dongcong.net
 
 


Suy niệm - tin mừng


Khúc Tạ Ơn
(Chúa Nhật XIV TN, năm A)
Tạ ơn là cảm tạ, cảm ơn, tri ân, biết ơn, nhớ ơn. Sống trên đời, không ai là một ốc đảo, nghĩa là luôn có mối liên đới với người khác, bằng cách này hay cách khác, trực tiếp hoặc gián tiếp. Không ai lại không thọ ân của người khác, đơn giản nhất là nhờ ông bà, cha mẹ, anh chị em, hàng xóm, thầy cô, bạn bè,... Tục ngữ nói: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Đó là tiền nhân muốn nhắc nhở chúng ta về lòng biết ơn.
Biết ơn là biết tự trọng, biết tôn trọng người khác, là người có giáo dưỡng, là người khiêm tốn và trọng chữ tín. Trong tập “Những Lời Khai Thị Vàng Ngọc”, Tịnh Không Pháp Sư viết: “Hãy biết ơn những người khiển trách ta, vì họ giúp ta tăng trưởng định tuệ; hãy biết ơn những người làm ta vấp ngã, vì họ khiến năng lực của ta mạnh mẽ hơn; hãy biết ơn những người bỏ rơi ta, vì họ đã dạy cho ta biết tự lập; hãy biết ơn những người đánh đập ta, vì họ đã tiêu trừ nghiệp chướng cho ta; hãy biết ơn những người lường gạt ta, vì họ tăng tiến kiến thức cho ta; hãy biết ơn những người làm hại ta, vì họ đã tôi luyện tâm trí của ta; hãy biết ơn tất cả những người khiến ta được kiên định và thành tựu. Những ý tưởng thật là cao thượng, ai sống đúng được như vậy thì đúng là vĩ nhân rồi!
Phàm nhân mà người ta còn biết được như vậy thì thật đáng quý. Và có lẽ nhờ đó mà chúng ta không còn ngạc nhiên, và có thể hiểu được lý do Chúa Giêsu bảo chúng ta phải yêu kẻ thù: “Hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em” (Lc 6:28). Luật yêu của Ngài khác Cựu Ước, có vẻ “ngược đời” lắm, nhưng đó lại là nghịch-lý-thuận. Quả thật, hiểu cho sâu xa thì ai cũng là ân nhân của chúng ta, dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp, nghĩa là chúng ta luôn phải biết ơn người khác. Với Thiên Chúa, chúng ta càng phải biết tạ ơn nhiều hơn và tạ ơn không ngừng. Tạ ơn phải được lặp đi lặp lại rất nhiều lần như một điệp khúc của bài trường ca vậy!
Tác giả Thánh Vịnh đã tự vấn và tự trả lời: “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho? Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Chúa” (Tv 116 [114-115]:12-13). Tạ ơn Thiên Chúa là bổn phận của chúng ta, việc đó chẳng thêm gì cho Ngài nhưng lại sinh ơn cứu độ cho chính chúng ta. Kỳ diệu quá!
Nói tới động thái tạ ơn, chúng ta có thể nhớ lại chuyện mười người phong hủi, chuyện thật chứ không là dụ ngôn. Cả mười người đều được sạch, nhưng chỉ có một người ngoại bang trở lại tạ ơn Chúa Giêsu (Lc 17:11-19). Như vậy, chắc chắn chín người kia là “đạo gốc”, vô ơn vì có lẽ tưởng mình là “ngon”. Câu chuyện này “nhắc khéo” chúng ta về việc chúng ta thường vô ơn bội nghĩa đối với Thiên Chúa và tha nhân.
Chuyện này cũng phần nào liên quan lời Chúa Giêsu khi Ngài nói về người môn đệ chân chính: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7:21). Có những người nhân danh Chúa mà nói tiên tri, trừ quỷ, làm nhiều phép lạ,... nhưng Chúa Giêsu không hề biết họ: “Xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!” (Mt 7:23). Chúng ta làm những việc mà chúng ta tưởng là “việc đạo đức” nhưng với Chúa thì chỉ là “việc gian ác”. Coi chừng, vì không khéo thì chúng ta có thể ở trong đám người ấy, và nếu như thế thì thật khốn nạn!
Người khiêm nhường biết nhớ ơn là người vui vẻ, không ưu sầu. Tác giả Thánh Vịnh mời gọi: “Nào thiếu nữ Sion, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (Dcr 9:9). Lý do để chúng ta vui mừng rất rõ ràng. Thiên Chúa đến với chúng ta bằng nhiều cách, dạng phổ biến nhất là Hồng Ân, là Thánh Ân của Ngài. Vì thế mà chúng ta không thể không biết tạ ơn Ngài. Ngài còn đến với chúng ta qua từng người chúng ta gặp hằng ngày, và rồi chúng ta cũng phải biết ơn những người chúng ta gặp – dù họ là ai, vì ai cũng có cái để chúng ta học hỏi – đúng để theo, sai để tránh.
Chúng ta tạ ơn Thiên Chúa vì Ngài là Đấng cứu thoát chúng ta khỏi kẻ thù và làm cho chúng ta được an cư lạc nghiệp: “Người sẽ quét sạch chiến xa khỏi Ép-ra-im và chiến mã khỏi Giêrusalem; cung nỏ chiến tranh sẽ bị Người bẻ gãy, và Người sẽ công bố hoà bình cho muôn dân. Người thống trị từ biển này qua biển nọ, từ sông Cả đến tận cùng cõi đất” (Dcr 9:10). Vả lại, “chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban” (Ga 3:27). Vậy thì không tạ ơn sao được chứ?
Điệp khúc Tạ ơn là bài ca nguyện tuyệt vời và cần thiết, phải được lặp đi lặp lại từng ngày trong suốt cuộc đời: “Lạy Thiên Chúa con thờ, là Vua của con, con nguyện tán dương Chúa và chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời. Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa và ca ngợi Thánh Danh muôn thuở muôn đời” (Tv 145:1-2). Thiên Chúa vui lòng thì có lợi cho chúng ta vô cùng. Tuy nhiên, chúc tụng Chúa khi cuộc đời chúng ta xuôi chèo mát mái thì không có gì đáng nói, nhưng thật đáng nói nếu cuộc đời chúng ta luôn gặp trắc trở, số kiếp luôn lận đận, như Thánh Gióp là tấm gương sáng chói. Sau khi bị mất tất cả, từ tài sản tới con cái, bản thân ông cũng bị bệnh tật, mọi người đều xa tránh, nhưng ông vẫn trung tín với Thiên Chúa. Ông xác định: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa!” (G 1:21). Cả đời chúng ta cũng không thể so sánh với một góc nhỏ của Thánh Gióp.
Niềm tin của Thánh Gióp lớn lao quá! Nhưng niềm tin đó không mơ hồ hoặc ảo tưởng, mà hoàn toàn chính xác, như tác giả Thánh Vịnh nói: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương. Chúa nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên. Lạy Chúa, muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ, kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài, nói lên rằng: triều đại Ngài vinh hiển, xưng tụng Ngài là Đấng quyền năng, để nhân loại được tường những chiến công của Chúa, và được biết triều đại Ngài rực rỡ vinh quang” (Tv 145:8-12).
Chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử, Ngài “đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên” (1 Sm 2:6; Kn 16:13), Ngài “bắt phải nghèo và cho giàu có, hạ xuống thấp và nhắc lên cao” (1 Sm 2:6-7). Nghe có vẻ “oải” quá! Không phải vậy đâu. Ngài vẫn “thành tín trong mọi lời Ngài phán, và đầy yêu thương trong mọi việc Ngài làm. Ai quỵ ngã, Ngài đều nâng dậy, kẻ bị đè nén, Ngài cho đứng thẳng lên” (Tv 145:13-14). Tác giả Thánh Vịnh đã trải nghiệm và tạ ơn: “Lạy Chúa, từ âm phủ Ngài đã kéo con lên, tưởng đã xuống mồ mà Ngài thương cứu sống” (Tv 30:4). Đúng là Hồng Ân chồng lên Hồng Ân. Tạ ơn Chúa là điều hoàn toàn hợp lý!
Tuy nhiên, trong cuộc sống chúng ta lại thường xuyên hành động trái ngược, biết mà không làm. Chúa Giêsu cũng đã nhắc nhở: “Tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26:41; Mc 14:38). Thân xác thật nặng nề, nặng hơn đá đeo! Chúng ta vẫn lòng chai dạ đá, chỉ “ưa thích chuyện hư không, chạy theo điều giả dối” (Tv 4:3).
Thánh Phaolô chia sẻ kinh nghiệm: “Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn” (Gl 5:17). Thần Khí Chúa rất quan trọng trong đời sống chúng ta, vì chính Chúa Thánh Thần đã tác động và biến đổi chúng ta, như Thánh Phaolô nói: “Anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có Thần Khí của Đức Kitô thì không thuộc về Đức Kitô” (Rm 8:9).
Thánh Phaolô giải thích cặn kẽ: “Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới. Vậy thưa anh em, chúng ta mang nợ, không phải mang nợ đối với tính xác thịt, để phải sống theo tính xác thịt. Vì nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em thì anh em sẽ được sống” (Rm 8:11-13). Quả thật, chúng ta luôn là “con nợ” của Thiên Chúa và tha nhân. Nhưng con nợ cũng vẫn phải biết ơn, vì mắc nợ cũng là thọ ân vậy.
Hồng Ân lớn nhất mà chúng ta mắc nợ Chúa Giêsu, và phải nhớ mà tạ ơn Ngài, đó là ơn cứu tử của Ngài dành cho chúng ta: “Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10:15). Vâng, chính cái chết của Ngài là Hồng Ân cao cả, không gì sánh bằng, và chẳng bao giờ chúng ta có thể đền ơn đáp nghĩa. Nhưng Ngài không đòi hỏi gì nhiều ở chúng ta, mà Ngài chỉ cần chúng ta biết tin yêu Ngài và tạ ơn Ngài trong mọi hoàn cảnh – dù vui hay buồn, dù sướng hay khổ. Điều kiện có khó gì đâu, thế mà chúng ta vẫn chỉ “hứa lèo”, có máu di truyền của Chú Cuội, hứa nhiều mà giữ chẳng bao nhiêu. Tồi tệ thật đấy!
Chính Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta khi Ngài cất tiếng tạ ơn Chúa Cha: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Mt 11:25-26). Ngài là Sư Phụ hiền lành và khiêm nhường (Mt 11:29) nên Ngài chỉ thích những con người “hèn mọn” mà thôi.
Sau khi dâng lời tạ ơn, Chúa Giêsu cho biết: “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho” (Mt 11:27). Ai khiêm nhường thì Ngài sẽ mặc khải cho những điều bí ẩn. Chắc chắn như vậy. Và Ngài luôn mời gọi mọi người, không trừ ai: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11:28-30).
Thật vậy, ách của Ngài là ách êm ái, gánh của Ngài là gánh nhẹ nhàng. Không ai lại không vất vả và mang gánh nặng nề, không cách này thì cách khác, dù theo nghĩa bóng hoặc nghĩa đen, có nghĩa là không ai lại không cần đến Ngài. Cuộc đời có rất nhiều thứ chúng ta phải “gồng mình” mà chịu đựng, thậm chí có những lúc chúng ta cảm thấy mệt mỏi và hầu như kiệt sức. Cái ách thô ráp và cái gánh nặng trĩu ở đâu cũng có, dù trong gia đình hoặc cộng đồng tu trì. Nhưng có lẽ chúng ta chưa thực sự kề vai vào gánh vác Ách và Gánh của Chúa Giêsu nên chúng ta vẫn thường “than thở” đủ thứ, than trách đủ kiểu. Thế mới biết phàm nhân yếu hèn quá đỗi, vậy mà vẫn “chảnh” lắm, lúc nào cũng chỉ rình nổi loạn mà thôi!
Chúng ta được sinh ra làm người là một đại ân. Được lành lặn và khỏe mạnh là một đại ân nữa. Chúng ta lài được Chúa Giêsu cứu độ, đó là một đặc ân khác. Như vậy, chúc tụng và tạ ơn là một trong các bổn phận hàng đầu mà chúng ta phải thực hiện đối với Thiên Chúa. Có nhiều cách, một cách đơn giản là tránh tội: “Hãy run sợ, và đừng phạm tội nữa, trên giường nằm, suy nghĩ và lặng thinh” (Tv 4:5). Một cách khác cũng đơn giản là ca hát: “Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa” (Ep 5:19).
Ca dao Việt Nam nói: “Ai mà phụ nghĩa quên công / Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm”. Quả thật, lòng biết ơn rất quan trọng, dù chúng ta đang đứng trên đỉnh núi Ta-bor hoặc Can-vê. Dễ tạ ơn khi phấn khởi ở trên Ta-bor, nhưng rất khó tạ ơn khi ủ rũ ở trên Can-vê. Hằng ngày, một lời cảm ơn rất đơn giản nhưng lại rất thường bị lãng quên! Cuộc đời chúng ta là bản “trường ca tạ ơn” vô tận, với ai cũng vậy mà thôi. Trong đó có những “nốt tình” khác nhau về trường độ và cao độ, mỗi “nốt” có vị trí khác nhau nhưng vẫn luôn hài hòa để tạo thành bản tổng phổ hoàn chỉnh.
Lạy Thiên Chúa, chúng con chân thành xin lỗi Ngài vì đã bao lần chúng con vô ơn bội nghĩa với Ngài và với tha nhân. Xin thêm cho chúng con được dồi dào ba đức đối thần và các đức đối nhân để chúng con vui mừng vác thập giá hằng ngày mà theo Đức Kitô lên đỉnh đồi Can-vê. Xin giúp chúng con biết sống chân thành yêu thương nhau để hoàn thiện như Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU

Sống giản dị
Chúa Giêsu nhắc nhở: “Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao? Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay? Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Salômôn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin!” (Mt 6:26-30; Lc 12:24-28).
Sống giản dị là tin tưởng vào Thiên Chúa quan phòng và tiền định, là sống dựa vào những điều cơ bản. Chân thật, tôn trọng, tin tưởng, hạnh phúc và tình bạn là những phương thế giúp chúng ta tập trung vào những điều quan trọng. Xin gợi ý 12 “bí quyết chữ T” khả dĩ giúp chúng ta sống giản dị:
1. Tận hưởng. Tận hưởng cuộc sống là sống tích cực từng khoảnh khắc của cuộc sống. Chúng ta thường nghĩ tới những điều chưa xảy ra, do đó chúng ta quên sống những giây phút hiện tại. Khi tận hưởng cuộc sống, bạn “nhâm nhi” chính hạnh phúc của cuộc sống.
2. Thảnh thơi. Hãy dành thời gian “tháo gỡ” chính mình, “giải nén” chính mình, hoặc đơn giản chỉ là “làm ngơ” những gì gây rắc rối. Cuộc sống luôn phức tạp, đơn giản hóa được càng nhiều càng tốt. Mệt mỏi, căng thẳng và kiệt sức có thể bắt đầu làm bạn chán nản và thất vọng bất cứ lúc nào. Biệt dược hữu nhiệu nhất là nghỉ ngơi. Đó là tự làm cho mình thảnh thơi.
3. Tìm kiếm. Có người tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời trong tôn giáo, có người tìm kiếm mục đích sống trong công việc, các mối quan hệ, nghệ thuật,... Tìm ra mục đích sống quan trọng hơn là hoàn tất một chiến lược nào đó để làm tăng mức hạnh phúc, có mục đích sống sẽ giúp bạn hạnh phúc.
4. Thích thú. Dòng chảy của niềm vui, sự phấn khởi và niềm hạnh phúc xảy ra khi bạn bị thu hút vào các hoạt động mà bạn yêu thích, niềm đam mê rất quan trọng. Hòa nhập vào dòng chảy đó là bạn chìm đắm vào đó, bạn bớt chú ý tới những điều phiền toái khác, thế là bạn hạnh phúc.
5. Thực hiện. Một cách để có được niềm say mê đó là nhận biết và xác định sở trường và các giá trị của mình, rồi hằng ngày cứ “đeo bám” nó. Khi nhận biết sở trường và quyết tâm thực hiện, bạn có thể kết hợp vào mọi lĩnh vực của cuộc sống.
6. Tìm quên. Cũng lỗi lầm, chuyện gì qua hãy cho qua, đừng nuối tiếc. Chúng khiến bạn không thể xác định các giá trị của mình, thế là bạn khó hạnh phúc. Khi sống với quá khứ, bạn bị “kẹt cứng” trong đó, không thể nhúc nhích về phía tương lai. Muốn bỏ lại quãng đời buồn ở phía sau, bạn phải cố gắng sống với hiện tại, chấp nhận những gì thực sự là của mình.
7. Trải nghiệm. Rút kinh nghiệm từ sự thất bại và nuối tiếc là hai điều khác nhau. Nuối tiếc thuộc cảm xúc, một cảm giác thất vọng hoặc xấu hổ vì sai lầm của mình. Nhưng nhìn lại sai lầm để tránh thì lại là điều cần thiết, đó là rút kinh nghiệm.
8. Trách nhiệm. Biết chia sẻ là sống có trách nhiệm. Hãy cho người thân của bạn biết điều bạn muốn đạt được. Chia sẻ cũng giúp bạn an toàn trên đường tới thành công, vì được người khác trợ giúp.
9. Tử tế. Hãy nhường bước và giữ cửa cho người khác bước vô nơi nào đó, hãy xách dùm chiếc giỏ nặng cho người khác, hãy ân cần chào hỏi người khác,... Rất nhiều động thái đơn giản nhưng có giá trị nhân bản, dù chỉ là một ánh mắt thiện cảm hoặc một nụ cười. Tử tế là điều cần thiết trong cuộc sống.
10. Thông cảm. Nhìn để hiểu biết, để thông cảm. Nhờ đó mà biết lắng nghe. Lắng nghe chứ không chỉ trích hoặc chê trách. Hãy cố gắng tránh mọi động thái kiêu căng để có thể lắng nghe người khác. Biết lắng nghe luôn có lợi hơn nói nhiều: Nói là gieo, nghe là gặt.
11. Tình thương. Hãy thể hiện lòng yêu thương với mọi người. Yêu thương chân thành chứ không giả bộ, lấy lòng. Hãy yêu thương họ như lần cuối bạn thể hiện yêu thương đối với họ. Đừng chần chừ, có thể bạn không còn cơ hội nữa đâu!
12. Tha thứ. Nhân vô thập toàn. Ai cũng mắc sai lầm – có thể là trong quá khứ, trong hiện tại, và thậm chí là trong tương lai. Không ai có thể khó với bạn hơn chính bạn. Hãy tự tha thứ cho mình – và tha thứ cho người khác, nhờ đó bạn có thể nhận ra các giá trị đích thực của mình – và của người khác. Hãy tập trung vào những gì bạn sẽ làm ngày hôm nay, ngay bây giờ, để có thể cảm thấy thoải mái với chính mình. Bạn xứng đáng nhận được những điều tốt lành của cuộc sống, và bạn đủ tư cách được nhận những điều đó.
TRẦM THIÊN THU

 

Thần tượng
Lĩnh vực nào cũng có loại “thần tượng” riêng. Thần tượng là người được ái mộ quá mức. Người ái mộ là người hâm mộ, còn gọi bằng cái tên “lai căng” là fan (người hâm mộ, yêu thích cuồng nhiệt). Họ là những người yêu thích và nhiệt tình ủng hộ một cái gì đó hoặc một người nào đó. Thông thường, người hâm mộ là người dành tình cảm cuồng nhiệt cho các vận động viên thể thao, đặc biệt là môn túc cầu (bóng đá) – đặc biệt là môn túc cầu (bóng đá), và World Cup 2014 lại đang diễn ra sôi nổi tại Brazil, hoặc giới ca sĩ, diễn viên, nghệ sĩ,... những người này trở thành “thần tượng” của một số người nào đó – đa số là giới trẻ. Người hâm mộ có thể thuộc nhiều lứa tuổi và có các biểu hiện khác nhau: Gọi tên, xin chữ ký, treo hình ảnh, bắt chước kiểu tóc, cách trang điểm hoặc cách ăn mặc,...
Trên thế giới, việc tôn thờ thần tượng quá mức rất đa dạng, nhưng có điểm chung là si mê cuồng nhiệt – một dạng hội chứng tâm lý. Các tâm lý gia cho rằng xã hội có các loại hình truyền thông phát triển, sự gần gũi với gia đình và cộng đồng bị giảm sút, các “thần tượng” dần dần thay thế vị trí của người thân, hàng xóm và bạn bè. Một số chuyên gia phương Tây lo ngại việc trẻ em đang tôn thờ thần tượng theo hướng tiêu cực hơn là noi gương theo những điều tốt, có ý kiến cho rằng tôn thờ thần tượng không phải là một hiện tượng mới. Cái mới ở đây là mức độ cảm xúc sâu hơn và đẩy những đứa trẻ vào hội chứng này ở độ tuổi ngày một nhỏ hơn.
Người hâm mộ những ca sĩ chủ yếu là giới trẻ, xét về mặt giới tính đa số người đam mê thần tượng là nữ, thần tượng được si mê đều là nam (như Big Bang, Super Junoir, Bi Rain,…). Cuộc khảo sát tại Trung Quốc năm 2011 cho thấy trong số 10 thần tượng của thanh thiếu niên Trung Quốc chỉ có một người là nữ, vì nữ có ít các hoạt động giải trí khác hơn nam, và trong độ tuổi thanh thiếu niên thì nữ cũng thường bắt đầu có những cảm xúc về tình yêu sớm hơn và nhiều hơn nam, nhưng nam lại duy lý hơn nên có vẻ như ít cuồng si thần tượng hơn.
Tại Hàn quốc, các fan cuồng được gọi là “sasaeng fan”, một con số rất nhiều người trẻ. Sasaeng fan cũng cạnh tranh ngầm với nhau. Họ thường xuyên vào blog của nhau để kiểm tra xem sasaeng fan nào có nhiều “ảnh độc” hoặc có góc chụp ảnh thần tượng hay hơn. Sasaeng fan thường ngủ qua đêm tại vỉa hè hoặc phòng vi tính. Thậm chí một số còn trở thành người vô gia cư khi bỏ học, bỏ nhà, lang thang theo bước chân thần tượng.
Tại Trung Quốc, có trường hợp cô gái Dương Lệ Quyên mê diễn viên Lưu Đức Hoa đến điên cuồng. Cô gái này đã hâm mộ thần tượng Lưu Đức Hoa suốt 13 năm, chỉ mong ước gặp được thần tượng. Gia đình cô đã bán hết nhà cửa, thậm chí vay tiền, để lo cho con đi Hong Kong gặp thần tượng, cha cô còn định bán thận để có tiền cho con!
Tại Hoa Kỳ, ca sĩ Rihanna bị bạn trai đánh, bạn trai là ca sĩ Chris Brown (nhạc R&B). Tuy nhiên, các fan trung thành với Chris Brown lại ủng hộ thần tượng của mình, đã có những phụ nữ nêu ý kiến bảo vệ hành động của Chris Brown, nói rằng họ sẽ cho anh ta đánh mình bất cứ lúc nào. Một số fan thậm chí còn bày tỏ khát khao được chàng ca sĩ này đánh. Đúng là lũ điên!
Tại Việt Nam cũng có các fan hâm mộ cuồng nhiệt đối với các diễn viên, ca sĩ quốc ngoại hoặc quốc nội. Để bám theo thần tượng, nhiều bạn trẻ đã không ngại bỏ học, bỏ thời gian, bỏ công sức, thậm chí chấp nhận “bán hoa”, để có tiền rồi tận tâm tận lực đi theo thần tượng, họ không cần nhận được gì. Thậm chí còn có trường hợp ái mộ đến mức đưa thần tượng lên bàn thờ, có cả nhang đèn thắp thường xuyên.
Nhiều bạn trẻ tìm mọi cách vòi vĩnh cha mẹ, thậm chí đòi chết, để có vé hoặc được ra phi trường chầu chực để được một lần trông thấy thần tượng. Nhiều bạn bỏ học, bỏ thời gian, nhịn đói chỉ để chờ đợi thấy thần tượng rồi bật khóc, ngất xỉu, gây rối loạn trật tự. Họ không ngại bỏ tiền thuê xe chạy theo xe thần tượng đến tận khách sạn rồi chầu chực bên ngoài chỉ để hy vọng một lúc nào đó thần tượng đi ngang qua để… nhìn thấy một lần. Nhiều fan thức đến nửa đêm chầu chực ngoài sân bay mong nhìn được thần tượng, khi họ không thấy được thần tượng thì khóc lóc sụt sùi. Họ có thể nhịn ăn nhịn mặc để mua những chiếc vé “chợ đen” giá vài triệu đồng để được đi xem thần tượng, bất chấp trời nắng hay mưa, sẵn sàng đứng chờ cả nửa ngày trời để hy vọng gặp được thần tượng. Các fan Việt Nam bất cần mọi thứ, thậm chí khóc lóc vô cớ, nhất là những cô gái rất trẻ cố bám theo xe thần tượng, chạm tay vào kính xe rồi khóc lóc vật vã.
Đặc biệt hơn, một số fan cuồng ở Hà Nội xúm nhau ngửi và hôn lên chiếc ghế thần tượng đã ngồi, họ coi đó là việc làm “độc nhất vô nhị” trên thế giới. Thậm chí một số fan cuồng còn sẵn sàng chấp nhận “cuộc tình một đêm” để có được tấm vé vào xem thần tượng biểu diễn. Tồi tệ thật!
Một số ý kiến cho rằng, việc gào thét, khóc lóc khi thấy thần tượng không phải là hành vi vốn có của thanh thiếu niên Việt Nam mà là sự bắt chước, theo đuôi giới thanh thiếu niên Nhật Bản, Hàn Quốc và do hiệu ứng của các phương tiện truyền thông đại chúng và đặc biệt là Internet làm nên nền văn hóa cuồng si thần tượng trong giới thanh thiếu niên hiện nay ở Việt Nam.
Yêu mến một ca sĩ, diễn viên,... nào đó không phải là xấu, nhưng nếu quá đà, không biết kiềm chế thì xấu. Nếu gia đình và xã hội không thực sự nghiêm túc trong vấn đề định hướng suy nghĩ của giới trẻ về vấn đề thần tượng thì nguy hiểm. Đó là “cơn mê tập thể” thực sự độc hại!
Cáu cầu thủ túc cầu cũng là một lĩnh vực được người ta cuồng nhiệt, đặc biệt là World Cup đang diễn ra tại Brazil. Tại thị trấn Rotte River, nơi sinh của cầu thủ Robin van Persie, người ta sẽ tạc một bức tượng mô tả hình ảnh anh đánh đầu vào lưới Tây Ban Nha. Người dân ở thị trấn này rất tự hào về “chân sút” của cầu thủ 30 tuổi này. Persie đã đánh đầu kỹ thuật và làm tung lưới Tây Ban Nha. Một pha bóng điển hình cho hình tượng “Người Hà Lan Bay”.
Trận gặp Tây Ban Nha, Persie lập một cú đúp, trong đó có “siêu phẩm bằng đầu”, giúp “cơn lốc màu da cam” lội ngược dòng hủy diệt nhà đương kim vô địch thế giới với tỷ số 5-1. Với cú đúp này, Persie không chỉ có “khởi đầu như mơ” tại Brazil 2014 mà còn đi vào lịch sử bóng đá Hà Lan với tư cách là cầu thủ ghi bàn ở ba kỳ World Cup liên tiếp.
Còn bạn, thần tượng của bạn là ai? Có thể nói rằng tôi chưa hề thần tượng bất kỳ ai. Theo tôi, khi chúng ta thần tượng người khác là chúng ta tự đánh mất chính mình, là thiếu bản lĩnh, là mù quáng, là ngu xuẩn, là “tự sát”. Cái gì hay thì nên theo, người nào giỏi thì nên học hỏi, đó là điều cần thiết và hợp lý, nhưng đừng bao giờ thần tượng bất kỳ một thứ gì hoặc người nào.
Lý do cũng đơn giản. Thần tượng không là thần thánh, chỉ là con người với nhiều lỗi lầm, thậm chí là xì-căng-đan (scandal) tày trời, chẳng ai biết ngày mai ra sao, và thực tế đã cho thấy rõ. Bạn thần tượng ai đó mà thần tượng sụp đổ thì bạn cảm thấy thất vọng, thậm chí là tuyệt vọng. Vậy có dại dột không, có ngu xuẩn không?
Theo Journer de Net, một ngôi sao có thể sáng mãi trong lòng giới trẻ bắt buộc phải là người chân thành, thông minhđộ lượng. Tài năng và sắc đẹp được xếp vào hàng thứ yếu. Vì vậy giới trẻ có thể mở rộng lĩnh vực chọn thần tượng. Đó có thể là một doanh nhân trẻ thành đạt, một cây bút bình luận những vấn đề xã hội hay một chính trị gia sắc sảo. Rất cần có cách định hướng từ gia đình và xã hội. Tôn vinh nhưng không mù quáng.
Một trong Mười Điều Răn (Xh 20: 1-17; Đnl 5:1-33), Thiên Chúa đã truyền lệnh: “Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta”. Quả thật, chỉ có Thiên Chúa độc nhất là người chúng ta phải tôn thờ, vì Ngài tạo dựng nên chúng ta và bao cho chúng ta mọi thứ. Trong đó, Thiên Chúa còn nói rõ chi tiết: “Ngươi không được dùng danh ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi một cách bất xứng, vì Thiên Chúa không dung tha kẻ dùng danh Người một cách bất xứng” (Đnl 5:11).
Chúa Giêsu mới thực sự là Thần Tượng của chúng ta. Ngài làm được mọi thứ, nhưng người ta không nhận Ngài là Thần Tượng, mà người ta lại giết Ngài chết thể thảm! Quả thật, chỉ có Thiên Chúa mới là Thần Tượng của chúng ta. Đó phải là tâm niệm của chúng ta.
Thánh Phaolô nói: “Mặc dầu người ta cho là có những thần ở trên trời hay dưới đất, quả thực, thần cũng lắm mà chúa cũng nhiều, nhưng đối với chúng ta, chỉ có một Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo thành vạn vật và là cùng đích của chúng ta; và cũng chỉ có một Chúa là Đức Giêsu Kitô, nhờ Người mà vạn vật được tạo thành, và nhờ Người mà chúng ta được hiện hữu” (1 Cr 8:5-6).
Thần tượng cái gì hoặc người nào cũng là một dạng thờ ngẫu tượng, trái ngược với Công giáo. Hãy cẩn trọng!
Lạy Chúa, xin dạy con đường lối thánh chỉ, con nguyện đi theo mãi đến cùng. Xin cho con được trí thông minh để vâng theo luật Ngài và hết lòng tuân giữ (Tv 119:33-34).
TRẦM THIÊN THU

 

Tự do tôn giáo có lợi gì?
Tự do tôn giáo quan trọng vì nó dẫn tới sự thịnh vượng kinh tế, và điều này có thể đánh vào một số vấn đề phi luân lý một cách vô ích. Nhưng chúng ta không nên bối rối vì các mối lợi hạn hẹp gây ra hệ lụy luân lý đó.
Ngày 13-3-2014, tuần báo Công giáo Asia News đã công bố cuộc phỏng vấn Brian Grim, người đã nhiều năm là trưởng Cơ sở Dữ liệu Quốc gia cho Trung tâm Nghiên cứu Pew về Dự án Cộng đồng và Tự do Tôn giáo, nay là chủ tịch Tổ chức Tự do Tôn giáo và Kinh doanh. Grim là một trong các nhà nhân khẩu học uy tín nhất trên thế giới. Hỏi ông về số Phật tử ở Venezuela, ông cho biết có khá nhiều. Khác với các tôn giáo khác, một trong các lĩnh vực chuyên môn của Grim là vấn đề tự do tôn giáo ở các nơi trên thế giới.
Một dịp phỏng vấn là vụ tàn sát vào ngày 1 tháng Ba ở nhà ga xe lửa tại TP Kunming (Côn Mình, thường gọi là Xuân Thành – thành phố mùa Xuân), thuộc miền Nam Trung quốc, có 29 người tử vong và thương vong. Mặc dù Kunming cách xa tỉnh Tân Cương (Xijiang), thuộc Tây Bắc, nơi có những vụ khủng bố bởi người Uighur (Duy Ngô Nhĩ, khu tự trị), một dân tộc thiểu số theo Hồi giáo, nói tiếng Turkic. Chính pgủ Trung quốc liền đổ tội cho người Uighur về vụ này, có thể với chút biện hộ nào đó. Có những vụ di dân lớn của người thiểu số Trung quốc tới tỉnh này, nơi người Uighur bản xứ chiếm gần 50%. Bất kỳ phong trào nào không ủng hộ quyền tự trị của người Uighur đều bị ngăn chặn.
Ở đây Grim muốn ủng hộ tự do tôn giáo, nhưng ông không là chuyên gia nếu ông không dùng dịp này để nhấn mạnh rằng Trung quốc là một quốc gia rất đa nguyên về tôn giáo. Đa số người Trung quốc được coi là người theo “đạo thờ ông bà”, một số khác theo Lão giáo và thờ đa thần (chẳng hạn, Thần Bếp – Táo quân). Chính thức có 244 triệu Phật tử (cũng không chắc, vì có nhiều tín ngưỡng từ các truyền thống khác – Điều Răn thứ nhất trong Mười Điều Răn chưa bao giờ có ở Trung quốc). Chính thức có 68 triệu Kitô hữu và 25 triệu tín đồ Hồi giáo. Hồi giáo có thể hơn cùng với người Uighur. Kitô hữu chắc chắn hơn nhiều – đa số mức tăng nhiều là các tín hữu thuộc Kitô giáo, dù không chính thức hoặ bất hợp pháp, do đó mà khó ước tính chính xác.
Quan điểm chính của Grim cho rằng tự do tôn giáo là yếu tố quan trọng để kết hợp xã hội hỗn tạp này – và như vậy là cung cấp các điều kiện xã hội để thành công về kinh tế: “Tôi không nói rằng tự do tôn giáo là điều làm cho kinh tế thành tựu, nhưng nếu hạn chế một cách khắc nghiệt về tôn giáo và các vấn đề khác (như trong thời Cách Mạng Văn Hóa), mức thành công mà chúng ta thấy ngày nay sẽ không đạt được”.
Chế độ này vẫn hà khắc với tôn giáo. Lý thuyết chính vẫn là chủ nghĩa vô thần Mác-xít (Đảng Cộng Sản vẫn coi trọng). Chế độ này có một số vấn đề về tôn giáo – Phật giáo vì Tây Tạng (Tibet), Hồi giáo vì Xinjiang – nhưng đảng vẫn được chuẩn bị để thừa nhận rằng tôn giáo có thể là yếu tố tích cực đối với việc hiện đại hóa và phát triển – nhất là Kitô giáo. Vài năm trước, khi tôi thăm Tổ chức Quốc Gia Quản Lý Các Vấn Ðề Tôn Giáo (State Administration of Religious Affairs – SARA) tại Bắc Kinh, tôi ngạc nhiên khi nghe chủ tọa nói về Max Weber (Maximilian Carl Emil Weber, 1864-1920, nhà kinh tế chính trị và xã hội người Đức, được coi là một trong bốn người sáng lập ngành xã hội học và quản trị công đương đại). Tôi nghĩ rằng ngày nay chính sách của chế độ này đối với tôn giáo (dù khác nhau tùy vùng và thất thường) không nặng tính Mác-xít bằng Nho giáo. Điểm chính trị chính là trật tự bình an. Mục đích ngầm, ngày nay thường trích dẫn nguyên văn, là “xã hội hài hòa” – quy luật cốt lõi của triết lý chính trị Nho giáo. Nếu chính phủ cẩn thận và sáng suốt thì có thể biết chắn rằng tôn giáo phục vụ sự hài hòa hơn là sự mất trật tự.
Điều này có nguồn ốc thực tế (quy luật “nếu bạn sẽ”, quy luật Machiavellian). Các quan chức của thời kỳ Đế quốc La mã, hoặc thời kỳ thuộc địa Anh (British Raj) tại Ấn Độ, có thể thoải mái với điều đó. Dĩ nhiên không có gì để xử lý với sự thật về một tôn giáo. Phong-xi-ô Phi-la-tô nói rõ điều đó khi xử án Chúa Giêsu, ông ta hỏi: “Sự thật là gì?” (Ga 18:38). Brian Grim là một tín hữu quan tâm vấn đề tự do tôn giáo. Nhưng ông đồng ý với Nho giáo ở đây. Có thể vì vấn đề là Trung quốc, có thể ông thực sự nghĩ về thính giả quan tâm Nho giáo. Thật vậy, trong một bài giảng thuyết tại Đại học Renmin nói về thời gian gặp tổ chức SARA, tôi cũng đồng ý tương  tự về Nho giáo, không chỉ về vấn đề tự do tôn giáo mà còn về nhân quyền (nói chung).
Tôi nghĩ rằng một thỏa hiệp sâu sắc về tự do tôn giáo nằm trong các tài liệu quan trọng nhất của Công đồng Vatican II, tuyên ngôn Dignitatis Humanae (tuyên ngôn về tự do tôn giáo được Đại Hội Đồng biểu quyết ngày 7-12-1965 với 2208 phiếu thuận và 70 phiếu chống, triều đại ĐGH Phaolô VI), trực tiếp liên kết sự tự do tôn giáo với việc không vi phạm nhân phẩm. Mọi người hiện hữu trên thế giới đầy bí ẩn và sự lạ này, do đó họ có quyền đối chất với thực tế một cách tự do, không bọ áp bức.
Người ta có thể tin vào lý do sâu xa nhất hành động, và công khai trao cho người khác, thực tế hơn, các lý lẽ về hành động như vậy? Vì Max Weber được đề cập, hãy để tôi nói tới sự phân biệt của ông giữa đạo đức của thái độ và đạo đức của trách nhiệm: Cái trước được hướng dẫn bằng quy luật, các sau được hướng dẫn bằng kết quả. Chính “ơn gọi chính trị” theo cái trước chứ không theo cái sau. Mục đích của chính trị không là “nói thật với quyền lực”, mà là đạt được kết quả đặc biệt (nên là luân lý). Sau giữa thập niên 1980, đại đa số cộng đồng kinh doanh Nam Phi, kể cá các khu nói tiếng Afrikaan (tiếng Hà Lan pha tạp được dân Nam Phi sử dụng), đều quyết định rằng chế độ phân biệt chủng tộc phải “ra đi”. Nhiều người tin rằng điều này nằm ngoài cảm thức tội lỗi về luân lý (trường hợp đáng khâm phục là trường hợp Harry Oppenheimer, một nhà tài phiệt về mỏ, người chống lại chế độ phân biên chủng tộc ngay từ đầu, vì ông tin chắc rằng đó là sai lầm về luân lý, một sự vi phạm nhân phẩm không thể chấp nhận). Nhưng nhiều người vẫn chống lại việc đào tạo chống phân biệt chủng tộc hồi cuối thập niên 1980, điều này không được thuyết phục. Các bài giảng của ĐGM Desmond Mpilo Tutu (sinh ngày 7-10-1931, Nam Phi, nhận Giải Nobel Hòa Bình năm 1984) kết luận rằng, nếu không dừng lại, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc sẽ hoàn toàn làm suy sụp kinh tế (kể cả việc công việc riêng). Bất kỳ động lực nào cũng có thể chiến thắng lớn về luân lý.
Tôi nghĩ chúng ta không nên xin lỗi về việc thỏa hiệp với Nho giáo về vấn đề tự do tôn giáo. Dĩ nhiên đáng mong ước nếu có nhiều người dám lên án tội về luân lý chứ không vui thích. Nhưng chúng ta không nên quá bối rối nếu điều đó sinh ra hệ quả đáng mong ước về luân lý.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ the-american-interest.com)

 

Do Thái giáo
Bạn đã nghe nói nhiều về Do Thái giáo (יהודה, Yehudah), thế nhưng bạn đã biết gì về Do Thái giáo chưa?
Hình: Đồ dùng trong các nghi thức Do Thái giáo (theo chiều kim đồng hồ, từ trên xuống – trừ biểu tượng Do Thái giáo là ngôi-sao-sáu-cánh): Chân nến Shabbat, chén rửa tay trong nghi lễ, sách Chumash và sách Phúc Âm, cây trỏ sách Cựu Ước (Torah – Ngũ Thư Kinh Thánh), kèn làm bằng sừng cừu (shofar), và hộp trái chanh (etrog).
Do Thái giáo là một tín ngưỡng, triết lý và lối sống của dân Do Thái. Do Thái giáo không là tôn giáo tương ứng và bao gồm nhiều nguồn và nhiều quan điểm. Trong thời đại của chúng ta, điều đó dạy chúng ta về dạng khác nhau của các tôn giáo để chúng ta có thể biết các thói quen, truyền thống và niềm tin. Như vậy, chúng ta hãy tìm hiểu về Do Thái giáo.
1. Chính đáng – Kosher (chính đáng) không có nghĩa là “được rabbi chúc lành” (rabbi là giáo sĩ Do Thái). Cũng như các tín đồ của tôn giáo này, người Do Thái có truyền thống đọc kinh trước khi ăn, biết nguồn thánh của mọi thứ, và tính thánh của các hành động. Nhưng điều đó không có nghĩa là làm cho thực phẩm thành chính đáng.
Theo truyền thống Do Thái, kosher nghĩa là “thích hợp để sử dụng”. Về trường hợp thực phẩm, nó có nghĩa là ăn uống theo nguồn gốc Kinh Thánh, đòi hỏi người ta ăn uống với lòng kính trọng, và nhận thức rằng có sự liên kết giữa cái chúng ta cho vô miệng và cách chúng ta làm.
2. Nối kết tâm linh – Do Thái giáo không phải là người Do Thái, đó là sự nối kết tâm linh trong việc làm người tốt. Ađam và Eva không là người Do Thái, họ là hai người cố gắng sống tốt. Tín đồ Do Thái giáo tin rằng mọi người đều có sự nối kết tâm linh với tín ngưỡng của họ và niềm tin của họ hướng dẫn họ suốt đời.
3. Không có giáo hoàng Do Thái – Không có quyền tinh thần đối với các tín đồ Do Thái giáo. Mọi tín đồ Do Thái giáo đều bình đẳng về tâm linh. Do Thái giáo không bầu chọn hoặc chỉ định ai làm người lãnh đạo tinh thần vì họ tin rằng không ai “Do Thái giáo” hơn bất kỳ ai.
4. Ơn cứu độ – Các tín đồ Do Thái giáo thường quan tâm “ơn cứu độ” theo ý nghĩa Kitô giáo. Điều này ít được quan tâm đối với người Do Thái. Tín đồ Do Thái giáo tin rằng Thiên Chúa là thẩm phán duy nhất. Mối quan tâm chính của họ là sống tốt ở đời này và họ sẽ về với Thiên Chúa – nếu có đời sau.
5. Lịch sử Kinh Thánh – Tín đồ Do Thái giáo không đọc Kinh Thánh theo nghĩa lịch sử, họ không làm vậy từ thời Chúa Giêsu và có thể cả các thế kỷ trước. Các chương đầu của sách Sáng Thế mang nghĩa tâm linh và biểu tượng, chứ không theo nghĩa đen.
6. Kinh Thánh không là câu trả lời cuối cùng – Tín đồ Do Thái giáo không tin Kinh Thánh có giá trị về niềm tin và sống niềm tin đó. Truyền thống hiểu Kinh Thánh được diễn tả bằng sự đồng tâm nhất trí của cộng đồng Do Thái hướng dẫn ý nghĩa. Do Thái giáo tin rằng không phàm nhân nào có quyền hoặc có khả năng quyết định ý nghĩa mà không được hướng dẫn. “Quyền tối thượng” trong Do Thái giáo là phán đoán tập thể hợp lý của con người.
7. Hannukah không quan trọng – Nhiều người không nhận biết rằng lễ Hannaukah (1) không quan trọng bằng lễ Rosh Hashana, lễ Vượt Qua, hoặc lễ Shaviot. Tất cả các ngày nghỉ lễ được đề cập trong sách Torah, lễ Hannukah là ngày nghỉ lễ được các rabbi thêm vào để tưởng nhớ cuộc chiến thắng quân Syrian Greeks và sự lạ dầu cháy lâu hơn họ tưởng.
8. Thiên đàng – Tín đồ Do Thái giáo không tin rằng người ta phải là người Do Thái mới được vào Thiên Đàng. Một câu châm ngôn cổ trong sách Talmud (2) nói rằng “những người công chính ủa mọi dân tộc đều có vị trí trong Cuộc Sống Mai Sau”. Nghĩa là bất kỳ ai, có niềm tin hay không, đều có thể “được cứu độ” nếu Thiên Chúa chấp nhận họ là “công chính” – và chỉ có Thiên Chúa có thể làm như vậy.
9. Do Thái cứu tinh – Không có những điều như “Do Thái cứu tinh”. Người Do Thái nào tin Chúa Giêsu thì được gọi là “Kitô hữu”. Có một số người tin rằng người Do Thái phải hold, nhưng có một số người bị cấm; và niềm tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô (khái niệm không như Đấng Mêsia của Do Thái giáo) là một niềm tin mà thôi, vì nhiều lý do.
10. Dân Do Thái – Không có “chủng tộc” Do Thái. Có các cộng đồng người Do Thái gốc Trung Hoa, người Do Thái gốc Ấn Độ, người Do Thái gốc gốc Phi châu, người Do Thái gốc gốc Ả Rập, và người Do Thái gốc Ba Tư,… trở lại từ các thế kỷ qua, và có rất nhiều con cháu (theo nghĩa đen) của Tổ phụ Ápbraham không là người Do Thái.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ beliefnet.com)
(1) Lễ hội truyền thống kéo dài tám ngày của dân tộc Do Thái. Lễ hội bắt đầu vào ngày thứ 25 của tháng Kislev, vốn có thể rơi vào bất kỳ lúc nào giữa tháng 11 đến cuối tháng 12. Hanukkah còn có tên gọi là Lễ hội Ánh sáng. Đặc điểm nổi bật của lễ hội là người dân sẽ thắp một ngọn đèn vào mỗi đêm của lễ hội, cho đến đêm thứ 8 sẽ có 8 ngọn đèn được thắp sáng. Hanukka trong tiếng Do Thái có nghĩa là "dâng tặng", đánh dấu ngày người dân Do Thái giành lại Jerusalem và Ngôi đền thiêng từ tay vương quốc Seleukos vào năm 168 trước công nguyên.
(2) Talmud nghĩa là giảng dạy, học tập, nghiên cứu. Đây là văn bản chính của Do Thái giáo.

DongCongNet - July 23, 2014

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)