dongcong.net
 
   
 
 
 
 

 

 
Một Thoáng Suy Tư
 
 
Tầm Xuân, CMC
 
<<<    

ANH HÙNG NGÃ NGỰA VÀ KHÚC QUANH CUỘC ĐỜI

Ở Việt Nam có những khó khăn ở Việt Nam. Ở Mỹ có những khó khăn ở Mỹ. Đâu đâu cũng có những khó khăn, những trở ngại. Càng văn minh nhiều thì càng khó khăn nhiều. Nhưng, những khó khăn đó chúng ta có thể vượt thắng để có được một gia đình ấm êm, hạnh phúc nếu chúng ta biết cảm thông và cùng giúp nhau thắng vượt.

Tôi đang làm việc ở Đài Loan. Mỗi năm tôi có dịp trở về Mỹ thăm mẹ già tôi và những người thân mà trong thời gian học hành cũng như phục vụ ở Mỹ tôi đã có dịp giao tiếp với họ. Nhiều người đã hỏi tôi một vấn đề tương tự như sau :

Trước đây những  người chồng của họ rất là lanh lẹ, tháo vát, lịch sự, dễ thương, nhưng từ khi đi học tập cải tạo về, và nhất là thời gian gần đây sau khi sang đất Mỹ, chồng của họ hoàn toàn đổi tính: ít cười, ít nói, khó tính và hay gắt gỏng. Các bà phải cố gắng nhiều lắm để cho bầu không khí trong gia đình được vui vẻ, êm ấm. Nhưng rồi, không biết họ sẽ chịu đựng được bao lâu nữa? Họ hỏi tôi có cách nào để giúp họ không? 

Rất tiếc những lần gặp gỡ như thế, thời gian và khung cảnh không cho phép tôi thảo luận nhiều về vấn đề đó, nhưng tôi rất cảm thông và thành thật muốn chia xẻ những khó khăn của một số gia đình anh chị em đang gặp phải, nhất là đây là những gia đình mà tôi đã từng quen biết và còn thân thiết nữa. Tôi muốn dùng bài chưong nầy để chia xẻ một chút kinh nghiệm cũng như một ít kiến thức mà tôi đã học được, với một số anh chị em đang gặp phải cùng một hoàn cảnh như trên. Hy vọng nó có thể giúp anh chị em hiểu được đâu là nguyên nhân của những biến chứng đó.

Hậu Quả Của Những Kinh Hoàng Trong Cuộc Sống

Hãy nhớ rằng tất cả chúng ta đều là nạn nhân của một cuộc chiến cũng như sự kết thúc cuộc chiến một cách vô nhân đạo. Chiến tranh đã cướp đi biết bao nhiêu nhân mạng cũng như biết bao nhiêu tài sản của dân tộc chúng ta. Khi chiến tranh còn đang tiếp diễn, mọi người đều ước mong sớm có hòa bình. Nhưng rồi, sau khi chiến tranh kết thúc mọi sự càng bi đát hơn. Một số người không ít đã phải đi học tập cải tạo trong những trại tập trung hết sức khắc nghiệt và tàn nhẫn. Một số khác không thể nào chung sống được với những con người không cùng chung lý tưởng nên họ đã bỏ nước ra đi, sẵn sàng chấp nhận tất cả những thương đau như lang thang trong rừng sâu nước độc hay cuộc sống trôi giạt bồng bềnh trên biển cả. Họ sẵn sàng hy sinh tất cả ngay cả mạng sống mình để đi tìm một cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Chính sự bỏ nước ra đi của hàng triệu người Việt Nam vào cuối thế kỷ 20 đã làm cho cả thế giới kinh hoàng, bỡi họ đã chứng kiến những cảnh tượng hết sức hãi hùng khủng khiếp đã xảy ra cho một dân tộc đã một thời chiến đấu cho sự hòa bình của thế giới. Và hậu quả của những cảnh tượng hãi hùng đó đã đem lại một sự bất hạnh cho nhiều người và nhiều gia đình Việt Nam trong nước cũng như ngoài nước trong suốt cuộc đời còn lại của họ.

Thật vậy, có những bằng chứng rõ ràng cho thấy có sự tương quan giữa những khủng hoảng về tinh thần  và những người tỵ nạn Việt Nam trong suốt hai thập niên qua. Khác với những nhóm người di dân khác, người tỵ nạn Việt Nam đã phải rời bỏ quê hương một cách bất đắc dĩ. Tái định cư ở một nước mới là một sự chọn lựa bắt buộc, đúng hơn là một sự đào trốn, một sự bỏ nước ra đi vì không chịu nổi một cuộc sống quá bi đát lầm than. Rời bỏ quê hương để ra đi là một sự mất mát: mất tổ quốc, mất gia đình, mất gia sản, mất sự nghiệp, mất văn hóa, mất ngôn ngữ, mất truyền thống, mất phong tục, nghĩa là mất tất cả di sản thiêng liêng quí giá của ông bà tổ tiên bao ngàn đời để lại. Chính những điều đó đã làm cho nhiều người tỵ nạn trở thành những con bệnh tâm thần, bỡi lẽ họ ra đi không có sự chuẩn bị. Họ ra đi trong sự xáo trộn, trong sự bất an, trong sự hiểm nguy, và tương lai trước mặt họ là cả một vùng trời đen tối đầy thử thách đang chờ đón họ.

Chính vì thế, tiến trình di dân của người tỵ nạn đã được xem là một yếu tố quan trọng trong tiến trình tâm bệnh. Sự liên hệ giữa việc khủng hoảng tinh thần và người Việt tỵ nạn nằm trong vấn đề phải thích nghi vào xã hội mới. Đối với người tỵ nạn, cái khó khăn trong viêc hội nhập một nền văn hóa mới chính là cái hậu quả của những kinh nghiệm hãi hùng, ghê rợn mà họ đã phải chứng kiến hay đã phải trải qua, chẳng hạn như: nhà cữa, của cải, sự nghiệp đều bị tước đoạt; thân xác bị đánh đập, tra tấn cách dã man; bị đưa đi lao động khổ sai trong các trại tù cải tạo; hoặc phải chứng kiến những cái chết rợn rùng của những người đồng bạn. Kinh nghiệm về những điều hãi hùng đó đã làm cho nhiều người tỵ nạn khó hội nhập được vào môi trường mới.

Hơn nữa, tất cả những người tỵ nạn đều bị tách rời khỏi những người trong đại gia đình họ hoặc cộng đồng của họ. Việc họ phải đến một quốc gia có truyền thống tôn trọng cá nhân hơn gia đình, đàn bà hơn đàn ông, và trẻ con hơn là người già, đã khiến họ cảm thấy lạc lõng giữa lòng xã hội. Vì thế, họ không chỉ đối diện với xã hội mới, có nền văn hóa hoàn toàn khác biệt mà đồng thời họ cũng còn phải đối diện với sự mất mát gia đình, cộng đoàn, và hệ thống xã hội của chính họ nữa.

Trong môi trường mới, cá nhân đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình hội nhập. Mức độ hội nhập, thích nghi sẽ khác biệt tùy theo nhóm, dân tộc, và đặc tính cá nhân, tùy thuộc vào khả năng hội nhập của mỗi người. Sự thành công trong việc hội nhập  tùy thuộc vào những yếu tố như: ước muốn thích nghi, khả năng nhận ra giá trị của nền văn hóa khác biệt, sức mạnh nâng đỡ của mạng lưới con người trong xã hội mới, và sự giải quyết những ám ảnh tâm lý của quá khứ còn lưu lai trong tâm hồn họ.

Rất nhiều người tỵ nạn đã phải trải qua hoặc chứng kiến những biến cố hãi hùng trước khi họ được định cư ở một nước thứ ba. Chính những biến cố nầy vẫn còn đang tiếp tục ảnh hưởng đến sự phát triển đời sống tâm lý của họ và là những ngăn trở lớn lao cho việc thích nghi vào xã hội mới. Sự thích nghi vào cuộc sống mới bao gồm việc học hành những kỷ thuật đối phó mới cũng như những lối cư xử và giao tế mới.

Nhưng nhiều người đã học những cách thế để sống còn xem ra thật là phi lý và phi nhân. Chẳng hạn nhiều người tỵ nạn đã chứng kiến những cảnh hãm hiếp, đánh đập dã man, những cảnh giết người tàn nhẫn trên đường vượt biển, nhưng họ vẫn còn được sống sót nhờ việc họ giả dạng khù khờ, ngơ ngáo. Cái phản ứng nầy thường có đối với những người được sống sót sau những cuộc tàn sát. Để được sống còn, họ phải giả điếc làm ngơ, hoặc phải vâng lời một cách khờ khạo, vì họ biết rằng nếu họ tỏ ra khôn ngoan hoặc chất vấn, họ cũng sẽ bị tiêu diệt như những đồng bạn của họ. Sự sợ hãi nầy vẫn còn tiếp tục xảy ra với những người tỵ nạn, đã khiến cho cuộc sống họ trở nên bất bình thường và dĩ nhiên khó thích nghi với xã hội mới.

Một yếu tố quan trọng khác mà thiết tưởng chúng ta cũng cần nên biết, đó là quan niệm không mấy rõ ràng về cái lý do tại sao họ lại đến cư ngụ ở một đất nước xa lạ nầy với mọi sự mới mẻ phải bắt đầu từ con số không. Với cảm giác hận thù, giận dữ còn ghi khắc sâu trong đáy lòng họ về một cuộc chiến tranh phi lý mà họ cho rằng chính đất nước nầy đã đem lại chiến tranh và rồi đã bỏ họ ra đi một cách vô trách nhiệm để rồi chính quê hương họ, dân tộc họ, bà con họ, xóm làng họ phải chịu cảnh chết chóc, cảnh chia ly, cảnh ăn xin nơi vùng đất mới. Làm sao họ có thể đón nhận một nền văn hóa như vậy để hội nhập vào xã hội mới khi họ vẫn còn mang đầy mặc cảm đó?

Một số khác còn mang mặc cảm tội lỗi nầy nữa là: chính sự ra đi của họ đã khiến cho những người ở lại phải chịu lấy một cuộc sống lầm than vì họ đã phải chi phí quá nhiều cho những người ra đi, hoặc vì những người ra đi mà kẻ ở lại phải chịu nhiều bắt bớ đánh đập, tra tấn dã man, đã khiến cho cuộc sống của họ mang đầy những mặc cảm. Quả thật, không phải dễ dàng để hội nhập vào cuộc sống mới đối với những người như vậy.

Những Cảm Giác Đau Buồn Đi Kèm Với Một Ngôn Ngữ Mới

Nói đến việc hội nhập một môi trường mới, xã hội mới, văn hóa mới thì cũng phải nói đến việc học một ngôn ngữ mới. Ngôn ngữ đóng một vai trò quan trọng trong việc thích nghi vào đời sống mới. Hầu hết những người lớn tuổi gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề học một ngôn ngữ xa lạ. Ngoài vấn đề khó khăn của ngôn ngữ, cảm giác kèm theo khi họ học ngôn ngữ lại còn quan trọng hơn nữa đối với họ. Học một ngôn ngữ mới, có nghĩa là rời bỏ quê hương của mình, mất đi nguồn gốc của mình, mất văn hóa của mình, mất căn tính của mình, mất tất cả những cái tinh túy của mình để trở thành một kẻ vô gia cư, vô tổ quốc, đến ăn nhờ ở đậu ở một nước đã phản bội mình. Cái cảm giác đau buồn đó đã xé nát tim họ và đã ám ảnh họ trong suốt cuộc đời. Và đây là một ví dụ: một bà mẹ kia mà gia đình của bà một nửa đã chết vào những ngày cuối cùng của tháng tư năm 1975, còn lại một nửa khác thì bị bọn hải tặc giết chết trên đường vượt biển, chỉ còn bà và đứa con gái nhỏ nhất được sống sót. Một đêm kia bà đã nằm mơ thấy chồng bà hiện ra giận dữ ra lệnh cho bà không được để đứa con gái nói tiếng Mỹ nữa mà phải nói tiếng Việt: “Bà hãy bảo với con rằng: mầy hãy nhớ mầy không phải là người Mỹ mà là người Việt Nam. Mầy phải nói tiếng Việt không được nói tiếng Mỹ nữa.”

Bên cạnh những phức tạp chồng chất đó, chính việc phải chiến đấu với ngôn ngữ cũng mang lại cho họ ký ức về thời gian tốt đẹp quá khứ, thời gian mà việc đối thoại với những người chung quanh không có gì là khó khăn cả. Và cũng chính ký ức về một qúa khứ huy hoàng đó đã làm tăng thêm cảm xúc buồn chán và sự thất vọng trong cuộc sống mới. Sự bắt đầu đi học một ngôn ngữ khiến họ có cảm giác tuổi nhục nầy là: phải làm lại cuộc đời ngay từ đầu như một đứa trẻ mới chập chững vào đời, khởi sự đi học để nhận biết cuộc sống và biết cách làm sao để thích nghi vào cuộc sống. Điều đó đã khiến họ cảm thấy tự ái và đã mang lại cho họ những cảm giác chán chường trong cuộc sống.

Cuối cùng, việc học ngôn ngữ của một nền văn hóa mới cũng còn gây ra một sự tái định nghĩa về liên hệ gia đình để rồi tạo một sự xung khắc, một sự lẫn lộn, một sự sứt mẻ, một sự tái cấu trúc về một vai trò xã hội mà họ không muốn có. Chẳng hạn, trẻ con thâu nhận ngôn ngữ và văn hóa mới một cách mau lẹ hơn những người lớn đã gây ra tình trạng đảo lộn gia đình. Người lớn trở thành người lệ thuộc trẻ con trong những công việc phải giao tiếp với thế giới bên ngoài. Điều đó đã tạo nên một sự đảo lộn trật tự truyền thống trong gia đình mà họ được hấp thụ và gìn giữ từ bao năm trước, khiến họ khó có thể chấp nhận xã hội mới với một trật tự mới.

Ngôn ngữ đã là một vấn đề phức tạp, vấn đề học vấn và công ăn việc làm theo đó lại là cả một con đường dài đầy chông gai và thử thách. Cái học vấn ngày xưa của họ có thể không còn thích hợp với môi trường mới vốn cần những kiến thức chuyên môn và thực nghiệm. Vì thế, họ bắt buộc phải làm lại cuộc đời từ đầu. Tuy nhiên, bắt đầu làm lại cuộc đời đối với những người lớn tuổi và đã có những kiến thức chuyên môn như bác sĩ, luật sư, giáo sư…thật không phải là một vấn đề dễ dàng cho lứa tuổi của họ. Nhưng, nếu họ không đủ ý chí và nghị lực để trau giồi kinh sử nữa thì chắc chắn người vợ phải ra đi làm để gia đình có thể sinh sống, bấy giờ trật tự và giá trị truyền thống của gia đình cũng bắt đầu thay đổi, bỡi vì ai là người làm ra tiền người ấy sẽ là người cảm thấy có giá trị và uy quyền trong xã hội mới nầy. Quả thật, không có gì đau khổ và mang nhiều mặc cảm cho bằng khi người đàn ông cảm thấy mình bất lực, không còn khả năng gánh vác nổi trách nhiệm của người chủ trong gia đình. Chính điều đó đã làm cho họ trở nên trầm tư, ít nói, gắt gỏng, khó chịu đối với những người chung quanh.

Trên đây là một số những nguyên nhân tôi muốn nêu lên để giúp anh chi em có thể hiểu được những biến chứng mà một số anh chị em đang gặp phải nơi những người thân yêu của chúng ta. Nếu hiểu được những nguyên nhân sâu xa đó, tôi thiết tưởng anh chị em có thể dễ dàng cảm thông và chấp nhận nhau hơn.

Tác giả Lê Văn Quảng, Lm

 

<tiểu mục <trang nhà

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)