| |
YÊU THÌ GIỮ LỜI THẦY
Yêu ai thì giữ lời người ấy. Đây là một định luật tự nhiên và
đơn giản, nhưng cũng là một cái thước đo mối giây thân tình giữa
một người với một người. Ngay cả trong tình trường, sự mật thiết
giữa hai người yêu nhau cũng được thẩm định bằng những việc cụ
thể làm vui lòng người mình yêu. Thánh Tomas A’quinas trong những
điều kiện của tình yêu đã cho rằng, yêu nhau thì làm đẹp lòng
nhau.
Tâm
lý sống thường ngày cũng nói lên rằng, khi người ta yêu ai thì
thường không muốn làm người ấy phật lòng. Ngược lại, luôn luôn
muốn làm đẹp lòng người mình yêu dù có phải hy sinh, hoặc cố gắng.
Chúa Giêsu khi nói với các Tông Đồ – và mỗi Kitô hữu chúng ta
– rằng nếu yêu Ngài, thì không có gì minh chứng tình yêu ấy bằng
cách tuân giữ những lời Ngài truyền dậy.
Cũng
như Chúa Giêsu đã có lần nói với các môn đệ Ngài: “Người ta sẽ
cứ dấu này mà nhận ra các con là môn đệ Thầy, là các con thương
yêu nhau” (Gioan 13:35). Hôm nay, Chúa lại chỉ cho các môn đệ
biết rõ hơn về sự liên kết mật thiết với Ngài như thế nào, khi
Ngài bảo họ: “Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ lời Thầy”
(Gioan 14:15). Yêu nhau được coi là dấu chỉ của người môn đệ.
Giữ lời Chúa dậy được coi là dấu chỉ của người môn đệ chân chính.
Vì nếu không tuân giữ lời Thầy, làm sao gọi là yêu mến Thầy. Và
một khi đã yêu mến Thầy, tuân giữ lời Thầy, tất nhiên phải thương
yêu lẫn nhau, vì Thầy đã dậy là phải thương yêu nhau.
Tình
yêu, dù là tình yêu tha nhân hay tình yêu Thiên Chúa là một huyền
nhiệm khó diễn tả, không thể định nghĩa, và vì thế không có lối
giải thích thích hợp bằng ngôn ngữ. Ngôn ngữ của tình yêu là ngôn
ngữ của hành động. Là việc làm cụ thể. Là những dẫn chứng mà qua
đó, người khác có thể cảm, có thể rờ, có thể thấy, và có thể nghe
được. Khi người luật sĩ trẻ chất vấn Chúa Giêsu về lề luật, Ngài
đã giải thích cho người ấy rất rõ ràng: Kính mến Chúa hết lòng,
hết sức, hết linh hồn, và hết trí khôn là luật trọng nhất và quan
trọng nhất. Và rất ngạc nhiên, điều mà có lẽ các Pharisêu và luật
sĩ thời đó không hiểu là: Thương yêu cận thân như chính mình cũng
là một lề luật trọng đại. Điều sau bổ túc cho điều trước, và cả
hai làm thành một bộ luật sống cho những ai muốn làm môn đệ, muốn
trở thành thân thiết với Ngài.
Giữ
lời Thầy. Chúng ta thường tự cho mình là biết nhiều, hiểu nhiều,
và đọc nhiều về Chúa Kitô. Chúng ta hãnh diện về những kiến thức
ấy. Ở một khía cạnh khác, chúng ta cũng hãnh diện cho mình là
sốt sắng, yêu mến, và nhiệt thành với Chúa qua việc siêng năng
tham dự thánh lễ, đọc kinh. Nhưng ngoài những việc ấy ra, chúng
ta lại lơ là, lại lạnh lùng và tính toán đối với những người chung
quanh chúng ta, những anh chị em nghèo đói, những người làm mất
lòng chúng ta, những kẻ thấp cổ bé miệng, những bệnh nhân, và
những tội nhân là những đối tượng của lòng yêu mến, của sự hiểu
biết, của những công việc rước sách, kinh kệ. Một cách khác, chúng
ta yêu Chúa thì có yêu, thích yêu, nhưng thực hành điều kiện tình
yêu Thiên Chúa đòi hỏi là vâng giữ lời Chúa, thì chúng ta không
muốn, hoặc không làm.
Giữ
lời Thầy. Dụ ngôn người Samaritanô cứu chữa kẻ bị cướp chấn lột
dọc đường. Thật tình, thiết thực và cảm thông. Dụ ngôn bà góa
dâng cúng chỉ một xu, là tất cả sức sống và sự sống của bà cho
lòng yêu mến Thiên Chúa. Dụ ngôn Giakêu đã sẵn sàng hối lỗi, đền
trả, và mở rộng cõi lòng với người nghèo túng. Đấy là những thí
dụ thực tế cho những ai muốn “giữ lời Thầy”, và những ai muốn
chứng minh rằng mình “yêu Thầy”.
Đức
Thánh Cha Bênêđíctô XVI, trong bài giảng Thánh Lễ Đăng Quang,
24 tháng 4 năm 2005, tại quảng trường Thánh Phêrô đã nói: “Người
mục tử phải được khởi hứng do lòng sốt mến thánh thiện của Đức
Kitô: ngài không thể thờ ơ trước quá nhiều người đang sống trong
sa mạc. Và có nhiều loại sa mạc. Đó là sa mạc nghèo túng, sa mạc
đói khát, sa mạc của bỏ rơi, của cô đơn, của thiếu vắng tình thương.
Đó là sa mạc mù lòa Thiên Chúa, sự trống vắng của các linh hồn
không còn nhận ra phẩm chức của mình hoặc mục đích cuộc sống con
người. Những sa mạc bề ngoài trên thế giới gia tăng, bởi vì những
sa mạc bên trong con người quá mênh mông.”
Giữ
lời Thầy. Đem ứng dụng những gì Đức Thánh Cha nói trên vào đòi
hỏi của Chúa Giêsu là giữ lời Ngài, người Kitô hữu chúng ta tự
nhiên hiểu rằng, mình không thể sống mãi với lối giữ đạo kinh
kệ, hình thức, và rước sách, nhưng phải dấn thân, phải thực hiện
lời Chúa bằng những hành động cụ thể.
Giữ
lời Thầy không chỉ lệ thuộc vào những việc làm có tích cách hình
thức, hoặc lý thuyết viễn vông, nhưng cụ thể bằng việc làm. Tôi
phải làm gì để đem những anh chị em tôi ra khỏi những sa mạc nghèo
túng, đói khát, bỏ rơi, cô đơn, và thiếu vắng tình thương. Sa
mạc mù lòa Thiên Chúa, sự trống vắng của các linh hồn không còn
nhận ra phẩm chức của mình hoặc mục đích cuộc sống con người.
Chúa
Giêsu muốn tôi phải đi vào những thực hành rất thực tế ấy. Hãy
giảm bớt những nghi thức rườm rà, ngắn gọn những buổi hội họp,
đơn giản những buổi buổi tĩnh tâm, rước sách mà để giờ đi đến
với những người bệnh tật, nghèo túng, cô đơn và tù tội. Họ chính
là những đối tượng của lòng thương xót, của lòng yêu mến, và những
lễ lạc linh đình. Họ đang cần tôi dành nhiều giờ với họ hơn Chúa
Giêsu. Họ cần nghe tôi nói với họ hơn Chúa Giêsu, vì Chúa Giêsu
thì họ không thấy và không nghe được. Và bởi vì Chúa Giêsu trong
những trường hợp túng quẫn, nghèo đói, cô đơn và tù tội như thế
chỉ là một hình ảnh viễn vông, một thách đố lớn lao mà trí khôn
con người không giải thích hay chứng minh được. Bởi đó, những
người nghèo, những người bệnh tật, những người tù tội, những người
cô đơn, những người bị xã hội bỏ rơi, quên lãng cần những “Chúa
Giêsu” có thể nói với họ, có đụng chạm đến họ, có thể nghe họ.
Những Chúa Giêsu có thể cho họ một đồng bánh, một trái cam, ít
chục bạc, một viên thuốc, hay một lời an ủi.
Yêu
mến Chúa, giữ lời Chúa. Người Kitô hữu để thực hiện lời này, cũng
cần “phải được khởi hứng do lòng sốt mến thánh thiện của Đức Kitô”.
Phải dấn thân vào những góc cạnh của đời sống để minh chứng tình
yêu bằng những hành động thiết thực. Ngoài những việc làm cụ thể
ấy, chúng ta rất khó để chứng minh với Chúa Giêsu rằng, chúng
ta thật sự yêu mến Ngài và yêu mến lời Ngài.
T.s.
Trần Quang Huy Khanh
|
|