Suy Niệm mùa chay, năm A

Chắc chắn (CN 2 Mùa chay, năm A)
Lm Vũđình Tường - 04/Mar/2020

Kinh nghiệm trên núi thánh các tông đồ có được là món quà đặc biệt Đức Kitô trao tặng ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan. Kinh nghiệm này xảy ra một lần trong đời. Trên núi thánh các ông một lần nữa được nghe tiếng Chúa Cha từ trời cao phán bảo 'Đây là Con Ta hằng yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Ngài'. Lần đầu các ông được nghe khi Đức Kitô chịu phép rửa tại sông Giođan Mt 3,17 và lần thứ hai trên núi thánh Mt 17,5. Thiên Chúa tái xác nhận Đức Kitô là Con Thiên Chúa và qua Ngài chúng ta nhận biết Thiên Chúa Nhân Lành. Kinh nghiệm trên núi thánh giúp các tông đồ xác tín Đức Kitô là Con Thiên Chúa. Ngài là Con Thiên Chúa nên những ai 'lắng nghe lời Ngài' chính là lắng nghe lời Thiên Chúa. Lời kêu gọi 'lắng nghe lời Ngài' cho biết Đức Kitô là Đấng duy nhất có đủ thẩm quyền giảng giải về tình Chúa bao la, lòng Chúa xót thương. Những giải thích không hài hoà, ăn khớp với giải thích của Đức Kitô đều là giải thích sai lầm, không chính xác. Các tông đồ cũng tin chắc là những ai 'lắng nghe lời Ngài' sau khi hoàn tất cuộc lữ hành trần thế cũng sẽ được hưởng vinh quang như các ông được hưởng trên núi thánh, chiêm ngưỡng vinh quang của Thiên Chúa.

Môn đệ Đức Kitô còn biết thêm là con người không thể trực tiếp đón nhận vinh quang, ánh sáng diệu vợi của Thiên Chúa. Các ông kinh hoàng khi thấy Đức Kitô biến hình sáng ngập trời trên núi thánh, nhưng khi nhìn thấy ánh sáng và tiếng nói phát ra từ đám mây, các ông hoảng sợ, cúi gằm mặt xuống đất, lòng đầy sợ hãi, run rẩy, bởi ánh sáng đó sáng toả hào quang ngoài sức chịu đựng của con người trần thế. Các ông chỉ cảm thấy hoàn hồn khi Đức Kitô đến khuyến khích, an ủi: Đừng sợ. Để có thể chiêm ngưỡng được hào quang huy hoàng của Thiên Chúa con người trần thế: a/ cần 'biến hình' thay đổi, từ từ giúp mình trở nên giống Chúa hơn trước khi có thể cảm nhận được vẻ huy hoàng của Thiên Chúa. b/ dù hiện diện trên núi thánh cùng với Đức Kitô, Thiên Chúa vẫn làm chủ và các môn đệ chỉ có thể nghe những gì Thiên Chúa cho phép nghe. Có hiểu được hay không tuỳ thuộc vào hướng dẫn của Đức Kitô. Câu 'lắng nghe lời Ngài' còn mang í nghĩa nghe giải thích của Đức Kitô để hiểu biết về tình yêu và lòng bác ái của Thiên Chúa. Khi Đức Kitô rao giảng Ngài không dùng ngôn ngữ của thần thánh nhưng dùng ngôn ngữ của loài người nói chuyện với loài người để giúp loài người hiểu biết về Thiên Chúa.

Thứ ba, các môn đệ chắc chắn là sau khi hoàn tất cuộc lữ hành trần thế, thì có cuộc sống vĩnh cửu trong nước Chúa. Điều này thể hiện qua sự linh hoạt, sống động, vinh quang, sáng láng của các tổ phụ Môise và tiên tri Elijah. Cuộc sống trần gian thay đổi biến con người đó liên kết với thân thể mới, thân thể Phục Sinh của Đức Kitô. Thánh Phaolô trong thơ gởi tín hữu thành Corintô cho biết, để trở thành thân thể mới trong Đức Kitô Kitô hữu đó phải 'lắng nghe lời Ngài'. Lắng nghe lời Đức Kitô khi còn tại thế, và khi qua đời Đức Kitô cho họ chia sẻ niềm vui sống lại, niềm vui Phục Sinh của Đức Kitô. Do đó sống đời sống mới toả sáng, đầy tràn vinh quang, hạnh phúc bất diệt. 1 Cor 15,51-53.

Bên cạnh những điều chắc chắn trên, còn có những điều không được chắc chắn lắm. Không chắc chắn lắm gây nên bởi thiếu hiểu biết về tình yêu, lòng mến Thiên Chúa. Trước hết, trên đường xuống núi, môn đệ không hiểu tại sao Đức Kitô dặn các ông đừng nói cho ai biết về việc Chúa biến hình và thứ hai các ông hỏi nhau sau khi Con Người sống lại từ cõi chết có nghĩa gì? Mt 17,9. Thứ đến, các môn đệ không hề nhắc đến cuộc đàm thoại giữa Đức Kitô và các tổ phụ. Ngoài một câu duy nhất Chúa Cha phán bảo, mọi sự đều không được tiết lộ.

Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng làm những việc kì diệu trước mắt thiên hạ, cho người mù xem thấy, kẻ chết sống lại, người què được đi, người mù mắt sáng, thế mà Ngài trở nên trung tâm của xỉ vả, mạ lị. Kẻ kết án nói Ngài khờ dại, lính tráng hành hình chế nhạo làm trò vui, đám đông đứng từ xa ngó và tên trộm bị đóng đinh bên cạnh cũng thánh thức Ngài xuống khỏi thập giá. Môn đệ Đức Kitô không hiểu tại sao phải trải qua đau khổ mới đến vinh quang. Đau khổ đi trước mở đường, làm bệ đứng cho vinh quang. Cả Đức Kitô lẫn môn đệ Ngài đều có kinh nghiệm hào quang toả sáng trên núi thánh và kinh nghiệm tối tăm do con người tạo ra. Hai cực đối đầu của cuộc sống đời người. Điều chắc chắn cuối cùng và quan trọng hơn cả là dù vinh quang hay đau khổ, lòng mến môn đệ dành cho Đức Kitô không hề giảm hay bị lay chuyển.

TiengChuong.org

Certainty

The mountain experience happened only once in a life time for Jesus' chosen apostles: Peter, James and John. Through the mountain experience, the apostles were certain that Jesus is God's Beloved Son, and through Him they came to learn about the immense bounty of God's love and mercy. Twice, they heard the same saying 'This is my Son, the Beloved, listen to him'. The first time was at Jesus' baptism (Mt 3,17), and the second time was at Jesus' Transfiguration (Mt 17,5). God identifies Jesus as God's only Beloved Son, and through him, we come to know God. The calling 'listen to him' made the apostles certain, that Jesus is the authentic voice of God's love and mercy. All other voices about God's love and mercy not in according with Jesus' teaching are unreal, and untrue. The apostles believed, those who listen to Jesus- 'listen to him', after their departure from this earth, would enjoy the life of glory like Moses and Elijah.

Second, the apostles had experienced, that God's brightness and greatness were too much for mortals to bear. Seeing the brightness of God coming through the cloud, the apostles all faced down, and trembled before God's glory. This seemed to suggest that a/ mortals are incapable of seeing the immortals, and b/ mortals are incapable of understanding the heavenly language. Jesus alone could, because he is the embodiment of God. However, when Jesus talked to his apostles and the crowds, he talked to them like a person talks to another person, and that through Jesus we come to have true knowledge of God. Listening to Jesus means listening to God.

Third, the apostles were certain, that there is life after death. Moses and Elijah, their Patriarchs, enjoyed new lives. The perishable nature needs to be transformed into the imperishable body. It is to be more the likeness of God, bright and shining. When a mortal nature changes into an immortal body that person has new life in Christ. Paul tells us, that this glorious new life is possible because the Risen Christ awarded those who 'listen to him' enjoyment of His triumph over the power of darkness. 1Cor 15,51-53).

Apart from these certainties, the apostles also experienced some uncertainties. First, they were unsure about: a, why Jesus instructed them to 'tell no one about the vision', and b, they were uncertain about what it meant 'until the Son Man has risen from the dead' Mt 17,9. Up in the mountain, God allowed the apostles to hear a portion of their conversation, the rest of the dialogue remained a mystery.

Second, Jesus is God's only Son, who had made many miracles to give life for God's people, and yet, he was the subject of being ridiculed by people who judged him, jeered by soldiers who whipped him, and of being challenged by a thief who was nailed on a cross beside him. Jesus, in his Passion, experienced the dreadful humiliation, suffering and a feeling of God's absence when he was hung on the cross. The apostles came to know, that glorification comes after, not before the suffering, but they lacked the understanding of the necessity of it. Both Jesus and the apostles enjoyed the experience up on the mountain, and both trembled when facing suffering. The fear of God's brightness and the darkness of brutality of man are the extreme poles of a human life.

 

Kì Diệu (cn 2 mùa chay-a-2014)
Lm Vũđình Tường

Thời đại khoa học nên mọi sự đều được nhìn dưới ống kính khoa học để tìm hiểu sự việc, đặc tính và cách hình thành, biến hoá của sự vật. Rất nhiều điều trước kia cha ông chúng ta tin là huyền thoại nay khoa học có thể giải thích mạch lạc. Hiện tại có nhiều sự kiện khoa học chưa có câu trả lời nhưng biết đâu trong tương lai gần lại có giải đáp thoả đáng điều chúng ta chưa hiểu. Với nghiên cứu, tìm tòi nhân loại ngày nay hiểu biết về vũ trụ nhiều hơn, di chuyển với vận tốc cực nhanh và hình ảnh cách xa vạn dặm đuợc truyền đi cấp kì trong vài ba giây đồng hồ. Khoa học tự hào giải thích được nhiều bí ẩn của quá khứ nhưng khoa học không dám khoe khoang là có câu giải đáp cho tất cả sự việc. Chẳng hạn khoa học không có câu trả lời năm trước giờ này tôi mơ gì hoặc tiên đoán Chúa Nhật tuần tới đây tôi sẽ nghĩ điều gì. Khoa học cũng dừng chân trước ngưỡng cửa đức tin của con người. Điều kì diệu tôi tinThiên Chúa biến hình trên núi thánh vẫn là điều bí ẩn.

Cuộc đời mỗi người là một bí ẩn và đức tin của họ là một bí ẩn lớn hơn cuộc đời. Đây cũng là điều kì diệu bởi cuộc đời nhỏ hơn đức tin nhưng đức tin lại nằm trong cuộc đời. Giải thích sao cho thoả đáng khi nói điều nhỏ hơn lại có thể chứa đựng điều lớn hơn chính nó. Tương tự như câu tư tưởng của ông vĩ đại. Làm thế nào giải thích điều mâu thuẫn con người nhỏ bé lại có tư tưởng vĩ đại. Nếu giải thích tư tưởng không chiếm không gian và thời gian nên không thể đo được. Nếu không thể đo lường sao biết nó vĩ đại. Phải chăng đây là giới hạn của con người. Nhiều điều chúng ta biết là thật nhưng không thể cân, đo, chứng minh.

Đức tin Kitô giáo cũng nằm trong phạm trù đó. Tình yêu Thiên Chúa là thật nhưng không thể cân đo. Thiên Chúa hiện hữu thật nhưng không thể nhìn thấy. Đức Kitô biến hình trên núi thánh là thật nhưng một số không tin. Việc Thiên Chúa làm thật kì diệu với con mắt đức tin. Điều kì diệu Chúa biến hình mặc khải thêm nhiều kì diệu tuyệt vời khác. Sự hiện hiện của các tổ phụ Môisen và tiên tri Êlija là diều kì diện. Ánh sáng trắng như tuyết bao phủ Đức Kitô và ba môn đệ là điều kì diệu. Tiếng nói phát ra từ trời cao là điều kì diệu. Tất cả những điều này xảy ra khiến cho ba tông đồ của Đức Kitô kinh ngạc quì sấp mặt xuống đất.

Nếu từ chối không tin những điều người khác tin là một giải đáp thì chấp nhận tin những gì người khác không tin cũng là một giải đáp. Giải đáp tin lợi hơn giải pháp chối. Nhờ những điều người xưa tin là thần thoại mà ngày nay khoa học có câu trả lời cho những điều đó. Nếu người xưa không tin vào thần thoại và bỏ qua hay quên đi không để lại vết tích gì thì ngày nay khoa học không có câu trả lời về thần thoại.

Nhờ các tông đồ tin vào Chúa biến hình ghi lại sự kiện đó mà ngày nay chúng ta có ngày lễ kính. Từ chối tin vào việc Chúa biến hình là từ chối tin vào sự kiện có thật và những điều các tông đồ tin. Từ chối niềm tin vào Đức Kitô của các tông đồ là điều không ai có thể làm được. Tôi có thể chối bỏ đức tin của tôi nhưng tôi không thể chối bỏ đức tin dùm người khác. Người ta có thể bắt bớ, đánh đập, cấm đoán nhưng không thể chối bỏ đức tin dùm họ. Các thánh tử đạo quá rõ trong vấn đề này. Kẻ đối lập họ có thể giết chết thân xác họ, có thể tiêu huỷ sự sống thân xác nhưng không thể giết chết lòng tin trong tâm các thánh tử đạo.

Từ chối tin Chúa biến hình là điều các tông đồ chứng kiến và cảm nghiệm là từ chối tin vào diều họ nhìn thấy và cảm nghiệm của họ. Làm sao có thể từ chối cảm nghiệm của một người. Điều này con người hoàn toàn bất lực, không thể làm được. Tôi cảm thấy vui hay buồn là cảm nghiệm của chính tôi, không ai có thể lấy đi được. Người ta có thể làm thay đổi cảm xúc của con người từ vui sang buồn nhưng không thể từ chối cảm nghiệm đã xảy ra. Từ chối việc Chúa biến hình người ta lại rơi vào một điều kì diệu khác là điều gì làm cho cả ba tông đồ nhìn và nghe thấy tiếng vang vọng từ trên cao. Nếu là một người có thể là mơ màng. Điều gì làm cho cả ba cùng mơ một lúc là điều kì diệu. Các tông đồ mơ hay tỉnh chỉ là phỏng đoán mà không thể xác định. Không tin Chúa biến hình gây ra nhiều phiền toái hơn là tin.

Tin việc Chúa biến hình là tin vào niềm tin của các tông đồ tin vào Đức Kitô. Niềm tin này xác nhận tiếng vọng từ trên cao là tiếng vang vọng thật, chính tai họ nghe rõ. Nghe thấy Chúa Cha xác nhận Đức Kitô là Con Thiên Chúa và kêu gọi họ vâng lời Ngài. Niềm tin này cũng xác nhận là có sự sống sau cõi chết. Chính mắt họ đã nhìn thấy tổ phụ Môisê và tiên tri Elija xuất hiện, dù đối với người ta các ngài ra đi trước họ ngàn năm trước nhưng nay họ diện diện trên nền trời, đàm đạo với nhau. Niềm tin này cũng hé mở cho biết cuộc sống sau khi chết là cuộc sống chan hoà ánh sáng, sáng đến độ nhìn vào không được nhưng phải cúi rạp xuống đất tránh ánh sáng chan hoà choá mắt. Kinh nghiệmt rên núi thánh là điều kì diệu vượt khỏi tầm hiểu biết của ba tông đồ và các ông đã sống với cảm nghiệm thần tiên đó trọn đời..

Lm Vũđình Tường 2014

 

March 12, 2020