dongcong.net
 
 

Chia sẻ của LM Jude Siciliano, OP

CN XXVIII Mùa Thường Niên A –9-10-2011
Isaia 25: 6-10;  Philipphê 4: 12-14, 19-20;
Matthêu 22: 1-14
Lm. Jude Siciliano, OP
ĐỨC CHÚA SẼ  ĐÃI MUÔN DÂN MỘT BỮA TIỆC

Bất cứ ai đọc các bài chia sẻ này một thời gian chắc hẳn đều biết rằng tôi lớn lên ở Brooklyn. Nếu có dịp nói đến nguồn gốc của mình, tôi hy vọng đó phải không phải là sự lặp lại. Những người hàng xóm thời niên thiếu của tôi phần đông là người Ý và Dothái. Sau Đệ nhị thế chiến, một làn người tị nạn Dothái, sống sót sau chiến tranh, đã tràn vào làng bên cạnh. Họ đến từ Ba Lan, Czechoslovakia, Nga, Yugoslavia,… Họ đã thoát chết bằng nhiều cách khác nhau trong thời gian xảy ra vụ Thảm sát người Dothái. Khi đến đây, nhiều người trong số họ chỉ biết chút ít tiếng Anh, quý vị có thể nghe họ nói tiếng Dothái ngoài đường phố. Thậm chí có cả một kênh phát thanh New York phát đi các bản nhạc, tin tức và giải trí chỉ bằng tiếng Dothái. Vào những tối thứ Sáu và ngày thứ Bảy họ đến các Hội đường gần đó, nhiều người chỉ khoắc mấy bộ đồ đơn giản mà họ mang có được – thường do các hội từ thiện phát, vì họ chẳng còn gì sau khi chiến tranh kết thúc.

Dấu cho thấy là những người mới đến không chỉ là trang phục hay ngôn ngữ của họ, nhưng còn cả nhiều hình xăm trên cổ tay và cánh tay trái của họ khi còn ở trong trại tập trung. Xoay sở cách nào đó họ sống sót được trong trại tập trung; nhiều gia đình chỉ còn duy một người sống sót. Họ bắt đầu cuộc sống mới ở Mỹ từ những vết đau và ký ức kinh hoàng về những gì mà họ phải chịu đựng và mất mát. Một số người sống được nhờ chịu khó đi xén lông cừu hoặc sống được là nhờ vận may. Những người khác nữa thì sống sót nhờ tìm ra nhiều cách tinh khôn hơn trong việc đánh cắp lương thực. Nhiều cha mẹ chết vì đã nhường cả phần thức ăn ít ỏi của mình cho con. Nhiều bạn tù sống trong tuyệt vọng và làm bất cứ điều gì để sống qua ngày đoạn tháng.

Bên  cạnh những xoay sở và mưu kế sống còn, chúng ta có thể đoán được họ đã thực sự lâm vào những tình thế tuyệt vọng thế nào, họ cũng làm một vài điều mà chúng ta cho là không thực tế, và thậm chí việc làm ấy có khi còn khiến họ khổ sở hơn. Họ nói về những bữa ăn mà họ đã nấu trước khi bị bắt giam và những món ăn mà họ sẽ nấu khi được ra khỏi trại, dù biết rằng có thể sẽ chẳng bao giờ họ còn cơ hội ra ngoài để mà làm những món ăn ấy dù chỉ một lần. Có một cuốn sách dạy nấu ăn do một nhóm tù nhân viết trên những mảnh giấy còn sót lại và đã được xuất bản. Hãy tưởng tượng xem, một cuốn sách dạy nấu ăn do những tù nhân sắp chết đói viết ra, những nạn nhân của một thể chế đồi bại, thậm chí đã xâm chữ trên cơ thể họ để phân loại họ nhằm thuận tiện cho công việc kiểm soát hoặc để khử trừ họ.

Đâu là điều hay ho của việc các tù nhân này nói về thực phẩm và cả việc viết sách nấu ăn? Điều tốt của những câu chuyện của họ về tương lai và thực phẩm mà chẳng bao giờ có thể nhìn thấy lần nữa là gì? Tôi nghĩ chúng ta có thể tìm được câu trả lời cho những thắc mắc trên. Những gì họ làm đã cho họ niềm hy vọng. Điều đó cũng là cách chuyển những ước mơ của họ đến những thế hệ sau để giúp chúng sống sót. Việc chia sẻ những ký ức, đặc biệt là về lương thực, mang lại cho họ một lý do để tồn tại. Nếu không có thức ăn và nước uống chúng ta sẽ chết. Và chúng ta cũng sẽ chết, dưới một cách khác, nếu ta không có niềm hy vọng.

Thực vậy, tôi thấy những người tị nạn đến hội đường mỗi tuần cho thấy điều gì đó về niềm hy vọng của họ: việc đi đến hội đường giúp họ luôn tin tưởng vào Thiên Chúa hằng sống. Họ tin Thiên Chúa luôn ở với họ trong những nỗi khốn cùng và Người không bao giờ bỏ rơi họ. Tôi không có ý làm cho câu chuyện của họ trở nên lãng mạn: tôi biết cũng có người trong số họ trong khó khăn đã chối bỏ Thiên Chúa và không còn thực hành niềm tin của mình nữa. Tôi băn khoăn không biết liệu mình có giữ được đức tin trong điều kiện khắc nghiệt như thế hay không, hay chỉ đi đến kết cục phi nhân mà nhiều người phải hứng chịu! Chúng ta thấy mình là những người may mắn vì niềm tin của mình không bị thử thách như những nạn nhân Dothái trong trại tập trung. Nhưng cuộc sống luôn thử thách tất cả chúng ta; lắm lúc rất khốc liệt, nhưng nhất là thử thách ngay trong cuộc sống hằng ngày và thường xuyên.

Bài đọc trích sách Isaia hôm nay tựa như một đoạn văn từ trong các cuốn sách dạy nấu ăn do những người trong trại tập trung viết ra. “…tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế.” Bữa tiệc đó cũng giống như một thực đơn của nhà hàng sang trọng! Ngôn sứ Isaia đưa ra lời hứa cho những người đang thất vọng. Họ đang đói khát và ông hứa rằng Thiên Chúa sẽ thết đãi họ một bữa tiệc no nê. Họ đang sống trong cảnh nô lệ nhưng Thiên Chúa sẽ giải phóng họ. Họ đang hứng chịu những hậu quả do tội lỗi gây nên nhưng Thiên Chúa sẽ xóa sạch nỗi ô nhục của họ. Họ và chúng ta đang sống dưới một bức màn, một “tấm màn trùm lên muôn nước.”

Bức  màn là sự chết và ngôn sứ hứa rằng Thiên Chúa sẽ đến cứu độ chúng ta khỏi chết. Thiên Chúa “vĩnh viễn tiêu diệt tử thần.” Dân phải đặt niềm hy vọng của họ nơi Isaia và lời Thiên Chúa hứa với họ. Đó chính là điều mà chúng ta phải thực hiện, tin tưởng vào lời hứa khi cuộc sống toàn những khó khăn mỗi ngày, vô tận và vô vọng .

Để hoàn thành bức họa về việc Thiên Chúa đến cứu độ con người, Isaia nói rằng Thiên Chúa sẽ thực hiện tất cả điều này trên núi thánh của Người. Thời xưa, các vua chúa và hoàng hậu cai trị từ những lâu đài trên núi. Những ngọn núi là nơi biểu tượng cho sự cao sang, uy lực và quyền chỉ huy. Người trên núi được mọi đối tượng bên dưới dễ dàng nhìn thấy, và cũng là nhắc nhở mọi người phải quy phục.

Thiên Chúa nuôi dân trên núi. Đó không phải là một ngọn núi vì mục đích quân sự, nhưng là nơi “bàn tay Đức Chúa sẽ đặt trên núi này mà nghỉ”. Đó sẽ là nơi chắc chắn và an toàn mà Thiên Chúa ban lương thực cho những người bại trận và đói khát, bảo vệ họ và cho họ thắng vượt quân thù, đặc biệt cứu thoát họ khỏi sự chết.

Rõ ràng Đức Giêsu thường xuyên lên núi. Ở đó, Người động lòng thương những kẻ đi theo Người, đang tìm kiếm và mệt rã rời. Người không phải là một ông vua trên núi để nắm quyền cai trị hoặc thống lĩnh trên thuộc hạ mình. Nhưng, Người nhìn thấy những thiếu thốn của con người và ban cho họ những gì mà tự họ không tự mình đạt được, đó là sự bảo vệ, chữa lành và lương thực.

Nơi  Đức Giêsu, Thiên Chúa đã cho ứng nghiệm thị kiến của ngôn sứ Isaia ngay tại tiệc Thánh Thể này. Ở đây, chúng ta được no thỏa trong yến tiệc mà Thiên Chúa đã ban cho một dân đang túng quẫn của Người. Được quy tụ chỉ trong một lát trong phụng vụ, trên núi thánh này, Thiên Chúa đã kéo những người xa lạ cũng như bạn bè gần lại với nhau. Chúng ta cần được tha thứ, và như vị ngôn sứ đã hứa, Thiên Chúa sẽ xóa đi nỗi ô nhục của chúng ta. Chúng ta đang đói khát thứ lương thực dưỡng nuôi chúng ta trong đức tin, và Thiên Chúa ban cho ta những lương thực ấy nơi bàn thánh này, “tiệc thịt béo và tiệc rượu ngon.” Chính nơi đây, sự khát khao Thiên Chúa trong chúng ta được thỏa lòng.

Chúng ta không cần phải tưởng tượng về thức ăn cho mai sau; hôm nay, Thiên Chúa ban cho ta “thịt béo ngậy và rượu ngon tinh chế”. Những gì Thiên Chúa hứa, Người đã thực hiện trên núi thánh này. “Chiếc khăn che phủ các mọi tộc” bị xé bỏ. Ở đây, chúng ta được ăn uống no thỏa và cảm tạ hồng ân. Chúng ta cũng hy vọng rằng một ngày kia tất cả chúng ta được quy tụ nơi yến tiệc của Thiên Chúa, vì bữa tiệc mai sau được hứa cho chúng ta, chúng ta chỉ hình dung và đợi chờ trong hy vọng để được hưởng nếm.  

Lm. Jude Siciliano, OP

Chuyển ngữ:: Anh em HV Đaminh Gò-Vấp

 

28th SUNDAY (A) - October 9, 2011
Isaiah 25: 6-10; Philippians 4: 12-14, 19-20;
Matthew 22: 1-14
By Jude Siciliano, OP

Anyone who has read these reflections for a while knows by now that I grew up in Brooklyn. I hope I am not being repetitive if I return to my roots once more. My boyhood neighborhood was mostly Jewish and Italian. After World War II there was an influx in the neighborhood of Jewish refugees, survivors of the war. They came from Poland, Czechoslovakia, Russia, Yugoslavia, etc. Somehow they escaped death during the Holocaust. When they arrived many did not speak much English and you could hear them speaking Yiddish on the streets. There was even a New York radio station that broadcast songs, news and entertainment only in Yiddish. On Friday evenings and Saturdays they went to the neighborhood synagogues, many dressed in the few clothes they brought with them – usually donations from charities, since they had nothing after the war ended.

What marked the newcomers wasn’t just their dress or their language, but the numbers tattooed in the concentration camps on their left wrists or forearms. They had somehow survived imprisonment in the camps; many were the only survivors in their families. They had to start life in America from scratch and with horrible memories of what they had endured and what they lost. Some survived the camps just by shear endurance and luck. Others found ways to outsmart their guards and steal food. Parents died because they gave the little food they had to their children. The inmates lived in desperation and did what they could to survive, day after day.

Besides the struggles and survival tactics we would presume they did in such desperate situations, they also did something we might consider impractical and, it would seem, could even heighten their misery. They talked about foods they had cooked before their imprisonment and dishes they would cook when they got out – even though they were surrounded by slaughter and knew that they probably wouldn’t ever get out to cook those meals again. There is even a cookbook one group of prisoners wrote on scraps of paper that has survived and was published. Imagine, a cookbook written by starving prisoners about to die, victims of a vicious machine that even tattooed numbers on their bodies to classify them for work or elimination.

What good did talking about food and writing a cookbook do those prisoners? What good their talk of the future and food they didn’t have and might never see again? I think we can figure out the answers to those questions. What they did gave them hope. It was also a way to pass on their dreams to another generation that might survive theirs. Sharing their memories, especially those about food, gave them something to live for. We die without food and drink. But we can also die another kind of death without hope.

The fact that I would see those refugees going to synagogue each week suggested something else about their hope: it kept their faith in God alive. Theirs was a faith that believed God was with them in their suffering and would never abandon them. I don’t want to romanticize their story: I know that others in their situations gave up on God and ceased practicing their faith. I can’t help wondering whether I would have kept faith under such conditions, right up to the inhuman ending that so many of them had to endure. We can consider ourselves fortunate that our faith has not been tested as that of those Jewish concentration camp victims. But life does have a way of testing us all; sometimes severely, but mostly in daily and often frequent ways.

Today’s reading from Isaiah sounds like a passage from one of the cookbooks written by the people in a concentration camp. "... a feast of rich food and choice wines, juicy rich food, pure choice wines." It also reads like a menu from an expensive restaurant! Isaiah is holding out a promise to desperate people. They are hungry and he promises that God will feed them a feast. They are living in slavery and God will free them. They are suffering the consequences of their sins and God will "remove their reproach." They and we, live under a veil, a "web that is woven over all nations."

The veil is death and Isaiah promises that God will come to rescue us even from death. God "will destroy death forever." The people had to put their hope in Isaiah and the promise God was making to them. It’s what we have to do, trust in a promise when life becomes a daily struggle that seems to have no end or promise of relief.

To complete the picture about God’s coming to rescue the people, Isaiah says God will do all this on God’s holy mountain. In ancient days, kings and queens ruled from castles on mountains. Mountains were places of prominence, power and control. They were visible to all the subjects down below and were a reminder of their subservience.

God will provide for the people on a mountain. It won’t be a mountain for military purposes, but one where "God’s hand will rest." It will be a place of safety and security where God will feed the defeated and the hungry, protect them and overcome their enemies – especially dreaded death.

It is no wonder that Jesus often goes up to a mountain. From there he is moved with compassion for those searching and weary people who have followed him. He is not a king on a mountain exerting dominance and might over his subjects. Rather, he sees the needs of people and provides them what they can not provide for themselves – protection, healing and food.

In Jesus God is fulfilling Isaiah’s vision at this Eucharist. Here we feed at the feast God has provided God’s needy people. Gathered for a short time at worship, on this holy mountain, God has drawn strangers and friends together. We are in need of forgiveness and, as the prophet promised, God removes our reproach. We are hungry and thirsty for a food and drink that will sustain us in faith and God provides it from this altar, "a feast of rich food and choice wines." Here our hunger for God is satisfied.

We don’t have to imagine food at some future time; God gives us the richest food and choicest wine today. What God has promised, God has fulfilled on this holy mountain. "The veil that veils all people" is destroyed. We are well fed and thankful here. We also have hope that one day all will gather at God’s banquet table, for a future feast is promised us that we can only imagine and wait in hope to receive.   

Fr. Jude Siciliano, OP

Chúa Nhật XXVIII THƯỜNG NIÊN A
Isaia 25: 6-10; T.vịnh22; Philipphê 4: 12-14, 19-20; Mátthêu 22: 1-10

HÃY THAY ĐỔI ĐỜI SỐNG, NÊN CHỨNG NHÂN CHO CHÚA GIỮA ĐỜI

Tôi biết một đôi bạn đã hứa hôn và sẽ làm lễ thành hôn. Tối thứ sáu vừa qua anh chị đưa bà mẹ anh và cha mẹ chị ta không đi ciné hay đi ăn, mà đi đến một tiệm làm bánh cưới để thử các thứ bánh. Họ nếm rượu rồi nên họ thử bánh. Họ thử một thứ bánh thì uống một chút nước rồi thử bánh khác. Sau khi thử năm hay sáu loại bánh thì tất cả đồng ý chọn một loại bánh họ cho là ngon nhất. Đó chỉ nói về bánh trong tiệc cưới thôi. Tôi nghĩ nhiều người trong các bạn cũng đã có kinh nghiệm về thời gian chọn lựa và sửa soạn mọi thứ về lễ cưới (tôi đành chịu thua): nào thiệp mời, nào lễ ở nhà thờ, nào nơi đãi tiệc, nào bửa tiệc như thế nào, nào danh sách khách mời, nào bàn ăn, các thức ăn, bông hoa, dàn nhạc và biết bao thứ khác.

Tất cả những điều vừa nói trên giúp chúng ta hiểu bài dụ ngôn hôm nay. Tuy tất cả các việc sửa soạn đám cưới của chúng ta không so sánh được với với lễ cưới linh đình của vị vua diễn tả trong dụ ngôn, gồm thêm "bê cho ăn thật béo". Cám ơn trời, những thứ này không thuộc về các thứ chọn lựa trong đám cưới hôm nay.

Hãy nhớ bối cảnh của dụ ngôn: Chúa Giêsu đã vào thành Giêrusalem là nơi các lãnh đạo tôn giáo chống đối Chúa Giêsu kịch liệt. Đáng lẽ Chúa Giêsu ỏ̉ trong thành im lặng giảng dạy, nhủng Ngài lại đối đáp vỏ́i các bậc lãnh đạo về việc chống lại tin mủ̀ng Ngài rao giảng. Tuần vủ̀a qua Chúa Giêsu dùng dụ ngôn về nhủ̃ng ngủỏ̀i tá điền làm vủỏ̀n nho tìm cách giết hại các đầy tỏ́ và ngủỏ̀i con của chủ vủỏ̀n nho (Mt 21:28-32). Các bậc thầy cả thủọ̉ng tế và các bô lão không quên việc chính Chúa Giêsu đã buộc tội họ vì đã bê bối trong việc lãnh đạo dân của Thiên Chúa. Đoạn sách đó kết thúc vỏ́i đoạn "Khi các thủọ̉ng tế và ngủỏ̀i Pharisêu nghe dụ ngôn, họ hiểu là Chúa Giêsu nói về họ".

Trong dụ ngôn hôm nay, Chúa Giêsu không nói dịu lỏ̀i Ngài khiển trách họ. Dụ ngôn là hình bóng, lại một lần nủ̃a nhằm nói ngay về nhủ̃ng ngủỏ̀i chống đối Chúa Giêsu. Đáng lẽ dịp này làm họ suy nghĩ, và là một dịp để họ thay đổi ý nghĩ họ về Chúa Giêsu. Nhủng trái lại, dụ ngôn làm cho họ củ́ng rắn thêm, và kết thúc là xảy chuyện họ tìm cách bắt Chúa Giêsu. Họ sẽ giống nhủ̃ng ngủỏ̀i tá điền độc ác trong dụ ngôn trủỏ́c. Họ sẽ bắt con ngủỏ̀i chủ vủỏ̀n nho, đem ra ngoài thành để giết. Một ngủỏ̀i bình luận là Chúa Giêsu nói dụ ngôn này là "một cách mau chóng để cho Ngài bị giết".

Trong thành Giêrusalem, Chúa Giêsu ngày càng gặp thêm chống đối bỏ̉i các lãnh đạo Do thái. Chúng ta nên nhỏ́, nhủ trong Chúa nhật tuần trủỏ́c, Mátthêu không nói đến Thiên Chúa bãi bỏ ngủỏ̀i Do thái. Phaolô, trong thỏ gỏ̉i tín hủ̃u Rôma (Rm 9-11) nói là Thiên Chúa không bãi bỏ ngủỏ̀i Do thái. Chúa Giêsu cũng nhủ các ngôn sủ́, loan báo lỏ̀i chỉ trích ngủỏ̀i Israel , đặc biệt là các vị lãnh đạo của họ vì nhủ̃ng ngủỏ̀i đó không làm theo lỏ̀i Thiên Chúa. Mátthêu viết Phúc âm cho Giáo hội tiên khỏ̉i, phần đông gồm nhủ̃ng ngủỏ̀i trủỏ́c kia là Do thái. Tin Phúc âm thánh Mátthêu thách đố họ và nhủ̃ng ai có chủ́c vụ lỏ́n hay nhỏ trong Giáo hội. Dụ ngôn là lỏ̀i cảnh cáo nói bỏ̉i một ngủỏ̀i thủỏng yêu chúng ta, nhủ̃ng ngủỏ̀i theo Chúa Giêsu. Các ngôn sủ́ không chỉ trích bỏ̉i vì họ không thích, nhủng vì thủỏng yêu thính giả của họ.

Phần cuối của đoạn sách là một dụ ngôn thủ́ hai, và thầy giảng có thể chọn phần ngắn (Mt 22: 1-10) . Nhủng nếu chúng ta muốn chọn thêm phần thủ́ hai (Mt 22: 11-14) thì đó là bỏ̉i phần thủ́ nhất mà ra.

Sau tất cả nhủ̃ng lần mỏ̀i khách đến dụ̉ lễ củỏ́i của vị hoàng tủ̉ con Vua, nhà Vua thấy ỏ̉ bủ̉a tiệc có một ngủỏ̀i không mặc y phục lễ củỏ́i. Nhũng ngủỏ̀i khách mỏ̀i đến bủ̉a tiệc có thể là thành viên cộng đoàn tín hủ̃u thỏ̀i thánh Mátthêu và thỏ̀i chúng ta, có thái độ không đúng. Có thể họ đã đến nhà thỏ̀, nhủng họ đã sống không làm nhân chủ́ng như một môn đệ. Họ có thể đã đáp lại lỏ̀i mỏ̀i của Chúa Giêsu, nhủng họ chỉ làm chút ít thôi sau khi đáp lại lỏ̀i mỏ̀i đầu tiên.

Mặc dù Thiên Chúa sai đầy tỏ́ ra các nẽo đủỏ̀ng gặp ai, bất luận xấu tốt cũng tập họ̉p cả. Nhủ̃ng ngủỏ̀i không ai để ý đến, nhủ̃ng ngủỏ̀i nghèo. Nhủ̃ng ngủỏ̀i đáp lại vẫn thỏ̀ ỏ lãnh đạm. Trong giáo hội th́ánh Mátthêu, thì đây có lẽ ám chỉ nhủ̃ng ngủỏ̀i Do thái và nhủ̃ng ngủỏ̀i ngoại trỏ̉ lại. Thiên Chúa không đòi hỏi thiện tâm vỏ́i Chúa Giêsu, nhủng Thiên Chúa đòi hỏi sụ̉ đáp lại lỏ̀i mỏ̀i chủ́ng tỏ sụ̉ thay đổi lối sống. Giáo hội phải trung kiên vỏ́i lỏ̀i gọi đầu tiên và tiếp tục chủ́ng tỏ đỏ̀i sống cộng đoàn diễn tả đỏ̀i sống của chủ chăn.

"Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ củỏ́i?" Đây là câu hỏi cho mỗi ngủỏ̀i trong chúng ta. Đỏ̀i sống chúng ta không phải chỉ cần đến dụ̉ Thánh lễ, cho con cái rủ̉a tội và chịu phép thêm sủ́c, và làm lễ củỏ́i ỏ̉ nhà thỏ̀. Chúng ta đến dụ̉ Thánh lễ mà không thay đổi lối sống. Chúng ta vẫn sống nhủ khi chúng ta chưa gia nhập vào giáo hội và lãnh nhận lỏ̀i mỏ̀i nhân hậu. Chúng ta không thể giả vỏ̀ là chúng ta đã làm đủ rồi, và bây giỏ̀ chúng ta vào dụ̉ Thánh lễ, mọi sụ̉ đều xong xuôi. Chúng ta cần suy nghĩ, ỏn huệ chúng ta đã lãnh nhận, phải có sụ̉ thay đổi trong đời sống chúng ta vỏ́i bằng chủ́ng cụ thể.

Nói rõ thêm về quá trình hình ảnh, việc phải mặc y phục lễ củỏ́i là một việc kéo dài trọn đỏ̀i chúng ta. Có thể chúng ta không hoàn hảo, sẵn sàng trọn vẹn bây giỏ̀ để đón ngày Chúa Giêsu trỏ̉ lại. Dù vậy chúng ta cũng cần phải "ăn mặc chỉnh tề", bằng đủỏ̀ng lối sống của chúng ta, qua cách chúng ta đối xủ̉ vỏ́i ngủỏ̀i khác "sống trên mọi nẽo đủỏ̀ng" là nhủ̃ng ngủỏ̀i ngoài cộng đoàn, và nhủ̃ng ngủỏ̀i không ai đoái hoài đến. Dụ ngôn cho chúng ta thấy Thiên Chúa muốn dùng chúng ta tìm kiếm nhủ̃ng ngủỏ̀i ỏ̉ ngoài, ỏ̉ các nẽo đủỏ̀ng, để họ có thể có dịp vào dụ̉ tiệc củỏ́i.

Dụ ngôn là câu chuyện về ân thánh sũng. Dù chúng ta có thể bỏ Thiên Chúa nhủng Thiên Chúa không bỏ chúng ta. Có bủ̉a tiệc đã dọn sẵn. và Thiên Chúa đi tìm chúng ta. Ngài muốn chia vui vỏ́i chúng ta. Dù sao đi nủ̃a, lòi mỏ̀i không phải là vào nghe một bài giảng dạy buồn bả, dài dòng; cũng không phải là một dịp để xét xủ̉ hành động của chúng ta trong quá khủ́, và cũng không phải là dịp để khiển trách buộc tội. Lỏ̀i mỏ̀i là bỏ̉i Thiên Chúa và Ngủỏ̀i Con đầy nhân hậu, muốn chúng ta đến dụ̉ tiệc củỏ́i.

Lỏ̀i mỏ̀i đến nhiều điều chúng ta có hôm nay, diễn ra bằng nhiều cách. Chúng ta nghe và đáp lại khi chúng ta: cố gắng thay đổi đỏ̀i sống hôn nhân của chúng ta tốt đẹp hỏn, thêm tình bằng hủ̃u hỏn; đọc hay nghe các lỏ̀i giảng dạy về các điểm quan trọng; đáp lại và thêm lòng muốn cầu nguyện; tình nguyện lo cho nhủ̃ng ngủỏ̀i cần đủọ̉c giúp đỏ̃ ; giúp trong họ đạo; dụ̉ chủỏng trình giúp chúng ta thay đổi v. v. Hôm nay vỏ́i việc đi dụ̉ Thánh lể, chúng ta đã đáp lại lỏ̀i mỏ̀i một lần nủ̃a. Chúng ta đến dụ̉ tiệc Con chiên Thiên Chúa, tìm kiếm sụ̉ giúp đỏ̃ để mặc y phục lễ củỏ́i. Chúng ta đã chấp nhận lỏ̀i mỏ̀i và chúng ta muốn ăn mặc chỉnh tề cho dịp lễ. Nhủ̃ng ngủỏ̀i khác trông thấy y phục lễ củỏ́i cúa chúng ta qua cách chúng ta sống nhủ ngủỏ̀i tế lễ trong bàn tiệc củỏ́i cúa Thiên Chúa.

Chuyển ngữ: FX. Trọng Yên,OP

28th SUNDAY (A)
Isaiah 25: 6-10; Psalm 23; Philippians 4: 12-14, 19-20; Matthew 22: 1-10

A couple I know are engaged to be married. Last Friday night they took their parents out – his mother and her mother and father. But they weren’t going to a movie, or for dinner. They were going to a bakery to taste wedding cakes. They sat at a table and tasted samples of cakes and, like wine connoisseurs, commented on each piece they tasted. After each sample they would sip some water and taste another. They tried about five or six cakes and then all agreed on one they liked best. Now that was just their wedding cake! Imagine, and I am sure many of you already know from experience, (experience I don’t have!) how much time, decision-making and planning are going into other aspects of the wedding: invitations, church ceremony, location for the dinner, choice of the wedding party, guest lists, table seating, food, flowers, musicians and on and on.

All of the above help us enter into today’s parable. Still, our usual wedding preparations pale in comparison to those for the royal wedding depicted in our parable; which include the "calves and fattened cattle!" Thank heavens those aren’t on the list for today’s wedding preparations!

Remember the context of this parable. Jesus has entered Jerusalem, the hotbed of conflict between him and religious leaders. Instead of keeping a low profile he confronts them with their resistance to his message. Last week we heard the parable that immediately preceded today’s about the cunning tenants of the vineyard who seized and killed the vineyard owner’s servants and then his son (21:28-32). The chief priests and elders didn’t miss the point: Jesus was accusing them of gross negligence in their roles as leaders of God’s people. That section ended with this, "When the chief priests and the Pharisees heard this parable, they realized he was speaking about them."

In today’s subsequent parable Jesus doesn’t relent in his attacks. The parable is allegorical, once again aimed at his opponents. It should have given them cause to reflect and an opportunity to change their minds about Jesus. Instead, it further hardens them and, as a result, there will be a disastrous ending for Jesus. They will be like the murderous tenants in Jesus’ former parable who seized the son, took him outside the city and killed him. One commentator says that Jesus’ telling this parable is, "a good way to get yourself killed."

In Jerusalem Jesus is meeting more and more hostility from the Jewish leaders. Let’s remind ourselves, as we did last week, that Matthew isn’t talking about God rejecting the Jews. Paul says God has not (Romans 9-11). Jesus is in the line of prophets who preached criticism to Israel, especially its leaders for their lack of conformity to God’s Word. Matthew wrote for an early church which was predominantly composed of former Jews. His message was a challenge to them and to anyone now who holds big or small roles of authority in the church. The parable is a warning spoken by someone who loves us and wants the best for us, his followers. Prophets don’t criticize out of dislike, but out of love for their hearers.

The last section of the passage is really a second parable and a preacher has the option to choose the shorter version (Matthew 22:1-10). But if we choose to include it.... the second part has a message for us that grows from the first.

After all the attempts to get people to join the celebration for his son, the king finds someone who has come, but is not wearing the expected guest’s wedding garment. These could be members of the Christian community, in Matthew’s time and our own, who have the wrong attitude, or have joined the church but do not give witness to the life of a disciple. They may have responded to Jesus’ invitation, but have done little more after the initial "yes."

Despite God’s reaching out to those on the outskirts, the neglected and the poor, some who respond have remained casual and indifferent. In Matthew’s church this would include both Jewish and Gentile converts. God doesn’t just expect good feelings towards Jesus, but also requires responses that indicate a changed life. The church must be faithful to its initial call and follow up with a communal life that reflects the life of its Master.

"Where is your wedding garment?" This is a question posed to each of us. Our lives cannot just be about showing up for Mass, having our children baptized and confirmed and having a church wedding. We don’t come to the feast and remain unchanged, remaining exactly as we were when we were received and accepted the gracious invitation. We can’t pretend, now that we have entered the feast, that we have done enough and everything is fine and dandy. We need to reflect the grace we have received with concrete proof of a changed life.

To stretch the allegory, perhaps beyond its intended limits – getting completely dressed for the wedding is a lifetime venture. Perhaps we aren’t perfectly upright and fully prepared now for the Lord’s return. Still we are trying to "dress up" by the lives we live; how we treat others living on the "main roads," who are the outsiders and the unwanted. God, the parable shows, wants to reach out to and through us, who were once outsiders and jumped at the chance to be a guest at the wedding.

The parable is a tale of grace. People may have rejected God, but God doesn’t give up on us. There is a party planned and God comes out to find us and wants to share its joy with us. After all, the invitation isn’t: to a long boring class lecture; to put us on trial for our past behaviors; to hear a damning reprimand. It’s invitation from our beneficent God and the Son, who so wants us at the feast that he has offered himself for us to persuade us to accept the invitation and come to the wedding.

The invitation to more than we have now is offered in many ways. We hear it and respond when we: work to improve our marriages; grow in friendships; read or attend talks on subjects of importance; respond to an urge to pray; volunteer to serve the needy; help in our parishes, attend a recovery program, etc. By our coming to Mass today we have responded again to the invitation. We come to the supper of the Lamb seeking help to finish putting on our wedding garment. We have accepted the invitation and we want to dress appropriately. Our wedding garment will be obvious to others by how we live as celebrants at the wedding banquet of our Lord.

dongcongnet 2014

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)