Chúa Nhật V Mùa Chay A
 
 


THỐI RỒI!

Thối rồi! Một xác chết đã chôn được 4 ngày hẳn là đã bắt đầu thối rữa. Nhưng Chúa Giêsu vẫn cứ muốn đến chỗ chôn Lagiarô, vì Ngài muốn chứng minh cho nhân loại biết rằng, Ngài chính là sự sống, và là sự sống lại.

Thối rồi! Nhưng đối với quyền năng phục sinh của Ngài, Chúa Giêsu có thể phục hồi sự sống và ban cho bất cứ ai tin nhận Ngài sự sống đời đời như Ngài đã nói với Mátha, chị của người đã chết: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta thì dù đã chết cũng sẽ được sống; còn ai sống mà tin Ta, thì sẽ không bao giờ chết” (Gio 11:25-26). Và Ngài đã làm như Ngài nói. Lagiarô đã chết và chôn được 4 ngày, nhưng đã ra khỏi mồ khi nghe tiếng Ngài gọi ông: “Lagiarô hãy ra đây” (Gio 11:43).

Tất cả những gì Thánh Kinh thuật lại trong những Chúa Nhật gần đây cũng đều dẫn đến một xác tín về quyền lực phục sinh và sống lại của Chúa Giêsu. Trước đó, Ngài đã phục sinh tâm hồn thiếu phụ Samaria bằng cách cho chị nước hằng sống: “Ai uống nước Ta ban, sẽ không phải khát nữa. Nước ấy sẽ trở thành mạch nước trường sinh vọt lên trong người đó” (Gio 4:14). Tiếp đến, Ngài đã phục sinh anh mù từ lúc mới sinh. Ngài đã chữa không những mắt thể lý mà cả mắt tâm linh của anh, để anh có được một cuộc sống mới. Nhất là để anh có thể khám phá ra Ngài, Đấng đang đứng trước mặt anh là Con Người, và tin nhận Ngài: “Tôi tin, lậy Chúa” (Gio 9:38).

Thối rồi! Riêng về trường hợp phục sinh Lagiarô - có lẽ vì đây là hình ảnh của cuộc phục sinh của chính Ngài – nên Chúa Giêsu đã không chỉ đơn thuần thực hiện phép lạ này như Ngài đã thực hiện đối với với anh mù. Hoặc như trường hợp Ngài ban nước hằng sống cho người thiếu phụ Samaria. Mátha, Maria, và cả các Tông Đồ, những người Do Thái tham dự vào biến cố này, phải là những nhân chứng của một cuộc phục sinh, mà nó là hình ảnh của sự phục sinh của chính Ngài. Chúa phục sinh cho Lagiarô, nhưng phần Ngài, thì Ngài tự phục sinh bằng quyền năng Thiên Chúa nơi mình Ngài. Một cuộc phục sinh không những mang lại ơn cứu độ và giải thoát cho toàn thể nhân loại, mà còn là một hứa hẹn cho cuộc sống vĩnh cửu cho tất cả những ai tin nhận Ngài, và thực hành lời Ngài.

Do đó, Ngài đã coi biến cố này là một cơ hội để tăng thêm đức tin cho các Tông Đồ, những người mà sau này sẽ gặp hốt hoảng, và hoang mang về cái chết của Ngài: “Lagiarô đã chết. Nhưng Ta mừng cho anh em, vì Ta không có mặt ở đó để anh em tin” (Gio 14-15). Đây cũng là niềm vui cho tất cả chúng ta, những Kitô hữu đang trông chờ vào sự phục sinh, cũng như đời sống trường sinh sau này trên thiên quốc. Vì thế, mặc dù Mátha đã tuyên xưng sự sống lại, đã khẳng định rằng sự gì Chúa cũng làm được: “Lậy Thầy, nếu Thầy ở đây em con đã không chết. Nhưng bây giờ con vẫn tin rằng Thiên Chúa sẽ ban cho Thầy những gì Thầy xin” (Gio 11:21-22), Chúa vẫn nhắc lại với bà rằng bà có thật sự tin như vậy hay không. Ngài muốn nghe chính bà xác nhận rằng bà tin: “Lậy Thầy con tin” (Gio 11:27). Đối với Maria thì dường như bà tin ở Chúa nhiều hơn, nên chỉ thưa với Chúa một câu như chị bà đã thưa: “Lậy Thầy, nếu Thầy ở đây thì em con không chết” (Gio 11:32). Và bà để Chúa thực hiện quyền năng Ngài phục sinh cho Lagiarô.

Thối rồi! Chúa có thể cho Lagiarô sống lại và ra khỏi mồ chỉ bằng một câu nói mà Chúa đã nói với ông: “Lagiarô hãy ra đây”, nhưng Ngài vẫn luôn để ý đến niềm tin và sự xác tín của Mátha, của Maria, của các Tông Đồ, vì đây là một mầu nhiệm hết sức quan trọng cho cả cuộc đời người Kitô hữu, của tất cả những ai đã và sẽ đặt tin nơi Ngài. Thánh Phaolô đã nói: “Nếu Chúa Giêsu không phục sinh thì đức tin chúng ta nào có ích chi”. Có nghĩa là tin tưởng vô ích, vì không có phục sinh, không có vĩnh hằng thì cuộc sống con người trên dương thế cũng như tất cả mọi hy sinh, chấp nhận, mọi việc làm tốt đẹp của con người cũng sẽ trở thành vô ý nghĩa. Do đó, cần phải có sức mạnh và ánh sáng phục sinh của Chúa.

Có thể nói, những phép lạ Chúa Giêsu thực hiện trên đường hành đạo, thì đây là một phép lạ quan trọng nhất, và cần thiết nhất phải có niềm xác tín của mọi người. Một phép lạ liên quan đến chính con người của Ngài, đến thế giá, và tất cả sự thật về Ngài, từ khi hoài thai trong lòng thánh mẫu Maria, cho đến những đoạn đường truyền đạo, và sau đây ít ngày trên đường khổ nạn, và cái chết nhục nhã trên thập tự giá. Một phép lạ liên quan đến số mệnh đời đời của toàn thể nhân loại.

Thối rồi! Có lẽ vì thời gian Lagiarô nằm trong mồ đủ để mọi người tin rằng ông đã chết thật, và với tất cả khả năng con người không ai có thể phục sinh một thây ma đã rữa thối trong mồ. Lúc mà chỉ có quyền năng của Thiên Chúa mới thực hiện nổi, nên khi Chúa phục sinh cho Lagiarô, và sau này chính Ngài phục sinh tự trong cõi chết, nhân loại mới thực sự tin rằng, Ngài đã sống lại thật, vì tự Ngài, Ngài chính là sự sống và là sự sống lại. Phải đợi cho đến khi chết thật, và thân xác đã thối rữa, Chúa mới phục sinh Lagiarô. Điều này chị ông đã tin, nhưng bà cho rằng phải chờ cho đến ngày sống lại của con người. Nhưng Chúa Giêsu vì muốn mặc khải cho con người về sự sống lại và sự sống, nên Ngài đã cho Lagiarô ra khỏi mồ mà không cần chờ đến ngày sống lại chung của toàn thể nhân loại.

Thối rồi! Thật vậy, nếu Chúa đã lên tiếng gọi mà Lagiarô vẫn im lìm nằm trong mộ tối, thì thật là ông đã thối rữa, và sự chết của ông kéo theo luôn cả niềm tin của con người về sự phục sinh và sống lại. Nếu Chúa Giêsu đã gọi mà Lagiarô không ra khỏi mồ, thì điều mà Ngài nói với Mátha rằng Ngài là sự sống và sự sống lại đã không còn đủ khả năng thuyết phục. Và nhân loại có lý do để hồ nghi về sự sống và sống lại nơi Ngài, ngay cả sau khi Ngài tự mình sống lại từ cõi chết.

Cám ơn Lagiarô. Cám ơn mộ sâu đã giữ thân xác ông 4 ngày. Cám ơn thân xác thối rữa của ông. Cám ơn cái chết của ông, vì nhờ đó chứng tỏ được quyền năng của Thiên Chúa, như Chúa Giêsu đã nói với các Tông Đồ là Ngài mừng vì biến cố này. Biến cố sẽ củng cố niềm tin của các ông và của mọi người. Nhưng nhất là biến cố ấy tự nó đã làm chứng cho nhân loại về sự sống lại của chính Ngài sau này, để từ đó, tất cả những ai tin nhận Ngài, sống và thực hành lời Ngài cũng được Ngài cho phục sinh từ trong cõi chết, vì Ngài là sự sống và là sự sống lại.

T.s. Trần Quang Huy Khanh

THỐI RỒI!
Trích “Trong Ánh Sáng Niềm Tin” ở Chương 4, tác giả Trần Mỹ Duyệt

Biết rằng Thiên Chúa luôn ở bên tôi, chỉ là một phần của tri thức về những xác tín có chiều sâu tôn giáo. Những cảm nhận được sự hiện diện của Ngài trong mọi biến cố của cuộc đời, mới thực sự đi vào niềm tin đó. Mặt khác, dù tôi có cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa chung quanh cuộc sống, thì việc tin rằng Ngài yêu tôi và luôn chọn cho tôi phần tốt nhất, cũng vẫn là một thách đố lớn lao đối với niềm tin của tôi.

Không như Maria đã vội vã tới gặp Chúa Giêsu khi nghe chị mình là Mátta nói Chúa đang chờ bà. Mặc dầu tôi vẫn biết Chúa ở đàng kia và đang chờ tôi, tôi vẫn chưa hẳn tin là có Ngài. Trong nhiều trường hợp, tôi đã không dễ dàng nhận ra tiếng Ngài. Hoặc tôi vẫn chưa hoàn toàn tin tưởng vào một phép lạ, Ngài sẽ làm cho cuộc đời tôi trong những lúc tãm tối và thử thách.

Mátta và Maria sau khi than thở, phàn nàn và tường trình về cái chết của em mình là Lagiarô. Chợt thấy Chúa tỏ ý muốn đến viếng thãm mộ của ông, hai bà liền ngãn cản Chúa. Bằng một thái độ rất thực tế, hai bà thưa: “Lậy Thầy, thối rồi!” (Jn 11:39).

Lagiarô đã chết và chôn được bốn hôm, đương nhiên thân thể phải rữa thối. Đến tham một thây người rữa thối, là chấp nhận hít thở bầu khí thiếu trong lành. Là nhìn xem một thân xác chương phình, nứt nẻ với từng mảng thịt rơi rụng.

Thánh Phanxicô Bôgia, khi còn là một vị quan của triều đình Tây Ban Nha, gặp lúc hoàng hậu nước này qua đời. Theo tục lệ của Tây Ban Nha thời đó, Phanxicô được lệnh phải tới mở nắp quan, nhận diện hoàng hậu.

Phanxicô đã tới, và đã làm những gì bổn phận ông đòi hỏi. Nhưng vừa mở nắp quan ra, ông thấy gì? Một hoàng hậu sắc nước, hương trời của triều đình Tây Ban Nha, lúc này chỉ là một cái xác không hồn, nằm bất động. Con người khuynh nước, nghiêng thành kia bây giờ đã hoàn toàn đổi khác.

Không ai biết lúc đó Phanxicô nghĩ gì, chỉ biết rằng sau đám tang đó, ông đã hoàn toàn thay đổi. Ông đã từ giã triều đình cùng với những vinh quang của nó để mặc lấy bộ áo dòng tu, theo chân Thánh Inhaxiô Loyola.

Đối với cuộc đời của con người, và với khả năng của con người, chết là hết. Thân xác phải được tẩm liệm và chôn cất đàng hoàng. Sau khi chết, thây người sẽ thành rữa mục, hôi thối, và làm mồi cho thú vật, hoặc giòi bọ. Đôi khi những xác chết không chôn cất kia còn gây nên bệnh tật cho nhiều người, và ô nhiễm không khí.

Cũng có lẽ vì quan niệm như vậy, cho nên Mátta và Maria đã can ngăn Chúa Giêsu đừng đến cái nơi hôi hám đó làm gì. Nhưng Chúa lại hành động khác. Ngài đã ra tới mồ nơi chôn Lagiarô.

Mặc dù Mátta và Maria vẫn tin vào sự sống lại của con người, nhưng quan niệm của hai bà trước cái chết của em mình, và quan niệm của Chúa Giêsu trước biến cố đó hoàn toàn khác biệt. Một bên chết là đi vào mục nát. Một bên chết chỉ là một giấc ngủ: “Lagiarô bạn ta đang ngủ. Chúng ta hãy đến đánh thức ông dậy” (Jn 11:11). Một bên chết thì thân xác thối tha. Một bên từ một thân xác hay chết được chuyển thành một thân xác tuyệt vời, và không mục rữa.

Có lẽ đây là điểm tương phản nhất, khiến qua cuộc sống thường nhật, tôi vẫn gặp những bất đồng giữa tôi và Chúa Giêsu. Cũng như Mátta và Maria, nhiều khi tôi đã dỗi hờn với Chúa bằng thái độ nửa thách thức, nửa nghi ngờ: “Lậy Thầy thối rồi! Vì đã chôn bốn hôm” (Jn 11:39).
Thật là thiếu may mắn tôi đã trượt kỳ thi vừa qua.
Thật là xui xẻo cho tôi, tháng vừa qua gặp phải tai nạn di chuyển trên đường từ sở làm về nhà.
Thật là bất hạnh, gia đình tôi phải tan nát vì hoàn cảnh thất nghiệp, vì con cái hư hỏng, vì người thân bệnh tật lâu ngày, lâu tháng.
Thật là tuyệt vọng, tôi cầu xin mà không được Chúa đáp trả. Tôi vẫn thấy mình khô khan, nguội lạnh, xu hướng về những hành động xấu.
Tôi vẫn thấy vợ tôi, chồng tôi, con tôi bê tha, thiếu gương sáng, thiếu đạo hạnh.
Tôi vẫn thấy những người chung quanh tôi nghèo khổ.
Tôi vẫn thấy tội ác xẩy ra khắp quanh tôi.
Tôi vẫn thấy chiến tranh bao trùm đó đây.

Và ngàn ngàn những cái thiếu may mắn, thiếu hạnh phúc như chiếc lưới đổ trùm trên đầu tôi. Trên đầu những người thân của tôi, và của chung nhân loại.
Thế là thối rồi. Trong hình thức diễn tả của con người thời đại, tôi coi đó như một cái gì hư hỏng, mất mát, thua thiệt, và xui xẻo.
Thế là lỡ một dịp may hiếm có để làm giầu, để tạo công danh sự nghiệp, và để được hạnh phúc.
Thế là lại một lần nữa, tôi gặp phải những điều làm cho tôi phải suy nghĩ, mất ãn, mất ngủ.
Những chuyện như vậy không thể gọi là hạnh phúc, sung sướng, và dễ chịu. Đúng ra, chúng chỉ là những cái khiến tôi kinh hoàng, và sợ hãi.
Tâm sự sau đây của một người, phải chăng cũng là tâm sự của riêng tôi, hoặc tâm sự chung của thân phận con người:
Tôi là một người đàng hoàng. Tôi được sinh ra và giáo dục trong một gia đình Công Giáo. Tôi kính Chúa và yêu thương đồng loại. Tôi giữ trọn đạo đối với bố mẹ. Tôi thương yêu, nâng đỡ anh chị em tôi. Tôi trung thành với chồng con.
Có lẽ vì tôi quan niệm và sống như vậy, nên tôi không chịu được cái cảnh bố mẹ tôi cứ tối ngày xào xáo nhau. Tôi không thể kìm hãm được cảm xúc khi nhìn thấy anh, chị, em tôi cứ tranh giành và gây hấn với nhau và với tôi.
Tệ nhất là đứa em kế tôi. Nó sống như một kẻ vô thần. Sống thác loạn. Sống buông thả. Hễ nó thấy người đàn ông nào hợp mắt nó, dù người đó là đen hay trắng, Mễ hay Mỹ, Việt hay Tầu. Dù người đó có vợ hay không có vợ, ly dị hay không ly dị. Dù người đó già hay trẻ. Hễ nó thích là nó tình nguyện vác xác tới, không cần phải mời mọc, hay van xin.
Nó có một đứa con gái mới sinh chưa được 2 tháng. Đứa trẻ không có cha. Đúng ra, cha đứa bé là một thằng nhãi ranh thua nó 5 tuổi. Nhưng nó đã bỏ thằng trai đó từ lâu, khi mới có bầu được vài tháng. Bây giờ lại đang tằng tịu với một người đàn ông có vợ, ba con, và đang gặp rắc rối với vợ của ông ta.
Tôi không thể hiểu được tại sao Chúa để những chuyện đó xẩy ra. Tôi không thể dằn lòng được mỗi khi nghĩ đến bố mẹ, các anh chị em, và nhất là trường hợp đứa em mà tôi đang kể đây. Tại sao lại thế? Tại sao lại không phải là người khác, mà là nó? Tại sao nó lại là em tôi? Tại sao, và tại sao?
Tâm trạng trên là hình ảnh một cuộc đời đã tàn rụi, thối tha, và mục nát. Mọi chuyện kể như “đã thối”, theo từ ngữ mà Mátta và Maria đã dùng thưa với Chúa khi Ngài muốn đến thãm mộ Lagiarô. Nếu người này có dịp gặp Chúa Giêsu để thưa chuyện với Ngài về trường hợp em của mình, có lẽ cũng sẽ bắt chước Mátta và Maria, thưa với Chúa một lời tương tự “hỏng hết rồi”, hoặc “hoàn toàn thất vọng”!
Nhưng với Chúa thì sao? Ngài không thất vọng dễ dàng như Mátta, như Maria, như tôi, hoặc như nỗi thất vọng của câu chuyện trên. Ngài vẫn đến ngôi mộ nơi có xác chết đã rữa thối. Và chính ở nơi đó, nơi sự chết tung hoành, Ngài làm bừng tỉnh, và hồi sinh những gì kể như đã mất. Vì Ngài là sự sống, và là sự sống lại.
Nếu Chúa không thất vọng, chưa bỏ cuộc tại sao tôi lại thất vọng? Tại sao tôi lại bỏ cuộc một cách dễ dàng?
Nếu Chúa cho rằng cuộc đời tôi, hy vọng của tôi, và tương lai của tôi chưa thối rữa, chưa mục nát, tại sao tôi lại cứ nghĩ rằng nó đã thối rữa và mục nát?

Đúng ra, tôi không có quyền thất vọng, khi mọi chuyện xẩy ra không theo ý mình. Vì trong tận cùng những rã rời, tuyệt vọng, và mục nát của thân phận con người, hoặc niềm ước vọng của con người, Chúa vẫn ở đó và lắng nghe tiếng kêu cầu của tôi. Tiên tri Giôna đã cảm nghiệm được tình Chúa yêu thương và sự nâng đỡ này, và ông đã thốt lên: “Trong gian chuân tôi đã kêu cầu, và Chúa đã đáp lời tôi. Từ vực sâu tôi nài van Chúa, và Chúa đã nghe tiếng tôi” (Jona 2:3-4).

Đối với tôi cũng thế, Ngài vẫn có thể biến đổi những nỗi thất vọng tuyệt cùng của tôi thành tràn trề hy vọng. Và Ngài luôn đủ quyền năng phục sinh những gì con người cho là đã chết, chỉ cần tôi tin tưởng và phó thác nơi Ngài.

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)