dongcong.net
 
 


Di Sản Đồng Công
của Cha Đaminh Maria Trần Đình Thủ nơi tôi

Mừng Quan Thày Dòng 15/9/2009
Quí Mến Biệt Tặng
những tâm hồn đang và đã theo đuổi Lý
Tưởng Thánh Đồng Công,
Anh Em Tu Sĩ Đồng Công, Anh Chị Em Gia Đình Tận Hiến Đồng Công và Anh Em Thân Hữu Đồng Công
Tâm Phương Cao Tấn Tĩnh

 Di sản đồng Công (4)
+ + +
Về hiện tượng Chi Dòng Đồng Công ở Hoa Kỳ, là một nhân chứng trong cuộc, tôi có thể nói rằng đó là hoa trái của lòng tin tưởng của Cha Thủ vào Chúa và Đức Mẹ. Thật vậy, Dòng Đồng Công là một hội dòng (có thể nói duy nhất ở Việt Nam) đã “xuất hành - exodus“ hay “lên đường”, (hơn là chỉ “chạy loạn” thoát thân như mọi người), nhân cơ hội quốc biến vào cuối Thánh Tư Đen 1975, với mục đích rõ ràng là “để giữ lấy dòng và để truyền giáo”, như chính nhóm anh em dòng xuất ngoại bấy giờ ở nhà nghỉ mát của Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm được vị sáng lập truyền lệnh theo lời khấn phải làm. (Xin xem cùng tập sách, phần hai: “Sứ Mệnh Vượt Thoát Truyền Giáo”, trang 59-96).

Bằng chứng hiển nhiên nhất cho chủ trương “lên đường” hay “xuất hành” hơn là “chạy loạn” này của anh em dòng Đồng Công là ở chỗ: họ “lên đường” hay “xuất hành” từ đầu Tháng Tư 1975, chứ không phải cuối tháng, tuy bị kẹt cho tới cuối tháng mới đi được, và số anh em dòng của họ hay “xuất hành” không phải là lẻ tẻ hay ít oi mà là đồng loạt với con số lên tới 170 cha thày cùng cộng sự viên, đông đến độ, không một gia đình nào hay giáo xứ Mỹ nào dám đứng ra bảo trợ, ngoại trừ, theo ý Đấng Quan Phòng Thần Linh hằng được Cha Thủ tin tưởng ký thác, một nhân vật lạ lùng đã dám cả gan “liều mình” đứng ra bảo trợ là Đức Cha Bernard Law, một vị giám mục trẻ đang cai quản một giáo phận nghèo bấy giờ.

Riêng bản thân tôi, lòng tin tưởng nơi Cha Thủ và của Cha Thủ đã tác động tôi mạnh mẽ nhất và sâu xa nhất, không thể nào quên được và không bao giờ quên được, phải kể đến việc ngài dám tôi đi “mang chuông đánh nước người”, đó là đến phục vụ Tiểu Chủng Viện Simon Hòa Đà Lạt (1972-1974), khi Đức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền, giám mục giáo phận Đà Lạt Lâm Đồng bấy giờ ngỏ ý xin Cha Thủ sai người đến giúp, như dòng đã làm như thế vào năm 1968-1970. Trong khi đó, tôi đang ở trong tình trạng lo cho mình còn chưa xong, ở chỗ, tôi cần phải “đáp công chuộc tội” với ngài, những tội ngài vì muốn kỹ lưỡng huấn thánh cho tôi, đã muốn tôi dứt khoát cải thiện, để tiếp tục theo đuổi Lý Tưởng Thánh của ngài và với ngài, (như tôi đã thuật lại trong tập sách trên đây, trang 136-148, chương “Cha Thủ – Linh Hướng Thánh”).

Trong đời tu của mình, tôi chưa bao giờ từ chối ngài một điều gì, trái lại, còn xung phong làm bất cứ những gì ngài muốn, nhất là những việc ngài không tìm ra người, như việc làm bếp, làm vườn v.v. Thậm chí về việc làm bếp của tôi ở Trại Già Thiện Chí Thủ Đức (1968-1970), có lần ngài đã nói với một số anh em dòng của tôi rằng “Tâm Phương làm bếp quỉ cũng không ăn được”, tôi vẫn hoàn toàn tuân phục ngài, khi ngài cần đến tôi, lại bảo tôi làm bếp vào những tháng cuối cùng ở Nhà Đá Qui Nhơn 1-3/1975, khi tôi đang dạy Việt Văn đệ nhị cấp và được học sinh khen là “thày dạy siêu”. Thậm chí trong cuộc hải hành xuất ngoại, tôi vẫn còn được cắt cử phụ giúp vấn đề phục vụ ăn uống cho anh em dòng.

Thế mà, khi được ngài cho biết rằng ngài muốn tôi đi phục vụ tiểu chủng viện Simon Hòa Đà Lạt, tôi đã mạnh bạo và chân thành xin ngài xét lại, vì tôi chẳng những không có khả năng là bằng cấp như một số anh em khác (nhất là một số anh em đang học ở Đại Học Thụ Nhân Đà Lạt gần ngay Tiểu Chủng Viện này), mà còn thiếu cả tư cách nữa, với những lầm lỗi đang cần phải cải sửa, chỉ sợ làm hư chuyện lớn của dòng thôi, mang tiếng cho ngài. Chính ngài cũng cho tôi biết rằng “nhiều anh em đã can anh đừng cho em đi”, nhưng ngài đã trấn an tôi ngay rằng: “Nhưng em cứ đi. Chúa Mẹ sẽ giúp em. Cứ trông cậy vào các Ngài!”

Tuy nhiên, lợi dụng được ngài tin tưởng, và để sửa soạn cho một cuộc mạo hiểm, một sứ vụ đặc biệt chưa từng có trong đời tu này của mình, tôi đã xin ngài viết tất cả những gì liên quan tới đời sống bé nhỏ thơ ấu thiêng liêng mà ngài đã biết tôi vẫn thích và theo đuổi ngay từ khi còn ở đệ tử viện Đồng Công, với biệt hiệu bằng Pháp ngữ của tôi bấy giờ là “Bébé de Marie”. Quả nhiên, vì lợi ích thiêng liêng của tôi, ngài đã đáp ứng lời chân thành nài xin rất chính đáng của tôi và khẩn thiết cho tôi. Nguyên văn bản viết tay của ngài, được kết bằng hàng chữ “Di Linh ngày 8/7/1972” kèm theo chữ ký Đaminh Thủ của ngài, tôi đã để lại tất cả bút ký về linh đạo quí báu này của ngài cho Chi Dòng Đồng Công khi tôi trở lại trần gian năm 1982. Nhưng nội dung của những gì ngài viết đã được tôi sao chép lại cẩn thận và cũng đã tôi đích thân phổ biến ở hai tác phẩm: Trở Nên Như Trẻ Nhỏ” (năm 1994, trang 219-224) và “Cha Đaminh Maria Trần Đình Thủ, CMC, Hạt Lúa Miến Mục Nát… Cho Mùa Thánh Đức Việt Nam” (năm 2007, trang 171-174). Ngoài ra, với vai trò là người soạn dọn của, với và cho Văn Phòng Trung Ương Đạo Binh Hồn Nhỏ Việt Nam Hải Ngoại, tôi còn phổ biến những gì đáng gọi là “Luật Sống Bé Nhỏ” quí hóa này cả trong cuốn “Thủ Bản Đạo Binh Hồn Nhỏ Việt Nam Hải Ngoại” (năm 1999, trang 111-114).

“Luật Sống Bé Nhỏ” Cha Thủ viết cho tôi ấy, đối với tôi, như là một lời nhắc nhở rằng muốn tin tưởng vào Chúa - Mẹ thì phải sống đơn sơ bé nhỏ “như trẻ thơ” (Mt 18:3). Sau này, khi sang Mỹ, bắt đầu tiếp tục sáng tác nhạc vào năm 1976, (bắt đầu sáng tác từ năm 1972 ở Tiểu Chủng Viện Simon Hòa Đà Lạt), nhất là bộ nhạc chủ đề Tình Ca Đời Tận Hiến 18 bài năm 1981, một loại nhạc chủ đề độc đáo đã được tác giả Bá Vũ Ly sáng tác và được thâu vào băng cassette, với tiếng hát đơn ca của Tâm Phương, (cùng với việc hợp tác của 4 em trai chơi các thứ nhạc cụ căn bản như một ban nhạc trong ca đoàn ở Oklahoma được tôi đặc trách vào mùa hè giúp xứ năm 1978 của tôi), một băng thánh ca đầu tiên chưa từng có xuất hiện ở hải ngoại không hát bởi ca đoàn hay bởi một nhóm hợp ca như từ trước tới bấy giờ, đã từng làm rung động nhiều tâm hồn giáo dân và tu trì thời bấy giờ. (Băng thánh ca chủ đề Tình Ca Đời Tận Hiến này vẫn đang được lưu giữ trên mạng điện toán toàn cầu www.tinmungsusong.org, hay trong CD “Cha Đaminh Maria Trần Đình Thủ - Lý Tưởng Thánh Đồng Công” đã được phổ biến vào Tháng 7/2007 cùng với tập sách “Cha Đaminh Maria Trần Đình Thủ, CMC, Hạt Lúa Miến Mục Nát… Cho Mùa Thánh Đức Việt Nam”). Và tôi đã bắt đầu chính thức thêm 3 mẫu tự “BVL” vào sau tên của tôi, “Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL”, từ tác phẩm thứ 12, “Trở Nên Như Trẻ Nhỏ” năm 1994.

Với nhiều tác phẩm sau đó và các bài viết sau đó, trên báo chí cũng như trên mạng điện toán toàn cầu, nhiều độc giả, trong đó có cả các vị linh mục và tu sĩ, rất thắc mắc về chung bản thân tác giả và riêng 3 mẫu tự “BVL” bí mật này và đều muốn biết chân tướng của tác giả và ý nghĩa của 3 mẫu tự mật mã ấy. Điển hình gần đây nhất là dịp Ngày Thánh Mẫu 2009, có 2 vị linh mục ở Việt Nam sang Hoa Kỳ, một thuộc địa phận Nha Trang là Cha Nguyễn Thanh Vân, và một địa phận Phú Cường là Cha Trần Văn Phúc, trạc tuổi ngũ tuần, khi tôi trả lời cho các ngài (vào lần đầu gặp Cha Vân ở San Gabriel TGP/LA trong Tháng 7/2009 và Cha Phúc ở Đền Thánh Mẹ Dâng Con Corona California đầu Tháng 8/2009) về tên của tôi, các ngài hết sức ngỡ ngàng nhìn tôi, rồi tự nhiên hô lên cùng một câu giống y như nhau: “Cao Tấn Tĩnh đây à…!”. “Vâng thưa cha, con đây!” Cha Phúc đã đột xuất thân tình kéo ngay tôi ra chụp hình lưu niệm với ngài. Còn Cha Vân, tôi đã trả lời cha về 3 mẫu tự “BVL” để giải tỏa thắc mắc của ngài như sau: BVL không phải là 3 chữ tắt đã được một số cha (dịp Đại Hội Mục Vụ ở Houston Texas năm 1997) tán là “Bị Vợ La - Bỏ Vợ Lẽ “, mà là Bá Vũ Ly, và Bá Vũ Ly là âm của tiếng Latinh “Parvuli”, trong câu Chúa Giêsu vừa khuyên dụ vừa cảnh giác các tông đồ rằng: “Các con sẽ không được vào vương quốc của Thiên Chúa nếu các con không hoán cải và trở nên như trẻ nhỏ - sicut parvuli”.

Quả thực, sau hai năm phục vụ ở Tiểu Chủng Viện Simon Hòa Đà Lạt này, cái thành công của tôi không phải là được các tiểu chủng sinh đệ nhất cấp yêu kính và quyến luyến đến ngượng ngùng với các cha ở đó bấy giờ, nhờ tinh thần bình dân và phục vụ của Đồng Công nơi tôi. Cái thành công chính yếu nhất đối với tôi bấy giờ đó là lòng tin tưởng vào Chúa và Đức Mẹ hơn bao giờ hết nơi tôi. Vì trước đó các Ngài đã cho tôi thấy rành rành là tôi không thể nào làm được việc này, vậy thì những gì tôi làm được là do các Ngài làm nơi tôi và qua tôi, nhờ đức vâng lời của tôi đối với bề trên là Cha Thủ, và nhất là nhờ lòng tin tưởng của Cha Thủ nơi Chúa và Đức Mẹ trong trường hợp của tôi. Như thế là tôi được trực tiếp thừa hưởng lòng tin tưởng của Cha Thủ, hay nói cách khác, Cha Thủ đã sinh ra tôi nơi lòng tin tưởng vào Chúa Mẹ của ngài từ bấy giờ.

Đúng thế, tôi đã được Cha Thủ tái sinh vào Ơn Gọi Nên Thánh nói chung và Lý Tưởng Thánh Đồng Công nói riêng từ đó. Để rồi, nhờ lòng tin này, cho dù tôi không còn tiếp tục theo đuổi Lý Tưởng Thánh Đồng Công nữa, không còn là một Tâm Phương tu sĩ Đồng Công ngày nào nữa, tôi vẫn tiếp tục Sống Thánh Chứng Nhân qua các hoạt động tông đồ giáo dân của tôi ở ngoài đời, bằng chính lòng tin tưởng vào Chúa và Đức Mẹ liên quan tới tinh thần Tận Hiến Đồng Công mà tôi được trực tiếp hấp thụ từ Cha Thủ, điển hình nhất là nơi việc phục vụ Phong Trào Thiếu Nhi Fatima và chương trình phát thanh Tin Mừng Sự Sống là những hoạt động tôi cảm thấy được kêu gọi tới thực hiện.

Phải thú thực là nhờ lòng tin tưởng vào Chúa và Mẹ Maria, tôi đã làm được những gì ngoài sức tự nhiên của tôi, nhờ đó tôi lại càng tin tưởng vào các Ngài hơn, càng được lớn lên trong đời sống thiêng liêng, càng được dồi dào sinh lực thần linh cho các hoạt động tông đồ. Đó là lý do tôi hay nói với các đồng nghiệp tông đồ của mình rằng “làm việc cho Chúa không sợ lỗ, vì chính khi làm việc của Ngài chúng ta được Ngài thánh hóa vậy!”

3.1- Lòng tin vào Chúa và Mẹ Maria nơi tôi qua Phong Trào Thiếu Nhi Fatima

Trước hết, đối với Phong Trào Thiếu Nhi Fatima, quả thực nhờ lòng tin tưởng vào Chúa, liên quan tới tinh thần Tận Hiến, mà tôi đã tồn tại với các em qua một thời gian 14 năm 3 tháng (8/9/1991-8/12/2005) trực tiếp phục vụ các em. Bằng không, tự tôi đã dừng bước trong những tháng ngày đầu hết sức cực nhọc để tái thiết một phong trào được lập nên từ năm 1984 bởi một con người khác có những cái không hợp với tôi, trong số những người đi trước tôi tỏ ra muốn cản bước tiến có vẻ qua mặt họ của tôi, hay chính giới trẻ không chấp nhận tôi nữa vì tôi không hợp với họ.  Thế mà sau thời gian dài như thế, các em vẫn còn muốn bầu chọn tôi để tiếp tục dìu dắt các em, cho dù các em đã đủ sức để tự lãnh đạo lấy phong trào giới trẻ của mình.

Tôi còn nhớ việc đầu tiên tôi được dịp tỏ ra tin tưởng vào Chúa và Đức Mẹ, đó là việc tổ chức Khóa Tĩnh Huấn Fatima đầu tiên cho các em. Vấn đề ở đây là, theo Thủ Bản và Nội Qui mới được Đại Hội biểu quyết chấp thuận vào Tháng 10/1992, nếu ai không đi khóa tĩnh huấn hằng năm này sẽ không được tuyên hứa làm huynh trưởng, dù là các huynh trưởng đã đeo khăn trước đó. Tức là tất cả mọi huynh trưởng sinh hoạt trong phong trào cho tới lúc bấy giờ đều bị “lột khăn” và phải đeo khăn lại sau khi tham dự khóa tĩnh huấn căn bản này. Mà Khóa Tĩnh Huấn Fatima là khóa học hỏi 15 đề tài về 3 Mệnh Lệnh Fatima, mỗi mệnh lệnh 5 đề tài, rất khô khan, đến nỗi Cha Tuyên Úy Liên Đoàn của Thiếu Nhi Fatima bấy giờ đã phải lắc đầu, nhưng cuối cùng, qua những trình bày hết sức chân tình đầy hữu lý của tôi, ngài đã chẳng những bằng lòng mà còn cương quyết cùng tôi chủ trương “quí hồ tinh bất quí hồ đa”. Đến độ ngài bỏ tiền túi ra mua vé máy bay cho một Sơ Dòng Mến Thánh Giá ở New Orleans sang giảng cho các em.

Thế mà, cho dù các em đã được thông báo cho biết điều kiện phải dự khóa mới được làm huynh trưởng và phải ngồi nghe 15 bài huấn đức khô khan như vậy, một khóa tĩnh huấn lại được tổ chức vào cuối tuần lễ Thanksgiving là thời gian cần nghỉ ngơi và học thi, các em vẫn tự động nộp đơn tham dự, chẳng những đợt nhất vào cuối tuần Lễ Tạ Ơn này mà còn đợt hai vào sau Giáng Sinh cùng năm 1992 nữa, với con số tham dự cả hai khóa liền này lên đến 52 em.

đọc tiếp bài 5.

Cao Tan Tinh (phuong)

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)