Suy Niệm của Huệ Minh

Chúa nhật 22 thường niên, năm A

 

CHÚA NHẬT TUẦN XXII THƯỜNG NIÊN-2020

Jr 20, 7-9; Mt 16, 21-27

ĐƯỢC & MẤT

Trang Tin Mừng hôm nay nói tới cái Mất và cái Được. “Nếu ai dám mất mạng sống mình ở đời này vì Thầy thì sẽ được nó ở đời sau”. Mất mạng sống tức từ bỏ mình vác thập giá theo Chúa – được đời sau tức được nước thiên đàng, được Thiên Chúa, được hạnh phúc muôn đời. Như vậy nếu so sánh chúng ta sẽ thấy mình mất những cái gì tạm thời để được những cái gì vĩnh cửu – mất những thú vui chóng qua để được hạnh phúc trường tồn, mất thân xác mục nát để được linh hồn bất tử, mất tội lỗi và hình phạt để được ân điển và phần thưởng, mất sự cắn rứt lương tâm để được bình an tâm hồn.

Trong lắng đọng, ta thấy Cái mất này so với cái được thì mất quá nhỏ nhoi, còn cái được thì bao la vô tận. Cái mất này là “tấm vé” vào Nước Trời. Nước Trời là thực tại không thể mua bằng quyền lực, tiền bạc, sống lâu, danh vọng, tài giỏi… Nước Trời chỉ có thể mua bằng việc dám mất mạng sống, dám từ bỏ mình.

Từ bỏ mình là khi chúng ta giữ 10 điều răn Chúa, là khi chúng ta yêu thương và tha thứ kẻ thù, là khi chúng ta chấp nhận cái nóng lạnh của thời tiết, là khi chúng ta chấp nhận những bệnh tật Chúa gởi đến, là khi chúng ta chu toàn bổn phận của cha mẹ hay con cái trong nhà, là khi chúng ta phục vụ những công tác của giáo xứ, là khi chúng ta dám bỏ giờ để thăm viếng bệnh nhân… Nói chung là khi chúng ta chấp nhận phải hy sinh hơn, phải vất vả hơn, phải thiệt thòi hơn.

Thiên Chúa không hứa hạnh phúc mau qua, Thiên Chúa không chiều chuộng để chúng ta hư đi. Nhưng Thiên Chúa nói thẳng và nói thật “Ai dám mất mạng sống thì người đó được lại”. Mỗi người chỉ sống một đời, đời đó lại rất cá biệt không ai thay thế được, cho nên chúng ta đừng dại mang đời mình ra chơi trò may rủi. Vì được lời cả thế gian mà sau này mất thiên đàng thì chúng ta còn gì mà chuộc lại. Cái chắc ăn nhất là dám chọn cái “mất” tạm thời để nhận cái “được” thiên thu.

Chúng ta có thể dễ dàng loại bỏ sang một bên tư tưởng của Thiên Chúa để chạy theo tư tưởng của loài người, để rồi cuối cùng đánh mất bản chất người Kitô hữu. Môn đệ không trọng hơn thày. Nếu Chúa Giêsu đã chọn con đường đau khổ và thập giá vì trung thành với sứ mạng phục vụ con người trong sự thật và tình thương, thì người môn đệ của Ngài cũng phải dám liều mạng sống mình vì Ngài, cũng như vì anh em, thì mới hy vọng tìm lại được mạng sống mình.

Đường lối Chúa Cha đã chỉ cho Đức Kitô thực hiện dường như không đi đúng với cái lý luận thường tình của con người được phản ảnh qua thái độ của Phêrô. Con người dễ dàng chọn theo chiến thuật của Satan, mau mắn xử dụng của cải, danh vọng và quyền lực để thực hiện mọi ý đồ của mình. Và con người cũng dễ viện cớ phục vụ vinh quang Thiên Chúa: Xin cho danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, để xây dựng sự nghiệp của riêng mình.

Trái lại, qui luật sống của chúng ta, những người môn đệ Chúa, được thánh Phaolô xác quyết: vinh dự của chúng ta là thập giá Đức Kitô. Đừng lầm tưởng rằng đó là một tâm trạng bệnh hoạn, ưa chuộng khổ đau. Dù muốn hay không, thập giá vẫn có mặt trong cuộc sống con người, dưới những danh nghĩa khác nhau, như đau khổ, bệnh tật, tai nạn, cô đơn… nhưng thập giá không chỉ là chịu đựng, chấp nhận một cách thụ động. Vác thập giá còn là một chọn lựa tích cực, như Chúa Giêsu đã từng tâm sự: Thày sẽ phải chịu một phép rửa và lòng Thày khắc khoải biết bao cho đến khi việc ấy hoàn tất. Phép rửa ấy chính là cái chết trên thập giá.

Thế nhưng trong cuộc sống, chúng ta có biết bao sự chọn lựa đi ngược lại với thập giá, tương tự như hành động của Phêrô lẩn trốn khỏi thành Rôma đang khi hoàng đế Nêrôn ra tay bắt đạo. Và trên đường, Phêrô đã gặp Chúa Giêsu đi ngược chiều. Phêrô lên tiếng hỏi: Quo vadis Domine. Lạy Thày, Thày đi đâu đấy? Chúa Giêsu trả lời: Ta đi vào thành Rôma để chết thay cho con.

Người môn đệ Chúa vác thập giá mình mà theo Chúa khi đứng về phía con người, phục vụ cho sự sống, cho tình thương, cho sự thật dù có phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Thập giá sẽ không đè bẹp con người đi theo Chúa, bởi vì chính Ngài tự nguyện làm một Simong ghé vai vác đỡ, đồng thời chính thập giá sẽ nâng chúng ta lên và đem lại cho chúng ta sự sống vĩnh cửu.

Con đường thánh giá là con đường dẫn đến phục sinh. Con đường từ bỏ là con đường dẫn tới vinh quang. Phải qua sự chết mới đến sự sống. Phải qua tủi nhục mới đến vinh quang. Phải qua gian khổ mới đến hạnh phúc. Thánh Phaolô đã hiểu biết tường tận con đường của Chúa nên đã nói: “Chúa Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chuá mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Chúa Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2, 6-11).

Mỗi Kitô hữu đều có những cái để từ bỏ, nhưng cần thiết nhất và cũng khó khăn nhất là phải từ bỏ chính mình, từ bỏ cái tôi cao ngạo, ích kỷ, hưởng thụ, để được ngay từ bây giờ niềm vui, an bình và hạnh phúc.

Lời Chúa hôm nay gởi đến cho chúng ta sứ điệp: từ bỏ không phải để mất, mà để được, được lại một cách sung mãn, hoàn hảo và cao cả phong phú hơn gấp bội. Mất hiện tại, để được tương lai. Mất đời này, để được đời sau. Mất phàm tục, để được thần thiêng. Mất tạm bợ, để được vĩnh cửu.

 

Chúa nhật XXII TN - VÁC THẬP GIÁ ĐỜI MÌNH 2017

Kính thưa Cộng đoàn,  

 

Người Công giáo của chúng ta, có thể có một lý do nào đó, chúng ta đi vào chùa và ngược lại, chúng ta thấy có những người không phải là Kitô giáo vẫn đi đến nhà thờ.

Và nếu như một người Công giáo đi vào chùa, mà để ý một tí xíu ! Ở trong những cái ngôi chùa mà theo phái Bắc Tông đó, thì trong chùa đó chúng ta thấy có thờ hai cái vị thần là : Thần thiện và Ác thần, thì dân gian vẫn gọi là ông Thiện, ông Ác. Thiện thần là cái vị thần mà khuyến khích người ta làm điều thiện, ủng hộ chống lại cái sự tham lam và rồi Ác thần là vị thần Ác bắt phạt những người có ác tâm phá hoại Phật pháp, những người tu hành.

Trong thực tế thì kinh điển Phật giáo chỉ nhắc đến  phần hộ pháp mà thôi! Và có thể nói, đây là hình thức giáo dục con người. Khuyên răn con người nên ăn ngay ở lành, không có dã tâm làm hại người khác, khiến cho ai đau khổ. Những người làm việc lành, thì vị thần Thiện ủng hộ, còn những người làm việc ác thì sẽ bị trừng phạt.  Và đó là một cái quan điểm nhắc nhở mọi người sống có cái thiện tâm. Và chúng ta thấy rằng, nó rất là gần gũi với cuộc đời của mỗi người chúng ta. Trong chúng ta lúc nào nó cũng có hai cái xu hướng đối lập nhau : “thiện và ác”, “dữ và lành” !

Ngày hôm nay, trang Tin mừng rất là phong phú. Nhưng mà, con chỉ muốn dừng lại, và gợi lại, cùng với Cộng đoàn chúng ta, suy nghĩ về khuôn mặt của một người rất đặc biệt, và rất quen thuộc với chúng ta đó là: thánh Phêrô.  

Không biết trả lại Lời Chúa lại cho các cha, hay là mang về nhà để mà suy niệm. Tuần trước không biết ai nhớ là mình đi lễ,  rồi nghe đoạn Tin mừng gì?  Không biết Cộng đoàn có ai nhớ không?

Thôi thì xin phép nhắc luôn: Tuần vừa rồi thì chúng ta vừa thấy được cái hình ảnh rất đẹp của thánh Phêrô.  

Các môn đệ nói thầy là ngôn sứ, thầy là ông Êlia, thầy là ông Gioan Tẩy Giả. Nhưng chỉ một mình Phêrô trả lời với Chúa Giêsu:   “ Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”.

Thế nhưng mà ngày hôm nay, chúng ta thấy bi đát lắm! Khi mà Phêrô, vì thương  thầy quá nên đã cản thầy  không có cho thầy đi lên Giêrusalem để mà chịu chết. Khi mà Phêrô kéo riêng thầy ra thầy thì Chúa Giêsu lại quở mắng:

- Satan, lùi lại đằng sau thầy! Anh cản lối thầy. Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa mà là tư tưởng của loài người.

Tội nghiệp Phêrô, lúc thì được đưa lên đến đỉnh cao:

- Này anh Phêrô anh có phúc vì được Thiên Chúa mạc khải.  

Còn bây giờ bi đát quá! Ở trong 9 tầng sâu của địa ngục, tướng quỷ là Sa tan.

Ngày hôm nay Chúa Giêsu trách móc Phêrô và chúng ta thấy quả là một con người mâu thuẫn. Vừa được lên thiên đàng rồi xuống hỏa ngục.

Và hình ảnh đó cho chúng ta thấy nơi bài đọc thứ nhất mà chúng ta vừa nghe đó ! Hình ảnh của Giêrêmia,  Giêrêmia giằng co, rồi nhiều lúc cảm thấy mệt mỏi, nhiều lúc cảm thấy buồn chán. Bạo tàn, bạo tàn vì Lời Đức Chúa mà con đây chịu sỉ nhục. Có nhiều lúc con tự nhủ: - Thôi con không nghĩ đến Người, chẳng nhân danh Người mà nói nữa!  Nản ! theo CHÚA mà quá vất vả !

Giêrêmia cảm thấy muốn buông xuôi. Rồi Lời Ngài cứ như ngọn lửa bùng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt một tâm tình giằng co và rồi Giêrêmia thắng được sự cám dỗ buông xuôi, để rồi Giêrêmia đi theo CHÚA cho đến cùng. Tâm can ông như bừng, như lửa ông trở về với Chúa .

Thật sự ra, chúng ta thấy không quá khó hiểu, bởi vì cái hành trình theo Chúa. Bước theo Đức Kitô là một cái hành trình mà luôn luôn đặt ra cho chúng ta sự lựa chọn. Đặt ra cho chúng ta sự quyết định theo Chúa, vác thập giá  đời mình, như CHÚA nói, hay là bỏ tất cả mọi sự , không còn lòng trí đi theo Chúa nữa. Và chính điều này:  bỏ Chúa hay theo Chúa,  vác Thập Giá hay bỏ thập giá! Đòi hỏi chúng ta trở về với chiều sâu nội tâm trong lòng mình. Để chúng ta khám phá cái con người thật của mình.  Để chúng ta cân chỉnh cái con người thật của chúng ta.

Mỗi một con người chúng ta, đều có thiên thần và có ác quỷ. Nhưng rồi để chúng ta làm gì đó, sống như thế nào đó, tập luyện như thế nào đó, để ngày mỗi ngày: khuôn mặt của chúng ta sáng hơn, khuôn mặt của chúng ta giống như thiên thần  hơn, giống như Thiên CHÚA hơn. Và để làm được điều đó, chúng ta phải làm gì ?

Chúng ta thấy các loài động vật xung quanh chúng ta, đặc biệt là con khỉ. Nó rất khôn, nó rất lanh và nó  có thể bắt chước được tất cả  những hành vi của con người. Gần nhà thờ con ở, có một con chó mà người ta nói rằng : đốm lưỡi một tí là đã khôn lắm rồi mà hai con chó này nó đốm luôn cả hai cái lưỡi. Nó khôn lắm! nó nhìn và nó xin, lúc nào  mà cho nó ăn thì thôi,  rất nhạy bén. Nhưng nó không bao giờ, nó nhìn thấy được nó và nhất là nó không thấy được tâm hồn của nó.

Còn con người của chúng ta, Thiên Chúa tạo dựng chúng ta một cách rất đặc biệt. Chúng ta có thể nhìn thấy đối phương. Chúng ta có thể nhìn thấy đối diện. Nhưng chúng ta có thể nhìn thấy chính trong lòng của chúng ta. Nếu ồn ào quá! Nếu náo nhiệt quá!

Và nếu như chỉ sống bề ngoài, chúng ta rất dễ nghe theo những lời của người đời:

-  Ối giời ơi, hôm nay nhìn trông bác đẹp quá ! Hôm nay nhìn bác xinh quá! Hôm nay nhìn chị có cái nhẫn hột xoàn đẹp quá! Cuộc đời Bác thành công quá! Bác vinh quang quá! Bác tài quá!

Nhưng tất cả các điều đó, nó chỉ ở bên ngoài. Và những điều đó đã lấp đầy con mắt chúng ta để chúng ta không khám phá ra con người thật của mình.

Và nhìn thấy những cô gái.  Chúng ta thấy là đàn bà con gái thì, chúng ta biết rồi, phái đẹp mà ! Có cô gái nào không soi gương không?  

Có chứ,  có soi chứ . Mà giả như thấy một cái vết nào đó trên gương mặt của mình, dám để cái vết đó để mà đi nhà thờ không?

Không có đâu.  Có lẽ,  trể lễ một chút xíu, nhưng mà lấy cái bản chà, chà cái mặt mình lên một tí, và trét lên một tí phấn cho nó đẹp mới đi nhà thờ chứ!  

    Đặc biệt,  còn đi ăn tiệc , tội nghiệp quá nhiều khi mấy cô mất mấy tiếng đồng hồ trang điểm chỉ đi ăn tiệc hai tiếng đồng hồ.

Và chính cái thái độ nhìn mình để soi mình trong gương và cân chỉnh cái khuôn mặt của mình, đó là: Nếu mà theo tiếng nhà đạo của mình gọi là “Linh Thao” (Exercise Spiritual). Con thì không giỏi ngoại ngữ lắm nhưng mà nhưng tạm thời cái từ đó gọi là tập luyện,  tập luyện tâm hồn của mình.

Ngày hôm nay, chúng ta thấy có nhiều phong trào:  đi tập thể dục, đi tập điền kinh, đi đánh cầu lông, đi đánh tennis, để làm gì ? Để cho cơ thể nó đẹp. Điều đó cũng đúng thôi ! Bởi vì ngày hôm nay ăn nhiều quá mà cơ thể ít vận động! Nên người ta tập luyện. Tập luyện để cho cơ thể người ta đẹp. Người ta khỏe. Người ta sống với nhau. Nhưng mà nhiều lúc người ta chú trọng cái bề ngoài, cái thể lực, cái thể xác, mà người ta quên đi cái tập luyện để sống, để luyện cái tâm hồn đó là để sống Linh thao.

Linh thao là gì ? Linh Thao là cái thời gian tập luyện, để cho mình nhìn lại chính mình, để mình cân chỉnh cuộc đời của chính mình.

Có một số người đạo đức quá! Kỳ này, thưa cha: con sẽ cố gắng, con bỏ luôn cái tật xấu đó!

Nghe thấy cũng hay lắm ! Nhưng mà thật ra khó lắm! không đơn giản đâu! Bởi vì, mình dứt điểm cái con người của mình, đoạn tuyệt với cái tội của mình không phải dễ.

Chỉ cần xin : một tháng, hai tháng, ba tháng, mình bỏ đi cái tật xấu đó ! Ví dụ như là: trong tháng này mình quyết tâm đi làm đúng giờ!  tháng tới mình quyết tâm đi lễ vô nhà thờ. Tháng tới nữa, mình sẽ quyết tâm mình tập trung nghe Lời Chúa hơn, thì may ra còn được. Chứ còn bảo là mình quyết tâm: ngày nào cũng đi nhà thờ, ngày nào cũng đi Chặng Đàng Thánh Giá. Khó quá! Và chính trong cái nội tâm mà mình cân chỉnh đời mình,

Trong cái “Linh thao” đó, chúng ta khám phá ra được, Lời Chúa ngày hôm nay: Mời gọi chúng ta từ bỏ chính mình để vác thập giá mình mà theo.

Mà nghĩ tới đây, thì thấy Chúa Giêsu thất bại. Làm ăn coi như thất bại . Làm giám đốc thất bại. Khi người ta tuyển nhân viên đi vô công ty của mình, thì người ta hứa hẹn. Khi người ta lên làm tổng thống người ta hứa hẹn sẽ mang lại thái bình, thịnh vượng, thịnh trị cho đất nước. Khi mà lãnh đạo cho anh chị em, cái này cái kia !

Mà đi theo Chúa Giêsu được cái gì?

“Ai đi theo tôi, phải vác Thập Giá đời mình mà theo” Nản quá, xin lỗi! Lỡ đi theo đạo rồi, lỡ đi tu, lỡ làm cha  rồi! nên phải vác Thập Giá theo Chúa thôi ! Mà nhìn vậy chứ: Lời mời gọi đó, là chịu chết treo trên thập giá,  Xin lỗi! cũng đáng đời, cũng đúng thôi ! Cô đơn một mình trên thập giá cũng đúng thôi!

Bởi vì, chẳng ai trên cuộc đời này thích vác thập giá cả! Ai cũng muốn đi trên con đường tơ lụa! Thế nhưng, nhờ cái lối sống, cái cách sống phản tỉnh của mình, mà nhờ vào cái đời sống tập luyện thiêng liêng.

Không ai là thánh cả, không dễ!

Đời sống thiêng liêng, đời sống tâm hồn của mỗi người chúng ta cũng phải tập luyện giống như chúng ta tập thể thao. Con người chúng ta khỏe, để tâm hồn chúng ta khỏe, để chúng ta có một đức tin vững chắt! Chúng ta cũng phải tập luyện. Để cho ngày mỗi ngày đời mình mỗi ngày vác thập giá!

Vác thập giá theo chân Chúa không phải là vác một cây thánh giá gỗ 5, 3 chục ký. Nhưng mà, vác thánh giá theo Chúa đó là chấp nhận từ bỏ những tính hư nết xấu nho nhỏ của mình ngày mỗi ngày, và có khi đến chết vẫn chưa bỏ được tính xấu đâu !

Ngày mỗi ngày, chúng ta cùng vác thập giá theo chân Chúa bằng cách chúng ta từ bỏ những cái yếu điểm của mình: Những cái lời ăn tiếng nói làm phiền lòng người khác. Những cái làm tổn thương người khác.

Ngày mỗi ngày, mình tập một chút và hy vọng đến ngày mình gần chết, mình được thanh thoát để diện đối diện, mình ra gặp Chúa.

Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta. Để ngày mỗi ngày, mỗi đêm, khi đêm về chúng ta nhìn lại chính mình.

Chúng ta soi mình, không phải là soi trong cái gương, để chúng ta nhìn khuôn mặt mình đẹp. Nhưng chúng ta soi tận đáy lòng mình, để chúng ta nhìn, chúng ta cân chỉnh cuộc đời của chúng ta. Để chúng ta bớt đi tất cả cái tham, sân, si của đời mình để chúng ta vui vẻ và hăng hái lên đường, vác thập giá đời mình theo Chúa, cho đến cùng. Amen.

Hue Minh

 

Thứ Hai tuần XXII Tn-2020

1Cr 2, 1-5; Lc 4, 16-30

BỤT NHÀ SAO THIÊNG ?

Tin Mừng hôm nay là lời tiên báo về sự chống đối và bách hại mà Chúa Giêsu sẽ trải qua. Sau một thời gian rao giảng và làm nhiều phép lạ, danh tiếng Ngài được nhiều người biết đến. Thế nhưng, khi trở về quê hương, Ngài chỉ nhận được sự hững hờ và khinh rẻ của người đồng hương mà thôi. Quả thật, như Ngài đã trích dẫn câu tục ngữ quen thuộc: "Không tiên tri nào được đón tiếp nơi quê hương của mình", đó là định luật tâm lý mà chính Ngài cũng không thoát khỏi.

Nhưng quê hương đối với Chúa Giêsu không chỉ là ngôi làng Nazaréth nhỏ bé, mà sẽ là toàn cõi Palestina. Ngài đã đến nơi nhà Ngài mà người nhà của Ngài đã không đón tiếp Ngài. Cái chết trên Thập giá là tuyệt đỉnh sứ mệnh tiên tri của Chúa Giêsu, là lời nói cuối cùng của Ngài như một vị tiên tri.

Chúa Giêsu không chỉ đến để làm cho lời các tiên tri được ứng nghiệm, Ngài cũng là vị tiên tri đúng nghĩa nhất. Nơi Ngài cũng có những đặc điểm của các tiên tri: đối đầu với những giá trị sẵn có, Ngài tỏ thái độ như các tiên tri: Ngài nghiêm khắc với những kẻ khóa Nước Trời không cho người khác vào. Ngài nổi giận trước sự giả hình của những người Biệt phái. Ngài đặt lại vấn đề tư cách là con cháu Tổ phụ Abraham mà người Do Thái vẫn tự hào. Nhất là Ngài rao giảng không chỉ bằng lời nói, mà còn bằng cả cuộc sống của Ngài; do đó, bị chống đối, bị bách hại là số phận tất yếu của Ngài.

 Sau khi đọc sách xong, Chúa Giêsu cuộn sách trả lại và ngồi xuống giảng giải. Ngài khẳng định: “ Hôm nay lời kinh thánh mà các ông vừa nghe đã ứng nghiệm” ( c.20). Như thế là một cách Chúa Giêsu giới thiệu mình chính là Đấng  Mêsia, Đấng đến từ Thiên Chúa mang phúc lành cho toàn dân và hôm nay ơn cứu độ đã đến. Mọi người đều tán thành những lời ấy ( c.22). Họ tỏ ra hiểu được sứ điệp của lời Người vừa đọc và như sẵn sàng chuẩn bị đón chào con người của Ngài, là người vừa thốt ra lời hay ý đẹp.

Và tưởng chừng dến đây, ta tưởng rằng việc rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu đã thành công ngay bước khởi đầu, ngay ngày “ ra quân”, thế mà họ lại xầm xì “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?”. Một câu hỏi như muốn lột trần Đức Giêsu bằng con mắt tự nhiên ghen tỵ của họ. Họ thức tỉnh chính họ rằng: con người bằng xương bằng thịt đang đứng trước họ chỉ là con người bình thường trong một gia đình lao động mà họ biết rất rõ veà thân thế và sự nghiệp. Đức Giêsu đã đọc được điều đó trong lòng họ, trong thái độ của họ nên Ngài vạch trần tỏ tường ghen tỵ ấy bằng một lời khẳng định : “ Không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình” ( c. 24). “ Ngài đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” ( Ga,11).

    Đó là số phận của các ngôn sứ trong thời Cựu Ước và cũng là điềm báo cho số phận sau này của Đức Giêsu. Ngài bị chính dân Ngài chối bỏ, giết chết bằng cách đóng đinh trên Thập Giá. Sống ngôn sứ là dám chết cho lời chứng của mình và cái chết là lối chứng hương hồn và sống động nhất. Như các ngôn sứ trong Cựu ước, như Gioan Tẩy Giả và nhất là như Chúa Giêsu Đấng đã gióng lên tiếng yêu bằng cây Thập giá vinh quang. Đó là lối đường yêu thương của Thiên Chúa: Yêu đến cùng (Ga 13,1).

      Từ câu 25-27, Chúa Giêsu đưa ra dẫn chứng : Trong Cựu ước, những ai thuộc đoàn dân Chúa mà từ chối ơn lành, thì Thiên Chúa sẽ ban ơn cứu độ ấy cho dân ngoại như Êlia đã giúp bà goá Xa-rep-ta, như Êlisa đã chữa Naaman xứ Xyria. Những ví dụ này đánh động lòng chai cứng của người Do Thái, nhưng họ cứ chai lì trong  sự bướng bỉnh, cố chấp nên thay vì họ thay đổi, sám hối, ăn năn thì họ lại tỏ ra phẩn nộ, điên cuồng. Họ đồng phản ứng bằng cách: dứng dậy và lôi Chúa Giêsu ra khỏi thành, đưa lên đỉnh núi để tiêu diệt một con người dám nói lên sự thật, như gai nhọn đâm vào lòng họ.

Ta thấy họ muốn dập tắt tiếng nói lương tâm bằng hành vi giết chết một con người tiên tri. Nhưng họ không làm được vì giờ của Ngài chưa đến, vì con dường cứu độ của Ngài chỉ kết thúc ở Giêrusalem chứ không ở Nagiaret và Chúa Giêsu cứ tiếp tục con đường sứ vụ của Ngài “Ngài băng qua giữa họ mà đi” (c.30). Ngài vẫn hiên ngang ra đi loan báo Tin Mừng, dù bị chống đối, phản kháng.

Trong cuộc sống chúng ta hay có cái nhìn hay còn gọi là “bệnh thành kiến” về con người. Thành kiến là căn bệnh chung của nhiều người, có khi trở thành kinh niên bất trị. Thành kiến cũng có khi là một tâm trạng thiên lệch rất tai hại, là một sự yên trí, phán đoán, nhất là những tư tưởng suy đoán không hay cho người khác.  thích mới lạ, nhiều lý luận ngược chiều cho là hay, dựa theo dư luận số đông của mọi người. Nên trong Kinh Thánh Cựu Ước cho biết lý do: “Không gì nham hiểm và bất trị như lòng người, ai dò thấu được”(Giêrêmia 17,9).

Khi người ấy quen quá, gần quá, thân cận quá, thì chúng ta không nhận cái tài năng của họ, hoặc khi có một vĩ nhân về quê hương, chúng ta lại có cái nhìn tò mò, soi mói tìm hiểu, hơn là kính nể khi họ về quê hương hay xứ sở của mình, nếu người đó có tài nhưng gia đình nghèo thì coi rẻ rúng, cũng như Chúa Giêsu khi trở về quê nhà cũng bị dân làng nhìn theo kiểu “Ông không không phải là con bác thợ sao? Mẹ của ông không phải là bà Maria , anh em của ông không phải là các ông Gia-cô-bê, Gio-xép, Si-mon và Giu-đa sao? Bởi đâu ông được như thế?” (Mt 13, 55-56). Cũng vậy, Chúa hiểu rõ tâm lý của họ, nên bảo họ “ Ngôn sứ có rẻ rúng thì cũng chính là ở quê hương mình và trong gia đình mình thôi” ( Mt 13, 58).

Là thân thể, là sự nối dài của Chúa Kitô, Giáo Hội cũng đang tiếp tục sứ mện tiên tri của Ngài trong trần thế, do đó, Giáo Hội không thoát khỏi số phận bị chống đối và bách hại. Một Giáo Hội không bị chống đối và bách hại là một Giáo Hội thỏa hiệp, nghĩa là đánh mất vai trò tiên tri của mình.

 

 

THỨ BA TUẦN 22 TN-2020

1Cr 2, 10b-16; Lc 4, 31-37

NIỀM TIN CHIẾN THẮNG

          Với trang Tin mừng hôm nay, thánh sử Luca đã đề cập tới quyền năng thần linh của Chúa Giêsu tại Ca-phác-na-um. Chúa Giêsu tỏ quyền năng qua lời giảng dạy, qua các phép lạ, qua việc xua trừ tà thần… để minh chứng rằng: không những Thiên Chúa đang ở với Ngài, mà chính Ngài là Đấng được Thiên Chúa sai đến, là Đấng "Thiên Chúa ở cùng" con người. Vì thế, Ngài dùng quyền năng duy chỉ tìm kiếm cho vinh quang Cha Ngài và hoàn tất ý định của Thiên Chúa Cha mà thôi.

          "Ngài xuống Ca-phác-na-um, một thành miền Galilê". Thánh sử Luca giới thiệu về địa điểm hoạt động trong một ngày điển hình của Chúa Giêsu tại thành này như tóm lược hoạt động cứu thế của Ngài. Ở đây, chúng ta không thấy thánh sử nhắc đến các môn đệ, vì ông chưa thuật lại việc kêu gọi các đệ tử. "Ngày sa-bát, Chúa Giêsu giảng dạy dân chúng", đó là thói quen của Chúa Giêsu khi Ngài đến hội đường trong các dịp lễ hội "Ngài giảng dạy trong các hội đường và được mọi người tôn vinh"(4,15). "Dân chúng sửng sốt về cách Người giảng dạy, vì lời của Ngài có uy quyền", không như các kinh sư khác, dân chúng nhận ra quyền năng trong chính lời giảng dạy của Chúa Giêsu, khiến họ xầm xì, bàn tán và ngạc nhiên. Lời nói của Ngài có sức mạnh lạ thường. Lời đầy quyền năng và lời trừ quỷ thần ô uế kế tiếp là một trong những biểu hiện của lời quyền năng ấy. Giáo huấn và chữa lành có liên hệ mật thiết với nhau.

          "Trong hội đường, có một người bị quỷ thần ô uế nhập". Người Do Thái ưa dùng từ "thần ô uế" nghĩa là xấu xa. Điều đó chỉ rõ sự đối kháng giữa sức mạnh ác thần và sức mạnh Thánh Thần. Ở đây, thánh sử Luca viết về một người bị quỷ ô uế nhập.

          Việc chữa lành đầu tiên của Chúa Giêsu sau khi Ngài giảng dạy dân chúng là thực hiện việc trục xuất quỷ ô uế này, giải thoát con người khỏi sự kiềm chế của sự dữ. Quỷ ô uế la to "Ông Giêsu Nagiaret…. ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao?...ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa". Qua lời này, chúng ta thấy tên quỷ nhận ra người trừ tà là ai và  biết rõ sứ vụ của Ngài, nên nó chống cự lại. Nó tự hỏi đã đến giờ thế giới của sự ác, của tối tăm, của ma quỷ sụp đổ chưa ? Chúa Giêsu có đến tiêu diệt nó sớm quá chăng? có trước thời hạn không? Tên quỷ này còn biết danh xưng của Chúa Giêsu "Đấng Thánh của Thiên Chúa". Ở đây không phải là lời tuyên xưng đức tin, nhưng như một lời cám dỗ về địa vị, về thiên tính của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu không muốn quỷ nói ra danh xưng đó vì  "giờ" của Ngài chưa đến, nên Ngài quát mắng tên quỷ " Câm đi! " và ra lệnh " Hãy xuất khỏi người này!". Đây là một lời hăm dọa và cũng là lệnh truyền.

          Lời Ngài có uy quyền khiến ma quỷ phải tuân lệnh. Quỷ vật người ấy ngã xuống, nhưng không làm hại người bệnh và xuất ra. Quỷ xuất ra cách công khai. Mọi người đều thấy và nhận ra quyền năng trong lời nói của Chúa Giêsu "Lời ấy là thế nào? Ông ấy lấy uy quyền và thế lực mà ra lệnh cho các thần ô uế và chúng phải xuất". Dân chúng đã nhận ra sức mạnh của Lời phát xuất từ con người Đức Giêsu. Lời chữa lành. Lời xua trừ tà thần. Lời giải phóng con người khỏi sự khống chế của sự dữ. Lời đem lại sự sống. Và họ đồn thổi danh tiếng Ngài ra khắp vùng đó.

          Ma quỷ biết Chúa Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa, là nguồn mạch mọi sự thiện hảo, đáng yêu mến. Thế nhưng chúng lại không chấp nhận để Thiên Chúa can thiệp vào đời chúng; với một lòng thù hận không thể rút lại, chúng không chấp nhận một mối tương giao nào với Thiên Chúa. Thế mà giờ đây chúng vẫn phải đối mặt với Ngài. Đó chính là nỗi thống khổ cùng cực của ma quỷ, của hoả ngục: muốn hoá thành hư không để khỏi đau khổ mà không thể được. Đó là lý do của tiếng kêu thét: “Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao?”

          Con người ngày nay cậy vào trí thông minh, nại đến quyền tự do của mình để can thiệp vào tiến trình sự sống là điều vốn thuộc quyền Thiên Chúa: họ chế tạo ra vũ khí hạch nhân, hoá học giết người hàng loạt; họ cổ võ phá thai, sinh sản vô tính, v.v… Họ không chấp nhận để Thiên Chúa can thiệp vào cuộc đời họ, không chấp nhận thuộc về Ngài qua việc tuân thủ những chuẩn mực luân lý, đạo đức của Ngài.

          Trong cuộc sống ngày nay, giữa một xã hội thực dụng và tội lỗi, tà thần lan tràn và len lỏi vào từng ngóc nghách của cuộc sống, tâm hồn của con người. Càng ngày càng có nhiều người tâm thần không ổn định, nội tâm bị cưỡng bức. Họ tìm đến y học, pháp thuật, ma thuật… mà quên đi Đấng có quyền xua trừ ma quỷ và chữa lành nội tâm họ. Họ tìm đến con người để được chữa lành thể xác nhưng lại quên đi một vị thần linh, một vị Thiên Chúa uy quyền, toàn năng trên mọi người, mọi vật, có quyền sinh tử cả xác và hồn. Con người ngày càng bị lệ thuộc, bị khống chế bởi tà thần khác nhau như : danh vọng, địa vị, tiền bạc, hưởng thụ… đến khi không được đáp ứng theo nhu cầu hoặc cuộc sống không có lối thoát, họ tìm cách kết liễu cuộc đời.

          Chúa Giêsu cho chúng ta niềm tin vào sự chiến thắng. Sự hiện diện của Ngài làm thần ô uế không thể giấu mặt. Sự thánh thiện của Ngài làm nó phải run sợ cúi đầu. Uy quyền và uy lực nơi Lời quát mắng của Ngài khiến nó phải tháo lui. Hãy để cho Chúa Giêsu thánh thiện có chỗ trong đời chúng ta. Hãy tin vào sức mạnh giải phóng của Lời Ngài. Hãy để Lời Ngài nâng chúng ta dậy và cho chúng ta được tự do. Một người ở trong hội đường hay nhà thờ cũng có thể bị thần ô uế ám. Chúng ta mong Chúa cho ta khả năng trục được sự ô uế ra khỏi đời ta.

 

 

Thứ Tư TUẦN 22 TN- 2020

1Cr 3, 1-9;  Lc 4, 38-44

NHÌN NHẬN MỌI ƠN LÀNH LÀ CỦA CHÚA

           Tin mừng Luca hôm nay tái hiện lại những phép lạ mà Chúa Giêsu đã làm tại nhà mẹ vợ ông Si-môn (Phê-rô). Trình thuật kể rằng, sau khi Chúa Giêsu đã rao giảng ở hội đường, thì các Thầy trò dẫn nhau về thăm nhà mẹ vợ ông Si-môn. Khi đến nơi thì thấy bà mẹ vợ ông đang sốt nặng, tức là đang ở trong một tình trạng nguy kịch, không thể làm gì được. Mọi người đang lo lắng, và họ nài xin Chúa Giêsu chữa lành cho bà. Vậy là Chúa Giêsu đã “ra lệnh” cho cơn sốt dứt ngay, và bà trở nên mạnh khỏe để phục vụ mọi người.

          Ta thấy Chúa Giêsu rời khỏi hội đường, đi vào nhà ông Simon và ông Anrê, lúc ấy bà mẹ vợ ông Simon đang bị sốt nặng, họ xin người chữa  cho bà. Chúa Giêsu tiếp tục làm công việc cứu độ của mình. Bệnh sốt là một bệnh gây tác động rất mạnh đối với người Do Thái xưa: “Thiên Chúa ngăn đe những ai không chịu đem các huấn lệnh của Ngài ra thực hành, là Ngài trút xuống những người ấy nổi kinh hoàng, sự suy mòn, cơn nóng sốt, khiến mắt họ mờ đi, và phải kiệt sức (Lc 26,14-16).

          Cơn sốt là một tai ương ngang bằng với sự chết mà chỉ một mình Thiên Chúa mới làm chủ được nó (Kb 3,5). Chúa Giêsu cúi xuống gần bà, ra lệnh cho cơn sốt và cơn sốt rời khỏi bà. Phúc âm theo Thánh Mác-cô thì nói rằng: “Đức Giêsu cầm lấy tay bà và vực bà trỗi dậy”. Cử chỉ ấy, Chúa Giêsu cũng đã làm khi Ngài cứu cô bé con gái ông Giaia đã chết được sống lại “Người cầm lấy tay cô bé…và lập tức cô bé trỗi dậy” (Mc 5,41- 42).

          Việc làm của Chúa Giêsu như vậy có ý chỉ về sự Phục Sinh, như Đức Kitô trỗi dậy trong biến cố Phục Sinh. Chúa Giêsu thực hiện sứ mạng cứu độ, Ngài bày tỏ uy quyền của Thiên Chúa Cha trao ban cho Ngài, bày tỏ một sức mạnh chiến thắng ma quỷ và sự dữ, Ngài giải thoát con người khỏi ma quỷ và sự dữ.

          Tuy Chúa không diệt trừ ma quỷ và sự dữ mà chỉ chế ngự mà thôi. Sự dữ và ma quỷ vẫn hoành hành trên trần gian, đe doạ và gây thiệt hại cho con người, nên chúng ta không tránh được sự dữ, nhưng nhờ ơn cứu độ của Chúa Kitô để chúng ta có sức mạnh mà chiến thắng. Nhìn vào cử chỉ Chúa Giêsu khi chữa bệnh cho bà nhạc ông Simon, Ngài cúi xuống cầm lấy tay bà, một cung cách khiêm tốn, gần gũi và chân thành, thân thương với bệnh nhân, Ngài cũng mang lấy nổi khổ đau của con người và chia sẻ thân phận con người với họ, đụng với vai trò tôi tớ đau khổ của Giavê, đến nhận lấy đau khổ của con người để cứu giúp con người.

          Đau khổ phần xác là hình bóng đau khổ phần linh hồn, Chúa chữa trị phần xác, nhưng quan trọng hơn là cứu rỗi phần linh hồn. Bà nhạc ông Simon vừa được bình phục, tức khắc chỗi dậy phục vụ các Ngài, đó là một việc làm tỏ lòng biết ơn cách chân thành thiết thực. Chúa Giêsu không những thi hành sứ mạng cứu độ ở hội đường, mà còn ở các tư gia, ở mọi nơi mọi lúc, trên mọi nẻo đường, nên khi hết ngày Sabát, chiều đến, người ta đem đến với Ngài hết những ai đau ốm, đủ mọi thứ bệnh tật và Ngài đặt tay chữa họ lành tất cả.

          Từ sáng sớm, Ngài đi ra một nơi hoang vắng mà cầu nguyện gặp gỡ Chúa Cha, đó là việc Chúa Giêsu thường làm sau một ngày thi hành sứ vụ, điều này củng gợi lên cho chúng ta cái đêm bi thảm ở vườn cây Dầu, trước khi chịu tử nạn, thấy vắng Chúa Giêsu, ông Simon và các bạn đi tìm Ngài, nhưng Ngài từ chối không trở lại Ca- pha-na-um, vì sứ vụ của Ngài còn phải thực hiện nhiều nơi khác “ vì Thầy đến cốt để làm việc đó”, đồng thời Ngài cũng không muốn trở nên đối tượng của lòng  hiệt thành của dân chúng có hại đến sứ mạng ngôn sứ của Ngài.

          Bệnh tật phần hồn thì quan trong hơn bệnh tật phần xác, vì nó ảnh hưởng đến vận mạng đời đời của chúng ta, nên khi chúng ta xin Chúa chữa bệnh phần xác thì đừng quên xin Chúa chữa trị các tính mê tật xấu, đam mê xác thịt, tội lỗi của chúng ta, và chúng ta mau mắn trở lại với Chúa, sống con người mới. Chúng ta không những cầu xin cho mình, và phải biết cầu xin cho người khác nữa. Sức mạnh để chúng ta chiến thắng sự dữ và ma quỷ là ở nơi danh Chúa, nên chúng ta cần cầu nguyện luôn, cần gắn bó với Chúa mới đủ sức chống trả với sự dữ, lướt thắng mọi cám dỗ của ma quỷ thế gian và xác thịt, vì chúng luôn luôn hoành hành quấy nhiễu chúng ta.

          Ơn Cứu Độ nhờ Tin mừng không phải chỉ dành riêng cho cá nhân, hay chỉ dành cho nhóm thân hữu của chúng ta, nhưng cho tất cả mọi người. Những người trong làng của mẹ vợ ông Phê-rô muốn giữ Đức Giêsu ở lại với họ, bởi họ thấy những phép lạ điềm thiêng mà Đức Giêsu đã làm trên họ, họ muốn sở hữu những ân huệ ấy cho riêng cộng đồng của họ, cho làng của họ thôi.

          Con người là vậy, luôn muốn có và khi có thì luôn muốn chiếm hữu cho riêng mình và rất khó cho chia sẻ với ai. Đó là sự cám dỗ của thế tục, của tính người, tính xác thịt. Chúa Giêsu không lên án vì sự ích kỷ hẹp hòi của họ, bởi Ngài biết thân phận con người là thế và Ngài đã nói: “Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, vì tôi được sai đi cốt để làm việc đó.”

          Đây là một bài học lớn cho mỗi người tín hữu chúng ta, chúng ta sống là cùng và sống với người khác, do vậy, Hội Thánh không mời gọi con cái mình sống thánh thiện để lên Thiên Đàng một mình, nhưng lên cùng người khác. Chúa Giêsu đã nói và nêu gương cho chúng ta trong cách sống “Tôi còn loan báo cho những thành khác, vì tôi được sai đi cốt để làm việc đó”. Đến lượt mình, chúng ta cũng không giữ Chúa cho riêng mình, nhưng biết giới thiệu và đem Chúa đến cho người khác, bởi tôi được “tái sinh” là để làm việc đó “giới thiệu Chúa cho người khác”.

Chúng ta phải nhìn nhận mọi ơn lành Chúa ban cho chúng ta, mà khơi dậy lòng biết ơn cách thiết thực bằng việc thờ phượng Chúa và phục vụ tha nhân, qua việc bổn phận hằng ngày và chu toàn công tác tông đồ truyền giáo, tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu là rao giảng Tin Mừng, rao giảng ơn cứu độ, chính là rao giảng Nước Thiên Chúa và triều đại của Ngài, để đưa mọi người về với Thiên Chúa.

 

 

Thứ Năm (NĂM 2020)

Thánh Ghê-gô-ri-ô Cả, giáo hoàng, tiến sĩ Hội Thánh

2Cr 4, 1-2. 5-7; Lc 22, 24-30

SỐNG THẬT - SỐNG HIÊN NGANG

          Trong lịch sử, ít có người được mang danh Cả, và đáng được danh dự ấy một cách hoàn toàn như thánh Grêgôriô, Giáo Hoàng và Tiến sĩ Hội Thánh. Ngài sinh tại Rôma. Khoảng năm 540. Là con của một nghị viên danh giá và giầu có, ông Gordianô. Chúng ta không biết gì về thời thơ ấu của ngài, nhưng ít ra là ngài đã phải kinh nghiệm về những hậu quả do những cuộc chiến của vua Gothic với các tướng lãnh của hoàng đế Justinianô, mà chính thức Roma đã bị cướp phá.

          Thánh Grêgôriô đã thủ giữ một chức vụ trong xã hội. Năm 573, ngài được đặt làm tổng trấn thành phố. Nhưng ngài luôn nuôi lý tưởng tu trì. Đó là lý do khiến ngài không lập gia đình, và năm 574 ngài đã rút lui khỏi đời sống công cộng để mặc áo tu sĩ.

          Ông Gordianô từ trần, thánh Grêgôriô thừa kế gia tài, nhờ thế ngài đã có thể thiết lập 6 tu viện tại Sicily và biến nhà trên đồi Coelia thành tu viện thứ 7 dâng kính thánh Andrê. Tại đây ngài sống như một thầy tu đơn sơ. Có lẽ bộ luật ngài thiết lập chính là luật dòng Bênêdictô. Đây là những năm hạnh phúc nhất mà ngài không bao giờ quên được. Nhưng lại chẳng kéo dài được lâu.

          Năm 578, ngài được phong chức phó tế cai quản một trong bảy miền ở Rôma. Năm 579 ngài được gởi đi Constantinople làm đại diện Đức Giáo Hoàng. Ngài mang theo một ít thày dòng và có rộng thì giờ để giảng cho họ về sách Job, những bài giảng được thu góp lại thành cuốn luân lý.

          Thánh Grêgôriô làm đại sứ trong khoảng 7 năm. Sau đó trở về Rôma, ngài trở lại tu viện thánh Andrê làm viện trưởng. Năm 590 Pêlagiô II từ trần và thánh Grêgôriô được chọn lên kế vị. Rôma lúc ấy bị một cơn dịch tàn phá. Vị Giáo Hoàng được chọn tổ chức những cuộc hành hương trong thành phố, ngài thấy tổng lãnh thiên thần hiện ra ở một địa điểm nay gọi là Castel Saint Angele, đứng tuốt gươm ra, cơn dịch tự nhiên bị chận lại và dân Rôma chào mừng Đức Giáo Hoàng mới, như người làm phép lạ.

          Triều đại Đức Giáo Hoàng Grêgôriô kéo dài trong mười bốn năm, đòi hỏi trọn sức mạnh tinh thần và ý chí lẫn kinh nghiệm quản trị và ngoại giao của ngài. Đế quốc Rôma đang suy sụp. Dầu vậy hoàng đế ở Constantinople chỉ hiện diện tại Ý bởi một phó vương với một triều đình nhỏ, Ravenna có rất ít quyền lực về luân lý và vật chất. Quân đội Lombardô cướp phá bán đảo và Rôma bị chiếm đóng năm 593. Đức Grêgôriô thấy phải lập quân đội để bảo vệ Rôma và đặt điều kiện với quân xâm lược. Mọi việc thuộc đủ mọi phương diện trong quốc gia đang suy đồi đều đổ trên Đức Giáo Hoàng.

          Trong khi đó Đức Grêgôriô lo chấn chỉnh Giáo hội. Các địa phận lộn xộn, ngài ấn định lại ranh giới. Các đất đai thuộc Giáo Hoàng được quản trị hữu hiệu. Chính nhà ở của Đức Giáo Hoàng cũng cần phải tái thiết. Nhưng không có gì đáng ghi nhớ hơn trong cách Đức Giáo Hoàng đương đầu với các vấn đề Giáo hội Đông và Tây, là việc ngài nhấn mạnh đến quyền tối thượng của tòa thánh Rôma. Rất tôn trọng quyền của các Giám mục trong các giáo phận, ngài kiên quyết bênh vực nguyên tắc tối thượng của thánh Phêrô. Đối với hoàng đế, ngài rất tôn trọng uy quyền dân chính, nhưng cũng bảo vệ quyền lợi mình và của các dòng trong Giáo Hội.

Thánh Grêgôriô canh tân phụng vụ rất nhiều. Ít nhất là ngài đã đặt các "điểm" hành hương. Dầu qua nhiều lần tranh cãi, nhưng dưới ảnh hưởng của ngài, ngày nay nhạc và nghi lễ Giáo Hội vẫn còn mang danh ngài : nhạc Grêgôriô, nghi lễ Grêgôriô.

          Thánh nhân còn là văn sĩ rất phong phú. Ngoài cuốn luân lý ngài còn viết hai cuốn gồm những bài giảng về sách Ezechiel, một cuốn khác về những bài Phúc âm trong ngày, 4 cuốn đối thoại và một cuốn sau tập các phép lạ do các thánh người Ý thực hiện. Cuốn sách chăm lo mục vụ trình bày những điều mà cuộc sống một Giám mục và một Linh mục phải làm. Sau cùng là một sưu tập thư tín.

          Thánh Grêgôriô còn được gọi là tông đồ nước Anh. Chính ngài đã muốn đi truyền giáo để cải hóa luơng dân Saxon. Nhưng không đi được, năm 596 ngài đã trao phó nhiệm vụ cho các tu sĩ dòng thánh Andrê do thánh Augustinô Conterbury dẫn đầu.

          Thánh Grêgôriô cả qua đời ngày 12 tháng 3 năm 604. Ngài được mai táng trong Đại giáo đường thánh Phêrô. Nấm mộ đầu tiên của ngài mang bản chữ Latinh tóm gọn đời ngài, ngài được gọi là "chánh án của Chúa". Các chánh án của Rôma đã qua đi.

          Chính đế quốc Rôma đang hồi hấp hối nhưng thánh Grêgôriô là điểm nối giữa thời các giáo phụ với thời các Giáo Hoàng, giữa vinh quang của thành Rôma lịch sử với vinh quang của kinh thành Thiên ChúaTin Mừng Thánh Luca miêu tả, hôm nay như thường lệ Chúa Giêsu vào hội đường Do Thái để cầu nguyện và giảng dạy. Não trạng của người Do Thái không chấp nhận hình ảnh về một Đấng Messia như Chúa Giêsu đang khắc họa, một Đấng Messia có nguồn gốc xuất thân từ quê hương của họ. Họ đinh ninh rằng chỉ mình họ là dân riêng của Thiên Chúa, họ không tin nhận ơn cứu độ sẽ dành cho dân ngoại.

          Chúa Giêsu lên tiếng giảng giải cho họ bằng một định đề và hai ví dụ minh họa. Ngài nêu định đề trước : “Không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình”. Rồi Ngài lấy hai ví dụ dẫn chứng về hai ngôn sứ lớn Êlia và Êlisa được sai đến với hai người dân ngoại đó là bà góa thành bà goá thành Xarépta miền Xiđon và ông Naaman người xứ Xyria. Định đề và hình ảnh minh họa này đã làm cho đám người Do Thái khó chịu. Họ bực tức vì Chúa Giêsu đã khen dân ngoại ngay trước mặt họ, họ cảm nhận như thể dân ngoại đã được Thiên Chúa ưu đãi hơn chính họ. Họ đã phản ứng, và cách họ phản ứng thật đáng cho chúng ta quan tâm : Họ “đầy phẫn nộ”, “lôi Người ra khỏi thành”, “kéo Người lên tận đỉnh núi”, “để xô Người xuống vực”... Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã “băng qua giữa họ mà đi”.

          Với Lời Chúa hôm nay chúng ta dễ dàng nhận ra hai thái độ khi giải quyết một vấn đề cần, mà vấn đề ấy đụng đến một sự thật : - Trước hết là thái độ của đám đông : đám đông đã không chân nhận sự thật, lấy phản ứng của số đông để phủ nhận sự thật và tấn công số ít... Sau là thái độ của Chúa Giêsu : Ngài bình tĩnh bước đi, vượt qua dư luận, mạnh mẽ và tự tin khi sống bằng sự thật.

          Thái độ thứ nhất là thái độ của đám đông, một điều hiển nhiên thấy được qua bối cảnh của đoạn Tin Mừng này, rằng “số đông không phải là chân lý”. Những người lãnh đạo tầm thường thì lấy số đông để chứng minh chân lý. Chúa Giêsu đã không làm thế, dọc suốt hành trình sứ vụ công khai, Chúa Giêsu đã nhiều lần chứng minh cho mọi người thấy “số đông không phải là chân lý” : Câu chuyện trong Tin Mừng (Mt 21,12) miêu tả, người ta đem mọi thứ vào đền thờ để bán trong dịp lễ, một mình Chúa Giêsu đã đánh đuổi họ ; Dịp khác, trong Tin Mừng theo thánh Gioan (Ga 8,1-11), khi người ta định ném đá người phụ nữ ngoại tình, một mình Chúa Giêsu bênh vực ; Trước dinh Philatô trong việc xứ án Chúa Giêsu (Ga 18,28-40), một mình Ngài thua thiệt, dùng mạng sống để bảo vệ chân lý toàn vẹn...

          Và hôm nay, trước vấn đề Chúa Giêsu trình bày qua định đề : “Không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình”, và hai ví dụ dẫn chứng về hai ngôn sứ lớn Êlia và Êlisa được sai đến với hai người dân ngoại ; “số đông không hề có chân lý”, họ nổi đóa và tìm cách xô Chúa xuống vực, họ phản ứng theo cảm xúc bên ngoài mà không dựa vào chân lý. Quả là phi lí khi giải quyết vấn đề dựa vào uy thế, phản ứng, và câu trả lời của “số đông”, trong khi “Số đông không phải là chân lý”.

          Thái độ thứ hai là thái độ của Chúa Giêsu, thái độ đáp trả lại đám đông bằng cách “băng qua giữa họ mà đi”. Tin Mừng đã làm cho chúng ta ngạc nhiên, làm sao Chúa Giêsu lại có thể “băng qua giữa họ mà đi” đang khi họ “phẫn nộ”... Chúa Giêsu đã mạnh dạn bước trên dư luận, Ngài không bận tâm phản ứng lại đối phương khi họ đang tức giận. Ngài tự tin vì Ngài giữ bên mình một sự thật toàn vẹn. Ngài không cần phản ứng để bảo vệ sự thật, vì sự thật là chính nó, sự thật tự nó đứng vững và sự thật là toàn vẹn.

          Nhiều khi chúng ta tự hào là Kitô hữu, là người nắm giữ niềm tin, nhưng rồi với một mớ lễ nghi hình thức, niềm tin trong chúng ta chỉ còn là ngọn đèn leo lét, chỉ là thân cây mất hết nhựa sống chờ ngày gãy đổ. Đó là thứ niềm tin được chứng minh bằng tấm giấy rửa tội, chứ không phải đức tin của đời sống. Nếu mỗi chúng ta sống với sự thật, nếu mỗi chúng ta có sự thật trong lòng, chúng ta có thể như Chúa Giêsu, có thể bước qua bất kỳ đám đông nào và băng qua bất cứ phản ứng thắc mắc nào, để hiên ngang bước đi.

 

Thứ Sáu tuần 22 TN-(NAM 2020)

1Cr 4, 1-5; Lc 5, 33-39

SỐNG THEO GIÁO HUẤN TIN MỪNG

          Trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng hai dụ ngôn để biện minh cho thái độ ấy. Trước hết, Ngài nói đến sự hiện diện của Tân Lang: bao lâu Tân Lang còn đó, thì việc chay tịnh được miễn chuẩn. Trong Cựu Ước, việc giữ chay gắn liền với việc mong đợi Ðấng Cứu Thế. Chay tịnh là thể hiện của lòng mong đợi. Gioan Tẩy giả đã lấy chay tịnh làm qui luật cơ bản cho cuộc sống của ông và của các môn đệ. Như vậy khi miễn chước cho các môn đệ của Ngài khỏi chay tịnh, Chúa Giêsu muốn cho mọi người thấy rằng Ngài chính là Ðấng Cứu Thế, họ không còn phải mong đợi gì nữa; thời cứu thế đã đến, con người không còn phải chay tịnh, trái lại, họ phải vui mừng hoan hỉ.

          Dụ ngôn thứ hai Chúa Giêsu đưa ra để giải thích tại sao các môn đệ Ngài không phải giữ chay, đó là hình ảnh chiếc áo mới và rượu mới: Không nên lấy áo cũ mà vá vào áo mới, không nên đổ rượu mới vào bầu da cũ. Dĩ nhiên, ở đây Chúa Giêsu không có ý bảo rằng cái mới thì đương nhiên tốt hơn cái cũ; Ngài không có ý so sánh cho bằng đưa ra một sự bất tương hợp.

          Bài học thật rõ ràng: không nên có thái độ nước đôi hoặc thỏa hiệp, mà phải dứt khoát tận căn. Bài học này được Chúa Giêsu lặp lại nhiều lần khi nêu ra những điều kiện để vào Nước Trời: "Hãy bán tất cả, bố thí cho người nghèo, rồi đến theo Ta", "Ai cầm cày mà còn ngó lại sau, thì không xứng với Nước Thiên Chúa", "Ai yêu cha mẹ hơn Ta thì không xứng đáng làm môn đệ Ta". Tựu trung, vì Ngài, con người phải chấp nhận hy sinh tất cả, ngay cả mạng sống mình.

          Hình ảnh đầu tiên mà Chúa Giêsu nói đến là sự hiện diện của Tân Lang: “Các ông có thể bắt các bạn hữu đến dự tiệc cưới, ăn chay, đang khi tân lang còn ở với họ chăng?”. Khi con người sống trong niềm vui vì có Tân Lang hiện diện thì mọi người có thể sống niềm vui đó một cách trọn vẹn khi chia sẻ với nhau những bữa tiệc mà không phải sống nhiệm nhặt, chay tịnh và người ta có thể vui mừng hoan hỷ cách trọn vẹn.

          Cũng vậy, các môn đệ của Ngài lúc này không phải ăn chay, cầu nguyện vì họ đang có Thiên Chúa hiện diện cùng họ, chia sẻ cuộc sống với họ. Kế đến, Đức Giêsu đưa ra hình ảnh thứ hai là áo mới và rượu mới: “Không ai xé miếng vải áo mới mà vá vào áo cũ; chẳng vậy, áo mới đã bị xé, mà mảnh vải áo mới lại không ăn hợp với áo cũ. Cũng chẳng ai đổ rượu mới vào bầu da cũ; chẳng vậy, rượu mới sẽ làm vỡ bầu da, rượu chảy ra và bầu da hư mất.

          Nhưng rượu mới phải đổ vào bầu da mới, thì giữ được cả hai”. Hình ảnh này giải thích cho các biệt phái và luật sĩ thấy việc các môn đệ của Chúa Giêsu không phải giữ chay. Như vậy Đức Giêsu mời gọi chúng ta phải lựa chọn giữa cái cũ là lối sống đạo, những lề thói xưa cũ của người Do thái và những cái mới là những đòi hỏi của Tin Mừng. Khi chúng ta mang đầy những ích kỷ, gian tham vào trong cuộc sống hiện tại của mình thì như chúng ta xé miếng vải mới vá vào áo cũ. Sự không tương thích đó làm cho cuộc sống của ta thêm khập khiễng. Trái lại, chúng ta được mời gọi từ bỏ lối sống cũ đó là những gian tham, ích kỷ để đi trên một con đường mới là canh tân theo các giá trị của Tin Mừng, sống theo Lời Chúa dạy và sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

          Để tránh việc phải đổ rượu mới vào bầu da cũ cũng như việc lấy vải mới mà vá vào áo cũ, mỗi người Kitô hữu chúng ta cần từ bỏ lối sống cũ, vụ hình thức bên ngoài để có thể đón nhận những mạc khải của Tin Mừng và lời mời gọi sống theo gương của Đức Giêsu, luôn sống cho và sống vì người khác. Chúng ta cũng cần thay đổi cách sống đạo và giữ đạo của chính mình hôm nay.

          Giữ đạo không chỉ là việc chăm chỉ đến nhà thờ mỗi ngày mà còn phải là việc không ngừng học hỏi và trau dồi giáo lý, tránh các lạc thuyết sai lạc đức tin làm lung lay đời sống đức tin của mình; đồng thời giúp cho người khác hiểu rõ hơn về giáo lý, giáo dục đức tin cho những người chúng ta có trách nhiệm và loan báo Tin mừng của Chúa cho tha nhân. Chúng ta cũng được mời gọi sống đạo qua việc làm bằng cách sống ngay thẳng, chân chính trong mọi hoàn cảnh, biết mở lòng đón nhận anh chị em mình, chia sẻ giúp đỡ những người đang gặp khó khăn về tinh thần hay vật chất.

          Kỷ luật hay cách sống của Chúa Giêsu đề ra cho các môn đệ Ngài khiến nhiều người khó chịu. Ngài và các môn đệ sống theo một lề lối hoàn toàn khác với những tuân giữ của những người Biệt phái và ngay cả với Gioan Tẩy giả: trong khi Gioan Tẩy giả và các người Biệt phái tuân giữ một số ngày chay tịnh trong tuần, thì các môn đệ Chúa Giêsu xem chừng không biết thế nào là chay tịnh.

          Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta duyệt xét lại niềm tin cơ bản trong cuộc sống hàng ngày. Thỏa hiệp vốn là cơn cám dỗ triền miên trong cuộc sống đạo của chúng ta: Muốn làm môn đệ Chúa Kitô, nhưng lại đeo đuổi những gì nghịch với Tin Mừng; đi theo Chúa Kitô, nhưng lại không muốn sống theo giáo huấn của Ngài; muốn là thành phần của Giáo Hội, nhưng lại chống báng Giáo Hội. Thỏa hiệp để được cả đạo lẫn đời như thế cũng chỉ là đánh mất bản thân mà thôi. Lời sách Khải huyền đáng được chúng ta suy nghĩ: Thà ngươi nguội lạnh hay nóng hẳn đi; nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta mửa ngươi ra khỏi miệng.

 

Thứ Bảy tuần 22 TN-2020

1Cr 4, 6b-15; Lc 6, 1-5

SỐNG TRÊN NHỮNG GÌ LUẬT DẠY

          Vào thời Chúa Giêsu, không thiếu những người nhân danh luật pháp để triệt hạ và chối bỏ người khác. Truyện được ghi trong Tin Mừng hôm nay là một điển hình cho biết bao trường hợp nhân danh pháp luật để đè bẹp con người. Chúa Giêsu đã thách thức cho đến cùng thái độ như thế.

          Thật ra, Chúa Giêsu không phải là một con người sống ngoài luật pháp, Ngài đến để kiện toàn lề luật. Nhưng sở dĩ Chúa Giêsu chống lại luật pháp là bởi vì luật pháp đó phi nhân hoặc chối bỏ con người. Các môn đệ vì đói nên bứt bông lúa mà ăn, thật ra không phải là vi phạm ngày Hưu lễ.

          Tin mừng hôm nay nói đến cuộc tranh luận giữa những người Biệt phái và Chúa Giêsu về luật lệ ngày Hưu lễ khi các môn đệ đi qua đồng lúa đã bứt vài bông lúa vò ra mà ăn cho đỡ đói. Trước thái độ gây hấn của những người Biệt phái, lần nào cũng vậy Chúa Giêsu luôn đối đáp điềm tĩnh và hợp lý. Trường hợp người ta đến gài bẫy hỏi Chúa Giêsu có nên nộp thuế cho César không. Ngài cũng đã điềm tĩnh khôn ngoan trả lời: của Chúa thì hãy trả cho Chúa, của César hãy trả cho César.

          Lần khác, trường hợp người phụ nữ bị kết án tử hình phải ném đá chiếu theo luật, người ta cũng hỏi Chúa đồng thời cũng là cái bẫy. Chúa Giêsu cũng điềm tĩnh trả lời: Ai trong các ông vô tội thì hãy ném đá người này trước đi. Và lần này về luật hưu lễ. Chúa Giêsu cũng dẫn chứng hành động của vua Đavít, và Ngài khẳng định hành động của các môn đệ không hề vi phạm ngày Hưu lễ. Lề luật vì con người, chứ không phải con người vì lề luật.

          Đó là ý nghĩa lề luật mà Chúa Giêsu nêu bật trong cuộc tranh luận với những người Biệt phái. Họ đã quên rằng chính Chúa Giêsu hiện diện giữa họ là mục đích, là chủ ngày Hưu lễ. Tuy nhiên trong tâm thức hẹp hòi và không tin vào sứ mạng của Chúa Giêsu, những người biệt phái lấy việc tuân giữ các chi tiết phức tạp của ngày hưu lễ làm tiêu chuẩn để xét giá trị của Chúa Giêsu và giáo huấn của Ngài.

          Trong cuộc sống hôm nay, không thiếu những người chúng ta hôm nay rơi vào lỗi lầm này. Khi chúng ta chúng ta muốn dùng sức mạnh, địa vị, lời nói, phán đoán của riêng mình để đàn áp, phê phán thiếu công minh, nhân hậu thì rất dễ rơi vào sai lầm.

          “Thà vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời loài người” đó là nguyên tắc nền tảng hướng dẫn người Kitô hữu trong các mối tương trong xã hội. Chúa Giêsu luôn đòi hỏi các môn đệ Ngài một thái độ dứt khoát rõ ràng : không thể vừa vâng lời Thiên Chúa lại vừa chạy theo những gì chống lại Thiên Chúa.

           Người Do Thái giữ rất nghiêm luật nghỉ ngày Sa-bát; đó là ngày nghỉ, không ai được phép lao động, vì Thiên Chúa đã nghỉ ngơi và thánh hoá ngày đó (St 2,2-3). Việc các môn đệ của Đức Giê-su bứt lúa rồi vò trong tay mà ăn bị người Pha-ri-sêu xem như là đã “gặt lúa” và “xay lúa”, một việc bị cấm trong ngày Sa-bát, thì quả thật là quá đáng. Quả là các ông Pharisêu này đã “chẻ sợi tóc làm tư” khiến luật nghỉ việc ngày Sa-bát đã trở nên gánh nặng và là cái cớ để bắt bẻ, kết án người khác. Chúa Giêsu đã lên án thái độ đó vì nó làm con người thành nô lệ cho lề luật, và Ngài tuyên bố: “Con Người làm chủ ngày Sa-bát”.

          Không có khoản luật nào trong các sách luật xem một hành động như thế là vi phạm ngày Hưu lễ; nếu có thì chỉ là vi phạm một trong 39 hành động mà các nhà chú giải Do thái đã thêm vào qui định của ngày Hưu lễ mà thôi. Hơn nữa, Chúa Giêsu đã dẫn chứng hành động của Vua Ðavít và Ngài khẳng định: hành động của các môn đệ không hề vi phạm ngày Hưu lễ. Lề luật vì con người, chứ không phải con người vì lề luật.

          Ðó là ý nghĩa của luật pháp mà Chúa Giêsu nêu bật trong cuộc tranh luận với những Biệt phái. Khi luật pháp chống lại con người, nghĩa là chối bỏ phẩm giá và quyền lợi cơ bản của con người, thì luật pháp đánh mất ý nghĩa và không còn lý do để hiện hữu nữa; trong trường hợp đó, dĩ nhiên không tuân hành luật pháp là một thái độ thích đáng.

          Thật ra, khi luật pháp chối bỏ hoặc chà đạp những quyền cơ bản của con người, thì luật pháp đó cũng xúc phạm đến chính Thiên Chúa. Thánh Phêrô và thánh Gioan đã hành động một cách cương quyết khi dõng dạc tuyên bố trước Công nghị Do thái: "Thà vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời loài người".

          Chẳng hạn, khi luật pháp một quốc gia cho phép phá thai, nghĩa là tước đoạt quyền sống của con người, thì chống lại luật pháp đó là một nghĩa vụ. "Thà vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời loài người". đó là nguyên tắc nền tảng hướng dẫn người Kitô hữu trong các quan hệ xã hội của họ. Chúa Giêsu luôn đòi hỏi các môn đệ của Ngài một thái độ dứt khoát tận căn: không thể vừa vâng lời Thiên Chúa, vừa chạy theo những gì chống lại Thiên Chúa.

           Lời Chúa nói với chúng ta rằng Ngài là chủ của ngày sa-bát, nghĩa là Ngài có quyền qui định luật lệ cho ngày lễ nghỉ nói riêng và mọi luật lệ trong cuộc sống nói chung, bởi vì Ngài là mục đích, nguyên nhân và động lực của mọi luật lệ tôn giáo. Chính những luật lệ ấy nâng chúng ta lên cao khỏi những khuynh hướng thấp lè tè của bản năng để đến gần và nên giống Đức Ki-tô hơn.

 

Thứ Hai tuần XXII TN-2017  

 Lc 4, 16-30

THÂN PHẬN NGƯỜI NGÔN SỨ

Bản chất của Giáo Hội là truyền giáo. Hiện nay, Giáo Hội hoàn vũ nói chung và Giáo Hội Việt Nam nói riêng đang chú trọng về việc tái truyền giảng Tin Mừng theo đường lối Tân Phúc Âm hoá các dân tộc. Giáo Hội ngày càng đi sâu vào bản chất của mình theo gương Thầy Chí Thánh. Vị truyền giáo mẫu mực đến từ Thiên Chúa, nói về Thiên Chúa và làm chứng bằng chính cuộc sống, cái chết và sự Phục Sinh cho trần gian này.

          Trang Tin Mừng theo thánh Luca hôm nay khai mở cho sứ vụ truyền giáo của Ngài. Địa điểm Ngài chọn là Nagiarét, nơi Ngài được cưu mang lớn lên và trưởng thành tại đây. Đó cũng là lý do mà Ngài gặp nhiều khó khăn trên bước đường truyền giáo.

Tin Mừng hôm nay là lời tiên báo về sự chống đối và bách hại mà Chúa Giêsu sẽ trải qua. Sau một thời gian rao giảng và làm nhiều phép lạ, danh tiếng Ngài được nhiều người biết đến. Thế nhưng, khi trở về quê hương, Ngài chỉ nhận được sự hững hờ và khinh rẻ của người đồng hương mà thôi. Quả thật, như Ngài đã trích dẫn câu tục ngữ quen thuộc: "Không tiên tri nào được đón tiếp nơi quê hương của mình", đó là định luật tâm lý mà chính Ngài cũng không thoát khỏi. Nhưng quê hương đối với Chúa Giêsu không chỉ là ngôi làng Nazaréth nhỏ bé, mà sẽ là toàn cõi Palestina.

    Sau khi đọc sách xong, Chúa Giêsu cuộn sách trả lại và ngồi xuống giảng giải. Ngài khẳng định: “ Hôm nay lời kinh thánh mà các ông vừa nghe đã ứng nghiệm” ( c.20). Như thế là một cách Chúa Giêsu giới thiệu mình chính là Đấng  Mêsia, Đấng đến từ Thiên Chúa mang phúc lành cho toàn dân và hôm nay ơn cứu độ đã đến. Mọi người đều tán thành những lời ấy ( c.22). Họ tỏ ra hiểu được sứ điệp của lời Người vừa đọc và như sẵn sàng chuẩn bị đón chào con người của Ngài, là người vừa thốt ra lời hay ý đẹp. Đến đây, chúng ta tưởng rằng việc rao giảng Tin Mừng của Đức Giêsu đã thành công ngay bước khởi đầu, ngay ngày “ ra quân”, thế mà họ lại xầm xì “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?”.

Ngài đã đến nơi nhà Ngài mà người nhà của Ngài đã không đón tiếp Ngài. Cái chết trên Thập giá là tuyệt đỉnh sứ mệnh tiên tri của Chúa Giêsu, là lời nói cuối cùng của Ngài như một vị tiên tri.

Một câu hỏi như muốn lột trần Đức Giêsu bằng con mắt tự nhiên ghen tỵ của họ. Họ thức tỉnh chính họ rằng: con người bằng xương bằng thịt đang đứng trước họ chỉ là con người bình thường trong một gia đình lao động mà họ biết rất rõ veà thân thế và sự nghiệp. Đức Giêsu đã đọc được điều đó trong lòng họ, trong thái độ của họ nên Ngài vạch trần tỏ tường ghen tỵ ấy bằng một lời khẳng định : “ Không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình” ( c. 24). “ Ngài đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” ( Ga,11).

Là thân thể, là sự nối dài của Chúa Kitô, Giáo Hội cũng đang tiếp tục sứ mang ngôn sứ của Ngài trong trần thế, do đó, Giáo Hội không thoát khỏi số phận bị chống đối và bách hại. Một Giáo Hội không bị chống đối và bách hại là một Giáo Hội thỏa hiệp, nghĩa là đánh mất vai trò tiên tri của mình.

Chúa Giêsu không chỉ đến để làm cho lời các ngôn sứ được ứng nghiệm, Ngài cũng là vị ngôn sứ đúng nghĩa nhất. Nơi Ngài cũng có những đặc điểm của các tiên tri: đối đầu với những giá trị sẵn có, Ngài tỏ thái độ như các ngôn sứ: Ngài nghiêm khắc với những kẻ khóa Nước Trời không cho người khác vào. Ngài nổi giận trước sự giả hình của những người Biệt phái. Ngài đặt lại vấn đề tư cách là con cháu Tổ phụ Abraham mà người Do Thái vẫn tự hào. Nhất là Ngài rao giảng không chỉ bằng lời nói, mà còn bằng cả cuộc sống của Ngài; do đó, bị chống đối, bị bách hại là số phận tất yếu của Ngài.

Không thể làm ngôn sứ mà không trải qua bách hại, khổ đau thử thách. Ðó là số phận chung của các ngôn sứ từ Cựu Ước qua Tân Ước. Những kẻ không được sai đi, tự lấy danh mình mà nói, đó là những ngôn sứ giả; còn các ngôn sứ thật ý thức mình được Chúa sai đi và chỉ nói những gì Ngài muốn, một sứ mệnh như thế thường tạo ra nơi vị ngôn sứ một cuộc chiến nội tâm mãnh liệt. Môsê và Êlia trải qua khủng hoảng và ngay cả thất vọng khi phải trung thành với Lời Chúa; Yêrêmia đã nhiều lần ca thán và có lúc chỉ muốn đào thoát. Ðau khổ nhất cho các tiên tri là thấy lời nói của mình không được lắng nghe.

Số phận của các ngôn sứ trong thời Cựu Ước và cũng là điềm báo cho số phận sau này của Đức Giêsu. Ngài bị chính dân Ngài chối bỏ, giết chết bằng cách đóng đinh trên Thập Giá. Sống ngôn sứ là dám chết cho lời chứng của mình và cái chết là lối chứng hương hồn và sống động nhất. Như các ngôn sứ trong Cựu ước, như Gioan Tẩy Giả và nhất là như Đức Giêsu Đấng đã gióng lên tiếng yêu bằng cây Thập giá vinh quang. Đó là lối đường yêu thương của Thiên Chúa: Yêu đến cùng ( x. Ga 13,1).

Nhờ phép Rửa, người Kitô hữu cũng được tham dự vào sứ mệnh tiên tri của Chúa Kitô: bằng lời nói, và nhất là chứng tá cuộc sống, chúng ta thực thi vai trò tiên tri của mình trong xã hội. Cũng như Chúa Giêsu, chúng ta được Thánh Thần xức dầu và sai vào trần thế. Ước gì chúng ta luôn kiên trì rao giảng Tin Mừng của Chúa dù gặp thời thuận tiện hay không thuận tiện, vì biết rằng mình đang sống ơn gọi tiên tri.

Quả thật, đây là bài học cho từng người Kitô hữu chúng ta trong sứ mệnh ngôn sứ của mình. Nhiều lần nhiều lúc ta nản lòng thối chí trước những thất bại trong sứ vụ tông đồ. Lắm khi ta mất niềm tin, mất hy vọng... vì bị chống đối, bị xua đuổi, bắt bớ. Xin Chúa cho mỗi người chúng ta, đặc biệt những nhà truyền giáo, những người giáo dân đang  sống trong vùng đất bị thử thách bắt bớ vì niềm tin vào Đức Kitô... được ơn can đảm, trung thành giữ vững niềm tin và nhất là ơn hoà bình, không phản kháng tiêu cực. noi gương Chúa Giêsu trong cuộc khổ nạn: hiền lành, tha thứ, để cùng được Phục Sinh với Ngài trong vinh quang.

Hue Minh

 

Thứ Ba tuần XXII TN  

 Lc 4, 31-37

QUYỀN UY CỦA LỜI

Khởi đầu công cuộc rao giảng, Chúa Giêsu xuất hiện như một Bậc Thầy cao cả, đầy uy quyền không chỉ trong lời nói mà trong những hành động, đến nổi ma quỷ phải khiếp sợ, và Ngài có thể trục xuất quỷ dữ một cách dễ dàng và chúng phải tháo lui, điều đó Thánh Luca cho thấy rất rõ bản tính Thiên Chúa trong nhân tính của Chúa Giêsu. Không chỉ đơn thuần Ngài là con bác thợ mộc và bà Maria ở Nazarét, mà là Đấng Thánh của Thiên Chúa đang đồng hành và hiện diện giữa loài người.

Lời nói một khi đã ăn sâu vào tâm trí, ta khó mà ra khỏi ảnh hưởng của lời ấy được. Lời ấy có thể hình thành tương lai của một em bé, cũng như có thể phá hủy cuộc sống của người trưởng thành. Lời con người có sức mạnh tiềm ẩn như vậy, huống chi lời của một vị Thiên Chúa! Chúa Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, đã cho thấy sức mạnh của Lời Thiên Chúa ấy khi làm dân chúng ngạc nhiên về lời giảng dạy đầy uy quyền của Ngài. Đầy uy quyền vì không dựa vào thế giá của các ráp-bi danh giá hay của người xưa, mà chỉ dựa vào chính uy tín của bản thân mình. Đầy quyền năng và uy lực vì chỉ cần một mệnh lệnh “Câm đi, hãy xuất khỏi người này!” là quỷ dữ phải tuân lệnh ngay lập tức.

Hoạt động đầu tiên của Thiên Chúa là nói, nhưng khi Thiên Chúa nói thì liền có vạn vật. Không có khoảng cách giữa lời của Thiên Chúa và hành động của Ngài. Lời của Thiên Chúa là lời chân thật, nghĩa là luôn được thể hiện bằng hành động và có hiệu quả. Khởi đầu Tin Mừng của ngài, thánh Gioan cũng xác quyết: "Từ khởi thủy đã có Lời và Lời đã hóa thành nhục thể". Nơi Chúa Giêsu, lời là thực tế, nghĩa là không có khoảng cách giữa lời Ngài và cuộc sống của Ngài. Và đó có thể là ý tưởng mà Tin Mừng hôm nay gợi lên cho chúng ta.

Chúa Giêsu trừ thần ô uế chỉ bằng một lời quát mắng (c. 35). “Câm đi, hãy xuất ra khỏi người này !” Ngài không cho quỷ nói lên danh tánh của Ngài, vì Ngài không muốn sự thật được nói lên bởi miệng những kẻ dối trá. Lời truyền lệnh của Ngài khiến thần ô uế phải xuất ra. Nó không còn được ở lại hay có quyền gì trên người này nữa. Quỷ vật anh ngã xuống, xuất ra, nhưng lại không làm hại được anh. Người trong hội đường kinh ngạc, không vì chuyện Chúa Giêsu trừ quỷ, nhưng vì họ thấy uy quyền và uy lực nơi lời nói của Ngài (c. 36). Lời nói ra như một mệnh lệnh, và quỷ phải vâng nghe.

Trước khi quỷ xuất ra quỷ thường vật vả, làm hại tới đương sự, thậm chí có thể dẫn đến cái chết. Thế nhưng, Chúa Giêsu trừ quỷ thật uy quyền và mạnh mẽ. Tin mừng của Thánh Luca hôm nay cho thấy quỷ dữ hoảng sợ, và kêu la lên khi thấy Chúa Giêsu, và Ngài quát mắng, ra lệnh và nó để nó tuân phục mà xuất ra khỏi người bị quỷ ám. Lời giảng dạy đầy uy quyền và những phép lạ phi thường của Chúa Giêsu làm cho mọi người trong hội đường đều phải sửng sốt. Chúa Giêsu giảng dạy và hành động không giống như các bậc kinh sư hay bậc thầy nổi tiếng, Chúa Giêsu độc lập và tự do giải thích và ứng dụng luật pháp.  

Chúa Giêsu giảng dạy như Ðấng có uy quyền. Uy quyền ấy không phải là thứ uy quyền được áp đặt trên người khác. Uy quyền của Chúa Giêsu phát xuất từ chính sự thống nhất giữa lời nói và hành động của Ngài: Ngài chỉ cần nói với tên quỉ câm: "Câm đi, hãy ra khỏi người này", thì phép lạ liền xẩy ra. Những người chứng kiến phép lạ đã thấy được sự khác biệt giữa lời giảng dạy của Chúa Giêsu và của các Luật sĩ đương thời.

Phép lạ của Chúa Giêsu cũng là một lời giảng dạy. Thật thế, sứ điệp trọng tâm trong lời rao giảng của Chúa Giêsu chính là sự giải phóng. Ngài không chỉ nói về sự giải phóng, mà còn chứng thực cho những người nghe Ngài biết được thế nào là giải phóng. Phép lạ người câm được giải thoát mang một ý nghĩa đặc biệt đối với Chúa Giêsu: giải phóng trước tiên là giải phóng con người khỏi xiềng xích của dối trá. Chúa Giêsu đã có lần nói với người Do thái: "Sự thật sẽ giải phóng các ngươi".

Chúa Giêsu cho chúng ta niềm tin vào sự chiến thắng. Sự hiện diện của Ngài làm thần ô uế không thể giấu mặt. Sự thánh thiện của Ngài làm nó phải run sợ cúi đầu. Uy quyền và uy lực nơi Lời quát mắng của Ngài khiến nó phải tháo lui. Hãy để cho Đức Giêsu thánh thiện có chỗ trong đời chúng ta. Hãy tin vào sức mạnh giải phóng của Lời Ngài. Hãy để Lời Ngài nâng chúng ta dậy và cho chúng ta được tự do. Một người ở trong hội đường hay nhà thờ cũng có thể bị thần ô uế ám. Chúng ta mong Chúa cho ta khả năng trục được sự ô uế ra khỏi đời ta.

Thế giới hôm nay dễ bị tấn công và thống trị bởi các thần ô uế. Thần ô uế có mặt ở khắp nơi, và có sức hấp dẫn mê hoặc con người. Ô uế nơi thân xác, nơi trí tưởng tượng, nơi những ám ảnh không ngơi. Ô uế trở thành một thứ văn hóa, xâm nhập vào mọi ngõ ngách, chi phối mọi lối nghĩ và lối hành xử của con người. Chúng ta phải nhìn nhận sức mạnh của thần ô uế trong thế giới hôm nay. Rất nhiều bạn trẻ đã phải thú nhận mình không đủ sức kháng cự lại.

Cuộc sống của mỗi người trong lòng Giáo hội và xã hội hôm nay vẫn tiếp tục đối diện với những thế lực của những bóng tối, sợ hãi và sự dữ của Satan. Những thế lực của Satan trong bối cảnh hôm nay thật tinh vi, và làm cho ta đôi khi không thể tự chủ và cưỡng lại được. Những lúc này là lúc ta cần tin tưởng tuyệt đối vào uy quyền của Chúa Giêsu, hãy để Chúa Giêsu có chỗ trong thâm sâu nhất của con người ta và như thế ta có thể nghe tiếng Chúa mạnh mẽ ra lệnh: “câm đi, hãy ra khỏi người này” 

Huệ Minh

 

Thứ Tư tuần XXII TN  

 Lc 4, 38-44

XIN CHÚA CHỮA LÀNH

 

          “Đời là bể khổ”, đau khổ hiện diện trong cuộc đời chúng ta: nào là bệnh tật, chết chóc, tai ương, hoạn nạn, vất vả lo toan, mâu thuẫn đố kỵ, trái ý cực lòng, khốn khổ nghèo đói vv. Câu chuyện ông Gióp biểu hiện tất cả đau khổ trong kiếp sống con người. Nhưng ông Gióp lại là gương mẫu cho chúng ta trong hành trình đau khổ ấy. Trước mọi thử thách, ông Gióp luôn tin tưởng vào Chúa, ông xem đau khổ là cơ hội để thanh luyện chính  mình và làm sáng danh Chúa. Câu chuyện của ông Gióp không xô đẩy chúng ta vào thất vọng, nhưng từ thực tế phủ phàng đưa lòng chúng ta hướng lên Chúa để cầu xin ơn cứu độ, hướng về Đấng Thiên Sai, hướng về trời mới đất mới.

"Chúng ta hãy làm một cái gì tốt đẹp cho Thiên Chúa" đó là lời phát biểu của Mẹ Têrêsa Calcutta để gián tiếp chấp nhận lời yêu cầu của một số ký giả và những người làm phim muốn làm một cuốn phim tài liệu trình bày những công việc từ thiện do Mẹ và các Nữ tu Dòng Thừa sai bác ái thực hiện. Từ mấy chục năm nay, tinh thần và tình yêu của Mẹ Têrêsa đối với những người đau khổ bệnh tật đã được lan ra khắp nơi trên thế giới, như một tiếp tục công tác chính Chúa Giêsu đã thực hiện mà chúng ta có thể đọc thấy trong Tin Mừng hôm nay.

Chúa Giêsu rời khỏi hội đường, đi vào nhà ông Simon và ông Anrê, lúc ấy bà mẹ vợ ông Simon đang bị sốt nặng, họ xin người chữa  cho bà. Chúa Giêsu tiếp tục làm công việc cứu độ của mình. Bệnh sốt là một bệnh gây tác động rất mạnh đối với người Do Thái xưa: “Thiên Chúa ngăn đe những ai không chịu đem các huấn lệnh của Ngài ra thực hành, là Ngài trút xuống những người ấy nổi kinh hoàng, sự suy mòn, cơn nóng sốt, khiến mắt họ mờ đi, và phải kiệt sức (Lc 26,14-16).

Cơn sốt là một tai ương ngang bằng với sự chết mà chỉ một mình Thiên Chúa mới làm chủ được nó (Kb 3,5). Chúa Giêsu cúi xuống gần bà, ra lệnh cho cơn sốt và cơn sốt rời khỏi bà. Phúc âm theo Thánh Mác-cô thì nói rằng: “Đức Giêsu cầm lấy tay bà và vực bà trỗi dậy”. Cử chỉ ấy, Chúa Giêsu cũng đã làm khi Ngài cứu cô bé con gái ông Giaia đã chết được sống lại “Người cầm lấy tay cô bé…và lập tức cô bé trỗi dậy” (Mc 5,41- 42).

Thánh sử Luca thuật lại biến cố Chúa Giêsu chữa bệnh bà mẹ vợ ông Simon và nhiều người khác : "Lúc mặt trời lặn, tất cả những ai có người nhà đau yếu mắc đủ thứ bệnh hoạn, tật nguyền, đều đưa tới Ngài. Ngài đặt tay trên từng bệnh nhân và chữa lành họ". Những dòng kế tiếp cho thấy Chúa Giêsu có uy quyền trên sự dữ. Ở đây sự dữ xuất hiện dưới hai hình thức: bệnh tật và ma quỉ. Chúa Giêsu ra lệnh và quở mắng để chế ngự, nhưng Ngài không tiêu diệt chúng. Ngoài ra, trong nhiều cơ hội khác, Chúa Giêsu làm gương bằng sự ân cần của Ngài đối với các bệnh nhân, kể cả những người mang chứng bệnh khiếp sợ nhất lúc bấy giờ là bệnh phong cùi.

Chúa Giêsu còn đi xa hơn trong giáo huấn của Ngài: Ngài đồng hóa mình với những người bệnh tật, những người nghèo đói, những kẻ sa cơ lỡ bước, những người bị cầm tù. Ngài nói: "Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta". Qua cuộc khổ nạn và cái chết trên Thập giá, Chúa Giêsu đã đem lại cho đau khổ và bệnh tật ý nghĩa và giá trị cứu rỗi.

          Việc làm của Chúa Giêsu như vậy có ý chỉ về sự Phục Sinh, như Đức Kitô trỗi dậy trong biến cố Phục Sinh. Chúa Giêsu thực hiện sứ mạng cứu độ, Ngài bày tỏ uy quyền của Thiên Chúa Cha trao ban cho Ngài, bày tỏ một sức mạnh chiến thắng ma quỷ và sự dữ, Ngài giải thoát con người khỏi ma quỷ và sự dữ. Tuy Chúa không diệt trừ ma quỷ và sự dữ mà chỉ chế ngự mà thôi. Sự dữ và ma quỷ vẫn hoành hành trên trần gian, đe doạ và gây thiệt hại cho con người, nên chúng ta không tránh được sự dữ, nhưng nhờ ơn cứu độ của Chúa Kitô để chúng ta có sức mạnh mà chiến thắng.

          Nhìn vào cử chỉ Chúa Giêsu khi chữa bệnh cho bà nhạc ông Simon, Ngài cúi xuống cầm lấy tay bà, một cung cách khiêm tốn, gần gũi và chân thành, thân thương với bệnh nhân, Ngài cũng mang lấy nổi khổ đau của con người và chia sẽ thân phận con người với họ, đụng với vai trò tôi tớ đau khổ của Giavê, đến nhận lấy đau khổ của con người để cứu giúp con người. Đau khổ phần xác là hình bóng đau khổ phần linh hồn, Chúa chữa trị phần xác, nhưng quan trọng hơn là cứu rỗi phần linh hồn. Bà nhạc ông Simon vừa được bình phục, tức khắc chỗi dậy phục vụ các Ngài, đó là một việc làm tỏ lòng biết ơn cách chân thành thiết thực. Chúa Giêsu không những thi hành sứ mạng cứu độ ở hội đường, mà còn ở các tư gia, ở mọi nơi mọi lúc, trên mọi nẻo đường, nên khi hết ngày Sabát, chiều đến, người ta đem đến với Ngài hết những ai đau ốm, đủ mọi thứ bệnh tật và Ngài đặt tay chữa họ lành tất cả.

Từ sáng sớm, Ngài đi ra một nơi hoang vắng mà cầu nguyện gặp gỡ Chúa Cha, đó là việc Chúa Giêsu thường làm sau một ngày thi hành sứ vụ, điều này củng gợi lên cho chúng ta cái đêm bi thảm ở vườn cây Dầu, trước khi chịu tử nạn, thấy vắng Chúa Giêsu, ông Simon và các bạn đi tìm Ngài, nhưng Ngài từ chối không trở lại Ca- pha-na-um, vì sứ vụ của Ngài còn phải thực hiện nhiều nơi khác “ vì Thầy đến cốt để làm việc đó”, đồng thời Ngài cũng không muốn trở nên đối tượng của lòng  hiệt thành của dân chúng có hại đến sứ mạng ngôn sứ của Ngài.

          Bệnh tật phần hồn thì quan trong hơn bệnh tật phần xác, vì nó ảnh hưởng đến vận mạng đời đời của chúng ta, nên khi chúng ta xin Chúa chữa bệnh phần xác thì đừng quên xin Chúa chữa trị các tính mê tật xấu, đam mê xác thịt, tội lỗi của chúng ta, và chúng ta mau mắn trở lại với Chúa, sống con người mới. Chúng ta không những cầu xin cho mình, và phải biết cầu xin cho người khác nữa. Sức mạnh để chúng ta chiến thắng sự dữ và ma quỷ là ở nơi danh Chúa, nên chúng ta cần cầu nguyện luôn, cần gắn bó với Chúa mới đủ sức chống trả với sự dữ, lướt thắng mọi cám dỗ của ma quỷ thế gian và xác thịt, vì chúng luôn luôn hoành hành quấy nhiễu chúng ta.

Chúng ta phải nhìn nhận mọi ơn lành Chúa ban cho chúng ta, mà khơi dậy lòng biết ơn cách thiết thực bằng việc thờ phượng Chúa và phục vụ tha nhân, qua việc bổn phận hằng ngày và chu toàn công tác tông đồ truyền giáo, tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu là rao giảng Tin Mừng, rao giảng ơn cứu độ, chính là rao giảng Nước Thiên Chúa và triều đại của Ngài, để đưa mọi người về với Thiên Chúa.

Lạy Chúa, khi đọc Tin Mừng, con thấy các phép lạ Chúa làm được kể lại một cách rất bình thường, lời văn bình dị, đơn sơ, vắn gọn, khác xa với cách tường thuật về một sự kiện lạ lùng, ly kỳ như con thường đọc thấy.

Qua cách diễn tả đó, con nhận ra cách Chúa đang can thiệp vào cuộc sống của chúng con. Phép lạ Chúa làm không chú trọng vào kẻ kỳ dị bên ngoài, mà phép lạ chính là lúc Chúa đến tiếp xúc với con người và để cho con người tiếp xúc, gặp gỡ Chúa. Chúa đã cầm tay bà nhạc mẫu của thánh Phêrô để nâng đỡ bà dậy và bà đã khỏi sốt. Chúa đã gặp gỡ con người để đưa con người đến tình trạng tốt hơn. Phép lạ chính là việc Chúa làm để tác động lên đời sống thường nhật của chúng con.

Lạy Chúa, nhìn vào phương cách Chúa làm phép lạ, con nhận ra Chúa đã thực hiện bao nhiêu phép lạ trong cuộc sống con: những điều may lành con nhận được hằng ngày, các khó khăn nguy hiểm con đã vượt qua, những bất hoà trong gia đình được hàn gắn…, tất cả đều là sự can thiệp lạ lùng của Chúa: lạ lùng nhưng quá bình dị đơn sơ nên nhiều lúc con không nhận ra.

Chúa làm phép lạ không phải vì muốn được nổi danh nhưng chỉ vì thương xót chúng con. Điều Chúa muốn chính là cầm tay bà nhạc thánh Phêrô để bà được khỏi bệnh. Và bà đã chỗi dậy để tiếp đón, mời Chúa và các môn đệ dùng bữa ở nhà mình.

Lạy Chúa Giêsu, Đấng cứu độ chúng con xin cứu chúng con khỏi moi sự dữ để, chúng con luôn thuộc về Chúa, sống cho Chúa và thăng tiến trên con đường về Nước Trời, đồng thời cũng biết giúp mọi người đạt được ơn cứu độ của Chúa.

Hue Minh

Thứ Năm tuần XXII TN  

 

Lc 5, 1-1

 

LẮNG NGHE TIẾNG CHÚA

Trang Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã dùng chiếc thuyền của Phêrô để “từ trên thuyền Ngài giảng dạy đám đông” (x.c.3). Thiên Chúa quyền năng nên Ngài tự mình thực hiện chương trình cứu độ đã sắp sẵn từ ngàn đời, mà không cần một phương tiện nào của nhân loại để hoàn thành ý định của Ngài. Tuy vậy, tình yêu cứu độ của Thiên Chúa vẫn luôn mãi trải rộng đến mọi thụ tạo của Ngài, nhất là con người, và rồi Ngài đã cho con người có cơ hội cộng tác với Ngài để hoàn thành ơn cứu độ.

Các môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu thưa tiếng xin vâng, thưa sẵn sàng để đi theo Chúa. Ngài đã gọi các môn đệ đầu tiên trong những tình huống rất khác nhau. Qua Tin Mừng hôm nay, chúng ta nhận thấy ơn gọi xem ra thật bất ngờ.

Luca cho thấy các môn đệ đang sinh hoạt bình thường của nghề chài lưới, bỗng Chúa đến bất ngờ, gọi các ông, và điều làm cho ta ngạc nhiên là phản ứng của họ: họ cũng theo Chúa một cách mau mắn, cũng là một bất ngờ không kém: họ liền bỏ hết mọi sự mà theo Ngài. Nghe kêu là đi liền, làm như hai bên đã hẹn hò với nhau từ trước. Đối với loài người thì thật là bất ngờ, nhưng đối với Thiên Chúa thì không, và người ta gọi đó là việc Chúa quan phòng.

Cái bất ngờ thứ hai là Thiên Chúa thường chọn gọi những con người không mấy hứa hẹn hay hy vọng: như Abraham già nua tuổi tác, như Môsê thì ngọng tếu ngọng táo, không mấy khả năng: như những môn đệ đầu tiên hôm nay chỉ là những người chài lưới, bình dân, quê mùa, không mấy tốt lành, như Matthêu, người thu thuế. Hình như Thiên Chúa không theo tiêu chuẩn của loài người, chọn những người có tài có đức, có triển vọng tương lai.

Simôn-Phêrô cũng như các bạn chài và người thành Caphacnaum đã từng được nghe Chúa giảng và tận mắt chứng kiến các phép lạ của Người. Chắc chắn những lời giảng và các việc Chúa làm đã đánh động suy nghĩ của bác ngư phủ lòng dạ thẳng ngay như Phêrô. Nhưng rồi hôm nay với bài giảng từ trên thuyền và đặc biệt là đứng trước mẻ cá lạ, Phêrô như được mở mắt và nhận ra người đã ra lệnh thả lưới ở chỗ nước sâu kia chính là Chúa quyền năng, nên ông chỉ còn biết sấp mặt dưới chân Người mà nói: lạy Chúa, xin tránh xa con vì con là kẻ tội lỗi. Phêrô và các bạn ông kinh ngạc nhưng đồng thời cũng nhận ra rằng công việc chài lưới bắt cá chẳng còn ý nghĩa gì đối với các ông. Cuộc đời của các ông đã chuyển hướng với một ý nghĩa mới và một ơn gọi mới: Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.

Chiếc thuyền của Phêrô chẳng là gì cả, cũng như những khả năng đầy giới hạn của chúng ta hôm nay. Nhưng đó lại chính là những phương tiện hữu hiệu Chúa muốn dùng để thực hiện một chương trình nào đó của Ngài. Chúng ta có sẵn lòng khiêm tốn và quảng đại để Chúa tự do sử dụng chúng ta hay không? Ngay trong hoàn cảnh riêng của mỗi người, Chúa vẫn đang âm thầm thực hiện thánh ý Ngài để mưu ích cho chúng ta, cho Giáo hội và cho các tâm hồn. Chúa đang cần một chút thiện chí, một chút sức khỏe, một chút thời giờ, một chút năng lực của chúng ta. Liệu chúng ta có sẵn sàng dâng hiến cho Ngài không?

Khi chúng ta đã quảng đại dâng tặng cho Chúa những gì của bản thân, thì Ngài sẽ mời gọi chúng ta: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá” (c.4), dẫu rằng Ngài vẫn biết chúng ta đã “vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả” (c.5). Thật vậy, cuộc sống hôm nay dường như mỗi ngày càng thêm nhiều vấn đề làm căng thẳng cho con người ở mọi lứa tuổi và trong mọi hoàn cảnh. Những khó khăn và vất vả dưới nhiều hình thức như một sức mạnh vô hình luôn đè nặng trên đôi vai con người từ sáng tinh sương cho đến khi chiều tà. Nhiều khi ngay giữa những vất vả bận rộn muôn mặt ấy, kết quả thu được lại không được bao nhiêu, có khi chẳng được gì cả. Đó cũng chính là tâm trạng của các tông đồ trong bài Tin Mừng hôm nay. Thế nhưng khi có Chúa Giêsu hiện diện, và biết “vâng lời Thầy” thì mọi sự đã được thay đổi hoàn toàn: “bắt được rất nhiều cá”.

Điều ấy đủ cho chúng ta hiểu rằng, dù con người có nỗ lực gắng sức đến đâu đi nữa, mà không có ơn Chúa trợ lực thì mọi sự cũng ra không. Dĩ nhiên là chúng ta phải cố gắng theo khả năng với những phương tiện Chúa ban để chu toàn nhiệm vụ Ngài trao phó, thực hiện chương trình Ngài sắp đặt. Nhưng trên hết là chúng ta phải làm theo lời Ngài như Phêrô: “Vâng lời Thầy, con xin thả lưới”. Chính sự suy phục thánh ý Chúa, hành động theo lời Ngài hướng dẫn, mới có sức làm nảy sinh những kết quả mỹ mãn hơn nguyện ước của chúng ta. Cái khó là biết lắng nghe và làm theo lời Ngài thôi. Bởi lẽ chúng ta còn quá nhiều tự ái, hay còn vướng bận quá nhiều những lo toan trần thế, những kế hoạch riêng tư của bản thân, mà chưa thể hay khó lòng nghĩ tới việc làm theo thánh ý Ngài. Hy vọng mỗi ngày chúng ta biết bình tâm nghe lời Chúa và nỗ lực sống theo thánh ý Ngài hơn. Để rồi, nhiều thành quả tốt đẹp cũng được phát sinh từ một tâm hồn biết lắng nghe Lời Chúa với một niềm tin yêu phó thác.

Tuy nhiên, những thành quả chúng ta thu nhận được nhờ ơn Chúa cùng với sự cộng tác của bản thân, không bao giờ cho phép chúng ta dừng lại ở hiện tại, mà còn phải tiến xa hơn nữa trên hành trình theo Chúa: “Bỏ hết mọi sự mà theo Người” (c.11).

Chúa Giêsu đến trần gian để thực hiện sứ mạng cứu độ Chúa Cha trao phó. Nhưng Người đã không thực hiện một mình, mà luôn luôn kêu gọi sự cộng tác tích cực của con người. Đứng trước lời mời gọi của Chúa, nếu chúng ta chân thành lắng nghe và nỗ lực thực thi lời Chúa, chắc chắn sẽ đem lại nhiều thành quả tốt đẹp ngoài sức tưởng tượng của con người. Tuy nhiên, Thiên Chúa không muốn chúng ta dừng lại nơi những thành quả thu được, mà luôn can đảm dấn thân hơn nữa trên hành trình bước theo Ngài.

Quả thế, qua mọi thời đại và trong mọi hoàn cảnh, Thiên Chúa vẫn luôn lên tiếng mời gọi con người đáp trả lại tiếng gọi yêu thương của Ngài, để sẵn sàng dấn bước theo Ngài. Vì điều quan trọng nhất trong cuộc sống chúng ta chính là sự hiện diện đầy yêu thương và quyền năng của Thiên Chúa, chứ không phải là chúng ta làm được điều này hay điều nọ, đạt được thành công này hay địa vị kia. Tất cả chỉ là hồng ân Chúa ban cho chúng ta để sống và phục vụ Ngài. Thế nên, khi Ngài cần chúng ta từ bỏ tất cả để chỉ sống cho một mình Ngài thôi thì có gì là đáng tiếc đâu. Vì trong Ngài, chúng ta lại có được tất cả.

Ngày hôm nay, Thiên Chúa vẫn đang lôi kéo ta về với Ngài, để thuộc trọn về Ngài ngay giữa những thực tại đầy hấp dẫn của trần thế. Và rồi ta có sẵn lòng chấp nhận phần thua thiệt dưới cái nhìn của con người để quảng đại theo Ngài không? Để rồi sống trọn vẹn hơn cho tình yêu Chúa, thực hiện sứ mạng Ngài trao phó là xây dựng Nước Trời ngay tại trần thế này.

Xin Chúa giúp ta ngày mỗi ngày biết từ bỏ một chút những gì không thuộc về Ngài, biết chia sẻ cho tha nhân những hồng ân được nhận lãnh, và biết hy sinh bản thân để thực hiện thánh ý Chúa trong cuộc đời.

Huệ Minh

 

 

Thứ Sáu tuần XXII TN  

 LỄ SINH NHẬT ĐỨC MẸ MARIA

Mt 1, 1-16.18-23

MỪNG TUỔI MẸ

Mỗi người đều có ngày sinh nhật, ngày chào đời, ngày ghi dấu giây phút một con người thực sự được “có mặt trên đời”. Đây là ngày mà người ta nhớ đến như một kỷ niệm, mốc thời gian đáng nhớ,  bắt đầu cho một cuộc đời mới của một con người trên trần gian.

Trong Giáo Hội, ngoài lễ mừng Sinh Nhật Chúa Giê-su Ki-tô, việc mừng kính sinh nhật Đức Ma-ri-a chứng tỏ Mẹ là thụ tạo số một, trong chương trình Cứu Độ của Thiên Chúa.

 Ngày lễ Sinh nhật Đức Trinh nữ gắn liền với việc cung hiến mộït Đền thờ được xây cât tại Giêrusalem vào thế kỷ thứ V, nơi theo truyền thống cho là nhà của ông Gioan Kim và bà Anna, gần nơi hồ tắm Bethzatha (Ga 5,1-9). Tức là nơi các tín hữu cho là nhà Đức Mẹ được sinh ra. Từ thế kỷ thứ XII, ngôi đền thờ được gọi là Đền thờ thánh Anna, rồi sau đó được dâng kính cho ngày Sinh nhật của Đức Maria.

          Lễ Sinh nhật Đức Trinh nữ được bắt nguồn bên Đông phương ở thế kỷ thứ VI và được Đứùc Giáo Hoàng Serge I đưa vào cử hành tại Rôma, với cuộc rước kiệu đi từ thánh đường thánh Adrien gần Forum đi đến Đền Đức Bà Cả.

          Ý lễ được lấy ra từ các Ngụy Thư như Tiền Tin Mừng thánh Giacôbê, Tin Mừng của Mátthêu mạo danh, và Tin Mừng về cuộc sinh hạ của Đứùc Maria mà người ta gán cho thánh Jérôme là tác giả.

Bên Đông phương lễ Sinh nhật Đức Trinh nữ được cử hành đầu tháng 9 khai mạc năm Phụng vụ. Tại Rôma, lễ được cử hành dưới thời Giáo Hoàng Octave IV vào năm 1243 với tuần Bát nhật; rồi sau đó Đức Giáo Hoàng Grégoire XI còn thêm vào đêm Canh thúc vào năm 1378.

Mẹ Maria đã làm loé lên niềm hy vọng cho một trần gian đang lầm lỗi. Mẹ đã điểm tô cho một lịch sử đã bị ông bà nguyên tổ làm lu mờ vì tội phản nghịch cùng Thiên Chúa. Mẹ Maria đã làm cho lịch sử hồi sinh khi ông bà nguyên tổ làm hoen ố vì tội lỗi. Nhân loại đáng lẽ bị đắm chìm trong sự chết, nhưng Mẹ đã làm cho có sự sống viên mãn.

Hình ảnh bốn phụ nữ được Kinh Thánh nói đến như là một tiên báo cách kín đáo về Đức Kitô, Đấng sẽ đến để cứu độ những người tội lỗi, và đón nhận mọi dân mọi nước vào vương quốc của Người. Việc tuyển chọn những nhân vật này không phải là điều đáng tự hào vì lý lịch của họ. Nhưng tiêu chuẩn của Thiên Chúa khác với con người. Người chọn sự yếu kém để nói lên lượng từ bi của Người.

Đây là "gia phả của đức tin và ân sủng". Vì cho dẫu gia phả này được đan dệt bằng biết bao tội nhân và những kẻ gian ác, nhưng lịch sử ấy lại là lịch sử của tình thương và lòng thương xót Chúa, được chính Thiên Chúa can thiệp đúng lúc. Thiên Chúa đã viết lịch sử ấy bằng những nét đặc biệt, khác thường. Cái đặc biệt nhất vẫn là Thiên Chúa đã không bỏ rơi một nhân loại phản bội lại Ngài, không làm ngơ trước sự đau khổ và tội lỗi của con người. Thiên Chúa đã hành xử thật tốt đẹp với con người, đối với từng người. Chính vì một lịch sử, một thế giới tội lỗi mà Mẹ Maria đã sinh ra để cưu mang Chúa Giêsu Đấng cứu độ chúng ta.

Ngày sinh nhật của Mẹ đã khai mở lời hứa của Thiên Chúa bước đầu thành sự, đồng thời, Mẹ là Nữ Tử Sion, là hy vọng của nhân loại. Mẹ ra đời để làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Có cuộc sinh nhật của Mẹ, mới có sự ra đời của Đức Giêsu, có Đức Giêsu mới có Đấng cứu độ chúng ta. Như vậy, ngày sinh nhật của Mẹ đã được đặt vào Mầu Nhiệm Nhập Thể, cứu độ. Mẹ như Sao mai dẫn lối đưa đường, Mẹ chính là hừng đông, là ánh bình minh báo trước Mặt trời công chính là Đức Kitô.

Trình thuật về gốc tích Đức Giê-su Ki-tô hôm nay kể lại một việc vô cùng lớn lao, Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Ma-ri-a, một thụ tạo tuyệt vời, nhưng chỉ coi mình là nữ tỳ hèn mọn được Chúa đoái thương nhìn tới. Mẹ được thụ thai và cưu mang Đấng Cứu Thế do quyền năng Chúa Thánh Thần, chuyện lạ lùng số một trong lịch sử nhân loại. Mẹ sinh con mà vẫn đồng trinh trọn đời. Mẹ là người mà ngôn sứ Mi-kha nhắc đến trong lịch sử: “Vì thế, Đức Chúa sẽ bỏ mặc Ít-ra-en cho đến thời một phụ nữ sinh con.” Trong tình yêu mến, Mẹ luôn “xin vâng”, phó thác để tình yêu Chúa chiếm đoạt, để Thiên Chúa thực hiện thánh ý và chúc phúc cho Mẹ. Thánh Phao-lô khẳng định với tín hữu thành Rô-ma: “Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định. Vì những ai Người đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người... Những ai Thiên Chúa đã tiền định, thì Người cũng kêu gọi; những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính; những ai Người đã làm cho nên công chính, thì Người cũng cho hưởng phúc vinh quang.”

Vì thế trong ngày Đức Maria chào đời Giáo hội đã kêu lên : "Ôi lạy Mẹ! Ngày sinh của Mẹ đã đem lại cho thế giới sứ điệp vui mừng và hy vọng. Vì Đức Kitô Chúa chúng con là Mặt trời soi đường nay nẻo chính đã từ cung lòng Mẹ sinh ra, Ngài là Đấng huỷ bỏ lời chúc dữ, đem lại muôn phúc lành, Đấng tiêu diệt thần chết và ban phúc trường sinh".

Thiên Chúa chuẩn bị chương trình Cứu Độ của Ngài thật kỹ lưỡng trong dòng lịch sử, với thời gian rất ư lâu dài. Thánh sử Mát-thêu ghi lại bản gia phả của Đức Giê-su, từ Tổ phụ Ap-ra-ham cho đến thánh Giu-se, người đã đính hôn với Mẹ của Đức Ki-tô, trải qua mười bốn đời với thời cực thịnh, mười bốn đời với thời lưu đày suy vong và mười bốn đời sau thời lưu đày ở Ba-by-lon. Đức Giê-su xuất thân từ dòng tộc con người. Nhưng cuối bản gia phả lại nói lên Thiên Tính của Ngài. “Gia-cóp sinh Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-sucũng gọi là Đấng Ki-tô.” Đức Trinh Nữ Ma-ri-a thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần, do quyền năng Thiên Chúa. Ở đây thêm xác nhận Đức Giê-su có nguồn gốc từ Thần Linh và là Thiên Chúa thật. Ngài là Thiên Chúa nhập thể trong cuộc đời, là một con người thực sự qua dòng thời gian, lịch sử ghi nhận rõ ràng.

Khi thuật lại gia phả Đức Giêsu, Thánh Kinh muốn nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa loài người từ thời A-đam đến Chúa Ki-tô. Nếu vì liên đới với A-đam và chịu hậu quả bởi tội của A-đam, thì nay, trong Đức Ki-tô, dòng dõi con người cho đến ngày tận thế được ban phúc trở nên dòng dõi các kẻ tin, dòng dõi được Chúa chọn. Hiểu như thế, Mẹ Ma-ri-a không khỏi vui mừng hân hoan, vì Mẹ được thuộc về dòng dõi Đức Ki-tô.

Ngày Mẹ Ma-ri-a chào đời, nhân loại đón nhận món quà tuyệt vời Thiên Chúa tặng ban: bé gái này rồi sẽ là Mẹ Đấng Cứu Thế, mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể làm người. Vì thế, Thiên Chúa đã dự liệu cho Con của mình một người mẹ đặc biệt: ngay từ giây phút đầu tiên trong lòng bà thánh An-na, Đức Ma-ri-a đã được gìn giữ khỏi vết nhơ của tội nguyên tổ để rồi nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, Mẹ sẽ mang thai, sinh hạ Đấng Cứu Thế. Nhờ được “Thiên Chúa ở cùng”, Mẹ được “đầy ơn phúc”, được diễm phúc hơn mọi phụ nữ. Thánh Bo-na-ven-tu-ra xác quyết: “Thiên Chúa có thể tạo dựng một thế giới khác tốt đẹp hơn, nhưng không thể tạo dựng một người mẹ khác hoàn hảo hơn Mẹ Thiên Chúa được.”

          Ngày nay Mẹ Ma-ri-a đang ở trên trời nhưng tình Mẹ, ân phúc của Mẹ, dấu ấn của Mẹ vẫn còn đó trên hành trình của tất cả những người con đang còn ở dương thế. Chúa Giê-su đã trao ban Mẹ cho nhân loại chúng ta.Mỗi người chúng ta hãy chạy đến với Mẹ và thưa: cảm ơn Mẹ luôn đồng hành với con trong cuộc đời. Cảm tạ Mẹ đã bảo bọc che chở, quan tâm đến cuộc đời con. Cảm ơn Mẹ đã nhận con là con của Mẹ để tình Mẹ tiếp tục đong đầy trên hành trình cuộc đời con.

Hôm nay là lễ sinh nhật Đức Maria, Mẹ Đức Giêsu và là Mẹ chúng ta, chúng ta cùng nhau chúc mừng tuổi Mẹ. Ngày này phải là ngày vui chung của toàn thế giới, chứ không phải riêng cho một dân tộc hay một nhóm người nào. Bởi ngày sinh của Mẹ có liên quan trực tiếp đến biến cố Ngôi Lời Nhập Thể. Ngày Mẹ chào đời đánh dấu sự nối kết giữa Tân ước và Cựu ước, chấm dứt thời kỳ chờ đợi và những lời hứa, khai mở một thời kỳ mới.

Huệ Minh

 

Thứ Bảy tuần XXII TN  

Lc 6, 1-5

 ĐỪNG VỤ LUẬT

Sự xuất hiện của Chúa Giêsu rao giảng Tin mừng Cứu độ đã đem lại luồng sinh khí mới cho xã hội Do Thái lúc bấy giờ. Người ta đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, vì Người dạy dỗ với uy quyền của Thiên Chúa đã khuất phục quyền lực ma quỉ cũng như biểu lộ lòng thương xót của Thiên Chúa luôn đứng về phía con người. Ngài không dùng luật pháp để o ép con người. Đó cũng là điểm nhấn mà bài Tin mừng hôm nay đề cập đến.

Trong thế giới hôm nay. Có khi luật pháp được làm ra không phải là để phục vụ mọi người, mà chỉ nhắm đến quyền lợi của thiểu số mà thôi. Vào thời Chúa Giêsu, không thiếu những người nhân danh luật pháp để đè bẹp con người. Chúa Giêsu luôn lên tiếng cảnh báo thái độ như thế. Thật ra Chúa Giêsu đã tuyên bố rõ Ngài không đến để hủy bỏ lề luật, nhưng đến để kiện toàn.

Theo Kinh Thánh, khi Thiên Chúa làm xong mọi công việc của Người, ngày thứ bảy, Thiên Chúa nghỉ ngơi. Người chúc lành cho ngày thứ bảy và thánh hoá ngày đó, vì ngày đó, Người đã nghỉ, ngưng làm mọi công việc sáng tạo của Người” (St, 2,2-3). Như vậy, ngày thứ bảy là một ngày thánh, và dân Do Thái phải noi theo Chúa để nghỉ ngơi và để thờ phượng Chúa, tưởng nhớ công trình tạo dựng của Người. Trong Sách Xuất Hành, luật Sabbát sẽ là một luật buộc rất nhặt: … “Trong sáu ngày, người ta sẽ làm việc, nhưng ngày thứ bảy là một ngày sabát, một ngày nghỉ hoàn toàn, dâng Đức Chúa: kẻ nào làm việc trong ngày sabbát sẽ bị xử tử” (Xuất Hành 31, 15)

Tin mừng hôm nay nói đến cuộc tranh luận giữa những người Biệt phái và Chúa Giêsu về luật lệ ngày Hưu lễ khi các môn đệ đi qua đồng lúa đã bứt vài bông lúa vò ra mà ăn cho đỡ đói. Trước thái độ gây hấn của những người Biệt phái, lần nào cũng vậy Chúa Giêsu luôn đối đáp điềm tĩnh và hợp lý. Trường hợp người ta đến gài bẫy hỏi Chúa Giêsu có nên nộp thuế cho César không. Ngài cũng đã điềm tĩnh khôn ngoan trả lời: của Chúa thì hãy trả cho Chúa, của César hãy trả cho César. Lần khác, trường hợp người phụ nữ bị kết án tử hình phải ném đá chiếu theo luật, người ta cũng hỏi Chúa đồng thời cũng là cái bẫy. Chúa Giêsu cũng điềm tĩnh trả lời: Ai trong các ông vô tội thì hãy ném đá người này trước đi.

Và lần này về luật hưu lễ. Chúa Giêsu cũng dẫn chứng hành động của vua Đavít, và Ngài khẳng định hành động của các môn đệ không hề vi phạm ngày Hưu lễ. Lề luật vì con người, chứ không phải con người vì lề luật. Đó là ý nghĩa lề luật mà Chúa Giêsu nêu bật trong cuộc tranh luận với những người Biệt phái. Họ đã quên rằng chính Chúa Giêsu hiện diện giữa họ là mục đích, là chủ ngày Hưu lễ. Tuy nhiên trong tâm thức hẹp hòi và không tin vào sứ mạng của Chúa Giêsu, những người biệt phái lấy việc tuân giữ các chi tiết phức tạp của ngày hưu lễ làm tiêu chuẩn để xét giá trị của Chúa Giêsu và giáo huấn của Ngài.

Đối với việc cử hành của ngày Sabbat, dân Do Thái buổi sáng họ cầu nguyện trong gia đình, rồi đến Hội Đường nghe sách thánh và hát Thánh Vịnh với cộng đoàn, chiều đến họ đi thăm viếng bệnh nhân hoặc người già neo đơn, khi mặt trời lặn cả gia đình quy tụ cùng nhau hát Thánh Vịnh kết thúc ngày Sabbat. Một việc làm rất cao đẹp do chính Thiên Chúa truyền dạy cho dân riêng của Ngài, biểu lộ niềm tin vào Thiên Chúa và lợi ích thực tế của con người. Khi cử hành ngày Sabbat, người Do Thái tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ của họ.

Chính vì luật buộc nghỉ ngơi ấy, nhóm biệt phái khi thấy các môn đệ bứt bông lúa để ăn, họ đã phản đối vì môn đệ của Chúa không giữ luật ngày Sabbat. Chúa Giêsu không quở trách các môn đệ của Ngài, vì Ngài biết các ông đang đói. Chúa dẫn chứng câu chuyện Vua Đavít đã lấy bánh thánh để cho đoàn tùy tùng đi theo cũng đang đói để cùng ăn, để cho họ hiểu; và Ngài cũng tỏ mình cho họ biết Ngài là Thiên Chúa qua câu nói:  "Con Người làm chủ cả ngày Sabbat". 

Ngặt một điều nhóm Biệt phái họ lại đi lệch không đúng với ý nghĩa của ngày Sabbat, họ sống nặng về hình thức, hẹp hòi khiến cho việc giữ luật trở thành gánh nặng và làm cho người ta quên đi cái cốt yếu của luật, như chàng thanh niên đến xin đi theo Chúa, anh thanh niên sống tuân giữ nghiêm nhặt theo luật, nhưng khi nghe Ngài nói hãy về bán hết của cải rồi đến theo Ngài, chàng thanh niên lẳng lặng bỏ đi. Nhóm biệt phái họ nghiêm ngặt về việc giữ luật khi thấy Chúa chữa bệnh nhân trong ngày Sabbat cũng bị họ đả kích bắt bẻ (Mt 12, 5), nên Ngài đã mạnh mẽ tuyên bố:“Ta đến không phải để phá bỏ lề luật, nhưng để kiện toàn lề luật”(Mt 5, 17a). Từ đó họ tìm mọi cách để gài bẫy để bắt Ngài, như việc có phải nộp thuế cho Xê-da không? (Mt 22, 15-21). Hay chuyện đến hỏi ý Ngài có nên xử án người phụ nữ phạm tội ngoại tình (Ga 8, 1-11)…v … v…

Ngày nay đạo Công Giáo chúng ta không giữ luật ngày Sabbat nữa, thay vào đó là ngày Chúa nhật, vì là ngày của Chúa, ngày thuộc về Chúa, cũng là ngày tôn vinh qua sự Phục Sinh Chúa Giêsu, Ngài đã hoàn tất chương trình cứu độ nhân loại, khai sinh một kỷ nguyên mới bằng việc thiết lập Hội Thánh của Ngài để tiếp tục đem Tin Mừng cứu độ đến cho muôn dân. Người Công Giáo thánh hóa ngày Chúa nhật nhờ việc tham dự thánh lễ, thực hành bác ái, làm từ thiện và nghỉ ngơi theo tinh thần Kitô Giáo.

Huệ Minh

September 4, 2020