dongcong.net
 
 


Năm thánh 2010 Việt nam, Kỷ niệm 350 năm

NHÂN MÙA VỌNG MỞ ĐẦU NĂM THÁNH: THỬ TÌM HIỂU VỀ THẦN HỌC ĐỨC MẾN
VietCatholic News (08 Dec 2009 08:52)

4) Đức mến trong thánh thư thánh Phaolô:

Đức mến là từ ngữ thông dụng nhất trong thần học thánh Phaolô. Trong văn bộ Phaolô (corpus paulinien), thánh nhân sử dụng 236 lần đức mến trên tổng số 320 lần trong Kinh thánh. Thuật từ này chuyển ngữ từ agapê trong cổ ngữ Hy lạp. Ngày nay, ta có xu hướng phân biệt giữa tình yêu dâng hiến (amour d’oblation) và tình yêu chiếm hữu (amour captatif). Thánh Phalô không sử dụng đức mến theo ý nghĩa éros.

Không có thánh thư nào mà thánh Phaolô không nói đến đức mến. Trong thư thứ 1 gửi Hội thánh Thêxalônica, thánh Phaolô viết:

‘‘Còn về tình huynh đệ, anh em không cần ai viết cho anh em, vì chính anh em đã được Thiên Chúa dạy phải thương yêu nhau’’ (1Tx 4,9).

Thư gửi tín hữu Êphêxô có đoạn viết: ‘‘Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử’’ (Ep 1,5).

Trong thư gửi tín hữu Rôma, thánh nhân viết: ‘‘Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta. Quả vậy, khi chúng ta không có sức mà làm được gì vì còn là người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.’’ (Rm 5,8)

Chương 8 Thánh thư gửi tín hữu Rôma, thánh nhân ca tụng tình yêu của Thiên Chúa như sau: ‘‘Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô ? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo ?’’ (Rm 8,35)

Thử thách trên đường trần giúp ta trưởng thành trong đức mến: ‘‘Sống theo sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Kitô vì Người là đầu. Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp vào nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ, nhờ mọi thứ gân mạch nuôi dưỡng và mỗi chi thể hoạt động theo chức năng của mình. Như thế người làm cho toàn thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái’’ (Ep 4,15-16).

Trong thư gửi tín hữu Philipphê, ngài viết: ‘‘Nếu quả thật sự liên kết với Đức Kitô đem lại cho chúng ta một niềm an ủi, nếu tình bác ái khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần khí, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau, thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý tưởng như nhau’’ (Pl 2,1-2). Để có thể đạt được đồng tâm nhất trí, ‘‘trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo. Ước gì ơn bình an của Đức Kitô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó. Bởi vậy, anh em hãy hết dạ tri ân’’ (Cl 3,14-15).

Những trích đoạn trên đây là tiền đề đưa đến chung khúc ‘‘Bài ca đức mến’’ diễn tả đây đủ hai giới răn: yêu Chúa và yêu người từng được triển khai trong Phúc âm nhất lãm:

‘‘Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tuông, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy diền chân thật. Đức mến tha thứ tât cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được’’ (1 Cr 13,4-12). ‘‘Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mền.’’ (1 Cr 13,13)

Trong bài ca đức mến, thánh nhân đưa ra biểu đồ phủ định - xác định (négation/affirmation), gồm 8 không và 7 có như sau:

- 8 điều không là: không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy điều gian ác.

- 7 điều có là: nhẫn nhục, hiền hậu, vui khi thấy điều chân thật, tha thứ, tin tưởng, hy vọng, chịu đựng.

Trong 8 điều không, thứ nhất là không ghen tương. 7 điều không kế tiếp nhằm xóa đi cái tôi vị kỷ, đáng ghét.

Trong 7 điều có, cần nhất là biết nhẫn nhục. Có nhẫn nhục thì mới hiền hậu. Hiền hậu đem lại niềm vui; có niềm vui mới sẵn lòng tha thứ, Có tha thứ là có tin tưởng, hy vọng và chịu đựng.

14 thánh thư của thánh Phaolô sắp theo thứ tự từ dài đến ngắn là giáo huấn xúc tích về đức mến, khuyên nhủ các tín hữu đông tây, kim cổ, trong số có tín hữu nước Việt hiện sống tâm tình Năm Thánh 2010.

5) Đức mến theo thánh Gioan:

Tuy văn phong có khác biệt nhưng tín lý giữa hai thánh tông đồ Phaolô và Gioan hoàn toàn đồng nhất. Đức mến là chủ đề đươc khai triền từ thánh thư thứ 1.

Thánh Gioan là môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến. Trong bữa tiệc ly, Gioan tựa đầu vào lòng Đức Giêsu (Ga 13,23). Thánh Gioan đứng cạnh thân mẫu của Người (Ga 19,26). Thánh Gioan đã tới mộ trước nhất. ‘‘Ông đã thấy và đã tin’’ (Ga 20,8). Thánh Gioan đã chứng kiến việc Chúa Giêsu hiện ra ở hồ Tibêria (Ga 21,7). ‘‘Người môn đệ đươc Chúa Giêsu thương mến’’ (danh hiệu của thánh Gioan). Chính vì tình thương mến này, trong bốn thánh sử, thánh Gioan là người duy nhất mang hồn thơ. Ngài viết lời tựa Phúc âm thứ tư theo thể thơ. Mặt khác, Phúc âm theo thánh Gioan cũng như thư thứ nhất của thánh nhân khai triển chủ đề tình yêu trong học thuyết công giáo.

Theo thánh nhân, ‘‘phàm ai yêu thương, thì đã được sinh ra từ Thiên Chúa, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không có lòng yêu thương là không nhận biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu.’’ (1 Ga 4,7-8).

Trong câu kế tiếp, thánh nhân đã giải nghĩa tình yêu của Thiên Chúa: ‘‘Thiên Chúa đã sai Con Một đã yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nha.’’ (1 Ga 4,11).

Phúc âm theo thánh Gioan chép rằng: ‘‘Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này, là anh em có lòng yêu thương nhau’’ (Ga, 13,34-35). Giới răn này đã kết hợp giữa đức mến và tình huynh đệ (charité fraternelle).

6) Quyền tông huấn về Đức mến:

Trong tiếng Pháp, magistère (do tiếng latinh magister: thầy) là trách vụ giáo huấn của các vị giám mục và đức giáo hoàng, theo nhiệm vụ được Chúa Kitô giao cho các thánh tông đồ. Vì vậy, chúng tôi đề nghị chuyển ngữ magistère là quyền tông huấn. Có hai loại tông huấn: tông huấn thường và tông huấn đặc biệt về các vấn đề tín lý. Quyền này dựa trên giáo huấn của thánh Phaolô: ‘‘Hội thánh của Thiên Chúa hằng sống là cột trụ và điểm tựa của chân lý ‘’ (colonne et soutien de la vérité) (1 Tm 4,15). Hiến chế Lumen Gentium chỉ rõ ‘‘Hội thánh tiếp nhận từ các thánh tông đồ giới răn của Chúa Kitô và rao giảng chân lý cứu độ’’ (LG 17).

- Công đồng Trente (1542-1563):

Công đồng Trente là công đồng đại kết thứ 19 được Giáo hội công giáo công nhận. Công đồng do đức thánh cha Phaolô III triệu tập vào năm 1542 để đáp ứng thỉnh cầu của Martin Luther. Công đồng kéo dài 18 năm, với 25 khóa họp, trải qua 5 triều đại giáo hoàng, họp tại 3 thành phố. Công đồng Trente là một trong số các công đồng quan trọng, được công đồng Vatican II trích dẫn nhiều nhất. Phiên họp khoáng đại đầu tiên của công đồng diễn ra tại Nhà thờ lớn Trente (Ý) ngày 13-12-1545, tính đến ngày 13-12-2009 (ngày chúng tôi thuyết trình đề tài này tại Giáo Xứ Việt Nam tại Paris) là đúng 464 năm.

Theo công đồng Trente, đức mến không gì khác hơn là Chúa Thánh thần hành động trong ta. Chương 6 của sắc lệnh công đồng về thánh hóa (décret sur la justification), thường được gọi là biện chứng đời sống tình cảm đối thần (dialectique de la vie théologale affective), nhân đức này tiến triển không ngừng ơn thánh hóa (grâce sanctifiante) và đức mến (charité).

Theo các nghị phụ công đồng Trente, không ai đươc nên công chính nếu không được hưởng công nghiệp cuộc Tử nạn của Chúa Kitô. ‘‘Chúng ta tự hào khi gặp gian truân, vì biết rằng: ai gặp gian truân thì quen chịu đựng; ai quen chịu đựng, thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận là trung kiên, thì có quyền trông cậy. Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tinh yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh thần mà Người ban cho chúng ta’’ (Rm 5,2-5).

- Công đồng Vaticanô II (1962-1965):

Đức Thánh Cha Gioan XXIII khai mạc công đồng Vaticanô II ngày 11-10-1962 sau 4 năm chuẩn bị. Có tất cả 80 hồng y, 7 thượng phụ, 2 594 tổng giám mục và giám mục, 97 bề trên dòng, 52 giáo dân, 101 quan sát viên ngoài công giáo, tổng cộng là 2932 vị. 17 vị giám mục miền Nam là những nghị phụ Việt Nam lần đầu tiên tham dự một công đồng đại kết.

Hai văn kiện công đồng quan trọng nhất đều đề cập đến đức mến:

Hiến chế Lumen Gentium : Trong phần kết luận, các nghị phụ cho rằng đức cậy chỉ trọn vẹn nếu đức mến nên trọn vẹn, như lời thánh Phaolô: ‘‘Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến’’ (1 Cr 13,13).

Theo điều 42 của Hiến chế, ‘‘Thiên Chúa là tình yêu, ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy’’ (1 Ga 4,16). ‘‘Vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà người ban cho chúng ta’’ (Rm 5,5). Chính vì vậy, ân sủng chủ yếu và tối cần chính là đức mến. ‘‘Đức mến như hạt giống tốt, tăng trưởng và trổ sinh hoa trái’’.

Điều 4 của hiến chế đề cập đến đức mến trong tương quan với các linh mục: ‘‘Theo hình ảnh của Linh mục Thượng phẩm muôn đời, là chủ chăn và giám mục chăm sóc linh hồn chúng con, trên hết, các vị chủ chăn của Chúa Kitô phải làm tròn chức vụ trong sự thánh thiện và lòng nhiệt thành, khiêm tốn và can đảm. Một sứ vụ chu toàn là phương cách thánh hóa lý tưởng. Được chọn trong sự viên mãn của chức linh mục, các ngài lãnh nhận ân sủng bí tích trong việc chu toàn nhiệm vụ đức mến nhờ lời cầu nguyện’’.

Hiến chế Gaudium et Spes: Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay là một trong các văn kiện quan trọng của công đồng Vaticanô II. Văn kiện này được 2 307 giám mục thông qua và được Đức Thánh Cha Phaolô VI ban hành ngày 8-12-1965, ngày cuối cùng của công đồng. Hiến chế bắt đâu bằng: Gaudium et Spes (Vui mừng và hy vọng), được dùng để đặt tên cho văn kiện lịch sử này. Hiến chế viết về tình yêu vợ chồng như sau: ‘‘Chúa Kitô ban dồi dào ơn phúc cho tình yêu muôn hình ấy, một tình yêu phát xuất từ nguồn mạch tình yêu Thiên Chúa và được tác thành theo gương kết hiệp của Chúa Kitô và Giáo Hội. Thực vậy, như xưa kia Thiên Chúa đến gặp gỡ dân Ngài bằng một giao ước yêu thương và trung thành, ngày nay Ðấng Cứu Thế, Bạn Trăm Năm của Giáo Hội, cũng đến với đôi vợ chồng qua Bí Tích Hôn Phối. Người còn ở lại với họ để hai vợ chồng cũng mãi mãi trung thành yêu thương nhau bằng sự tự hiến cho nhau như Người đã yêu thương Giáo Hội và đã nộp mình vì Giáo Hội. Tình yêu vợ chồng đích thực được kết nhập trong tình yêu Thiên Chúa, được hướng dẫn và thêm phong phú nhờ quyền năng cứu chuộc của Chúa Kitô và hoạt động cứu rỗi của Giáo Hội, để hai vợ chồng được dẫn dắt cách hữu hiệu đến cùng Thiên Chúa, cũng như được nâng đỡ và kiện cường trong nhiệm vụ cao cả làm cha mẹ. Bởi đó, vợ chồng Kitô hữu được củng cố và như được thánh hiến bằng một bí tích riêng để được lãnh nhận các bổn phận và phẩm giá của bậc sống họ; nhờ sức mạnh của bí tích này, họ được thấm nhuần tinh thần Chúa Kitô mà chu toàn bổn phận hôn nhân và gia đình của họ, nhờ đó tất cả đời sống của họ được thấm nhuần đức tin, cậy, mến, và càng ngày họ càng tiến gần hơn tới sự trọn lành riêng biệt của họ và sự thánh hóa lẫn nhau; và bởi đấy, cùng nhau tôn vinh Thiên Chúa.’’

Kết luận:

Trong phần mở đầu, chúng tôi đã nói đến sứ điệp của Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI đề cao ba nhân đức đối thần xuyên suốt lịch sử đạo công giáo ở Việt Nam. Trong phần kết luận chúng tôi lại xin trích dẫn huấn giáo của Đức Bênêdictô XVI, tác giả hai thông điệp đều nói về tình yêu: Caritas Deus Est (28-1-2006) và Caritas in veritate (7-7-2009). Trong bài buấn giáo ngày 27-11-2008, Đức Bênêdictô XVI đã nói đức tin mà không có đức mến không còn là đức tin thực sự, mà chỉ là đức tin chết. Tình yêu tha nhân mang ý nghĩa đặc biệt trong Kitô học. Chỉ những ai thương sót người anh em đau khổ, thiếu thốn mới thực hiện trọn vẹn tình yêu Thiên Chúa. Thái đô dửng dưng, khép kín trước đồng loại là đóng cửa không đón nhận Chúa Thánh Thần, quên lãng Chúa Kitô và phú nhận tình yêu thương nhân loại của Ngôi Cha. ‘‘Vì xưa Ta đói, các người đã cho ăn; Ta khát, các người đã cho uống; Ta là khách lạ, các người đã tiếp rước; ta trần truồng, các người đã cho mặc; Ta đau yếu, các người đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các người đến hỏi han’’ (Mt.25,35-36). ‘‘Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy’’ (Mt 25,45).

Chúng ta cùng nghe ‘‘Khi xưa Ta đói’’ của Linh mục Thành Tâm, cảm hứng theo Mt 25,35-36: http://ThanhCaVietNam.org/ThanhCaVN/#Play,3396

Paris, ngày 8 tháng 12 năm 2009

Lê Đình Thông

Lê Đình Thông

trích vietcatholicnet

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)