CN 3 Thường Niên Năm A
 
 


TRONG BÓNG TỐI SỰ CHẾT

“Ông đã được báp tem chưa? Chúng tôi đến đây giúp ông chịu phép báp tem.” Đó là câu hỏi mà nhiều người Việt Nam chúng ta thỉnh thoảng vẫn được nghe hỏi bởi một số anh chị em Tin Lành, nhất là giáo phái Giêhôva, với một tập tài liệu bằng Việt và Anh ngữ in rất đẹp mang tự đề “Tháp Canh”. Hoặc anh chị em thuộc giáo phái Các Thánh Hữu Ngày Sau theo Mormon.

Điều mà những Kitô hữu chúng ta nếu để ý thấy là những người đến với chúng ta, họ đến bằng một nhiệt tình rất thiết tha, chân thành, và cũng rất sùng mộ. Họ đến không được lần này, họ sẽ tìm dịp đến lần sau. Nếu họ không có cơ hội nói nhiều, họ chỉ xin nói với chúng ta một vài câu giới thiệu rồi để lại những tài liệu và kiên trì chờ chúng ta cho phép. Họ chỉ cần bước vào nhà chúng ta là họ có thể nói với chúng ta hàng giờ về Chúa Giêsu (Đấng Christ), về tin mừng của Ngài, về ngày cánh chung, về việc chịp phép Báp tem (Rửa Tội). Điều này trái ngược hoàn toàn với quan niệm và lối sống đạo của nhiều Kitô hữu, là giữ đạo để lên Thiên Đàng. Việc truyền giáo, việc rao giảng Tin Mừng, việc đạo là để mấy ông cha, bà phước. Tiếc một điều là lối suy nghĩ và sống đạo ấy lại hợp với lối suy nghĩ, sống đạo, và giảng đạo của một số các chủ chăn.

Tại tổng giáo phận kia, nơi có đông đồng hương Công Giáo Việt Nam, một hội đoàn trẻ được thành hình. Nó hoàn toàn phù hợp với tôn giáo, và trong tinh thần mật thiết kết hợp với Giáo Hội, truyền đạo cho thành phần trẻ. Nhưng tâm huyết, lòng nhiệt thành, và tinh thần hoạt động của những người chủ trương cũng như của giới trẻ đã bị một số linh mục thẳng tay dẹp bỏ. Lý do chính là không muốn bận bựu., hoặc không muốn có thêm những gì vẫn đã có sẵn trong sinh hoạt giáo xứ, cộng đoàn từ trước.

Hơn 2000 năm trước, Con Thiên Chúa đã giáng trần và đã trở thành ánh sáng của muôn dân. Thánh Kinh đã ghi lại lời của Isaia làm chứng về Ngài: “Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan, Galilêa của ngoại bang. Dân ngồi trong bóng tối tăm, đã thấy ánh sáng huy hoàng. Ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng tối sự chết” (Mt 4:15-16).

Ánh sáng cứu độ như vậy đã rọi chiếu vào những vùng tăm tối, nhưng ánh sáng ấy sau hơn 2000 năm, ở vào thời đại chúng ta đang sống vẫn chưa chiếu xa khỏi nhiều khuôn viên nhà thờ, nhiều khung cửa nhà số đông các Kitô hữu. Người ta cứ đọc kinh rang rang, rước sách linh đình, rầm rộ, đền tạ liên miên. Các linh mục vẫn cứ ngồi tòa ngất ngư vào những dịp Giáng Sinh, Phục Sinh. Nhưng rồi chỉ có thế. Nếu có ai hỏi thêm về giáo lý của Giáo Hội, về tinh thần Kitô Giáo, về đời sống của Giáo Hội, và về Chúa Giêsu thì không biết.

Sau gần 2 giờ tranh luận về Giáo Lý liên quan đến lòng sùng mộ Đức Trinh Nữ Maria, một giáo dân đã hỏi vị linh mục: “Vậy cha đã đọc những điều này trong sách Giáo Lý của Giáo Hội chưa?” Vị linh mục trả lời “chưa có giờ đọc” với lời giải thích: “Chỉ đọc chung chung những điều về tín lý, luân lý, còn về Đức Mẹ thì không đọc bao giờ”.

Sống đạo như vậy, giảng đạo như vậy, thì chẳng lạ gì mà ánh sáng của Ơn Cứu Độ cho đến nay vẫn còn luẩn quẩn bên trong các nhà thờ, chung quanh các khuôn viên thánh đường, và nhà của nhiều tín hữu. Đây là lối sống đạo và hành đạo mà theo tư tưởng của một linh mục truyền giáo tại Uùc là “giữ đạo” hiểu theo một nghĩa đen thuần túy. Giữ chứ không “sống đạo”, “hành đạo” và “truyền đạo”. Và đây cũng là lý do tại sao Đức Gioan Phaolô II, trong dịp mở màn Thiên Niên Kỷ III, Ngài đã hô hào Giáo Hội và mọi Kitô hữu là “Hãy thả lưới chỗ nước sâu” tức là hãy đi ra khỏi con người ích kỷ, khỏi gia đình họp hòi, khỏi giáo xứ nhỏ nhoi, mà vươn tới những anh chị em đang cần được soi dẫn và ánh sáng Cứu Độ chiếu soi, để cùng đem họ về với Chúa. Vì đây chính là ơn gọi của Giáo Hội cũng như của mỗi Kitô hữu khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội: “Hãy đi khắp cùng bờ cõi trái đất và công bố Tin Mừng cho muôn dân” (Mc 16:15).

“Ngồi trong bóng tối sự chết”. Lời Thánh Kinh hôm nay nhắc nhở mỗi Kitô hữu chúng ta về 2/3 dân số trên thế giới giờ này vẫn chưa một lần được nghe nói về Chúa Giêsu, về ơn cứu độ và sự giải phóng tâm linh của Ngài. Và như vậy, liệu chúng ta có muốn đem ánh sáng cứu độ của Ngài đến với những anh chị em còn đang trong bóng tối của tội lỗi, của Satan, và sự chết không? Nếu có, trước hết chúng ta phải để ánh sáng ấy chiếu sáng tâm hồn và cuộc đời mình. Rồi bằng một lòng nhiệt thành, sốt sắng, chúng ta mang ánh sáng ấy đến với những anh chị em quanh mình, thay vì để ánh sáng này luẩn quẩn bên trong nhà thờ, khuôn viên giáo đường, tại phòng khách nơi có bàn thờ Chúa, bàn thờ Đức Mẹ. Nhưng ánh sáng ấy là gì?

  • Là những lời nói dịu dàng, cử chỉ thân ái, tinh thần phục vụ của người vợ, người chồng, người cha, người mẹ trong gia đình.
  • Là sự thủy chung và tôn trọng nhau trong đời sống hôn nhân, gia đình.
  • Là lòng yêu mến, chân thành thánh hoá của đời tận hiến.
  • Là sự kính trọng, tôn kính và hiếu thảo của những người con.
  • Là tư cách đứng đắn, ngay thẳng và liêm khiết trong giao tiếp thường ngày với mọi người.
  • Là công bằng và thành thật trong cách thức làm ăn, buôn bán, và đối xử với mọi người.
  • Là lòng thương xót, vị tha, và kính trọng đối với mọi người, nhất là những người nghèo khổ, bệnh tật và già yếu.
  • Là lòng yêu mến chân thành đối với Thiên Chúa và Giáo Hội.

T.s. Trần Quang Huy Khanh 2005

Hãy hối cải !

Trần Mỹ Duyệt 2008

"Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến" ((Mt 4:17). Nước trời đã ở giữa nhân loại và ở giữa chúng ta như lời giới thiệu của Gioan Tiền Hô: "Đây Chiên Thiên Chúa. Đấng xóa tội trần gian" (Jn 1:29). Vậy tại sao Chúa Giêsu còn nói: "Nước trời đã gần đến"?

Thật ra, Chúa đã từ trời xuống thế, và từ mặt đất xuống dòng sông Giođan như một dấu chỉ hòa tan, và hội nhập với nhân loại. Từ trời xuống đất, Ngài mặc lấy xác phàm nhân loại. Từ trên bờ, bước xuống dòng sông Giođan là Ngài mang lấy những yếu đuối và tội lỗi của nhân loại. Những vẫn còn một cái gì đó, một sự ngăn cản nho nhỏ từ phía con người khiến Ngài phải lên tiếng: "Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến" ((Mt 4:17).

Khi nói với con người những lời ấy, Ngài muốn con người cho Ngài một cơ hội để Ngài hoàn tất công việc cứu chuộc của Ngài. Để Ngài được đến và ở với mỗi người một cách tận tình, tận nghĩa. Vì dòng sông kia đã cuốn trôi tất cả những gì làm ngãng trở từ phía Ngài đối với con người. Nói một cách rõ ràng, là Ngài muốn con người quay trở về với ơn gọi và cuộc sống con cái Chúa của mình.

Từ sau ngày Nguyên Tổ phạm tội, con người đã đi theo một hướng mới, và hướng đi ấy cứ mỗi ngày kéo con người xa dần Thiên Chúa. Xa dần tình thương của Thiên Chúa. Đó là hướng đi về phía Satan, hướng đi phản nghịch. Hướng đi của người con hoang đàng sau này được chính Ngài đề cập đến trong dụ ngôn người cha hiền hậu.

Chúng ta trong vai trò làm cha mẹ hẳn là đã có kinh nghiệm này. Ai mà chẳng đau lòng khi có một người con phản loạn, bỏ nhà đi hoang, đắm chìm vào cuộc sống sa đọa như hút sách, nghiện ngập, đĩ điếm, trộm cướp. Những gì sẽ xẩy ra cho những cha mẹ này, nếu không phải là nước mắt, là buồn tủi, là chờ mong. Và khi người con ấy ăn ăn hối cải, trở lại với cuộc sống bình thường, để tâm vào việc học hành, xây dựng tương lai thì còn niềm vui nào hơn đối với những cha mẹ sầu khổ ấy. Đúng là: "Con ta đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay tìm thấy" (Lc 15:24). Chỉ có những ai đã làm cha mẹ và đã trải qua những giây phút chờ đợi người con đi hoang trở về mới cảm nhận cách đầy đủ và thấm thía lời nói ấy.

Bước vào đời sống công khai, bắt đầu sứ mạng rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã bày tỏ sự mong đợi và nỗi khát mong để thấy con người trở lại quay về với thân phận và cuộc sống ngày nào của mình. Nước trời đã gần đến. Chỉ còn một khoảng cách nhỏ, rất nhỏ và khoảng cách ấy lại thuộc về phía con người. Không như những cha mẹ bình thường nhiều khi vì lỗi lầm, vì cách cư xử và vì thiếu hiểu biết đã tạo nên những lý do khiến con cái bỏ nhà đi hoang và rơi vào những cạm bẫy của xã hội. Thiên Chúa là cha nhân lành, và là người cha hoàn toàn, Ngài biết phải làm gì để đem lại hạnh phúc cho con cái mình: hạnh phúc đời này và hạnh phúc vĩnh cửu. Do đó, khi nhìn thấy con cái bỏ xa mình mà đi theo những bóng hình ngoại lai, phủ nhận tình thương, và cam chịu bỏ mất hạnh phúc mà Ngài đã sắm sẵn từ đời đời, thì lòng người Cha ấy không thể không thổn thức, và xao xuyến. Nếu có thể nói to hơn được, chắc Chúa Giêsu cũng đã nói: "Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến" ((Mt 4:17).

Kinh nghiệm thường ngày cho ta thấy điều này, người con có thể phủ nhận và khinh chê tình thương của cha mẹ, nhưng cha mẹ ít khi từ chối và bỏ rơi con mình, dù nó là những đứa con yếu đuối, bệnh tật, và hư hỏng. Hằng ngày, tôi vẫn thường xuyên gặp gỡ những cảnh này, và không thể bồi hồi, xúc động khi nhìn thấy những người cha, người mẹ đau khổ tìm kiếm những phương pháp trị liệu cho con mình, mặc dù, vẫn biết rằng sự cố gắng ấy cũng chỉ là rất ít ỏi. Sự quan tâm, lo lắng ấy nhiều khi làm phiền và gây khó chịu cho những người có trách nhiệm. Nhiều khi người cha hay người mẹ bất chấp những điều có thể gây phiền toái cho kẻ khác vì nghĩ đến con mình. Thí dụ, một người mẹ vì quá lo lắng cho con nên bà đã gọi điện thoại cho hầu hết những người có trách nhiệm trong một chương trình cung cấp dịch vụ cho các trẻ em khuyết tật tâm lý và thể lý. Bà gọi người này không được, lại gọi người khác đến nỗi làm xôn xao, và hoang mang cho mọi người. Những người có trách nhiệm như tôi, chỉ khuyên bà hãy bình tĩnh và nhẫn nại chờ cho hồ sơ được hoàn tất, nhưng sự nhẫn nại ấy cũng không có nơi bà.

Vậy khi Chúa Giêsu nói "hãy hối cải", có nghĩa là Ngài muốn chúng ta quay nhìn vào chính mình, vào cuộc đời mình, và vào Ngài. Hãy nhìn xem, và hãy nghiệm xét xem có ai bằng Chúa mình không? Ai đã tạo dựng, và sẵn sàng chết để cho mình được sống không? Từ đó, Ngài cũng muốn chúng ta hiểu hơn về những giá trị của cuộc sống tạm dung này. Hiểu được những "chúa" của những của cải vật chất, danh vọng này là ai? Sự hiểu biết này sẽ làm cho chúng ta "quay trở lại".

Lý thuyết về sự trở lại, sự hối cải thì bao giờ cũng hấp dẫn và hợp lý. Nhưng áp dụng và thực hành những lý thuyết ấy thì lại không mấy hấp dẫn và hợp lý, nhất là đối với chúng ta những ai chỉ nhìn và cảm nhận những giá trị bên ngoài của cuộc sống.

Nước Trời đã gần đến! Từ ngày Chúa giáng sinh làm người, Ngôi Hai Thiên Chúa đã mang nước Trời xuống với con người. Rồi ngày Ngài dìm mình trong dòng sông Giođan thức là Ngài lại một lần nữa đem nước Trời đến với nhân loại. Vậy chỉ còn một cách duy nhất là "hối cải" tức là dừng lại, suy nghĩ lại, và sửa sai lại những gì mình đã nghĩ, đã làm, và đã sống sao cho phù hợp với Tin Mừng của nước Trời, và lúc ấy nước Trời sẽ ở giữa lòng mọi người.

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)