho người đàn bà ấy. Do đó, anh không còn gì và toà quyết định là anh không phải trả child support. Rồi từ đó anh ở một mình đến khi gặp bạn con. Chị đã sống với anh ấy 2 năm rồi. Con khuyên chị ấy là nếu được thì nên tổ chức đám cưới theo nghi thức Công Giáo mình. Chị ấy nói là không được vì cả hai người vợ trước còn sống. Thưa cha, vậy chị bạn của con phải làm sao? Con nhớ một số báo trước, cha có nói nếu vợ chồng lấy nhau vì ép buộc, thì hôn nhân ấy không thành trước mặt Chúa. Vậy theo con nghĩ, cuộc hôn nhân đầu tiên không thành. Còn lần thứ hai, vì chẳng tổ chức đám cưới theo nghi thức nào cả, liệu đó có phải thực sự là hôn nhân? Bởi vậy theo con, chị này có thể làm lễ cưới với anh đó. Thưa cha, xin cha cho biết ý kiến. Xin Chúa và Mẹ Maria trả công bội hậu cho cha. (Quỳnh Nhi)   

Quỳnh Nhi thân mến,
Theo những lời chị nói thì vì bị ép buộc chứ không thương yêu nhau thật nên hôn phối không thành.  Nhưng điều quan hệ là chúng ta không được quyền để phán quyết điều đó.  Theo Giáo Luật tất cả sự vụ phải được Tòa Án Hôn Phối (tại Giáo Phận) nơi anh ấy đang ở giải quyết bằng một hình thức là tuyên bố tiêu hôn (quyết định hôn phối không thành).

Còn việc anh ấy ở với người thứ hai, dù như chị nói, "chẳng tổ chức đám cưới theo nghi thức nào cả"  nhưng chắc chắn đã có một phép cưới trước mặt xã hội, đã được xã hội công nhận. Giáo Hội cũng nhìn nhận cuộc hôn phối của hai người không Công giáo, kết hôn trong lễ nghi tôn giáo riêng của họ, hay dân sự.  Chỉ đòi hỏi là phải có một nghi thức hợp pháp, nghĩa là nghi thức được luật quốc gia nhìn nhận (vì chị có nói đến việc ra tòa nếu không có hôn phối, dù chỉ là dân sự, thì đâu có cần ra tòa ly dị), do đó anh ấy bị ràng buộc với người vợ thứ hai và không thể kết bạn nữa nếu không được tiêu hôn hay đặc ân để hủy bỏ hôn phối (như đặc ân Thánh Phaolô).  Nếu anh ấy là người Phật giáo mà đồng ý trở lại Công giáo thì có thể được hưởng đặc ân Thánh Phaolô với điều kiện người vợ cũ không chịu trở lại và không chịu sống hòa thuận với người mới trở lại Công giáo.  Sự việc này phải trình bày với các vị hữu trách (giáo xứ và giáo phận) để có thể thi hành những thủ tục cần thiết để được hưởng đặc ân này.  (Lm Phi Quang).

72. Tại Sao Gọi Linh Mục là "Cha

Thưa cha, trong Kinh Thánh "cấm" không được gọi ai là thầy và cũng không được kêu ai là cha. Chúng ta chỉ có một cha trên trời thôi, còn lại đều là anh em. Vậy sao Giáo Hội gọi linh mục là cha và gọi chủng sinh là thày? Kính. (Một độc giả ở Sioux City)  

Hỡi "Một độc gỉa ở Sioux City" thân mến! 
Thân mến thì thân mến nhưng mà làm tôi viết trả lời bằng tiếng Việt chả biết gọi độc giả là gì ông hay bà, anh hay chị, cậu hay mợ ...  Nếu tiếng Anh gì cũng  "you" cũng xong  thôi.  Vì tiếng Việt của mình không có đại danh từ đúng nghĩa, chả nhẽ gọi là "người"!

Người thân mến, khi tiếp xúc với một số người Tin lành, tôi ngạc nhiên thấy họ gọi tôi là cha.  Có thể họ nói trên môi vì không muốn gây thêm chia rẽ nhưng trong trí họ ngạc nhiên sao có người Kitô hữu chấp nhận danh hiệu trực tiếp ngược với Lời Chúa Kitô.

Đoạn 23 của Phúc Âm thánh Matthêu bàn về và kết án kiêu ngạo và giả hình của người Biệt phái và luật sĩ Do thái thời ấy.   Chúa nói họ thích ngồi chỗ nhất trong bữa tiệc và  muốn được bái chào nơi phố chợ và được gọi là "Rabbi." Văn mặc của đoan 23 làm sáng tỏ Chúa không chỉ trích về chữ hay tước hiệu cho bằng thái độ đi kèm với chúng.  Người Công giáo hiểu Chúa dạy chúng ta không bao giờ được tặng người khác danh dự, lòng tin, tôn kính thuộc về Chúa. 

Dù lời Chúa Giêsu  rõ ràng ""cấm" gọi ai là thầy" nhưng tôi không tin Chúa 'cấm ' gọi mấy người tình nguyện dạy giáo lý và Việt ngữ trong Cộng đoàn tôi là thầy, là cô!  Tôi không biết Chúa có 'cấm' ở cộng đoàn nơi khác chăng, chứ ở chỗ tôi đang ở là không cấm rồi!   Tôi nghĩ có lẽ bất công với Chúa  Kitô khi nghĩ Ngài cấm gọi người đàn ông sinh ra bày trẻ là cha.  Chúa cũng chẳng giữ điều cấm đó khi gọi ông Giuse, người cha nuôi là cha như Thánh kinh đã minh chứng (Lc 2: 48-49).  Như vậy Chúa Giêsu không chống đối việc dùng từ ngữ diễn tả việc một người làm!

Chúa Kitô chống lại "tước hiệu" người ta dùng để uy hiếp người khác (Lc 22:25).  Nếu một người dùng "tước hiệu" để được miễn chuẩn phục vụ người khác hay để được cảm thấy tốt hơn người khác, tước hiệu đó không nên dùng! "Tước hiệu"bất kể là gì!  Nếu tôi xưng tôi là "Công giáo" chỉ cốt cho tôi cảm thấy mình tốt hơn người khác, tôi không nên xưng như thế!  Tương tự nếu bạn xưng mình là "Tin Lành" cốt để cảm thấy tốt hơn tôi, bạn không nên xưng!

Như là một linh mục, nếu tôi dùng tước hiệu "Cha" trước tên tôi, tôi phải nghe rất kỹ lời Chúa Kitô.  Tôi có dùng tước hiệu đó để coi tôi tốt hơn người khác?  Nếu thế, tôi không nên dùng vì Chúa Kitô chống điều đó!

Theo tôi, tước hiệu "Cha, thầy"  chặt chẽ nối kết với lời khấn "Trinh khiết độc thân" :  họ chọn không kết hôn với một người đàn bà và sinh sản con cái.  Vì nước Trời, việc tôi từ bỏ một chuyện theo bản tính này, không miễn chuẩn tôi trách nhiệm làm cha.  Tôi phải dùng tình thương yêu và sáng kiến để phục vụ người khác mà giáo hội trao phó.  Khi người ta gọi tôi "Cha", họ thách thức tôi và nhắc nhở tôi yêu thương dân Chúa và chớ lẩn trốn trách nhiệm làm cha.  Tôi biết ơn một bà người Mỹ đã nhắc nhở tôi hồi tôi mới chịu chức.

Thánh Phaolô cũng độc thân.  Ngài có viết về chức làm cha thiêng liêng của mình trong lá thư gởi Philemon, ông chủ tên nô lệ Onesimô.  "Tôi van xin anh cho đứa con của tôi, đứa con tôi đã sinh ra trong cảnh xiềng xích, đó là Onesimô" (Phil 10).  Tương tự ngài viết cho giáo dân Corintô, "Dù  anh em có ngàn vạn giám thị trong Đức Kitô, anh em cũng không có nhiều cha đâu, bởi vì trong Đức Kitô Giêsu, nhờ tin mừng, chính tôi đã sinh ra anh em" (1Cor 4:15).

Nếu người thấy tôi dùng tước hiệu "Cha" để huyênh hoang như là tôi tốt hơn người hay tôi không phục vụ yêu thương người, cứ gọi tên tôi thôi.

73. Nghi Lễ Nào Của Giáo Hội Công Giáo 

Kính thưa cha, con có thắc mắc vấn đề phụng vụ mà báo chí thường gọi là "nghi lễ La tinh và nghi lễ Đông phương". Vậy hai nghi lễ này khác nhau như thế nào? Nghi lễ nào là của Giáo Hội Công Giáo? Hay là cả hai nghi lễ thì dùng nghi lễ nào cũng được? (Ẩn Danh)  

"Ân Danh" thân mến,
Nghi lễ Latinh là nghi lễ Giáo Hội Việt Nam xử dụng.  Chắc chắn anh quen thuộc rồi vì đó là chuyện hằng ngày anh dự lễ.  Nghi lễ Latinh còn gọi là nghi lễ Roma. Nghi lễ Đông Phương là tiếng gọi tắt cho rất nhiều nghi lễ khác nhau mà tám nghi lễ thuộc Giáo Hội Công giáo: Byzantine, Armenia, Chaldea, Coptic, Ethiopia, Malabar, Maronite và Syria.  Cả chín nghi lễ này thuộc Giáo Hội Công giáo.  Bình thường ai rửa tội theo nghi lễ nào thì theo nghi lễ đó suốt đời.  Muốn chuyển từ nghi lễ này sang nghi lễ khác phải có phép tòa thánh.  Nghi lễ Latinh là nghi lễ phổ thông và nhiều người dùng nhất.

Nghi lễ phổ thông tiếp theo là Byzantine (chung cả Công Giáo và Chính Thống giáo).  Nghi lễ Byzantine bắt nguồn từ cố đô của đế quốc Roma tức Constantinop mà ngày nay là Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ, ngày xưa mang tên Byzantine.  Nghi lễ Byzantine chung truyền thống với các Giáo Hội Antioc, Alexandria và Jerusalem.  Khi vua Constantine nhường Roma cho Giáo Hoàng và rời kinh đô về Byzantine năm 330, Byzantine thành Roma mới.

Nghi thức Byzantine có hệ thống giáo luật riêng, chu kỳ phụng vụ các lễ trọng và các thánh và nhiều truyền thống dân tộc riêng.  Năm Phụng vụ bắt đầu từ  ngày 1 tháng 9 với bốn chay kỳ: 1- Trước lễ Giáng sinh (từ 15 tháng 11 tới 24 tháng 12)  2- Mùa Chay (trước Lễ Phục Sinh) 3- Trước lễ thánh Phêrô và Phaolô (từ Chúa Nhật sau lễ Hiện xuống đến ngày 29 tháng 6)  4- Trước lễ Đức Mẹ Lên Trời (từ ngày 1 tháng 8 đến 14 tháng 8).  Rửa tội được dìm dưới nước, tiếp liền theo là Thêm sức và chịu lễ.  Bánh có men được dùng trong Thánh Lễ để chỉ sức sống của Chúa trong Thánh Thể. 

<tiểu mục <trang nhà

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)