dongcong.net
 
 

Chia sẻ của LM Jude Siciliano, OP


CHÚA NHẬT32 TN (A) – 6-11-2011
Khôn ngoan 6: 12-16; Tv 63; 1 Thêxalônica 4: 13-18; Matthêu 25: 1-13
By Jude Siciliano, OP

HÃY TỈNH THỨC VÀ SẴN SÀNG

Trong những tuần qua, chúng ta được nghe các bài đọc trích từ thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica. Đây là tài liệu Tân ước được viết sớm nhất và có trước các sách Tin mừng khoảng 20 năm. Như chúng ta thấy, bài đọc hôm nay đưa ra bằng chứng niềm tin của cộng đoàn Kitô hữu sơ khai về sự phục sinh. Điều này cũng cho thấy rằng niềm tin này không phải là điều mà sau này các Kitô hữu đạt được sau khi đã suy xét rất thận trọng, như họ đã thực hiện với những đạo lý khác của niềm tin Kitô giáo.

Vào lúc đầu, có một niềm tin căn bản cho đức tin của chúng ta: chúng ta được chia sẻ sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Trái với những ảnh hưởng xấu lên đời sống của chúng ta, cái chết không có quyền chung quyết trên chúng ta. Thế nên, chúng ta không đầu hàng trước đau khổ và tuyệt vọng. Hơn nữa, thánh Phaolô đã bảo đảm rằng Đức Kitô sẽ trở lại: “Như thế, chúng ta sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi. Vậy anh em hãy dùng những lời ấy mà an ủi lẫn nhau”. Thánh Phaolô trước hết cho rằng Người sẽ sớm quang lâm. Khi điều này không diễn ra, thánh Phaolô đã phải chuyển đổi ý hướng trong giáo huấn của mình, từ việc trực tiếp nói đến sự quang lâm trực tiếp của Đức Giêsu, sang việc hướng dẫn các môn đệ cách sống trong “thời chờ đợi”.

Tất cả chúng ta rồi cũng sẽ chết. Đối với một số nười, thực tế này đã gây ra sự sợ hãi và cảm giác tuyệt vọng. Cố gắng hết sức vào một kế hoạch để làm gì, khi tất cả chỉ là tro bụi? Đối diện với thực tế của cái chết, một số người khẳng định chỉ có cuộc đời này và vì thế họ sẽ sống hết mình và sống tốt lành vì thiện ích cho tha nhân. Những người khác thì nản lòng và sống không định hướng, vô trách nhiệm bên ngoài không gian riêng của họ. Niềm tin vào sự phục sinh, như thánh Phaolô dạy, mang lại ý nghĩa cho cuộc sống chúng ta, cũng như tương lai tươi sáng cho niềm hy vọng. Chúng ta cố gắng thực hiện những điều tốt đẹp trong cuộc đời này, bằng đôi mắt luôn hướng về thời chung cuộc. Chúng ta cũng phải ý thức rằng dù chúng ta có cố gắng hết sức thì cũng sẽ không đạt được hoàn trọn như khi Đức Giêsu quang lâm. Tuy nhiên, chúng ta hãy cố gắng bao nhiêu có thể để sống theo như đời sống của Người..

Trong nỗ lực của mình, chúng ta cần sự hướng dẫn để đưa ra những chọn lựa tốt mà chúng ta phải thực hiện trong thế giới hỗn tạp này. Vì vậy, chúng ta hãy xin Thiên Chúa làm người bạn trung tín của chúng ta. Sách khôn ngoan khích lệ và quả quyết rằng chúng ta có tình bằng hữu với Thiên Chúa. Sách khôn ngoan được viết vào thế kỷ đầu trước Công nguyên cho người Dothái nói tiếng Hylạp ở Alexandria, Aicập. Đây là một thành phố quốc tế giàu văn hoá và tri thức Hylạp. Hẳn là rất khó cho cộng đoàn nhỏ bé của người Dothái có thể kháng lại sự cuốn hút mạnh mẽ của một thế giới đa thần và có học thức xung quanh họ. Làm thế nào những người Dothái tuân giữ truyền thống có thể giữ vững được niềm tin của cha ông trong một thế giới trần tục như thế?

Nghe có vẻ giống như thế giới chúng ta đang sống ngày nay phải không? Nhất là trong nền văn hoá đông phương-trẻ trung của chúng ta có khuynh hương thờ ơ với sự khôn ngoan của những người lớn tuổi và hờ hững với những dẫn dắt niềm tin. Tác giả sách khôn ngoan, nói với anh chị em trong cộng đồng Dothái, nhắc nhớ rằng họ không đơn độc: Đức khôn ngoan luôn ở cùng họ để giúp họ vượt qua thế giới đầy quyến rũ và hỗn tạp.

Sự  khôn ngoan được nhân cách hoá như một phụ nữ (“Sophia” theo tiếng Hy lạp là nữ) và “…cô được những người yêu mến cô nhận biết và những ai tìm kiếm cô sẽ cho gặp”. Điều được khích lệ hơn là cô “…rảo quanh, tìm kiếm những ai xứng đáng”. Khôn ngoan không phải là một đức tính đứng yên, nhưng là một lữ khách như chúng ta, tìm ra chúng ta để giúp chúng ta tiếp bước trên hành trình của mình. Bao nhiêu người kính sợ Thiên Chúa, giữa sự bối rối và xao động, đã biết cầu xin Thiên Chúa sai Đấng Khôn Ngoan đến để soi sáng và hướng dẫn họ? Từ thế giới lầm lạc, hỗn độn và xáo động chúng ta tìm kiếm Đấng Khôn Ngoan và khẩn cầu cùng Đức Giêsu trong Thánh Lễ này: “Xin hãy sai Thần Khí Khôn Ngoan đến với chúng con”.

Chúng ta không nên để mình bị cuốn hút bởi những chi tiết “không thực” của dụ ngôn trong Tin mừng hôm nay. Tại sao các cô trinh nữ có dầu lại không chia sẻ với những cô hết dầu? Những cô này có thể tìm chỗ nào để mua dầu vào ban đêm? Tại sao các cô lại kêu xin bằng danh xưng đặc biệt: “Lạy Chúa, lạy Chúa” với chú rể? Sau cùng, tại sao Người lại không nhận ra họ trong tiệc cưới? Chúng ta phải để cho Đức Giêsu, người kể chuyện, quyền sáng tạo có thể thêm vào những chi tiết giúp Người vẽ nên bức tranh, hầu cho chúng ta thấu hiểu điều Người mô tả như “vương quốc thiên đàng”.

Chúng ta biết vào thời Đức Giêsu hôn nhân là do hai bên gia đình sắp đặt. Người cha sắp đặt hôn nhân, trong khi người mẹ đưa ra điều kiện. Trước hết, thời kỳ đính hôn là một năm hay sau khi điều kiện hôn nhân được đưa ra. Tiếp đến, chú rể sẽ đón cô dâu về nhà. Những thủ tục này có thể giúp giải thích sự trì hoãn việc chú rể đến.

Dụ  ngôn hôm nay là dụ ngôn thứ hai trong chuỗi ba dụ ngôn nhấn mạnh đến sự sẵn sàng trong khi chúng ta mong đợi Chúa Đến Lần Thứ Hai. Như các dụ ngôn khác, dụ ngôn mười trinh nữ, nhấn mạnh đến sự cần thiết phải luôn tỉnh thức và SẴN SÀNG đón chờ Chúa trở lại.

Có  những chọn lựa chúng ta phải thực hiện NGAY BÂY GIỜ trong ánh sáng hy vọng và khi chúng ta chờ đợi. Chúng ta làm những gì có thể để nuôi dưỡng tinh thần, rèn luyện trí óc và củng cố ý chí - NGAY BÂY GIỜ. Chúng ta không thể lảng tránh hay trì hoãn những quyết định tương lai mà bày tỏ lòng thành tín với Thiên Chúa, phó thác nơi Đức Giêsu và đường lối của Người. Nếu chúng ta trì hoãn, chẳng phải đó là dấu chỉ của việc thiếu tin tưởng vào sự hiện hữu NGAY LÚC NÀY của Đức Kitô, cũng như thiếu niềm hy vọng của chúng ta vào lần ngự đến sau cùng của Người sao?

Chúng ta không thể chuẩn bị cho Đức Kitô xâm nhập vào cuộc sống chúng ta vào khoảnh khắc Người đến. Dụ ngôn thôi thúc một sự tỉnh thức liên tục hơn và một tình trạng chuẩn bị. Chúng ta không thể cậy dựa vào sự tỉnh thức và sự sẵn sàng của người khác. Không ai có thể chịu trách nhiệm về chúng ta, chính chúng ta phải chịu trách nhiệm về mình - sẵn sàng chào đón Đức Giêsu mỗi ngày trong cuộc sống cũng như lần cuối cùng Người.

Điều rõ ràng trong dụ ngôn này là khi khoảnh khắc của việc Đức Giêsu bước vào đời sống chúng ta xảy đến, đó sẽ là thời điểm quyết định. Thời gian chuẩn bị đã hết. Nếu sống tỉnh thức chúng ta sẽ được vào dự tiệc cưới cùng với Đức Kitô, chú rể của chúng ta. Những trinh nữ dại khờ đến sau khi cửa đã đóng và khi họ gõ, cửa không mở. Đã quá trễ! Chọn lựa không tốt, và thời gian chuẩn bị đã hết.

Dụ  ngôn có những ẩn ý. Chẳng hạn, những cô  trinh nữ khôn ngoan chuẩn bị sẵn sàng đèn khi nghe chú rể đến. Thánh vịnh 119 cho biết Lời Chúa như “ngọn đèn soi cho con bước”. Lắng nghe Lời Chúa soi sáng và giúp chúng ta nhận ra Chúa khi Người đến. Ánh sáng Lời Chúa cũng sẽ bảo vệ chúng ta cho đến khi Người lại đến.

Với một số người thì đây là dụ ngôn thú vị; với người khác thì đó lại là một dụ ngôn mang điềm báo. Đối với những ai sống, tìm kiếm và làm theo ý Chúa, ngọn đèn của họ sẽ cháy sáng và cánh cửa sẽ mở ra cho họ. Những ai sống nhờ và ánh sáng dối trá và thờ ơ với số mệnh tương lai của mình sẽ chỉ tìm thấy cánh cửa bị khoá chặt.

“Sao lại lâu đến thế?” Chúng ta sống trong một thế giới thiếu kiên nhẫn. Ngày nọ, tại siêu thị một người đã tức giận. Bảng chỉ dẫn cho biết chúng tôi đang ở trên “Quầy thanh toán nhanh – tối đa 10 món hàng”. Nhưng người đàn ông đứng trước tôi lại có tới 12 món. Người phụ nữ sau tôi khích bác “sự vô ý” của ông. Bà ta lạnh lùng nói: “Ông không biết đọc bảng chỉ dẫn hả?” “10 món chứ không phải 12!”.

Trong ánh sáng của dụ ngôn hôm nay, chúng ta cũng có thể giải thích chút ít sự thiếu kiên nhẫn này và đặt câu hỏi: “Sao Chúa lại lâu đến thế?” Nhưng chúng ta biết chúng ta không phải đợi cho đến khi chết hay việc Chúa đến lần thứ hai. Vương quốc Đức Giêsu đến qua lời nói và việc làm đi vào cuộc sống mỗi ngày của chúng ta theo những cách khác nhau. Dụ ngôn nhắc chúng ta luôn tỉnh thức và sẵn sàng.

Trong suốt thời gian chúng ta chờ đợi, Chúa đã dạy chúng ta có thể chào đón vương quốc đến bằng việc cho người đói ăn, cho người khát uống, cho người rách mặc, che chở những người không nhà và giải thoát những người bị áp bức. Như thế, trong khi chờ ngày Đức Kitô đến lần cuối chúng ta có rất nhiều thứ để làm, vì hằng ngày Người đến với chúng ta qua nhiều hình thức lạ lùng khác nhau. Khôn ngoan là đức tính then chốt cho bài Tin mừng hôm nay. Nó giúp chúng ta luôn tỉnh thức và hướng dẫn chúng ta trong những chọn lựa thực tế của cuộc sống hằng ngày. Và vì vậy, chúng ta hãy cầu nguyện: “Xin Thần khí Khôn ngoan hãy đến”. “Xin Thần khí Tỉnh thức hãy đến”. “Xin Thần khí Sẵn sàng hãy đến”. 
Lm. Jude Siciliano, OP

Chuyển ngữ:: Anh em HV Đaminh Gò-Vấp

32nd SUNDAY (A) - November 6, 2011
Wisdom 6: 12-16; Psalm 63; 1 Thessalonians 4: 13-18; Matthew 25: 1-13
By Jude Siciliano, OP

 

We have been reading from First Thessalonians over these weeks. It is our earliest written New Testament document and precedes the gospels by about 20 years. As we can see from today’s reading it gives evidence to the early Christian community’s belief in the resurrection. It also shows that this belief wasn’t something later Christians came to after long deliberation, as they did with other doctrines of the Christian faith.

There, at our beginnings, is the basic belief of our faith: we share in the resurrection of Jesus Christ. Death, contrary to it’s shattering effects on our lives, has no final power over us. So, we do not yield to grief and despair. Rather, Paul assures us, Christ will return. "Thus, we shall always be with the Lord. Therefore, console one another with these words." Initially Paul thought the Parousia would happen soon. When it didn’t he had to redirect his teachings, from anticipating Jesus’ immediate return, to guiding his followers how to live for the "long haul."

We are all going to die. For some that’s a reality that stirs fear and a sense of despair. What’s the use of investing our energies in any project, all will end in dust anyway? In the face of death’s reality some decide that this life is all there is and so they will make the best of it and lead honorable lives doing good for others. Others give way to a form of despair and live without a sense of moorings, direction and responsibility outside their own private spheres. Faith in the resurrection, as Paul preaches it, gives meaning to our lives, as well as a bright future in which to hope. We work to do good in this life, with our eyes set on a time of final fulfillment. We are also aware that doing the best we can here will still not bring about the fullness that will come when Jesus returns. Still, we apply ourselves to living his life as best we can.

We will need guidance in our efforts to make the good choices we must make in our complex world. So, we look to God to be our constant companion. The Book of Wisdom gives us encouragement and assurance that we do have God’s companionship. Wisdom was written in the first century B.C.E. for Greek-speaking Jews living in Alexandria, Egypt. It was a cosmopolitan city rich in Hellenistic culture and learning. It must have been hard for Jews, in the minority, to resist the seductive pull of the learned, pagan world around them. How would observant Jews hold fast to their ancient faith in such a secular world?

Sounds like the world we live in today doesn’t it? Especially in our youth-oriented culture that tends to neglect the wisdom of our elders and the guidance of our faith. The author of the Book of Wisdom, speaking to his Jewish brothers and sisters in Diaspora, reminds them that they are not on their own: Wisdom is available to them to help them navigate their complex and distracting world.

Wisdom is personified as a woman ("Sophia" in Greek is feminine) and "...she is readily perceived by those who love her and found by those who seek her." What is even more encouraging is that she "...makes her rounds, seeking those worthy of her." Wisdom is not a stagnant virtue, but a traveler like us, who seeks us out to help us on our path. How many God-fearers have, in the midst of confusion and turmoil, cried out to God to send Wisdom for clarity and direction? From our confused, tumultuous, misguided world we seek out Wisdom and pray to Jesus at this Eucharist, "Send us your Spirit of Wisdom."

We shouldn’t be distracted by the "unreal" details of the parable in today’s gospel. Why didn’t the maidens, who had oil, share with those who didn’t? Where could those in need ever find a market to buy oil at midnight? Why did they cry out with the special title "Lord, Lord" to the bridegroom? Why didn’t he recognize them, after all, they were in the wedding party? We have to allow Jesus, the storyteller, the creative license to include details that will help him paint a picture to give us insight into, what he describes as, "the kingdom of heaven."

We know that in Jesus’ time marriages were arranged by the families of the couple. Fathers arranged the marriage, while mothers set the terms. First, there was the betrothal period of a year or so after the terms of the marriage were set. Then the bride was transferred to the husband’s home. These marriage practices may help explain the delay in the groom’s coming.

Today’s parable is the second in the sequence of three that emphasize preparedness while we await the Lord’s Second Coming. Like the others, the parable of the ten maidens, emphasizes the need to be vigilant and ready NOW for the Lord’s return.

There are choices we must make NOW in the light of our hope and as we wait. We do what we can to nourish our spirits, form our minds and fortify our wills – NOW. We can’t put off for tomorrow decisions that show our fidelity to God and commitment to Jesus and his ways. If we delay doing that, isn’t that a sign of our lack: of faith in Christ’s presence NOW, as well as our hope in his final coming?

We can’t prepare for the in-breaking of Christ into our lives at the moment he comes. The parable urges a more constant vigilance and state of preparation. Nor can we rely on the vigilance and preparedness of others. No one can take responsibility for us, we must do that for ourselves – ready to greet Jesus each day of our lives and then when he comes at the end.

What is clear in this parable is that when the critical moment of Jesus’s entry into our lives arrives, it will be decisive. Preparation time is over. If we have lived vigilant lives we will enter the wedding feast with Christ our bridegroom. The foolish maidens arrived after the door was locked and when they knocked the door was not opened. It was too late. Poor choices were made, the time for preparation was over.

The parable has allegorical features. For example, the wise maidens trimmed their lamps when the bridegroom’s arrival was announced. Psalm 119 refers to God’s Word as "a lamp unto my feet." Hearing the Word of God will illumine us and help us recognize the Lord when he arrives. The light of the Word will also sustain us until he does.

For some this is a welcome parable; for others it is an ominous one. For those whose lives have been lived actively seeking and doing God’s will, their light will shine bright and the door will be opened for them. Those who have lived by false lights and indifference to their future fate will find the door barred.

"What’s taking so long?". We live in an impatient world. Someone got angry the other day at the supermarket. We were on the "Express lane–10 items or less," the sign said. But the man in front of me had 12 purchases. The woman behind me challenged his "lack of consideration." "Can’t you read the sign," she told him sternly, "10 items not 12!"

In light of today’s parable we too might express some impatience and ask, "What’s taking the Lord so long?" But we know we don’t have to wait till our deaths or the Second Coming for the Lord’s arrival. The kingdom Jesus brought about in word and deed comes into our lives every day in a variety of ways. The parable reminds us to be alert and prepared for it.

Meanwhile, during our waiting time, the Lord has taught us that we can welcome the kingdom’s arrival by feeding the hungry, clothing the naked, giving drink to the thirsty, sheltering the homeless and setting free the oppressed. So, while we wait for the final arrival of Christ we have plenty to do, because he comes daily in disguised and surprising ways. Wisdom is a key virtue for our gospel today. It helps us stay vigilant and guides us in the practical choices of daily life. And so we pray, "Come Spirit of Wisdom." "Come Spirit of Vigilance." "Come Spirit of Preparedness." 

Fr. Jude Siciliano, OP

LỄ CUNG HIẾN THÁNH ĐƯỜNG LATÊRANÔ –2014
Êdêkien 47: 1-2, 8-9, 12; Tvịnh 45; I Côrintô 3: 9-11; Gioan 2: 13-22


HÃY SỐNG XỨNG ĐÁNG VỚI ĐỀN THỜ Thiên Chúa TRONG MỖI CHÚNG TA

Trong lớp Anh văn năm thứ nhất ở đại học có chương trình chỉ cách trình bày tổng quát toàn truyện của một cuốn tiểu thuyết như thế nào. Thí dụ như trong sách "Absalom, Absalom" của tác giả William Faulkner, hai đoạn văn nhập đề, hay là nên để nhiều thì giờ xét một đoạn văn thôi cũng đủ để bày tỏ tiểu thuyết ấy thuộc về loại gì và hé mở toàn thể câu chuyện trong sách ngay cả đến phần cuối cùng.

Đây không phải là lớp học về văn chương, nhưng là về phúc âm. Nhưng phúc âm cũng dùng lời văn. Bởi thế chúng ta xem xét phúc âm như một sách văn học để giúp hiểu thêm. Vì câu chuyện Chúa Giêsu tẩy uế Đền Thờ đến ngay ở phần đầu trong phúc âm thánh Gioan, và nằm ra ngoài phần lịch sử sứ vụ của Chua Giêsu. Phúc âm thánh Mátthêu, thánh Maccô, và thánh Luca đều để câu chuyện ấy sau khi Chúa Giêsu vinh quang vào thành Jêrusalem, ngay trước ngày Ngài chịu thương khó và chịu chết. Theo những người bán nhà đất thi vấn đề quan trọng luôn là "địa điểm, địa điểm, địa điểm". Điều này đặt vào câu chuyện chúng ta đang xem xét thì địa điểm tẩy uế Đền Thỏ̀ ỏ̉ gần ngay phần đầu trong phúc âm thánh Gioan cho biết chủ điểm của phúc âm ấy.

Trong phúc âm thánh Gioan, Chúa Giêsu lên thành Giêrusalem vào dịp lễ Vủọ̉t Qua. Chúa Giêsu có thể lên Đền thỏ̀ để làm lễ tẩy uế theo truyền thống để sù̉a soạn mủ̀ng lễ. Chúa Giêsu vào sân Đền Thỏ̀, trông thấy các ngủỏ̀i buôn bán súc vật và đổi tiền là công việc cần thiết hằng ngày ò̉ Đền Thỏ̀. Súc vật cần để tế lễ. và đổi ra tiền Do thái để trả thuế Đền Thỏ̀. Vì thế việc buôn bán súc vật và đổi tiền là nhù̃ng điều cần thiết hằng ngày ỏ̀ Đền Thỏ̀.

Vậy thì điều gì làm Chúa Giêsu tù́c giận? Điểm chính mà Chúa Giêsu muốn nói khi Ngài bảo các ngủỏ̀i buôn bán và đổi tiền "Đem tất cả nhủ̃ng thủ́ này ra khỏi đây..." Đây là một câu chuyện khác về địa điểm: Buôn bán súc vật và đổi tiền thủỏ̀ng xảy ra ỏ̉ ngoài Đền Thỏ̀, ỏ̉ các địa điểm khác. Nhủng Thầy cả Caipha đã cho phép các việc buôn bán và đổi tiền ỏ̉ trong sân Đền Thỏ̀. Đó là điều các ngôn sủ́ không cho Đền Thỏ̀ làm. Sách của ngôn sủ́ Dacaria kết thúc nhủ sau: "và mọi nồi niêu ỏ̉ Giêrusalem và ỏ̉ Giuđêa sẽ đủọ̉c hiến thánh cho Đức Chúa các cỏ binh. Tất cả nhủ̃ng ai muốn tế lễ sẽ đến mà nấu nủỏ́ng. Ngày ấy sẽ không còn phủỏ̀ng lái buôn nỏi nhà Đức Chúa các cỏ binh nủ̃a." (Da 14: 21)

Chúa Giêsu hành động theo thị kíến của ngôn sủ̉ Dacaria về ngày cánh chung khi không còn cần đến nhủ̃ng phủỏ̀ng lái buôn nỏi nhà Thiên Chúa. Hành động Chúa Giêsu tiên báo ngày cánh chung, ngày thụ̉c hiện điều các ngôn sủ́ loan báo trủỏ́c.

Các môn đệ Chúa Giêsu thấy việc Ngài làm thì nhỏ́ lỏ̀i đã chép trong Kinh Thánh: "Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa mà tôi đây sẽ phải thiệt thân" (Tv 69). Đó là thánh vịnh than thỏ̉, diễn tả đủ́c tin của một ngủỏ̀i cầu xin khi đỏ̀i sống của ngủỏ̀i đó vì hy sinh cho Thiên Chúa đã phải đặt ngủỏ̀i đó ra khỏi gia đình và cộng đoàn, và ngủỏ̀i đó bị sỉ báng, chê bai. Chúng ta sẽ tìm thấy thêm điều này trong đỏ̀i sống và sứ vụ của Chúa Giêsu trong suốt phúc âm thánh Gioan. Điểm nói về ngày cuối cùng đã đủọ̉c bày tỏ ngay lúc đầu. Khi Chúa Giêsu bị đóng đinh trên cây thánh giá, hình ảnh thánh vịnh 69 sẽ trỏ̉ lại nhủ: "của ăn tôi, chúng bỏ thuốc độc vào. Tôi khát, chúng cho uống giấm" (Tv 69: 22).

Đền Thỏ̀ sẽ bị tàn phá, nhủng Chúa Giêsu hiến thân Ngài cho chúng ta, Đền Thỏ̀ thật sụ̉, nỏi Thiên Chúa ngụ̉ trị vỏ́i danh thánh Ngài thật sụ̉. Các ngủỏ̀i Do thái chống đối Chúa Giêsu chỉ trích ngài và hỏi: "Đền Thỏ̀ này phải mất 46 năm mỏ́i xây xong, có thể nào mà nội trong 3 ngày ông xây lại đủọ̉c sao?". Khi Đền Thỏ̀ bị tàn phá đâu có một ngủỏ̀i nào ỏ̉ trủỏ́c mặt Thiên Chúa để thỏ̀ phủọ̉ng Thiên Chúa thật sụ̉? Ngay ỏ̉ đoạn đầu phúc âm thánh Gioan đã trả lỏ̀i câu hỏi đó. Chúa Giêsu là nỏi Thiên Chúa ngụ̉ trị, và là Đền Thỏ̀ hằng sống dụ̉ng nên bỏ̉i kẻ chết. Chúng ta không còn tìm đến Đền Thỏ̀ bầng đá để biết là nỏi Thiên Chúa ngụ̉ trị ỏ̉ trần gian. Nhủng chúng ta tìm đến thân xác bị khốn khổ trên cây thánh giá. Chúa Giêsu vủ̀a là Thầy cả Thủọ̉ng tế, và là hiến lễ đủọ̉c chấp nhận dâng lên Thiên Chúa.

Vỏ́i Đền Thỏ̀ bằng đá bị phá tan, chúng ta, Kitô hủ̃u nhìn vào một sụ̉ hiểu biết mỏ́i về Chúa Kitô và cộng đoàn của chúng ta. Chúng ta gọi chúng ta là "giáo hội", vì chúng ta không phải là một tòa nhà mà là một hình thể gồm các tín hủ̃u hàn gắn lại vỏ́i nhau bỏ̉i niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô. "Đền Thỏ̀" mỏ́i này gồm tất cả các dân tộc. Không ai bị loại ra ngoài hay bị xa cách nhủ các ngủỏ̀i ngoại trủỏ́c kia phải đủ́ng phía ngoài khu vực thỏ̀ phủọ̉ng trong Đền Thỏ̀. Thánh Phaolô hôm nay nhắc chúng ta: "Anh em có biết anh em là ngôi nhà Thiên Chúa xây lên không?" .Nhủ̃ng sụ̉ chia rẻ trủỏ́c kia đã đủọ̉c xóa bỏ qua Chúa Kitô, và chúng ta, Đền Thỏ̀ sống động mà hòi thỏ̉ là Chúa Thánh Thần, ỏ̉ trong chúng ta và ỏ̉ giủ̃a chúng ta.

Bỏ̉i thế, chúng ta có thể làm sao nói việc thay thế Đền thỏ̀ xây lên bỏ̉i thân thể Chúa Giêsu mà vẫn mủ̀ng lễ một "Đền Thỏ̀" bằng đá ỏ̉ Rôma? Vì sao chúng ta lại mủ̀ng một đền thỏ̀ bằng đá? Thánh Đường Lateran là một trong 4 Thánh Đường chính ỏ̉ Rôma: thánh Đường thánh Phêrô, thánh Đường Đủ́c Bà Cả, và thánh Đường thánh Phaolô ngoài thành. Đất của thánh Đường Lateran là của một gia đình ngủỏ̀i Rôma mà vua Constantine tịch thu. Thánh Đường này xây trên nền đất này để dâng kính thánh Gioan Tẩy Giả, sau này dâng cho thánh Gioan Tông đồ và cho Chúa Giêsu. Ngày lễ hôm nay nhắc ngày dâng hiến Thánh Điện. Nhủng điều quan trọng chính là hôm nay chúng ta mủ̀ng một đền thỏ̀ dụ̉ng trên đá sống động. Thánh Phaolô nhắc chúng ta nhỏ́ là "anh em là ngôi nhà Thiên Chúa xây lên". Hôm nay thánh Phaolô nói vỏ́i cộng đoàn tín hủ̃u nhắc chúng ta nhỏ́ là nỏi Thiên Chúa ngụ̉ trị không phải là một thánh điện nguy nga đầy đá quý, nhủng là nỏi Thiên Chúa thánh thiện ngụ̉ giủ̃a chúng ta. Nếu chúng ta là "ngôi nhà của Thiên Chúa" thì đó không phải là việc bán thỏ̀i gian thật sụ̉. Thánh Phaolô dùng hình ảnh tủọ̉ng trủng nói về đỏ̀i sống ngủỏ̀i Kitô hủ̃u nhủ trong thỏ Phaolô viết cho tín hủ̃u Rôma: "anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động."(Rm 12: 1).

Thật là một thủ̉ thách cho chúng ta phải không? Đỏ̀i sống chúng ta nhủ một cộng đoàn sống động tự phát triển lên không dựng xây dụ̉a vào đền bằng đá. Thời buổi này chúng ta lo lắng về việc người tín hữu ngày càng bỏ́t tham dự vào phụng vụ giáo hội, nhất là các bạn trẻ. Chúng ta sẽ sống nhủ thế nào? Trong lúc người tín hữu không đến nhà thỏ̀, và khi họ "đi nhà thỏ̀" họ có trông thấy được Thiên Chúa ngụ̉ giửa cộng đoàn tín hủ̃u chăng. Vì thế chúng ta cần phải để ý đến cách hành xử và cách giao tiếp của chúng ta trong cộng đoàn và vỏ́i nhủ̃ng ngủỏ̀i bên ngoài, vì ngủỏ̀i ta đang quan sát và lắng nghe chúng ta. Những người Do Thái bao gồm Chúa Giêsu là một cộng đoàn tôn giáo; cũng như các tín hữu; họ đã không làm gì để tiêu diệt thói trần tục của họ trong đền thờ, vì vậy bây giờ cuộc sống và cộng đoàn của chúng ta phải làm gì để không xúc phạm nơi thánh đó là nhà thờ. Đôi khi chúng ta có vẻ như đã chăm sóc nhiều về các hình thức như: lễ phục, các ngai toà các thánh mà quên đi cách chúng ta đối xử với những người xung quanh. Nếu đền thờ của chúng ta là thánh thì chúng ta phải phản ánh được sự thánh thiện của đời sống kitô hữu, qua cách chúng ta đối xử với nhau.

Chuyển ngữ: FX. Trọng Yên, OP

DEDICATION OF THE LATERAN BASILICA -
Ezekiel 47: 1-2, 8-9, 12; Psalm 46; I Corinthians 3: 9-11; John 2: 13-22


I learned in freshman English class that how a novel begins gives clues to the whole book. So, for example, we spent two classes on the opening paragraph of William Faulker’s, "Absalom, Absalom!" Our professor said that to really do it justice we could have spent even more time on that one paragraph, "But we have to move on." We learned that the opening paragraph reveals the literary style of the novel as well as giving hints to the whole upcoming story – even the ending.

This is not a literature class, it’s about the gospel. But the gospels are also literary creations and so our examination of them as literature can help us interpret them. Since the narrative of Jesus cleansing the Temple comes at the beginning of John’s Gospel we can look for clues, not only about the passage, but how it suggests the whole gospel from beginning to end.
The story’s location, early in John, sets it apart in the chronology of Jesus’ ministry. Matthew, Mark, and Luke all placed the cleansing account after Jesus’ triumphant entrance into Jerusalem, just before his passion and death. As real estate people stress, "Location, location, location." Which, when applied to our case, the unique location of the cleansing near the beginning of John sets the tone for the entire gospel.

Jesus is in Jerusalem for the Passover, one of three Passover observances in John. He would have gone to the Temple for purification rites, as was the custom, in preparation for the feast. Jesus enters the Temple precincts and notices the merchants selling animals and changing money – necessary for the Temple’s daily activities. Animals were needed for the sacrifices and secular money had to be exchanged for Jewish currency to pay the Temple tax. So, the services provided by the merchants were necessary for the Temple’s daily functioning.

Then what’s the problem for Jesus? The clue is what he says as he drives out the merchants, "Take these out of here...." It’s another matter of location. The selling of animals and the exchange of money used to happen outside the Temple in other locations, but Caiaphas had allowed the activities within the Temple confines. But that’s not how the prophets saw Temple observance. Zechariah’s prophetic book ends with these words: "And every pot in Jerusalem and in Judah shall be holy to the Lord of hosts; and all who come to sacrifice shall take them and cook in them. On that day there shall no longer be any merchant in the house of the Lord of hosts." (14:21)

Jesus is acting out Zechariah’s prophetic vision about the end time, when there would be no need for merchants in God’s house. Jesus’ actions announced the arrival of the time of fulfillment anticipated by the prophets.

The disciples observe what is happening and interpret Jesus’ actions through Psalm 69, "Zeal for your house will consume me." It’s a psalm of lament and expresses a faith prayed by someone whose life of dedication to God has set them apart from family and community and made them an object of derision and dishonor. We will discover more of this in Jesus’ life and ministry as we move through John’s gospel. Hints of the ending are already present in the beginning. When Jesus is crucified images from Psalm 69 will return. For example, "They put gall in my food and in my thirst they gave me vinegar to drink" (Psalm 69:22).

The Temple will eventually be destroyed, but Jesus is offering himself to us, the true Temple, where God’s presence and holiness are focused. His opponents mock Jesus; how in three days could he rebuild a Temple that had been under construction for 46 years? When the Temple was destroyed where could a seeker go to be in God’s presence and worship the true God? John, at the beginning of this gospel, has already begun to answer the question. Jesus is the place where God dwells and is the living Temple raised from the dead. We no longer look upon stone edifices is see God’s presence on earth, but upon the broken body of Jesus on the cross. He is both the high priest and the acceptable offering to God.

With the physical Temple gone we Christians look to a new understanding of Christ and our community. We call ourselves "church," yet we are not a building but a body of believers cemented together by our faith in Jesus Christ. This new "building" includes all people. No one is to be excluded or separated as the Gentiles were from worshiping in the Temple. "Do you not know that you are the temple of God and that the Spirit of God dwells in you?" – Paul reminds us today. Former alienations have been resolved in Christ and we are the living building whose life breath is the Spirit of God within and among us.

Then how can we talk about the replacement of the Temple made by Jesus’ body and still be celebrating this feast of a "temple" of stone in Rome. Why are we celebrating a building? St. John Lateran is one of the four major basilicas in Rome (along with St. Peter, St. Mary Major, St. Paul outside the Walls). The land was owned by a Roman family and seized by Constantine. The Basilica built on the land was dedicated to St. John the Baptist – later to St. John the Evangelist, and Our Lord. Today’s feast marks the dedication of the church, but more importantly, today we celebrate the church built of living stones.
"You are God’s building...", Paul reminds us. Today Paul addresses the believing community to remind us that God’s dwelling place is not a splendid, bejeweled building, but God’s holy people where God comes to live among us. If we are "God’s building" then this is not a part-time reality. Paul is using a metaphor here for the Christian life, similar to what he said in Romans 12:1: "Present your bodies as a living sacrifice."

Isn’t that a challenge to us? Our individual survival and flourishing as a community does not depend on a place or stone building. We worry these days about the declining church participation, especially by our younger generation. How will we survive? People may not be attending church, but they do "go to church," when they experience a faithful people in whom God dwells. So we need to be attentive to our behavior within the community of believers and among those outside, because people are listening and watching.
The Jewish people including Jesus himself, had a great reverence for the Temple. Now the community is the focus of that reverence and just as believers in the past would do nothing to destroy our profane the Temple, so now our life and community must do nothing to desecrate the holy place that is the church. Sometimes we seem to have more care for how we treat vestments, the vessels and sanctuary settings than we do with how we treat those around us. If our Temple is holy then we must reflect that holiness by holy living, manifested to our world by how we treat one another.

dongcongnet 2011- 2014

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)