Suy Niệm của Huệ Minh

Chúa nhật tuần 2 mùa chay, năm A

+++

Chúa nhật II Mùa Chay 2020

Mt 17, 1-9

HIỂN DUNG NHƯ CHÚA

            Biến cố Chúa hiển dung trên núi Thabor được cả 3 thánh ký Tin mừng nhất lãm trình thuật lại. Sau khi Chúa Giêsu loan báo về cái chết và sự thống khổ mà Ngài sẽ phải trải qua, một bầu khí u ám bao trùm trên các học trò của Ngài.

            Vì vậy 6 ngày sau, Chúa Giêsu dẫn 3 môn sinh thân tín lên núi cao và biến hình trước mặt các ông, để các ông được tận mắt mục kích vinh quang sáng chói nơi Ngài. Sứ điệp mà Đức Giêsu muốn ngỏ trao cho các môn đệ, là hãy can đảm đối diện mầu nhiệm Thập giá, vì con đường Thập giá sẽ dẫn đến vinh quang. Tương tự như thế, thánh Phaolô cũng đã khẳng định : “Những ai cùng chết với Người, sẽ được cùng Người sống lại trong vinh quang” (2 Tm 2, 11).

            Đang khi Chúa Giêsu bày tỏ Thiên tính của Người, thì Môsê, vị anh hùng của Lề Luật, và Êlia, thủ lãnh các ngôn sứ, đã đến đàm đạo với Người. Sự hiện diện của hai chứng nhân thời Cựu Ước cho thấy tính siêu việt của thời đại cuối cùng, đổng thời loan báo Vị Ngôn Sứ thiên hạ vẫn mong chờ, nay đã xuất hiện.

            Ngoài ra, nội dung cuộc đàm đạo giữa Chúa Giêsu với Môsê và Êlia không phải là những điều Người đã giảng dạy, nhưng là cuộc Khổ Nạn của Người. Đó chính là nhiệm vụ của Người, Đấng hoàn tất Lề Luật và lời loan báo của các Ngôn sứ. Việc loan báo đã kết thúc, và Đấng phải đến đã đến để thực hiện công cuộc cứu độ.

            Việc Chúa Giêsu biến đổi hình dạng không phải chỉ là một trình thuật để nghe, nhưng còn là một bức tranh để chiêm ngắm, tựa như hình ảnh ngắn ngủi về một thế giới thần thiêng và bí nhiệm, rất gần gũi mà cũng rất xa xăm. Trên dung nhan của con người đang bị bóng tối tử thần đe dọa, đã bừng lên ánh sáng chói lòa của ngày Phục Sinh.

            Biến cố Hiển Dung xảy ra sau khi Chúa Giêsu báo trước cuộc Khổ Nạn của Người cũng như việc dự phần của các môn đệ: biến cố này nhằm củng cố lòng tin của ba vị tông đổ sẽ có mặt vào những giờ phút cuối cùng của Chúa Giêsu tại vườn cây Dầu (Mc 14, 33). Thật ra, đây không phải là lần đầu tiên ba vị này được "đi riêng" với Chúa Giêsu; ba vị đã từng được chứng kiến việc Chúa Giêsu làm cho con gái ông trưởng hội đường sống lại (Mc 5, 37).

            Nơi khuôn mặt Chúa Giêsu, khuôn mặt như mọi người, ta có thể gặp thấy Thiên Chúa vô hình, Đấng ngàn trùng thánh thiện và vô cùng siêu việt.

            Ba môn đệ đã quá quen với khuôn mặt Thầy Giêsu, khuôn mặt dãi dầu mưa nắng vì sứ vụ, khuôn mặt chan chứa mọi thứ tình cảm của con người. Chính vì thế họ ngây ngất hạnh phúc khi thấy khuôn mặt ấy rực sáng vinh quang. Họ muốn dựng lều để ở lại tận hưởng.

            Tiếng từ đám mây phán ra như một lời giới thiệu và nhắn nhủ: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người, các ngươi hãy vâng nghe lời Người.”

            Tiếng bởi trời đã tỏ cho các tông đồ và qua các tông đồ, cho mỗi người chúng ta nhận biết về Đức Kitô. Thế nhưng sau những giây phút bàng hoàng và sợ hãi, các tông đồ chỉ còn thấy Chúa Giêsu trở về với vóc dáng cua một con người bình thường, quang cảnh huy hoàng với Môsê và Elia đã biến mất. Đấng mà các ông vừa mới được chiêm ngưỡng sự vinh quang, Đấng mà các ông vừa mới được kêu gọi vâng phục chính là Chúa Giêsu nhưng trong điều kiện làm người của Ngài.

            Chúng ta rất dễ bị lôi cuốn, hấp dẫn bởi những cái ngoạn mục, những cái vượt ra ngoài ranh giới thông thường. Trong Tin Mừng chúng ta thấy ông Phêrô, sau khi được thấy mặt Thầy chiếu sáng như mặt trời và áo Thầy trở nên trắng như ánh sáng, rồi Thầy lại còn đàm đạo cùng Môsê và Elia, đã vội vàng đề nghị: Chúng con được ở đây thì tốt lắm, nếu Thầy muốn, chúng con xin làm ba lều, một thầy Thầy, một cho Môsê và một cho Elia.

            Nhưng hiện tại vẫn phải là con đường xuống núi, tiếp tục tiến về Giêrusalem, đối diện với cái chết. Hiện tại chưa phải là lúc dừng lại trong vinh quang. Cuộc sống vẫn phải là cuộc hành trình của niềm tin, của sự gắn bó với Chúa Giêsu, dù rằng Ngài đang tiến đến thập giá. Vinh quang chỉ có thể đến ngang qua đau khổ.

            Với sự kiện Chúa biến hình trên núi, các tông đồ như được thêm sức mạnh để cùng đi với Ngài trong đoạn đường còn lại. Nhiều người trong chúng ta rất dễ dàng đón nhận những lời nói của ông thánh này bà thánh nọ phán dạy qua những lần hiện ra ở chỗ này, chỗ khác, như những lời nói đáng tin cậy nhất với những việc lạ lùng kèm theo.

            Thế nhưng trong chương trình của Chúa, Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta, Ngài đã giảng dạy bằng những hình ảnh hết sức bình thường và quen thuộc, chẳng hạn hình ảnh chim trời, cây vả, mẻ lưới, tiệc cưới... Chính Ngài cũng đã sống những điều ngài giảng dạy một cách thật bình thường, cho dù Ngài đủ khả năng lôi cuốn dân chúng bằng những việc lạ lùng. Chẳng hạn như sau khi làm phép lạ cho bánh hoá nhiều, thì dân chúng muốn tôn Ngài lên làm vua, nhưng Ngài đã dứt khoát từ khước.

            Biến cố Hiển Dung của Chúa Giêsu thực là một kinh nghiệm cho tất cả những ai muốn cùng được tham dự vào vinh quang của Người: Chính kinh nghiệm này là chìa khóa, là sức mạnh giúp chúng ta dám chấp nhận những hi sinh, những từ bỏ để càng lúc càng gắn bó hơn với Đức Kitô. Biến cố này thực là một cuộc xuất hành tiến về Đất Hứa, xuyên qua những thử thách. Ai không chấp nhận xuất hành, không cùng đi với Chúa Giêsu trên con đường lên Giêrusalem, người ấy sẽ không được tham dự vào vinh quang vĩnh cửu. Mỗi người sẽ có thể có một kinh nghiệm nào đó về Chúa Giêsu, nhưng đó chưa phải là tất cả. Đỉnh cao này còn chờ một đỉnh cao nữa.

            Ta đang sống trong những ngày Chay thánh. Giáo hội tha thiết mời gọi chúng ta hãy làm một cuộc biến đổi tích cực cho cuộc đời của mình. Nếu chúng ta đang ở trong một tình trạng xấu hay một tình trạng tội lỗi, chúng ta hãy can đảm và mạnh dạn biến đổi và cầu xin ơn được biến đổi để cuộc đời của chúng ta được nhẹ nhàng thư thái và đảm bảo cho tương lai của chúng ta được huy hoàng như tổ phụ Abraham của chúng ta. Hay nếu chúng ta đang ở trong một tình trạng không có gì tệ hại cho lắm, thì chúng ta cũng cần làm một cuộc biến đổi tích cực để có một tình trạng tốt hơn, và tiếp nhận một sức sống tốt hơn. Hãy làm cho cuộc đời của chúng ta trở thành một dòng sông không ngừng chảy về Biển cả và tiếp nhận nguồn nước sạch tinh từ Biển cả là chính Thiên Chúa của chúng ta.

 

 

THỨ HAI TUẦN 2 MÙA CHAY

Lc 6, 36-38

HÃY CÓ LÒNG NHÂN TỪ

           Nhiều khi trong đời sống chung, chúng ta thường hay mắc phải điều này. Chúng ta nhận xét, phê bình, đánh giá và thậm chí kết tội người khác theo cái nhìn chủ quan. Cùng một sự kiện xảy ra với người mà ta thân thiện, thì ta cho rằng: Chẳng sao đâu, đó chỉ là do lầm lỗi. Còn nếu việc đó xảy ra với người , chúng ta thù ghét, thì lại bảo: Tội đó thật đáng chết, phải trừng phạt đích đáng để làm gương.

            Nhiều khi chúng ta đóng vai quan toà để kết án người khác mà quên mất cái đà trong mắt mình. Chúng ta quên rằng chỗ đứng của chúng ta là: tội nhân và chúng ta thường ngồi nhầm ghế quan toà khi xét xử người khác. Chúng ta quên mất Thiên Chúa và chỉ có Ngài là Vị Thẩm phán chí tôn, công thẳng. Ngài sẽ xét xử chúng ta theo như công việc chúng ta đã làm cho người anh chị em.

             Ba câu ngắn gọn của bài Tin Mừng hôm nay (Lc 6, 36-38) là phần cuối cùng của một bài giảng vắn tắt của Chúa Giêsu (Lc 6, 20-38). Trong phần đầu của bài giảng, Chúa Giêsu nói với các môn đệ (Lc 6, 20) và với người giàu có (Lc 6:24), công bố bốn mối phúc thật cho các môn đệ (Lc 6, 20-23) và bốn mối họa cho các người giàu có (Lc 6, 20-26).

            Trong phần thứ hai, Chúa Giêsu nói với tất cả những ai đang lắng nghe (Lc 6, 27), đó là, đoàn lũ đông đảo dân chúng, người bệnh tật và nghèo khó, kéo đến từ khắp nơi (Lc 6, 17-19). Những lời mà Chúa nói với đám đông dân chúng và với tất cả chúng ta thì đòi hỏi khắt khe và khó khăn: yêu thương kẻ thù (Lc 6, 27), không nguyền rủa người ta (Lc 6, 28), đưa má bên kia cho kẻ đã vả mặt mình và không phàn nàn nếu có kẻ soán đạt tài sản của chúng ta (Lc 6, 29). Làm sao mà lời khuyên nhủ khó khăn này có thể hiểu được? Lời giải thích được đưa ra trong ba câu của bài Tin Mừng hôm nay, từ đó mà chúng rút ra được trọng tâm của Tin Mừng được Chúa Giêsu đem đến.

            Chúa nói với các môn đệ rằng các con hãy có lòng nhân từ, như Cha các con là Đấng nhân từ. Các Mối Phúc Thật cho các môn đệ (Lc 6, 20-23) và mối họa cho những kẻ giàu có (Lc 6, 24-26) không thể được giải thích như là một cơ hội cho người nghèo khó trả thù những kẻ giàu có. Chúa Giêsu ra lệnh phải có thái độ trái ngược lại. Người nói: “Hãy yêu thương kẻ thù!” (Lc 6,27).

            Việc thay đổi hoặc hoán cải mà Chúa Giêsu muốn mang đến trong chúng ta không chỉ đơn thuần là hoán chuyển điều gì đó để đảo ngược hệ thống bởi vì trong cách này không có gì sẽ thay đổi. Người muốn thay đổi hệ thống. Sự đổi mới mà Chúa Giêsu muốn xây dựng xuất phát từ kinh nghiệm mà Người có với Chúa Cha đầy lòng trìu mến, Đấng chấp nhận tất cả mọi người, tốt cũng như xấu, Đấng cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu lẫn người tốt và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính (Mt 5, 5, 45).

            Tình yêu đích thực không phụ thuộc vào mà cũng chẳng có thể phụ thuộc vào những gì tôi nhận lãnh được từ những người khác. Lòng yêu thương là phải ước muốn những điều tốt lành cho người khác bất kể người ấy đã làm gì cho tôi. Bởi vì đây là cách mà tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Người là Đấng đầy lòng nhân từ không chỉ với những người tốt, mà với tất cả mọi người, ngay cả đối với “phường vô ân và quân độc ác” (Lc 6, 35). Các môn đệ của Chúa Giêsu phải nên lan tỏa tình yêu nhân từ này.

            Và tiếp theo : Đừng xét đoán thì các con khỏi bị xét đoán. Những lời cuối cùng lặp lại một cách rõ ràng hơn những gì mà Chúa Giêsu đã nói trước đó: “Những gì các con muốn người ta làm cho mình, thì chính các con hãy làm cho người ta như thế” (Lc 6, 31; xem Mt 7, 12). Nếu bạn không muốn bị xét đoán, thì đừng xét đoán! Nếu bạn không muốn bị kết án, thì đừng kết án. Nếu bạn muốn được tha thứ, thì hãy tha thứ! Nếu bạn muốn nhận được đấu đong hảo hạng, thì hãy dùng đấu hảo hạng này với những người khác! Đừng chờ đợi người khác chủ động, mà bạn phải nắm lấy cơ hội và bắt đầu ngay bây giờ! Và bạn sẽ thấy rằng nó là như thế đó!

            “ Hãy tha thứ... sẽ được thứ tha. Hãy cho...sẽ được nhận lại”. Và chính Thiên Chúa là người trả lại những gì chúng ta đã làm cho Ngài. Ngài trả lại gấp trăm, gấp vạn những điều chúng ta làm  cho người anh em bé mọn, nghèo

            Chúa Giêsu dạy ta bày tỏ lòng nhân từ qua bốn mệnh lệnh: - hai mệnh lệnh tiêu cực: không xét đoán, không lên án; và hai mệnh lệnh tích cực: hãy tha thứ, hãy cho. Tại sao ta phải cố gắng bỏ thói quen hay xét đoán và lên án người khác? Tại sao ta phải nỗ lực vượt lên trên bản năng tự nhiên để tha thứ cho kẻ xúc phạm đến mình và cho đi cách quảng đại? Thưa, chỉ vì ta muốn noi gương Chúa Cha là Đấng nhân từ. Cha nào con nấy, hổ phụ sinh hổ tử; cũng vậy, chúng ta phải trở nên giống Cha của mình, để xứng danh là con cái Ngài.

            Thiên Chúa đối xử với những ai yêu mến và tuân giữ lời Ngài “Ngài sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng, đã dằn đã lắc và đầy tràn...” Chúng ta thấy cái đấu của Thiên Chúa không ? Không những đong đủ, mà còn dằn xuống cho được nhiều hơn, còn lắc qua lắc lại để không còn một chỗ trống, khe hở nào và đầy tràn: đã đầy, còn tràn ra ngoài nữa. Ý nói: tình thương bao la, lòng quảng đại vô biên của Thiên Chúa đối với con người. Đâu là lý do Thiên Chúa đối xử với chúng ta như vậy: “ Vì  anh em đong bằng đấu nào, Thiên Chúa sẽ đong lại bằng đấu ấy”. Một lần nữa, chúng ta lại thấy sự công thẳng của Thiên Chúa trong ngày sau hết được mô tả ở đây: Ai sống sao, Ta sẽ trả cho như vậy.

            Trang Tin Mừng hôm nay nhắc chúng ta nhớ đến ngày phán xét chung thẩm trong Tin Mừng Mt 25, 31-46. Khi ấy, Thiên Chúa cứ theo những hành động bác ái ta đã đối xử với anh em mà thưởng phạt tuỳ theo mỗi người.

 

 

THỨ BA TUẦN 2 MÙA CHAY

Mt 23, -12

ĐỪNG HÌNH THỨC NỮA

            Trong Do thái giáo, luật đóng thuế thập phân trên những sản phẩm con người làm ra là một hành động tôn giáo để nhìn nhận quyền tối cao của Thiên Chúa. Theo luật Môsê được ghi trong sách Thứ Luật, thì chỉ buộc trả thuế thập phân trên những sản phẩm chính là gạo, rượu, dầu, con vật đầu lòng.

            Thế nhưng, có lẽ vì quá sốt sắng, những Luật sĩ và Biệt phái muốn áp dụng thuế thập phân cho những sản phẩm nhỏ, không cần thiết như: bạc hà, thì là, rau húng. Chúa Giê-su thường dùng các dụ ngôn với những lời lẽ rất tế nhị nhưng thâm thúy để răn dạy dân chúng. nhưng hôm nay Ngài lại gay gắt lên án các giới chức lãnh đạo Do Thái: “Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình” (Mt 23, 13).

            Đọc những lời này, chúng ta có thể tưởng tượng được sự căm giận đến bầm gan tím ruột của các kinh sư và Pharisêu lúc ấy. Với kiến thức giáo lý và hiểu biết lề luật đầy mình nên mỗi khi xuất hiện trước dân chúng, họ luôn tỏ ra đạo mạo với “tua áo thật dài, hộp kinh trên trán” thế mà lúc này, Chúa Giêsu trong vai một anh thợ mộc nhà quê đang mạnh mẽ lên án họ là những kẻ giả hình.

            Chưa dừng ở đó, Chúa Giêsu còn kể ra những thiệt hại mà họ gây ra cho người khác: “Các người rảo khắp biển cả đất liền để rủ cho được một người theo đạo; nhưng khi họ theo rồi, các người lại làm cho họ đáng xuống hỏa ngục gấp đôi các người” (Mt 23, 15). Lời này cho ta hiểu rằng những người Pharisêu và kinh sư cũng ra đi ‘khắp biển cả lẫn đất liền’ mà giảng dạy, thuyết phục người ta nhập đạo,  nhưng sau đó lại không giúp người ta đến được với Thiên Chúa.

            Vì lối sống hình thức, vụ luật mà họ đã dạy người ta những điều sai trái: “Ai chỉ bàn thờ mà thề thì có thề cũng như không; nhưng ai chỉ lễ vật trên bàn thờ mà thề, thì bị ràng buộc” (Mt 23, 18), trong khi sách luật ghi rõ: “Bàn thờ là vật rất thánh; tất cả những gì chạm đến bàn thờ cũng sẽ là vật thánh” (Xh 29, 37). Không phải họ không biết điều này cho bằng họ cố tình bẻ cong huấn lệnh của cha ông để lại. Vì thế, Chúa Giê-su đã mắng họ là những kẻ dẫn đường mù quáng.

            Chúa Giêsu không kết án các Luật sĩ và Biệt phái vì sự tuân giữ luật Môsê một cách tỉ mỉ; nhưng Ngài kết án vì thái độ không trung thực: họ tuân giữ những điều hết sức nhỏ để tỏ ra mình sốt sắng đạo đức, nhưng họ lại lỗi phạm những điều lớn về đức công bằng và tình yêu thương, họ làm như thế chẳng khác nào lọc lừa con muỗi ra ngoài, nhưng lại nuốt con lạc đà nguy hiểm hơn.

            Chúa Giêsu tố cáo sự giả hình của các Luật sĩ và Biệt phái: họ xây mồ cho các tiên tri và sửa sang phần mộ những kẻ mà cha ông họ đã sát hại; họ than trách tội ác của cha ông họ trong quá khứ và tự phụ rằng nếu sống vào thời tổ tiên, họ sẽ không hành động như thế; nhưng họ quên rằng họ là con cháu của những kẻ đã sát hại các tiên tri, và giờ đây họ đang đi vào con đường đó bằng việc mưu hại Ngài.

            Thái độ vụ hình thức thứ hai của các Luật sĩ và Biệt phái còn được thể hiện trong sự tuân giữ những nghi thức bên ngoài, mà không chăm lo tinh tuyền bên trong: họ lo rửa chén đĩa bên ngoài, mà bên trong tâm hồn thì đầy cướp bóc, tham lam. Việc tuân giữ nghi thức thanh tẩy bên ngoài, việc đến nhà thờ đọc kinh ngoài môi miệng mà thôi chưa đủ, cần phải để cho ơn Chúa biến đổi tận bên trong tâm hồn ngõ hầu trở nên con người mới. Sự hoán cải nội tâm quan trọng hơn và phải đi trước những thực hành đạo đức bên ngoài để tránh thái độ giả hình, vụ hình thức đáng bị Chúa khiển trách.

            Trước bất công, hiểu lầm, thật giả trong cuộc sống, chúng ta là nạn nhân hay nguyên nhân? Chắc hẳn không ai trong chúng ta muốn mình là cớ gây vấp phạm cho người khác, lại càng không mong trở thành nạn nhân. Để được như thế, mỗi Kitô hữu phải xác tín rằng theo đạo vì đạo có lương thực thiêng liêng là Thánh Thể và Lời Chúa nhắc ta sống trung thực và bác ái hơn chứ không theo vì lời dẫn dụ của người này hoặc do sự lôi kéo của người kia.

            Trong đời sống đạo hiện nay, cũng có nhiều khi chúng ta tìm mọi cách để che đậy những chuyện xấu xa, khuyết điểm, lỗi lầm để tự cho mình là người đạo đức hơn người. Điều khó hiểu là chúng ta an tâm để sẵn sàng lên án kẻ khác vì những thiếu xót của họ mà không hề suy nghĩ hay áy náy gì đến lỗi lầm của mình! Hơn nữa, nhiều khi quá giỏi che đậy, nên không ai biết đến những khuyết điểm của mình, vì vậy, chúng ta lại an tâm và “bình chân như vại” để tiếp tục lún sâu vào con đường tội lỗi tiếp theo.

            Chúa Giêsu than trách các luật sĩ và biệt phái về tội giả hình: lo đạo đức bên ngoài, còn bên trong tâm hồn thì đầy những tính xấu: háo danh, tham lợi, bất công, bất tín. Chúa Giêsu đánh giá con người không phải chỉ dựa vào hình thức bên ngoài, nhưng còn dựa vào nội dung và tâm ý bên trong. Noi gương Chúa Giêsu, chúng ta đừng vội xét đoán giá trị của một người khi chỉ nhìn hình thức bên ngoài, nhưng còn phải dựa vào tâm tình và ý hướng bên trong nữa. Đồng thời, nghe lời Chúa sửa dạy, chúng ta cũng tránh thói giả hình, sống sao cho thái độ bên ngoài biểu hiện tấm lòng chân thật bên trong.

            Lời dạy của Chúa Giêsu với những người Pharisiêu cũng là lời cảnh tỉnh cho con người ngày nay. Bên ngoài người ta có thể rất đạo mạo, lịch sự, cao trọng, chức quyền nhưng bên trong lại chứa đầy tham lam “đầy những chuyện gian tà, cướp bóc” hay người ta tô điểm thêm bên ngoài của mình với những việc làm bác ái hay bố thí nhưng bên trong lại đầy những mưu mô, ham hố danh vọng, tiền tài. Vì vậy Tin Mừng hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy trở về bên trong với con người thật của mình, để ở đó chúng ta gặp được Chúa Giêsu, để Ngài biến đổi chúng ta để từ đó ta hành động với một tấm lòng trong sạch, một tình yêu được kín múc từ chính Đức Giêsu.

            Điều quan trọng là làm sao để tâm hồn mình được sạch vì “Kẻ tay sạch lòng thanh sẽ được lên núi Chúa” (Tv. 23, 3.4). Và Chúa Giêsu đã nói trong tin mừng hôm nay “Tốt hơn, hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người.” (c. 41) Hay nói khác hơn phải sống đơn thành trước Thiên Chúa và hãy có tinh thần yêu thương vị tha chia sẻ đích thực đối với đồng loại – Hãy có lòng xót thương!

            Trong đời sống đạo hiện nay, cũng có nhiều khi chúng ta tìm mọi cách để che đậy những chuyện xấu xa, khuyết điểm, lỗi lầm để tự cho mình là người đạo đức hơn người. Điều khó hiểu là chúng ta an tâm để sẵn sàng lên án kẻ khác vì những thiếu xót của họ mà không hề suy nghĩ hay áy náy gì đến lỗi lầm của mình! Hơn nữa, nhiều khi quá giỏi che đậy, nên không ai biết đến những khuyết điểm của mình, vì vậy, chúng ta lại an tâm và “bình chân như vại” để tiếp tục lún sâu vào con đường tội lỗi tiếp theo.

            Nhưng xin nhớ rằng: chúng ta có thể che giấu bằng những biện pháp tinh vi, xảo quyệt để che mắt người đời, nhưng với Chúa, Ngài biết hết và biết rõ ràng từng lỗi lầm của chúng ta. , không ai trong chúng ta là những người hoàn hảo, tốt lành. Chúng ta cần khiêm tốn nhìn nhận rằng, tất cả chúng ta đều cần đến lòng thương xót của Chúa. Điều quan trọng là chúng ta có thẳng thắn nhìn xem, có làm cớ cho ai vấp phạm, có ngăn cản ai đón nhận Tin Mừng của Chúa hay không! Chúng ta cần kiểm điểm lòng mình xem có khi nào lời nói và việc làm của mình ngăn cản những người chung quanh chúng ta, nhất là những người trong gia đình, trong khu xóm, bạn hữu nhận rằng sự hiện hữu của Thiên Chúa và đón nhận ơn cứu độ của Ngài hay không!

            Xin cho mỗi người chúng ta luôn biết sống chân thành và trung thực để mọi người chung quanh nhận biết tình yêu và lòng thương xót của Chúa đang hoạt động và sinh hoa trái nơi chính cuộc đời của chúng ta.

 

THỨ TƯ TUẦN 2 MÙA CHAY

Mt 20, 17-28

HÃY LÀ NGƯỜI PHỤC VỤ

            Ở đời ai mà không thích làm “ông lớn, bà lớn.” Làm ăn thì mong được lắm tiền nhiều của. Có tiền của rồi thì nuôi tham vọng được thăng quan tiến chức, đạt được quyền lực và danh vọng. Thế nhưng Chúa Giêsu lại vạch ra “con đường chẳng mấy ai đi”, một lối sống mà không mấy ai nghĩ tới, đó là muốn làm lớn thì phải phục vụ, hầu hạ người khác, “làm đầy tớ” mọi người! Chính vì không đón nhận lối sống “nghịch lý” này của Chúa Kitô mà nhân loại đã và đang hứng chịu không biết bao nhiêu thảm cảnh do óc thống trị và hưởng thụ gây ra: Làm lớn để người khác bị “trị” còn mình thì được “hưởng”.

            Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa muốn bộc lộ tâm trạng của Ngài trước cuộc khổ nạn sắp xảy ra. Các môn đệ vẫn theo đuổi giấc mơ làm lớn. Điều này làm khổ tâm Chúa không ít. Còn Chúa thì khác. Ai muốn làm lớn thì phải làm nhỏ, làm người phục vụ, làm đầy tớ, phải uống chén đắng, và có khi phải mất mạng vì và cho anh chị em mình! Bạn có muốn chia sẻ tâm sự này với Chúa không? Hay bạn vẫn cứ theo đuổi “giấc mộng vàng” cai trị kẻ khác, những người không xa lạ gì với bạn, mà là anh chị em của bạn đấy thôi?!

            Chúa Giêsu đã trình bày lý tưởng của con đường Thập giá cho các môn đệ biết: "Này, Ta lên Giêrusalem, Con Người sẽ bị rơi vào tay các trưởng tế và các luật sĩ, họ sẽ luận xử tử Ngài. Rồi họ sẽ phó Ngài cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn, đóng đinh, song ngày thứ Ba Ngài sẽ sống lại" (Mt 20, 17-19). Nhưng các tông đồ thì nghĩ ngược lại: kẻ thì xin được ngồi bên tả, bên hữu Ngài. Kẻ thì ghen tị bất bình, vì muốn có phần vinh quang và quyền hành khi theo Chúa.

            Chuyện đã xảy ra cho các tông đồ vào thời Chúa Giêsu cũng có thể xảy ra cho những kẻ tin Chúa ngày hôm nay. Có người muốn chọn con đường theo Chúa Giêsu với điều kiện không có Thập giá, nhưng cũng có kẻ lại chọn lấy Thập giá mà không có Chúa Giêsu Kitô. Sự đau khổ mà không có Chúa Kitô là một đau khổ không ý nghĩa cứu rỗi. Một sự đau khổ đè bẹp con người, một sự điên dại mà ai nấy đều muốn tránh xa.

            Và thêm chuyện nữa là có lẽ mười môn đệ kia tức tối với hai anh em Giacôbê và Gioan là vì : mình không chạy nhanh, không tính toán bằng. Đó có thể là sự ganh tị... và Chúa Giêsu, nhân cơ hội này đã giảng một bài về phục vụ cho những người muốn làm thủ lãnh, làm đầu, làm nhất, làm lớn trong thiên hạ. Chúa trưng dẫn lối lãnh đạo theo Người đời : Lấy quyền thống trị, dùng uy cai quản (x. c. 25). Ngài khẳng định : Giữa anh em không được như vậy : làm lớn để phục vụ (c. 26). Làm đầu phải là đầy tớ (c. 27). Một lối sống đối nghịch với những gì người đời mong đợi.

            Người môn đệ đích thực không thể và cũng không nên tách rời Thập giá ra khỏi Chúa Giêsu Kitô. Những đau khổ và những hy sinh chỉ có ý nghĩa, nếu biết liên kết với Chúa Giêsu Kitô, được lãnh nhận vì Chúa và với Chúa Kitô mà thôi.

            Chúa Giêsu đã trình bày lý tưởng của con đường Thập giá cho các môn đệ biết: "Này, Ta lên Giêrusalem, Con Người sẽ bị rơi vào tay các trưởng tế và các luật sĩ, họ sẽ luận xử tử Ngài. Rồi họ sẽ phó Ngài cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn, đóng đinh, song ngày thứ Ba Ngài sẽ sống lại" (Mt 20,17-19). Nhưng các tông đồ thì nghĩ ngược lại: kẻ thì xin được ngồi bên tả, bên hữu Ngài. Kẻ thì ghen tị bất bình, vì muốn có phần vinh quang và quyền hành khi theo Chúa.

Chuyện đã xảy ra cho các tông đồ vào thời Chúa Giêsu cũng có thể xảy ra cho những kẻ tin Chúa ngày hôm nay. Có người muốn chọn con đường theo Chúa Giêsu với điều kiện không có Thập giá, nhưng cũng có kẻ lại chọn lấy Thập giá mà không có Chúa Giêsu Kitô. Sự đau khổ mà không có Chúa Kitô là một đau khổ không ý nghĩa cứu rỗi. Một sự đau khổ đè bẹp con người, một sự điên dại mà ai nấy đều muốn tránh xa.

            Và rồi qua Tin Mừng ta thấy các tông đồ chưa hiểu đúng sứ mạng của mình: họ theo Chúa Giêsu nhưng để được vinh dự và địa vị; lời xin của 2 con ông Dêbêđê, sự khó chịu của các tông đồ kia. Để giáo dục họ, Chúa Giêsu làm hai việc: một là loan báo cho các ông biết Ngài sẽ bị nộp vào tay kẻ thù để hiến thân chuộc tội cho loài người; hai là dạy họ bài học phục vụ: “Ai muốn cầm đầu thì hãy làm đầy tớ...” “Con Người đến không phải để được phục vụ, mà để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người.”

            Chúa Giêsu đã mang lại cho hai chữ "phục vụ" ý nghĩa đích thực của nó: phục vụ như Chúa Giêsu đã sống là sống như một người tôi tớ. Người tôi tớ trong thời phong kiến chỉ có một hiện hữu duy nhất, đó là sống cho và sống vì người khác. Như vậy, phục vụ đích thực chính là sống trọn vẹn cho tha nhân, vì tha nhân, chứ không vì bất cứ một tính toán lợi lộc nào. Phục vụ như thế cũng đồng nghĩa với quên mình và quên mình cho đến chết. Xét cho cùng, theo mẫu gương của Chúa Giêsu, phục vụ cũng đồng nghĩa với chết đi. Đó là bài học mà Chúa Giêsu đã muốn lặp lại trong Tin Mừng hôm nay.

            Những dân chài Galilê đã bỏ mọi sự theo Chúa Giêsu, nhưng các ông từ bỏ mọi sự với một tính toán, đó là trở thành công hầu khanh tướng trong vương quốc tương lai của Ngài. Các ông cũng không thoát khỏi cái lý luận thường tình của con người: "Tôi cho đi để được lấy lại," "tôi từ bỏ mọi sự để được giầu sang hơn," "tôi phục vụ để được phục vụ lại." Quyền bính, danh vọng vẫn luôn là cám dỗ đối với Giáo Hội qua mọi thời đại. Dưới lớp áo thâm chùng của từ bỏ vẫn còn ẩn núp những tham sân si. Đội lốt tôn giáo, lời tố cáo ấy xem ra không phải là quá đáng, bất công đối với không biết bao nhiêu thành phần được gọi là người của Giáo Hội.

            Ta thấy gồm những con người yếu hèn, tội lỗi, Giáo Hội Chúa Kitô luôn cần được thanh luyện trong ý tưởng, cũng như trong thể hiện của mình. Trong cuộc trở về chung của toàn Giáo Hội, mọi Kitô hữu đều được mời gọi để không ngừng hoán cải. Hoán cải là quay về với Chúa, là chỉ tìm kiếm và yêu mến một mình Ngài, là tham dự vào cuộc Tử Nạn của Chúa Kitô bằng những hy sinh và từ bỏ chính mình mỗi ngày.

            Chúa mời gọi tất cả và từng người môn đệ hãy theo Ngài trên con đường Thập giá, nhưng không dừng lại ở đây. Vì ngày thứ ba Ngài đã sống lại trong vinh quang. Như vậy, đau khổ sẽ biến thành niềm vui và hy vọng. Chỉ có ai chấp nhận đi trọn con đường Thập giá với Chúa, vì Chúa, thì mới hưởng được niềm vui và bình an của Chúa Kitô Phục Sinh.

 

THỨ NĂM TUẦN 2 MÙA CHAY

Lc 16, 19-31

PHÚC THAY AI CÓ TÂM HỒN NGHÈO KHÓ

            Xã hội nào, thời đại nào cũng tồn tại nhan nhản những bất công, những đối nghịch như: giàu-nghèo, hạnh phúc-bất hạnh, thành công - thất bại... Và đáng buồn thay, xem ra lối hành xử và sự phân định của con người cũng theo quy luật nhị nguyên đó. Con người thường trọng kẻ giàu, người quyền thế, đồng thời khinh người nghèo, kẻ vô thân. Tệ hại hơn, trong nhiều trường hợp vì miếng cơm, manh áo mà người ta trâng tráo, biến “đen thành trắng” để bênh vực người giàu, kẻ nắm quyền, trái lại họ sẵn sàng hạ bệ, coi khinh người nghèo, người cô thân. Thế gian là như vậy, coi trọng hình thức bề ngoài.

            Ta thấy thực tế thế giới của thần linh lại hoàn toàn khác, những giá trị nhân bản, những phẩm hạnh luân lý vẫn là cốt lõi và nền tảng của đời sống con người. Phụng vụ Lời Chúa ngày hôm nay cho thấy, Thiên Chúa không xét xử theo dáng vẻ bên ngoài, nhưng Ngài nhìn thấu tâm can. Ngài dựa vào những công việc đẹp, những hành động tốt lành mà chúng ta dành cho Chúa và cho nhau.

            Thật vậy, tác giả Luca diễn tả hai con người, hai hoàn cảnh hoàn toàn trái ngược nhau từ đời sống này cho đến đời sống sau. Họ khác nhau từ cách thức họ dành cho nhau và dành cho Chúa. Sự khác biệt, tương phản ấy khởi đi từ đời sống vật chất. Anh nhà giàu, vinh hoa phú quý, ngày ngày yến tiệc linh đình. Sống trong nhung lụa, thưởng thức sơn hào hải vị. Anh ta rất hạnh phúc và sung sướng với những gì mà mình đang có. Trái lại, anh nhà nghèo Lazaro, khố rách áo ôm, người đầy những ghẻ lở hôi thối, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, đang đau đớn vì bệnh tật, mong được hưởng chút canh thừa cơm cặn từ ông chủ nhà này...

            Thế rồi, đùng một cái, thánh Luca cho chúng ta thấy, cả hai khi sống đã khác nhau và khi chết, số phận lại đảo chiều. Anh nhà giàu xuống hỏa ngục, chịu đau đớn khổ sở kêu la. Trong khi đó, anh nhà nghèo lại hưởng hạnh phúc mát mẻ. Kinh thánh cho chúng ta biết, sỡ dĩ anh nhà giàu này xuống hỏa ngục vì khi sống ở trần gian, anh đã vô tâm, dửng dưng không quan tâm tới ai, anh chỉ biết đến mình. Anh không được phần phúc thiên đàng vì anh đã không đầu tư, không sống theo lời gọi mời của Chúa.

            Còn anh nhà nghèo Lazaro, Lazaro theo nghĩa Kinh thánh có nghĩa là được Chúa thương mến. Anh được hưởng phúc, diện kiến nhan Chúa. Chiêm ngưỡng hai nhân vật này, cho chúng ta có cái nhìn về đời sống đạo thực tế và những bài học luân lý. Bài học thứ nhất, không phải cứ giàu có vật chất là không được lên Thiên đàng, vì có quan niệm cho rằng: người giàu vào Nước Trời còn khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim. Và vì thế mà người giàu coi như mình bị “chúc dữ”, đáng sa hỏa ngục trầm luân.

            Ông Lazaro khốn khổ tột cùng nằm trước cổng mà ông như không thấy gì hết. Ông tưởng mình giàu có hạnh phúc mà không biết mình đang bất hạnh nghèo nàn. “Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời, lấy sức phàm nhân làm nơi nương tựa, và lòng dạ xa rời Đức Chúa! Người đó sẽ như bụi cây trong hoang địa chẳng được thấy hạnh phúc bao giờ, hạnh phúc có đến cũng chẳng nhìn ra, nhưng sẽ ở mãi nơi đồng khô cỏ cháy, trong vùng đất mặn không một bóng người” (Gr 17, 5-6).

            Còn Ladarô tin nơi Thiên Chúa. Trong Chúa, ông đang khổ đau mà như chẳng thấy đau khổ, không kêu ca trách móc, không “đói ăn vụng, túng làm càn”. Ông đang bất hạnh đói nghèo mà đời vẫn xanh tươi hạnh phúc. “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có Đức Chúa làm chỗ nương thân. Người ấy như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái”(Gr 17, 7-8).

            Trái lại, bài học thứ hai là, không phải cứ nghèo về vật chất, an phận thủ thường, đương nhiên sẽ được hưởng nhan Chúa. Tệ hại hơn, với tính đố kỵ, kẻ nghèo, người thua thiệt thường lên mặt, tỏ vẻ mừng vui khi thấy kẻ thắng, người giàu “sa cơ lỡ bước”.  Như vậy, cả hai bài học này đều đáng bị lên án và không hợp với luân lý và suy nghĩ của người Kitô hữu. Những nghĩ suy như thế cũng không thích hợp với quan niệm Nước Trời.

            Thiên Chúa là Đấng giàu lòng xót thương nhưng cũng rất mực công bằng vô cùng. Người ghét tội nhưng Người thương kẻ có tội. Người vui khi thấy kẻ có tội thật lòng thống hối ăn năn. Người còn vui hơn khi chứng kiến con người biết yêu thương và quan tâm đến nhau, xót thương nhau.

            Anh nhà giàu trong tin mừng Mátthêu đã giữ luật “mến Chúa yêu người” rất hoàn trọn, anh muốn được nên trọn lành giống như Chúa; thế nhưng khi Ngài đề nghị anh bán tất cả tài sản cho người nghèo, anh đã bỏ đi. Anh không biết cảm thương người khác. Anh không thể nên trọn lành như Cha trên trời.

            Trong lịch sử Giáo hội, chúng ta đã được chiêm ngưỡng rất nhiều những gương lành và việc làm nhân đức đáng để chúng ta suy nghĩ và noi theo. Một Phan-sinh từ bỏ hết tài sản cha mẹ cho để chọn lối sống nghèo thanh thoát. Một Đaminh dành trọn cuộc đời để rao giảng Tin mừng cho người nghèo. Hay một Têrêsa gày còm, ốm yếu rời bỏ đời sống an bình nơi tu viện để đến với những người đầu đường xó chợ... Tất thảy họ đáng được hưởng niềm vui Nước Trời vì họ quan tâm, chia sẻ và đem Chúa đến cho người khác và đưa tha nhân về cho Chúa.

            Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy: giàu không phải là tội, nhưng nó chỉ là cạm bẫy nguy hiểm dễ dẫn đến tội nếu không có lòng bác ái. Ông nhà giàu trong bài Tin Mừng hôm nay đã rơi vào tình trạng tội khi ông vô cảm với người nghèo ngay ở cổng nhà ông. Vì thế, ông đáng phải sa hỏa ngục vì tiền bạc và sự sung túc đã làm cho mắt ông mù lòa, trái tim se thắt, tấm lòng trai cứng và sự dửng dưng đã trở thành tội ác và mất hạnh phúc đời đời...

            Phần ta, ta được thấm nhuần những việc lành của các ngài, đặc biệt là mẫu gương của Thầy Chí Thánh; người Kitô hữu trong ngàn năm thứ ba này cũng khát khao ra đi, đến với anh chị em của mình trong bất cứ hoàn cảnh, môi trường nào. Nơi đây, trong mùa chay thánh này mọi người đều ước mong được hưởng nếm mật ngọt Nước Trời. Nơi đây, trong mùa chay thánh này mọi người cùng sống chung qua sự chia sẻ hiệp nhất. 

            Trang Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy có trách nhiệm liên đới với nhau, nhất là với người nghèo, người cô thế, cô thân, không nơi nương tựa... Không bao giờ chúng ta được để cho chủ trương: “Sống chết mặc bay” thường trực trong tâm hồn của mình.

 

 

THỨ SÁU TUẦN 2 MÙA CHAY

Mt 1, 33-43. 45-46

YÊU CHO ĐẾN CÙNG

            Ðối với người Israel, vườn nho là một hình ảnh rất quen thuộc. Các ngôn sứ Isaia, Giêrêmia, Edêkiel thường dùng hình ảnh này để ám chỉ dân Israel được Thiên Chúa tuyển chọn và chăm sóc để trở thành dân riêng của Người. Chúa Giêsu cố ý đưa hình ảnh quen thuộc ấy vào trong phần mở đầu của dụ ngôn trên đây.

            Cách diễn tả của Chúa Giêsu chắc chắn làm cho người nghe nhớ đến lời ngôn sứ Isaia nói về sự bất trung của dân Israel. Cách mở đầu bài giảng như thế khiến cho các thượng tế và kỳ mục phải ở trong tư thế chuẩn bị đối phó, bởi vì họ đang là những nhà lãnh đạo của dân Israel, đang quản lý vườn nho của Thiên Chúa. Và sau phần mở đầu, Chúa Giêsu tấn công ngay vào vị thế đó của họ. Chúa gọi họ là những tá điền, mà lại là những tá điền bất nhân bất nghĩa. Người nói thẳng với họ: "Tôi nói cho các ông hay, Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa mà ban cho một dân khác với mục đích làm cho Nước ấy sinh hoa lợi."

            Qua dụ ngôn này Ngài ví ông chủ như là Chúa Cha. Vườn nho là tất cả những tâm hồn khao khát theo Chúa, là Giáo Hội. Những tá điền canh tác là các tư tế, thủ lãnh trong dân. Các đầy tớ đi thu hoa lợi là các tổ phụ, các ngôn sứ. Còn con trai yêu dấu của chủ là chính Ngài

            Qua dụ ngôn người làm vườn nho sát nhân, không những Chúa Giêsu ám chỉ đến cái chết dã man mà các Thượng tế và Biệt phái sẽ gây ra cho Ngài, nhưng Ngài còn loan báo về sự phục sinh mà Thiên Chúa quyền năng sẽ thực hiện cho Ngài. Với sự phục sinh âý, Thiên Chúa như tuyên bố rằng tình yêu mạnh hơn sự chết, yếu đuối đã trở thành sức mạnh, thất bại biến thành khơi nguồn của ân ban. Chúa Giêsu đã gói ghém tất cả các mạc khải ấy trong câu trích từ Tv 118: “Chính viên đá thợ xây loại bỏ, đã trở nên viên đá góc tường”. Cái bị loại bỏ đã trở thành chuẩn mực, cái yếu đuối đã trở thành sức mạnh, cái điên dại đã trở thành lẽ khôn ngoan, cái chết đã trở thành cửa ngõ và khởi đầu nguồn sống mới.

            Chúa Giêsu muốn cho các thính giả đang nghe Ngài cũng như các đọc giả hôm nay, những người đang tìm kiếm Ngài, bước theo Ngài thấy được tình yêu Thiên Chúa đối với con người, Thiên Chúa luôn yêu thương con người và yêu thương đến cùng.

            Người đã yêu thương tuyển chọn và chăm sóc dân Người thật chu đáo (Mt 21,33), sai các Ngôn sứ đến để nâng đỡ, dẫn dắt họ. Nhưng tất cả đều bị dân Người bội phản, bất trung, đối xử tàn bạo khủng khiếp (Mt 21, 35-36). Nhưng Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn yêu thương đợi chờ và cuối cùng sai chính Con Một yêu dấu của Người (Mt 21, 37), là Ngôi lời Nhập thể đến, Ngài đã dùng chính cái chết và sự phục sinh của Ngài để bảo vệ, cứu chuộc dân Ngài, tái tạo dân mới, một dân biết làm cho nước Thiên Chúa sinh hoa lợi ( Mt 21, 43).

            Thật vậy, Thiên Chúa đã yêu thương con người đến tột cùng. Một tình yêu mà xét trên bình diện con người tự nhiên có thể nói là tình yêu mù quáng “Người đã yêu thương chúng ta và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (I Ga 4, 10). Nhưng xét trên bình diện siêu nhiên chúng ta mới thấy được tình yêu vô biên, nhiêm mầu của Thiên Chúa.Vì không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của Người hiến mạng sống vì người mình yêu. Hơn nữa Ngài đành mất tất cả miễn là để cứu chúng ta, để chúng ta được sống (1Ga 4, 9). và sống dồi dào, sung mãn, hạnh phúc.

            Ngài còn ban cho mỗi người chúng ta một hoàn cảnh khác nhau với thời giờ, tài năng, sức khỏe, nghị lực, ý chí, trí hiểu khác nhau để chúng ta sống hạnh phúc và tiếp tục công trình dựng xây nước Chúa. làm cho nước Thiên Chúa sinh hoa lợi (Mt 21, 43). Vậy nếu hôm nay Thiên Chúa đến thu hoach mùa màng và đòi tính sổ với ta. Chúng ta sẽ tiếp đón Ngài với tâm tình nào? Và trả lời với Ngai thế nào về cách sống của chúng ta hiện nay?

            Vườn nho đã được trao cho những tá điền biết làm sinh hoa kết quả. Thực sự những trái nho ở đây là những hoa trái nước trời. Dân tộc được tuyển chọn trước đã thất bại. Một dân khác đã lãnh nhận vườn nho và sẽ không làm ông chủ thất vọng.

            Và rồi khi thoạt nghe dụ ngôn trên đây, chúng ta có thể nói nó chẳng ăn nhập gì đến mình cả. Chúa Giêsu hiện trước các thượng tế và các kỳ mục Do Thái thời xưa chứ Ngài đâu khiển trách chúng ta. Chúng ta đâu có dính dự gì vào chuyện của họ. Chúng ta đâu có giết các ngôn sứ của Thiên Chúa, chúng ta đâu có xử tử Chúa Giêsu.

            Thế nhưng, nếu chịu khó xét cho kỹ thì chúng ta phải giật mình vì chúng ta đã có những phản ứng chẳng khác gì họ, có khác chăng là trong một bối cảnh khác và với hành động như vậy, chúng ta không giết các ngôn sứ, nhưng chúng ta bỏ ngoài tai những lời giảng dạy của các vị, chúng ta không kết án tử Chúa Giêsu, nhưng chúng ta đẩy Người ra ngoài lề cuộc sống chúng ta. Nếu chịu khó xét mình, không khéo chúng ta lại tìm thấy hình ảnh của các thượng tế và kỳ mục của Israel nơi bản thân chúng ta.

            Bức tranh này, tuy có thể tối tăm, nhưng sau cùng lại chứa đầy hy vọng. Người ta thấy ở đây chương trình của Thiên Chúa, Ngài muốn nhân loại sinh nhiều hoa trái, không bao giờ được thất vọng do những quản lý xấu. Thiên Chúa không bao giờ chịu thất bại do sự quản lý đồi tệ của con người. Ngài tái lập lại rất dễ dàng và trao lại cho những người khác công việc đã bị hư hại.

            Những kẻ bất trung đã làm hỏng việc, nhưng nước Thiên Chúa thì vẫn bất diệt, vì tất nhiên Ngài sẽ thực hiện lại, và phúc cho ai được Ngài dùng để thực hiện lại công việc của nước trời.

            Mùa Chay là mùa hông ân và là thời gian thuận tiện để chúng ta nhìn lại những hồng ân mà Thiên Chúa yêu thương đã ban tăng cho chúng ta mà dâng lời tri ân cảm tạ. Đồng thời là thời gian chúng ta dừng lai để suy nghĩ và xét lại bản thân chúng ta đã sử dụng hồng ân ấy thế nào để ăn năn sám hối, xin lỗi về những thiếu sót của mình với Chúa với Giáo Hội, Giáo xứ và anh chị em xung quanh.

 

Huệ Minh 2020

March 12, 2020