|
Những ngộ nhận (Ga 4,5-30, 39-42)
Chúa nhật III mùa chay, năm A
Chàng Arthur nổi tiếng đạo đức làm bạn với Thibaud. Anh này đã kể cho Arthur một câu chuyện thương tâm: Người hát rong tên là Guillaume Cabestaing yêu cô Margueritte, vợ của nam tước Raimond de Roussillon. Người chồng khám phá được bí mật đó đã giết Cabestaing, móc tim làm một món đồ ăn dọn ra cho vợ mình. Sau khi bà vợ đã ăn hết món ăn ghê tởm ấy ông chồng mới tiết lộ bí mật rùng rợn đó cho vợ hay. Bà vợ nghe xong đã lạnh lùng nói món ăn này ngon quá đến nỗi từ nay về sau tôi sẽ không còn ăn một món nào khác nữa. Bà ta khăng khăng dốc quyết như thế cho đến chết đói. Biết được chuyện động trời này, tất cả những tình nhân và các hiệp sĩ của nước Pháp đều đồng lòng với nhau đến tấn công lâu đài của nam tước Raimond de Roussillon, bao vây phá tan thành lũy và làm cho người chồng độc ác ấy chết cách tủi nhục.
Kể xong thấy anh Thibaud có vẻ thương xót cho số phận của hai tình nhân tội nghiệp và lên án nặng nề người chồng độc ác, Arthur nghiêm khắc chỉnh ngay : Này anh Thibaud đừng ca cho tôi nghe những lơì than khóc gượng gạo như thế nữa. Vì không có gì làm hư hỏng tâm hồn người kitô hữu cho bằng việc dành cho tính hư nết xấu lòng thương xót và lời ca tụng đáng lẽ dành cho nhân đức mà thôi. Nam tước Raimond de Roussillon của anh là một người hung tợn quái ác, nhưng đôi tình nhân bất hạnh của anh không phải là không có tội. Gán những thứ tốt đẹp cho những hành động xấu xa tức là làm cớ cho những ai biết kinh hãi khi thấy tội ác phô bày, đâm ra bắt chước khi thấy tội ác ấy được che đậy dưới mặt nạ của nhân đức.
Đó là một sự ngộ nhận trầm trọng do thiên kiến, do nặng tình cảm hoặc do ảnh hưởng của dư luận đầu độc. Sự sai lạc này thường thường được khơi mào do một cá nhân hay vài người hiếu động rồi lan đến tập thể và dần dần khiến nhiều người bị lôi cuốn cũng đâm ra nhận định một cách lệch lạc mà cứ tưởng cho là đúng là phải. Nguy hiểm hơn cả do sự hiểu lầm lây nhiễm này nên người ta có thể cho một việc xấu không còn xấu hay tội lỗi nữa.
Chính vì thế trong cuộc đối thoại với Chúa Giêsu trên bờ giếng Giacóp, người đàn bàn Samarita hoặc hiểu lầm về những điều Chúa nói hoặc là sai lạc về cuộc sống đạo cũng như đời mà bà ta cứ tưởng mình đúng. Chẳng hạn khi Chúa nói đến thứ nước hằng sống là ân sủng ai uống sẽ không còn khát nữa thì bà ta nghĩ đó là nước tự nhiên đặc biệt và xin Chúa ban để khỏi nhọc công đến giếng múc.
Có lẽ qua hình ảnh người đàn bà Samarita, Chúa muốn nhắn gởi đến mỗi người chúng ta phải suy nghĩ lại về cuộc sống, về bản thân đối với những gì Chúa dạy để có thể nhận ra những sai sót, lầm lẫn mà xưa nay vì thành kiến cố chấp, vì bảo thủ vô lối, vì lười biếng vô học ta vẫn cho mình nghĩ đúng làm đúng.
Trước hết đối với vật chất, chắc chắn không ai chối cãi ảnh hưởng to lớn của nó trên toàn bộ đời sống con người. Nhưng sự nhầm lẫn đối với của cải vật chất ở đây muốn đề cập không thuộc mặt nổi bên ngoài như gian tham, bất công, mê đắm trái luật lương tâm, mà là mặt chìm tức là sự nhận thức, quan niệm về của cải vật chất. Nói khác đi, vì sự cần thiết cho đời sống nên chúng ta có bổn phận ra sức tìm kiếm của cải và nghĩ rằng vật chất có thể thỏa mãn mọi khát vọng của con người. Từ đó chúng ta yên tâm cố ăn ngon mặc đẹp, hưởng thụ mọi tiện nghi để rồi quên hoặc coi thường vấn đề đạo đức thiêng liêng, không còn ước muốn vươn tới những sự cao cả, vĩnh cửu nữa.
Thứ đến là tình yêu. Cũng như của cải, tình yêu là một vấn đề quan yếu của đời sống con người, nên ngươì ta dành phần lớn của cải, sức lực để xây dựng và bảo vệ nó. Điều đó hợp tình hợp lý, nhưng tình yêu trần thế dù có đẹp đẻ và thơ mộng đến đâu cũng không vẹn toàn mãi được và không thể đáp ứng nổi khát vọng sâu xa của con người. Biết tình yêu là bất toàn, nhưng hình như con người cứ mãi theo đuổi, cứ mãi tìm kiếm dù phải hy sinh cả tính mạng đến nỗi quên cả Chúa là chính Tình yêu hoàn hảo nhất vì chỉ có Ngài mới có khả năng thỏa mãn sự khát vọng thâm sâu nhất cuả con người.
Cuối cùng là vấn đề tôn giáo. Có lẽ khi biết rằng của cải hay tình yêu không thể đáp ứng được nổi khát vọng sống vĩnh cửu thì người ta chạy đến tín ngưỡng như một chiếc phao cấp cứu cuối cùng. Nhưng khốn nỗi khi con người coi tôn giáo như một thứ bùa phép, xem Chúa như một ông bụt để cầu xin lợi dụng nên trong cuộc sống đạo, người ta chỉ chú trọng đến hình thức giữ luật chiếu lệ.
Nếu con người cứ sống trong những sự ngộ nhận như thế thì mãi mãi họ không thể gặp được Chúa trong cuộc sống thường ngày. Khi đã không gặp được Ngài trong cuộc sống thì họ cũng chẳng bao giờ gặp Ngài trong Nước Trời.
(Trích Quê Ngọc, Đừng Chế giễu Chúa, tập một. Việtnam)
(trích Đừng Chế giễu Chúa, tập một, của Quê Ngọc)
|