dongcong.net
 
 

Hiệp Sống Tin Mừng - lm Đan Vinh năm A

HIỆP SỐNG TIN MỪNG
Lễ Chúa KI-TÔ VUA VŨ TRỤ

Mt 25, 31-46

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

I) Ý CHÍNH : CUỘC PHÁN XÉT CÁNH CHUNG

Đức Giê-su kết thúc giáo huấn về cánh chung bằng một dụ ngôn mô tả về cuộc Phán Xét Chung. Nội dung của dụ ngôn này là : Vào ngày tận thế, sau khi đã cho mọi kẻ đã chết được sống lại Chúa Giê-su sẽ tái lâm trong trong vinh quang để phán xét chung (x Mt 12, 41). Người xét xử không dựa trên những công việc lớn lao khác thường (x Mt 7,21-23), nhưng căn cứ trên thái độ và cách cư xử đối với tha nhân.

Bài Tin Mừng có thể chia làm ba phần như sau :

Phần I (c 31) : Chúa Giê-su hiện đến trong vinh quang như một ông Vua cùng với các thiên thần hầu cận để phán xét chung toàn thể nhân lại.

Phần II (c 32-45) : Công việc xét xử của vua Giê-su được thực hiện qua hai giai đoạn :

+ Giai đoạn một : tập họp mọi người và phân ra kẻ lành người dữ. Kẻ lành là chiên thì được đứng bê phải. Còn kẻ dữ là dê thì phải ở bên trái.

+ Giai đoạn hai : Đức Giê-su chúc phúc cho các kẻ lành, dù họ không biết khi giúp đỡ cho người nghèo khổ là giúp đỡ cho chính Người. Chúa Giê-su cũng nguyền rủa những kẻ gian ác vì họ đã không chia sẻ cơm áo và giúp đỡ cho người nghèo đói là hiện thân của chính Người.

Phần III (c 46) : Thi hành án : Sau đó, kẻ lành được lên thiên đàng hưởng hạnh phúc ngàn thu và kẻ dữ thì phải vào hỏa ngục để chịu cực hình muôn kiếp.

2) CHÚ THÍCH :

(c 31) Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu. Bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người :

+ Con Người đến trong vinh quang : Khi đến lần thứ nhất trong nghèo khó, Đức Giê-su đã đến với tư cách là Con Thiên Chúa làm người. Còn khi đến lần thứ hai trong vinh quang, là Người đến với tư cách Con Thiên Chúa. Như vậy, Người chỉ tỏ vinh quang đầy đủ nhất là vào ngày tận thế. Trong khi sống ở trần gian, toàn thể các tạo vật đều mong ngóng chờ đợi ngày vinh quang đó được tỏ hiện. So với vinh quang mà người tín hữu sẽ nhận được cùng với Đức Ki-tô, thì những đau khổ đời này nào có đáng là gì ! (x Rm 8,18-19).

+ Có tất cả các thiên sứ theo hầu : Các thiên thần có nhiệm vụ phụng sự Chúa và thực hiện theo các mệnh lệnh của người (x Mt 13,41-42, 49-50). Nhưng đặc biệt khi Chúa đến phán xét, thì các thiên thần tụ họp cả lại tháp tùng theo Chúa cách long trọng hơn mọi lần khác.

+ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người : Ngai vinh hiển là ngai vinh quang, uy linh. Người Do thái quan niệm ngai vinh quang chỉ dành riêng cho Thiên Chúa. Các tông đồ cũng được “ngồi trên mười hai tòa mà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en” (Mt 19,28). Khi nói Đức Giê-su ngự trên ngai vinh hiển là gián tiếp nói người chính là Thiên Chúa.

(c 32) Các dân thiên hạ sẽ được tập họp trước mặt người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê, (c 33) Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái :

+ Các dân thiên hạ : Dù dân Ít-ra-en đã được Đức Chúa tuyển chọn làm dân riêng để chuẩn bị chương trình cứu chuộc loài người. Nhưng chương trình cứu độ lại nhắm tới hết mọi dân tộc trên thế giới (x Is 2,2-5; Mt 28,19).

+ Người sẽ tách biệt họ vời nhau : Theo quan niệm của người Do thái thì chỉ Thiên Chúa mới có quyền xét xử. Nhưng Thiên Chúa lại trao quyền xét xử cho con của Người (x Ga 5,22). Như vậy việc Đức Giê-su quang lâm cho thấy Người chính là con Thiên Chúa. Đức Giê-su được Chúa Cha sai đến trần gian lần thứ nhất trong mầu nhiệm Nhập Thể, không phải để xét xử trần gian, nhưng là để cứu độ họ (x Ga 3,17). Người được Chúa Cha trao quyền xét xử sau khi từ cõi chết sống lại. Người sẽ thi hành quyền xét xử khi tái lâm trong uy quyền vinh quang ngày tận thế.

+ Như mục tử tách chiên ra khỏi dê : Ở Pa-lét-tin, vào mỗi buổi sáng sớm, các mục tử thường lùa chiên và dê thành một đoàn vật và dẫn chúng ra đồng cỏ. Nhưng đến chiều khi trở về chuồng, các mục tử lại tách chiên ra khỏi dê, vì dê con cần được sưởi ấm suốt đêm.

+ Chiên thì ở bên phải : Chiên là con vật có giá trị kinh tế hơn dê, nên ở đây được dùng để ám chỉ người tốt lành, và được xếp đứng về bên phải là chỗ cao trọng hơn.

(c 34) Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng : Nào những kẻ Cha ta chúc phúc. Hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa :

+ Đức Vua sẽ phán : Đức Vua ở đây chính là Con Người, là Đức Giê-su ngự đến trong ngày Cánh Chung vinh hiển. Khi ấy, Vua Giê-su sẽ trở thành thẩm phán tối cao, phân định kẻ lành ra khỏi người dữ. Người sẽ thưởng kẻ lành và phạt kẻ dữ tùy theo việc lành họ đã làm hay đã bỏ không làm cho những người nghèo đói đau khổ.

+ Nào những kẻ được Cha Ta chúc phúc : Những người lành thánh sẽ được chúc phúc theo tiêu chuẩn là “Tám Mối phúc” ( x Mt 5,1-12) và sẽ được lãnh phần thưởng là hạnh phúc thiên đàng được Thiên Chúa dành sẵn cho họ.

+ Lãnh phần gia nghiệp : Đức Giê-su là người Con duy nhất của Chúa Cha. Đồng thời cũng là con thừa tự của Chúa Cha (x Mt 21,38). Giờ đây Người dành Nước Trời là gia ngiệp của Người cho những kẻ được tuyển chọn tức là những kẻ lành sống theo “Tám Mối Phúc”.

(c 35) Vì xưa ta đói, các ngươi đã cho ăn. Ta khát, các ngươi đã cho uống. Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước. 9c 36) Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc. Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom. Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm :

+ Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn : Đây là một chuỗi các việc thiện tiêu biểu, mà các tín hữu phài làm đối với tha nhân, như kinh Thương Người đã tóm lại như sau : “cho kẻ đói ăn,cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, cho khách đỗ nhà, chuộc kẻ làm tôi và chôn xác kẻ chết”. Tất nhiên Vua Giê-su sẽ phán xét chúng ta về tất cả những công việc ta đã làm. Nhưng Tin Mừng Mát-thêu chỉ kể tới những việc làm thuộc đức bái ái với kẻ khác. Vì chu toàn đức ái tức là đã chu toàn Lề Luật ( x Rm 13,8-10).

+ Những kẻ đáng thương cần sự trợ giúp này thuộc mọi thành phần xã hội : là lương hay giáo, Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, sang hay hèn … Các tín hữu còn được Đức Giê-su dạy “Phải yêu cả kẻ thù của mình nữa để xứng đáng là con cái Thiên Chúa Cha. Người là Đấng nhân từ và hoàn thiện (x Mt 5,44-48)

(c 37) Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng : “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống. (c 38) Có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước, hoặc trần truồng mà cho mặc ? (c 39) Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến thăm đâu ?”(c 40) Để đáp lại, Đức Vua sẽ bảo họ rằng : “Ta bảo thật các người:Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh embé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” :

+ Có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn : Người công chính là người đã nhiệt tình giúp đỡ cho những người nghèo khổ, dù chưa biết họ là hiện thân của Đức Kitô. Họ quảng đại làm các việc bác ái và không có hậu ý để được khen như các người Pha-ri-sêu.

+ Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy ¹ : Câu này tương tự như câu Đứa Giê-su nói: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy””(Mt 10,40). Hay : “Ai đón tiếp một em nhỏ như thế này vì danh Thầy, là đón tiếp chính Thầy” (Mt 18,5). Hoặc lời Chúa Ki-tô Phục Sinh nói với Sau-lô khi ông đem quân đi bắt các tín hữu về Giê-ru-sa-lem trị tội: “Sa-un, Sa-un tại sao ngươi bắt bớ Ta?” Ông nói: “Thưa Ngài, Ngài là ai?” Người đáp: “Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ” (Cv 9,4-5). Qua những câu trên, ta thấy Đức Giê-su đã tự đồng hóa mình với những kẻ bé mọn và các tín hữu. Nhờ đó, chúng ta có thể phục sự Chúa qua các công việc bác ái yêu thương tha nhân.

(c 41) Rồi Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên trái rằng: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ac quỷ và các sứ thần của nó:

+ Quân bị nguyền rủa kia : Khi nói với người lành Chúa phán : “Nào những kẻ được Cha Ta chúc phúc”. Trái lại, khi nói với người dữ, Chúa chỉ nói trống là: “Quân bị nguyền rủa kia” mà không nói thêm “bị Cha Ta nguyền rủa”. Điều này cho thấy Chúa Cha không chúc dữ cho ai bao giờ, nhưng chỉ chúc lành cho họ. Vì Người muốn cho mọi người đều được hưởng ơn cứu độ.

+ Đi đi cho khuất mắt Ta: Điều này cho thấy hình phạt chính của những người thiếu bác ái và bị phạt trong hỏa ngục là không được nhìn xem thánh nhan Thiên Chúa. Còn những ai có tâm hồn trong sạch, thì họ sẽ được phúc nhìn thấy Thiên Chúa (x Mt 5,8). Thiếu sự hiện diện của Thiên Chúa là nguyên nhân phát sinh sự dữ và mọi tội lỗi khác.

+ Vào lửa đời đời : Gio-an Tẩy Giả đã nhắc đến thứ lủa không hề tắt (x Mt 3,12). Dụ ngôn cỏ lùng cũng nói cỏ lùng sẽ bị quăng vào lò lửa, nơi phải khóc lóc và nghiến răng (x Mt 13,42).

(c 42) Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn. Ta khát, các ngươi đã không cho uống. (c 43) Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước. Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc. Ta đau yếu hay ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm nom”:

+ Câu này cho thấy đức bác ái là then chốt và là tiêu chuẩn để được Chúa khoan dung. Vì những người bị nguyền rủa này đã không thi hành những hành vi bác ái cụ thể giúp đỡ tha nhân như không cho kẻ đói ăn, không cho kẻ khát uống.

(c 44) Bấy giờ những người ấy cũng sẽ thưa rằng: Lạy Chúa, có bao giờ chúng con thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu? (c 45) Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy :

+ Có bao giờ chúng con thấy Chúa đói, khát, là khách lạ : Bất cứ công việc gì tốt đẹp mà ta không làm cho tha nhân, dù khi ấy ta không ý thức mình tha nhân hiện thân của Chúa đi nữa, thì cũng kể như ta đã không làm cho chính Người. Thánh Gio-an đã viết như sau: “Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa, mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối. Vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa, mà họ không trông thấy” (1 Ga 4,20).

+ Các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây : Người bé nhỏ ở đây tức là tất cả những ai cần được ta giúp đỡ về mặt thể xác cũng như tinh thần. Họ chính là đối tượng tình thương của Chúa Giê-su.

+ Là các ngươi đã không làm cho chính Ta : Do đó khi ta từ chối giúp đỡ những kẻ đáng thương, tức là chúng ta đã từ chối giúp đỡ chính Chúa Giê-su.

(c 46) Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn ngững người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời :

Sau khi phán xét xong là tới lúc thi hành án lệnh : Người lành thì được hưởng hạnh phúc trong Nước Trời. Còn kẻ không làm việc bác ái cụ thể đối với những người nghèo khó đáng thương, thì sẽ phải vào nơi tối tăm để chịu cực hình muôn kiếp.

II. HỌC SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA :

"Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy"

(Mt 25,45).-

2. CÂU CHUYỆN :

NHỮNG SỨ GIẢ CỦA NHÀ VUA :

ỐT-CA OAI-ĐƠ (Osca Wilde) đã viết một câu chuyện tựa đề là : "Vị hoàng tử hạnh phúc". Câu chuyện kể về một hoàng tử con vua. Từ nhỏ đến lớn, hoàng tử luôn sống trong tình yêu thương và sự che chở của cha. hoàng tử muốn làm nhiều việc bác ái chia sẻ giúp những người nghèo khó tàn tật bất hạnh, nhưng không thể được, vì hoàng tử không có tiền riêng. Thế rồi không may, hoàng tử lâm cơn trọng bệnh và qua đời trong sự thương tiếc của triều đình và dân chúng. Người ta đã làm một bức tượng của hoàng tử này được phủ bằng vàng, với hai viên ngọc bích ở trong mắt và một viên hồng ngọc to lớn được gắn vào đầu cán gươm.

Một hôm thời tiết lạnh lẽo, một chú chim én bé nhỏ trên đường về phương nam nắng ấm, đã dừng chân đậu lại trên bệ đặt tượng của hoàng tử. Bấy giờ có vài giọt nước rớt xuống trên mình chim. Nhìn lên thì chim én thấy đó là những giọt nước từ khóe mắt của bức tượng hoàng tử rơi xuống. Chim én liền hỏi: "Tại sao ngài lại khóc?". Hoàng tử trả lời: "Khi sống, tôi luôn ở trong hoàng cung kín cổng cao tường, nên không nhìn thấy được những nỗi đau khổ khốn cùng của nhiều người nghèo khó. Nhưng từ khi tôi được đặt trên chiếc đài kỷ niệm này, thì hằng ngày tôi đã chứng kiến không biết bao nhiêu mảnh đời bất hạnh. Tôi rất muốn làm những việc chia sẽ giúp đỡ cho những người nghèo đói cùng cực kia. Nhưng tôi lại không còn đi lại được như trước. Vậy tôi có thể nhờ chim làm giao liên được không?" Chim én trả lời: "Nhưng cháu còn phải đi sang Ai Cập tránh thời tiết lạnh giá của mùa đông khắc nghiệt. Nhưng trước sự khẩn khoản mời gọi của hoàng tử, cuối cùng chim én đã nhận lời làm giao liên giúp hoàng tử một đêm. Hoàng tử cám ơn chim và công việc đầu tiên anh giao cho chim làm là "hãy mang viên hồng ngọc to gắn ở đầu cán gươm bên mình hoàng tử, đến trao tặng cho một bà mẹ có đứa con mang bệnh rất nặng. Nhưng bà ta không có tiền để tìm thầy chạy thuốc chữa bệnh cho con gái cưng". Chim én liền dùng mỏ lấy ra viên hồng ngọc và mang đến địa chỉ hoàng tử đã nói, và đặt nhẹ vào tay của bà mẹ khốn khổ kia. Bà rất vui mừng khi nhận được món quà quý giá và nhờ chim cám ơn hoàng tử. Sau khi có tiền, nhờ được mang đến bác sĩ chữa bệnh kịp thời, nên cô gái đã hồi phục rất nhanh. Chim én liền bay về báo cáo kết quả công việc với hoàng tử. Hôm sau, hoàng tử lại yêu cầu chim én ở lại thêm một ngày nữa, và đêm hôm đó, đã nhờ chim lấy ra một viên ngọc bích từ trong mắt của mình, đem đến trao cho một người nghèo đang bị đói khát nằm trên hè phố chờ chết. Một lần nữa, chim lại làm đúng theo yêu cầu của hoàng tử. Trong lúc đi làm việc thiện, chim én đã có dịp nhìn thấy biết bao hoàn cảnh đáng thương trong các nhà ổ chuột, dưới hầm cầu hay tại các nơi tập trung người vô gia cư vô nghề nghiệp. Nên sau đó, chim én đã bằng lòng ở lại làm giao liên cho hoàng tử. Ngày qua ngày, theo sự chỉ đạo của hoàng tử, chim én đã gỡ dần những lớp vàng lát bên ngoài quần áo của hoàng tử và đem đi tặng cho những người bần cùng.

Rồi vào một đêm trời rất lạnh, chim én bay về sau một chuyến công tác từ thiện. Lúc này bức tượng của hoàng tử đã trở thành trơ trụi. Bao nhiêu vàng ngọc trang điểm trên bức tượng đã không còn nữa. Sáng hôm sau, người ta thấy chim én nằm chết dưới chân bức tượng. Chim đã chết sau khi đã hoàn tất sứ mệnh cao cả do hoàng tử trao cho. Còn hoàng tử thì quảng đại cho đi tất cả những gì mình có. Công việc hoàng tử làm mang lại hiệu quả thiết thực là cứu giúp nhiều người vượt qua khó khăn. Nhưng thử hỏi, nếu không nhờ chim én cộng tác, thì liệu hoàng tử có làm được như vậy hay không?

Ngày nay Đức Giê-su đang ở trên cây thập giá cũng nhờ mỗi người chúng ta trở thành giao liên cho Người. Tay chân Người bị đóng đinh vào thập giá. Người cần chúng ta đại diện Người mà chia sẻ và phục vụ tha nhân. Người muốn chúng ta cho Người mượn đôi chân để có thể đến với người nghèo, cho mượn đôi tay để có thể rửa chân phục vụ cho họ, cho mượn miệng lưỡi để có thể nói lời khuyên bảo, an ủi và động viên họ. Nói tóm lại, mỗi tín hữu chúng ta được Đức Giê-su mời gọi để chia sẻ tình yêu của Người cho tha nhân. Để làm được như vậy, chúng ta cần phải có một trái tim biết chạnh lòng xót thương như Đức Giê-su, phải sẵn sàng mở rộng đôi tay để trao tặng cơm áo, cảm thông với những người đau khổ. Vậy chúng ta sẽ làm gì để trở thành người giao liên của Chúa Giê-su như con chim én trong câu chuyện trên?

NẾU CHÚNG CON BIẾT ĐÓ LÀ CHÚA :

NEN-SÂN MÊN-ĐƠ-LA (Nelson Mandela), vị tổng thống da đen đầu tiên tại một nước có tệ phân biệt chủng tộc là Nam Phi, khi còn là một thanh niên, đã trở nên lãnh tụ của quốc hội Châu Phi bị cấm đoánn (ANC). Vì đang trong giai đoạn đấu tranh với đảng cầm quyền, nên NEN-SÂN buộc phải cải trang để dễ dàng hoạt động chính trị. Nói chung, ông cố tình ăn mặc lôi thôi và hóa trang thành nhiều người khác nhau. Ong biết rằng với cách hóa trang như thế, người ta sẽ không nhận ra ông, và điều này thực sự đã nhiều lần xảy ra.

/Một lần kia, khi đến tham dự một buổi họp mật ở một vùng quê miền GIO-HAN-NÉT-BỚC (Johannesberg). Một vị linh mục đã đứng ra thu xếp một cuộc họp mặt để NEN-SÂN có dịp nói chuyện với một số thanh niên. Tuy nhiên khi ông đến nơi, người phụ nữ ra mở cửa thấy cách ăn mặc lôi thôi của ông, đã nói : "Ở đây chúng tôi không đón tiếp những người lôi thôi như ông". Nói rồi bà ta đóng sầm cửa lại ngay trước mặt ông. Sau đó, khi biết người gọi cửa khi nãy là ai, bà đã quay trở lại trong sự xấu hổ và nói với ông : "Nếu tôi biết là ngài, thì tôi đã dành một cănphòng tốt nhất trong nhà cho ngài, và phục vụ ngài thật chu đáo".

Tuy nhiên, dù ông giả dạng thành nhiều người khác, nhưng vẫn có người là bạn thân đã nhận ra ông. Một hôm, khi ông giả dạng làm một tài xế ở Gio-han-nét-bớc, đang đứng đợi đón khách ở một góc phố, trong áo khoác ngoài bụi bặm và trên đầu đội chiếc mũ nhàu nát, thì ông nhìn thấy một người cảnh sát đang sải bước tiến về phía mình. Ông nhìn quanh để tìm lối thoát thân. Nhưng viên cảng sát kia đã mỉm cười chào ông, anh ta lén đưa tay lên chào theo kiểu ANC. Rồi anh ta bước đi hướng khác. Những sự cố như vậy xảy ra khá nhiều lần, và NEN-SÂN yên tâm vì biết rằng có nhiều người châu Phi thực tâm ủng hộ ông và con đường đấu tranh với tệ phân biệt chủng tộc của chính quyền người da trắng. Cuối cùng NEN-SÂN MÊN-ĐƠ-LA đã chiến thắng trong một cuộc bầu cử và lên làm tổng thống của Nam Phi.

Đức Giê-su ngày nay cũng đang ẩn mình dưới nhiều hình dạng khác nhau. Vậy làm thế nào chúng ta có thể nhận ra Người. Chúng ta hãy nghe những.

ĐỨC VUA ĂN XIN

Ngày xưa, có một ông vua lớn tuổi mà không có một đứa con nối dõi ngôi báu của mình. Nhà vua liền tìm cách tuyển chọn con nuôi để phong lên làm hoàng tử kế vị sau này. Nghe được thông cáo tuyển nhân tài làm hoàng tử, rất đông thanh niên tình nguyện khăn gói lên đường trực chỉ kinh thành ứng thí. Điều kiện nhà vua ra là thí sinh ngoài văn tài võ giỏi, còn phải có lòng mến Chúa yêu người.

Có một thanh niên kia rất khôi ngô tuấn tú, vừa giỏi nghề cung kiếm, lại vừa văn hay chữ giỏi. Nhất là anh lại có lòng mến Chúa yêu người trổi vượt các chúng bạn đồng trang lứa với anh. Anh được thầy dạy và cha mẹ khích lệ ứng thí. Có điều nhà anh lại nghèo, nên không đủ tiền may sắm quần áo, và không cả lương thực đi con đường tới kinh thành dài cả ngàn cây số. Sau khi cầu nguyện xin ơn soi sáng, anh quyết định ra đi, vừa đi vừa nhờ sự giúp đỡ của những mạnh thường quân ở dọc đàng. Sau một tháng ngày đi đêm nghỉ, anh đã tới được kinh thành, và từ đàng xa anh đã trông thấy cung điện nhà vua thật nguy nga tráng lệ. Trên đường đến cung điện nhà vua, anh gặp thấy một người ăn xin nghèo khổ, quần áo rách nát đang ngồi bên vệ đường. Ông lão chìa tay ra xin anh giúp đỡ. Lão ăn mày nói : "Đã hai hôm nay già này không có một hột cơm trong bụng, và rét run vào ban đêm vì trời bắt đầu vào mùa đông. Cậu có thể cho tôi chiếc áo khoác cậu đang mặc, và số lương thực cậu đem theo hay không ?" Nhìn thấy hoàn cảnh ông lão đáng thương, anh thanh niên liền nói mấy lời an ủi động viên ông, và cởi chiếc áo khoác anh đang mặc phủ lên người ông cho đỡ lạnh. Anh cũng cho luôn cả túi lương thực cho cuộc hành trình quay trở về nhà, mà anh đã được một số người hảo tâm hết lòng giúp đỡ. Rồi trong bộ đồ cũ rách, anh bước vào cung điện nhà vua. Anh được người phụ trách ứng thí dẫn đến ở trọ tại một phòng lớn trong cung điện. Hôm sau, anh được dẫn đến các quan giám khảo chấm điểm các môn thi văn võ, và ở chỗ nào anh cũng đều đạt được điểm cao. Cuối cùng là phần trình diện ra mắt đức vua tại một đại sảnh trong hoàng cung. Khi đến trước ngai rồng, anh khấu đầu thật sâu để chào và rồi quỳ gục đầu xuống sát đất để tỏ lòng kính trọng đức vua. Rồi khi được đức vua cho phép, anh nhìn lên thì thấy đức vua đang ngồi trên ngai kia không ai khác hơn là chính ông lão già ăn xin bên vệ đường mà anh mới giúp đỡ hôm trước. Anh thưa rằng : "Có phải tiện dân mới được vinh dự gặp đức vua tại con đường gần hoàng cung vào chiều hôm qua chăng ?" Đức vua liền đáp : "Đúng như vậy !" Anh thanh niên tiếp tục hỏi : "Tại sao đức vua lại giả làm một người ăn xin như thế ?" Đức vua liền trả lời : "Bởi vì Ta muốn thử lòng của ngươi để biết xem ngươi có thật lòng mến Chúa yêu người theo tiêu chuẩn chọn lựa của ta hay không". Cuối cùng chàng thanh niên vừa tài giỏi, lại vừa hiền lành đạo đức kia đã được chấm đậu và được nhận làm hoàng tử con vua. Và sau khi lên ngôi, ông vua này nổi tiếng là một vị vua vừa có lòng đạo đức là mến Chúa, lại vừa có lòng thương yêu và khoan dung xót thương thần dân của mình.

Câu chuyên này rất phù hợp với tư tưởng trọng tâm trong Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Chúa Giê-su Làm Vua hôm nay. Đó là : Vào lúc cuối đời, sau khi chết, mỗi chúng ta đều phải ra trước tòa Chúa phán xét, và sẽ được Chúa xét xử công minh. Số phận đời đời của chúng ta sẽ được định đoạt tùy theo ta đã làm hay bỏ không làm các việc tốt hữu ích cho tha nhân.

3) SUY NIỆM :

Nữ tu Tê-rê-sa Can-cút-ta (Tê-rê-sa Cancutta) rất tâm đắc với đoạn Tin Mừng này. Bà đã bị cuốn hút bởi những người đau khổ. Dưới mắt của bà, họ không những là người đáng thương, mà còn là hiện thân của Đức Giê-su chịu đau khổ và bị bỏ rơi trên cây thập giá. Tình yêu Chúa và tình yêu thương người đồng loại hòa quyện vào nhau. Vì yêu Chúa nhiều, nên bà lại càng phải yêu người. Bà thường nhắc nhở chị em nữ tu Thừa Sai Bác Ai như sau : “Chị em cần tập nhìn thấy Đức Giê-su trong mỗi con người chị em gặp mặt, dù họ có đang kinh tởm đến đâu đi nữa”.

Đoạn Tin Mừng hôm nay sở dĩ được chọn để đọc trong ngày Chúa Nhật cuối năm phụng vụ, vì Đức Giê-su được diễn tả như một Ông Vua Thẩm Phán. Người sẽ tái lâm vào ngày tận thế cùng với các thiên sứ hầu cận chung quanh. Người ngồi trên ngai vinh hiển, mà xét xử muôn dân. Người tách biệt người lành ra khỏi kẻ dữ, giống như mục tử tách chiên ra khỏi dê vào mỗi buổi tối trước khi cho chúng vào chuồng. Người ban thưởng kẻ lành và ra phạt kẻ dữ cách công minh. Người ta được chúc phúc hay bị nguyền rủa đều dựa trên những việc họ đã làm hay không làm những việc bác ái cho những kẻ nghèo hèn, mà họ không hề hay biết là đã làm hay không làm cho chính Chúa. Vua Giê-su không ở trong cung vàng điện ngọc, nhưng ở trong những kẻ nghèo đói khốn cùng. Người tự đồng hóa với những kẻ đói khát, khách lạ, trần trụi, đau yếu hay ở tù mà chúng ta vẫn có thể gặp được hàng ngày.Dù đã được Chúa Cha tôn lên làm Chúa tể muôn loài, nhưng Người không ngần ngại nhìn nhận những kẻ nghèo hèn yếu đuối làm anh em của mình. Từ đây, chúng ta không cần phải đi tìm Chúa ở nơi đâu khác : không những Người hiện diện trong nhà thờ, trong các bí tích. Nhưng Người còn hiện diện trong những người đang cần được trợ giúp. Có những lần Chúa đi ngang qua cuộc đời chúng ta mà chúng ta không nhận ra Người, giống như ông vua kia đã cải trang làm người nghèo khóngồi ăn xin bên vệ đường. Chúng ta sẽ bị xét xử dựa trên hành động thế nào đối với những kẻ nghèo đói đau khổ. Tội lớn nhất ở đây có lẽ là tội đã thiếu sót bổn phận yêu thương cụ thể, khi chúng ta không làm điều lẽ ra phải làm cho một người anh em bất hạnh.

Hôm nay Đức Giê-su vẫn đang ngửa tay xin chúng ta giúp đỡ trong những kẻ bé mọn : Những người mù lòa cần được chúng ta mang đến bệnh viện chữa trị để được sáng mắt; những kẻ mù chữ u mê cần được chúng ta giúp đưa đến học trong các lớp học tình thương, các lớp bổ túc văn hóa. Các trẻ em mồ côi cần được nuôi dạy trong những nhà mở chan hòa tình người. Những cụ già neo đơn cần được một chỗ ổn định và được nuôi dưỡng tử tế. Những người đang tự nhốt mình trong ngục tù đam mê, và những cô gái nghèo đang kiếm sống nhờ việc bán đi thân xác và đức hạnh của mình. Chúng ta phải làm một việc gì cụ thể giúp đỡ tha nhân, để Nước Chúa ngày một lớn lên nơi môi trường chúng ta đang sống. Tóm lại, cần làm gì cụ thể để thế giới mà chúng ta đang sống ngày một an bình trật tự hơn, công bình nhân ái hơn, và nhờ đó, Đức Giê-su sẽ thực sự trở nên Vua của vũ trụ bên ngoài, và nhất là làm vua vũ trụ là chính cõi lòng của chúng ta.

4) THẢO LUẬN :

Để cụ thể hóa chủ điểm của Đức Giê-su trong đoạn Tin Mừng này, một giáo sư đại học thành phố Chi-ca-gô Hoa Kỳ đã đặt cho các sinh viên của ông câu hỏi như sau : “Bạn hãy cho biết : Gần đây nhất, bạn đã quan tâm giúp đỡ cho một người đang cần đến bạn vào lúc nào ?” Đây là một câu hỏi quan trọng mà mỗi tối chúng ta cần đặt ra cho mình, để hồi tâm sám hối và quyết tâm sống tình bác ái yêu thương là điều kiện để được hạnh phúc đời sau.

III. HIỆP SỐNG NGUYỆN CẦU.

A) LẠY CHÚA GIÊ-SU, Vua vũ trụ.

Nếu Chúa thật sự là vua của hơn bốn trăm ngàn linh mục, hơn tám trăm ngàn nữ tu. Nếu Chúa thực sự là vua của một tỉ người công giáo, thì thế giới chúng con đang sống đây đã biến đổi nên thiên đàng trần gian từ lâu rồi. Chúng con không làm dậy lên khối bột xã hội không phải vì lượng men còn ít, nhưng là vì men đã bị mất phẩm chất. Chúng con phải gánh chịu một phần trách nhiệm về sự dữ đang tràn lan trên địa cầu, và có nhiều sự dữ lại do chính chúng con đã gây ra. Chúng con chỉ biết khoanh tay kêu cầu cho Nước Chúa mau trị đến, nhưng lại không chịu tích cực xây dựng nước ấy trong khả năng của mình.

LẠY CHÚA. Chúng con thường cố tình thu nhỏ lại vũ trụ của Chúa. Cố tình giam hãm Chúa trong phạm vi nhà thờ, nên nhiều nơi trên thế giới và trên tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng con hiện đang vắng bóng Chúa. Chúng con sợ Chúa đến làm phiền chúng con, và không cho chúng con được yên ổn. Ước gì một tỉ người tín hữu công giáo chúng con chịu mời Chúa đến làm vua trong tâm hồn và nơi nhà của mình, và đưa Chúa đến những nơi người ta chưa hề biết Chúa, để làm cho vũ trụ này thực sự là vũ trụ thuộc về Chúa trọn vẹn.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

B) LẠY MẸ MA-RI-A.,

Nhiều lần con đã tự biện hộ cho những thiếu sót bổn phận bác ái của mình khi nói rằng : “Lực bất tòng tâm :Làm sao tôi có thể vào trong nhà tù để thăm nuôi các tù nhân ? Làm sao tôi dám chứa chấp những khách lỡ dường không mang giấy tờ tùy thân vào trọ trong nhà mình được ? Tôi lấy đâu ra tiền bạc để làm những việc lớn lao như chăm sóc những người bệnh phong cùi, nuôi dưỡng các em mồ côi bụi đời, phục vụ những người già yếu neo đơn không ai nuôi dưỡng?”.

LẠY MẸ.

Nếu con cứ lý luận như thế thì con sẽ chỉ còn biết khoanh tay đứng nhìn và không làm gì nữa. Nhưng có biết bao công việc trong tầm tay mà con có thể làm được để đỡ gánh nặng cho một người anh em, giúp đỡ phần nào cho những người nghèo đói qua được hoàn cảnh ngặt nghèo, giúp đỡ gánh nặng cho một người trong gia đình ruột thịt, nhặt một cái đinh nhọn gặp phải trên đường đi, thăm viếng chia sẻ Chúa cho một người bạn thân như Mẹ đã làm với bà chị họ Ê-li-sa-bét...Và còn biết bao công việc khác tương tự. Xin cho con biết quan tâm tới người bên cạnh, và sẵn sàng chia sẻ tình thương với họ, hầu con xứng đáng là người môn đệ thực sự của Chúa Giê-su và đáng được Người ban thưởng Nước Trời đời đời như Mẹ đang được hưởng.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

LM ĐAN VINH -  HHTM
dongcong.net November 21, 2014

 

HIỆP SỐNG TIN MỪNG
CHÚA NHẬT 34 THƯỜNG NIÊN A
ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ VUA VŨ TRỤ
Ed 34,11-12.15-17; 1 Cr 15,20-26.28; Mt 25,31-46
ĐỂ SUY TÔN VƯƠNG QUYỀN CỦA CHÚA GIÊ-SU

I. HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Mt 25,31-46.
(31) Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu. Bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. (32) Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê, (33) Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái. (34) Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc. Hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa”. (35) Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; (35) Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc. Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom. Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm”.(37) Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống. (38) Có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước, hoặc trần truồng mà cho mặc ? (39) Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến thăm đâu ?” (40) Để đáp lại, Đức Vua sẽ bảo họ rằng: “Ta bảo thật các ngươi: Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi làm cho chính Ta vậy”. (41) Rồi Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên trái rằng: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên ác quỷ và các sứ thần của nó”. (42) Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn. Ta khát, các ngươi đã không cho uống. (43) Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước. Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc. Ta đau yếu hay ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm nom”. (44) Bấy giờ những người ấy cũng sẽ thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu ?” (45) Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé mọn nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy”. (46) Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời”.

2. Ý CHÍNH:
Vào ngày tận thế, sau khi các thiên thần tập họp mọi người đã chết được sống lại, Vua Giê-su sẽ ngự đến lần thứ hai trong uy quyền và vinh quang. Người sẽ trở thành thẩm phán để phán xét chung mọi người (31), dựa trên cách họ đã ứng xử với Người đang hiện thân nơi những người nghèo đói, bệnh tật và đau khổ cả về thể xác cũng như tâm hồn (40.45).

3. CHÚ THÍCH:
- C 31: + Khi Con Người đến trong vinh quang của Người: Đức Giê-su được Chúa Cha sai đến trần gian 2 lần: Lần thứ nhất cách đây hơn 2000 năm tại nước Do thái để thiết lập Nước Trời. Người mở ra con đường lên trời là đường mến Chúa yêu người (x Mc 8,34). Người truyền cho các môn đệ loan báo Tin Mừng khắp thế gian. Ai tin và chịu phép rửa sẽ được gia nhập vào Nước Trời là Hội Thánh ở trần gian và là Thiên Đàng đời sau. Người cũng hứa sẽ đến lần thứ hai để làm Vua Thẩm Phán (x Mt 16,27), thưởng kẻ lành và phạt kẻ dữ (x Mt 25,31-32).
- C 32-33: + Người sẽ tách biệt họ với nhau như mục tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái: Bấy giờ Đức Giê-su như người Mục Tử sẽ phân chia muôn dân thành hai lọai người là “chiên và dê”. Chiên và dê là hai lòai vật giống nhau. Nhưng đặc tính của con chiên là hiền lành, còn đặc tính của con dê là hay phá phách chuồng trại. Về amawtj kinh tế, chiên có giá trị hơn dê nhờ có bộ lông dầy được thợ cắt xén từng thời kỳ. Lông chiên được dùng làm len, được đan thành áo ấm.
- C 34: + Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: Nào những kẻ Cha ta chúc phúc…: Những người được xếp bên phải là những tín hữu sống theo “Tám Mối Phúc thật” (x. Mt 5,1-12), thực hành bác ái phục vụ Chúa hiện thân trong những người đau khổ bất hạnh (x Mt 25,35-36). Còn những người bên trái tượng trưng những kẻ vô tín, thể hiện qua thái độ làm ngơ trước những người đau khổ bất hạnh của tha nhân (x Mt 25,41-45).

4. CÂU HỎI: 1) Theo Tân Ước, Đức Giê-su đến trần gian mấy lần ? Mục đích đến mỗi lần là gì ? 2) Trong ngày tận thế khi đến lần thứ hai, Đức Giê-su sẽ phân chia lòai người thành hai lọai là những lọai nào ? Số phận những người loại “chiên” khác với những kẻ loại “dê” thế nào?

II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: Chúa phán: “Ta bảo thật các ngươi: Mỗi lần các ngươi đã không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,45).

2. CÂU CHUYỆN:

1) NẾU TÔI BIẾT LÀ NGÀI…
NEN-SÂN MÊN-ĐƠ-LA (Nelson Mandela) là Tổng thông da đen đầu tiên tại một đất nước nổi tiếng về tệ nạn “phân biệt chủng tộc” là Nam Phi. Khi còn là một thanh niên, Men-đơ-la đã là lãnh tụ của đảng có tên “Quốc hội Châu Phi” (ANC) đã bị nhà cầm quyền cấm họat động. Vì đang ở trong thời kỳ đấu tranh giành quyền lực với đảng cầm quyền, nên NEN-SÂN buộc phải cải trang để hoạt động bằng cách ăn mặc và hóa trang thành nhiều người thuộc nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội. Ông tin rằng khi hóa trang như thế, người ta sẽ không nhận ra ông, để ông có thể đi nhiều nơi trong nước.
Lần kia, khi đi dự một cuộc họp kín tại một vùng quê nghèo là GIO-HAN-NÉT-BỚC (Johannesberg), do một linh mục sắp xếp để NEN-SÂN nói chuyện về cách mạng với một số thanh niên Công giáo. Khi ông đến nơi, người phụ nữ giữ cửa thấy cách ăn mặc lôi thôi đã không nhận ra và từ chối mở cửa với lý do: “Ở đây không có chỗ cho lọai người như ông”. Nói xong chị ta đóng sầm cửa lại trước mặt ông. Nhưng sau khi được biết người mới đến kia là ai, chị ta đã vội quay lại nói với ông: ”Xin lỗi ngài về sự thất kính của tôi khi nãy, vì tôi đã không nhận ra ngài. Nếu như tôi biết đó là ngài, thì tôi đã mở rộng cửa ra đón và phục vụ ngài chu đáo rồi”.
Tuy nhiên, dù ông đã cố giả dạng trở thành nhiều người khác, nhưng vẫn có người nhận ra ông. Một hôm, khi ông giả dạng làm một người tài xế ở Gio-han-nét-bớc dừng xe đón khách ở một góc phố, ông mặc áo khoác bụi bặm và đội một chiếc mũ nhàu nát, thì bỗng thấy một viên cảnh sát xuất hiện. Ông nhìn quanh để tìm cách thoát thân. Nhưng rất may khi viên cảnh sát kia lại mỉm cười và lén đưa tay lên chào theo kiểu ANC, rồi bước theo một hướng khác. Những chuyện như vậy xảy ra nhiều lần, và NEN-SÂN cũng tạm yên tâm vì biết rằng có nhiều người Châu Phi đang ủng hộ con đường đấu tranh chống tệ nạn phân biệt chủng tộc của ông. Cuối cùng sau khi bị bắt ở tù nhiều năm, MÊN-ĐƠ-LA đã được trả tự do và đã chiến thắng trong một cuộc bầu cử công bằng để trở thành vị Tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi.
Hôm nay Chúa Giê-su cũng đang ẩn mình dưới nhiều hạng người đau khổ bất hạnh. Vậy bạn có nhận ra Chúa và ân cần phục vụ Người cách chu đáo không ?

2) SUY TÔN VƯƠNG QUYỀN CỦA CHÚA GIÊ-SU:
Giữa công trường Thánh Phêrô ở La Mã có một ngọn tháp cao chót vót mang một cây Thánh giá vươn lên giữa trời xanh. Ngọn tháp có từ đời Hoàng đế Ca-li-gu-la, được đưa về dựng giữa công trường năm 1586. Trên ngọn tháp có khắc ba câu như sau:
Christus vincit: Chúa Kitô toàn thắng.
Christus regnat:  Chúa Kitô hiển trị.
Christus imperat: Chúa Kitô thống quản.
Ngày nay, trong Chúa Nhật cuối năm phụng vụ, Hội thánh tôn vinh Chúa Giê-su Con Thiên Chúa chính là Vua của toàn thể vũ trụ. Người cũng là Vua lòng của mỗi tín hữu chúng ta.

3. SUY NIỆM:
Hôm nay là Chúa nhật cuối năm Phụng vụ, Hội thánh mừng lề Chúa Giêsu Vua Vũ Trụ để nhắc nhở cho mọi người hãy suy tôn, phục vụ và đi theo Người, đồng thời phải chuẩn bị đón Chúa sẽ đến trong ngày tận thế với tư cách là vị Vua Thẩm phán xét xử kẻ sống và kẻ chết. Đức Giáo hòang Piô  XI đã thiết lập lễ Ki-tô Vua vào ngày 11.12.1925 trong bầu khí tạ ơn và hân hoan mừng Năm thánh 1925. Sở dĩ Đức Thánh Cha thiết lập lễ này vì vào thập niên đầu thế kỷ 20, thế giới phải đối diện với trào lưu tục hóa và các chủ thuyết vô thần. Về phía Giáo hội, qua việc mừng kính tước hiệu Vua của Chúa Giê-su, Hội thánh tuyên xưng vương quyền của Người trên mọi người, mọi gia đình, mọi xã hội và dân tộc trên thế giới.
          
1) ĐỨC GIÊ-SU LÀ VUA :
- Sau phép lạ bánh ra nhiều, dân chúng phấn khởi muốn tôn Đức Giê-su lên làm vua Thiên Sai. Nhưng Người đã lẩn tránh vì Người không đến để làm ông vua thế tục như dân Do thái đang mong đợi. Người chỉ nhận mình là Vua khi đứng trước toà án của quan Tổng Trấn Phi-la-tô. Ông ta hỏi Đức Giê-su: “Ông là vua dân Do thái sao?” Đức Giê-su trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu, không để tôi bị nộp cho người Do thái. Nhưng nay Nước tôi không thuộc chốn này” Ông Phi-la-tô liền hỏi: Vậy ông là vua sao ?” Đức Giê-su đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: Đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,33-36).
- Ngoài ra, Phi-la-tô khi tuyên án tử hình thập giá cho Đức Giê-su, ông còn truyền viết tấm bảng gắn phía trên đầu Người hàng chữ I.N.R.I. viết tắt của câu tiếng La tinh nghĩa là “Giê-su Na-da-rét Vua dân Do thái”. Qua đó ông ta công nhận Đức Giê-su là Vua, mà ngai vàng của Người là cây thập giá. Từ trên cao, Người giang hai tay ra như để ôm lấy dân Người. Người công bố quyết định miễn xá tội cho các tù nhân qua lời cầu xin với Chúa Cha: ”Lạy Cha, xin tha cho họ, Vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đức Giê-su đã tha thứ cho người gian phi có lòng sám hối: “Tôi bảo thật anh: hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43).

2) VƯƠNG QUỐC CỦA VUA GIÊ-SU:
- Vương quốc của Đức Giê-su thiêng liêng:
Nghĩa là không thuộc về thế gian vì không có lãnh thổ, không có quân đội, không biên giới và tồn tại mãi mãi như trong kinh tin kính: ”Nuớc Người sẽ không bao giờ cùng”.
- Vương quốc ấy là Hội Thánh hôm nay và Thiên Đáng mai sau:
Mỗi tín hữu chúng ta có bổn phận gia nhập làm thần dân của Vương quốc Nước Trời và có bổn phận làm cho Vương quốc ấy ngày một lan rộng, như kinh Lạy Cha: “Chúng con nguyên Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến”.
- Bồn phận của các tín hữu:
Mỗi người phải làm thế nào để mời Chúa Giê-su đến làm chủ tâm hồn mình, bằng việc năng cầu nguyện với Chúa, tham gia sinh hoạt trong các hội đoàn công giáo tiên hành, để nhờ suy niệm Lời Chúa, cầu nguyện xin ơn Thánh Thần giúp thánh hóa bản thân, tích cực góp phần cải thiện môi trường xã hội mình đang sống và thực hành các công tác tông đồ bác ái, để Vương quyền của Chúa Giê-su cũng được nhiều người tin nhận.

3) ĐỨC GIÊSU LÀ VUA MỤC TỬ:
- Đức Giêsu là Vua Mục Tử:
nhưng không giống như các ông vua trần gian, mà là ông Vua Mục tử nhân lành như sấm ngôn của ngôn sứ Ê-dê-ki-en: “Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta. Chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trên đồng cỏ mầu mỡ trên núi non Ít-ra-en. Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta. Chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ. Con nào bị mất Ta sẽ đi tìm, con nào đi lạc Ta sẽ đưa về. Con nào bị thương Ta sẽ băng bó, Con nào bệnh tật Ta sẽ làm cho mạnh. Con nào béo mập, con nào khỏe mạnh. Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm, con nào đi lạc Ta sẽ đưa về, con nào mạnh con nào béo mập Ta se canh chừng. Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng” (Ed 34,15-16).  

- Đức Giêsu là Vua Thiên Sai:
Người tuy là Thiên Chúa, nhưng đã khiên hạ vâng phục ý Chúa Cha để sẵn sàng hiến thân chịu chết trên cây thập giá hầu cứu chuộc muôn dân, đưa họ về làm con Thiên Chúa trong nước Trời hằng sống. Thánh Phao-lô đã ca tụng Đức Giê-su Vua như sau: ” Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người, và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đát, và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ, và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giê-su Ki-tô là Chúa” (Pl 2,10-12).

- Vương quốc là Vương quốc tình thương:
Đặc điểm của công dân trong nước Trời là đón nhận mọi hạng người, đặc biệt là những người nghèo đói, bất hạnh, bệnh tật, tội lỗi... Chính Đức Kitô Vua Mục tử, cũng tự đồng hóa mình với những kẻ bé mọn này và mời gọi các thần dân của Người phải thể hiện đức Tin bằng việc thực thi đức Cậy và đức Mến như sau:”Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Tiêu chuẩn để xác định một người thuộc Vương quốc của Người là những hành động yêu thương khiêm nhường phục vụ như: quan tâm để chía sẻ tinh thần vật chất, thăm viếng để an ủi và chia sẻ với những người nghèo hèn và bị bỏ rơi.

4) CHUẦN BỊ ĐÓN CHÚA ĐẾN THẾ NÀO ? :
- Sẵn sàng đón Chúa đến cách bất ngờ:
Mối ngày luôn ý thức Chúa sẽ đến với mỗi người chúng ta vào giờ chết cách bất ngờ. Do đó chúng ta cần ở trong tư thế chuẩn bị sẵn sàng đón Chúa đến như người đầy tớ canh thức chờ chủ đi ăn cưới về lúc đêm khuya. Cần chuẩn bị cây đèn đức tin chứa sẵn dầu ân sủng nhờ việc năng cầu nguyện suy niệm Lời Chúa và lãnh nhận các phép bí tích như xưng tội và rước lễ mỗi ngày. Nhờ đó chúng ta sẽ có một cái nhìn đức tin để thấy Chúa Giê-su đang hiện thân nơi những người đau khổ bất hạnh, rồi tận tình phục vụ họ như phục vụ chính Chúa Giê-su.
- Sống yêu thương noi gương Mẹ Tê-rê-sa:
Khi còn sống, nữ tu Tê-rê-sa Can-quýt-ta (Therese Cancutta) rất tâm đắc với đoạn Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay về việc Chúa Giê-su sẽ đến làm Vua Thẩm Phán để ban thưởng kẻ lành và phạt kẻ gian ác. Mẹ luôn bị những người đau khổ và bất hạnh lôi cuốn sự quan tâm. Dưới mắt mẹ Tê-rê-sa, những người này không những đáng thương, mà còn là hiện thân của Đức Giê-su đang chịu đau khổ và bị bỏ rơi trên cây thập giá. Nơi mẹ, tình yêu Đức Giê-su và tình thương đối với những người bất hạnh luôn hòa quyện vào nhau. Càng yêu Chúa nhiều bao nhiêu thì mẹ lại càng yêu thương các người bệnh tật và đau khổ bấy nhiêu. Mẹ thường khuyên các chị em nữ tu dòng Thừa Sai Bác Ái như sau: “Chị em cần tập nhìn thấy Đức Giê-su trong mỗi con người bất hạnh mà chị em đang phục vụ, dù họ có đáng kinh tởm đến đâu đi nữa”.
4. THẢO LUẬN: Một giáo sư đại học ở Chi-ca-gô Hoa Kỳ đã đặt cho các sinh viên câu hỏi sau đây: “Bạn hãy cho biết: Gần đây nhất, bạn đã giúp đỡ cụ thể cho một người nào đang cần trợ giúp không ?” Đây là một câu hỏi quan trọng mà mỗi buổi tối chúng ta cần phải tự hỏi mình, rồi ăn năn sám hối và quyết tâm sống tình bác ái yêu thương là điều kiện để sau này chúng ta sẽ được hạnh phúc đời đời trong Nước Chúa.

5. NGUYỆN CẦU:
- LẠY CHÚA GIÊ-SU, Vua vũ trụ. Nếu Chúa thật sự là Vua của hơn một tỉ người Công giáo, thì thế giới chúng con đang sống đã biến thành thiên đàng từ lâu rồi. Chúng con chưa làm dậy men cho khối bột xã hội không phải vì số lượng men còn ít, cho bằng vì men Tin Yêu nơi chúng con đã bị quá “đát”, bị chai lì và mất phẩm chất rồi. Chúng con phải gánh chịu trách nhiệm về tình trạng sự dữ đang tràn lan khắp nơi, mà trong đó một phần là do lỗi của chúng con. Chúng con chỉ biết khoanh tay kêu cầu cho Nước Chúa mau đến, nhưng lại không tích cực làm cho Nước ấy sớm hình thành và phát triển từ nơi bản thân ra đến môi trường sống chung quanh.

- LẠY CHÚA. Nhiều lần con đã tự biện hộ về những thiếu sót bổn phận khi nói rằng: “Lực bất tòng tâm: Làm sao tôi có thể vào trong tù để thăm nuôi tù nhân ? Làm sao tôi dám chứa chấp những khách lỡ đường không giấy tờ tùy thân vào ở trọ trong nhà ? Tôi lấy đâu ra tiền để có thể chăm sóc những bệnh nhân bị AIDS hay phong cùi ? …” Lạy Chúa, nếu con cứ lý luận như thế thì chắc con sẽ không làm gì hết. Nhưng có biết bao công việc đang trong tầm tay của chúng con như: giúp đỡ tiền bạc cho một người cơ nhỡ, làm biển báo nguy bị sụt cống trên đường, giới thiệu Chúa cho một người lương đang tìm kiếm Chúa… Và còn biết bao những việc khác tương tự... Xin cho con biết luôn quan tâm tới người bên cạnh, và sẵn sàng chia sẻ tình thương với họ, hầu xứng đáng trở nên môn đệ thực sự của Chúa.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH -  HHTM

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)