Chay: bài vở Trầm Thiên Thu

Mùa chay 2020

 

BẪY ĐỜI

Bốn Mươi Ngày Ăn Chay Và Khấn Nguyện
Trọn Cuộc Sống Biến Đổi Để Hoàn Lương

Cuộc đời luôn có nhiều thứ cạm bẫy, loại nào cũng nguy hiểm, mặc dù có vẻ rất bình thường: Tiền tài, danh vọng, chức tước, địa vị, quyền hành, nhục dục,... Đa dạng cạm bẫy, đủ thứ mưu ma chước quỷ. Cái bẫy tinh vi là sự cám dỗ.
Cái gì cũng có nguyên nhân, nguồn gốc, hoặc xuất xứ. Có thể nói rằng cám dỗ đến từ ánh mắt. Con mắt là cửa sổ tâm hồn, nhưng cũng chính cái “cửa sổ” ấy có thể khiến người ta gặp nguy hiểm, thậm chí nó có thể khiến chúng ta “trắng tay” – nghĩa đen và nghĩa bóng, dẫn tới chốn diệt vong đời đời.

Chúa Giêsu nói rằng con mắt là đèn của thân thể, mắt sáng thì toàn thân cũng sáng, mắt xấu thì toàn thân cũng tối. (x. Mt 6:22; Lc 11:34) Quả thật, mắt là “đầu mối” của tham-sân-si. Chỉ vì nhìn không khéo mà bị người khác cho là “nhìn đểu,” thế là xảy ra cãi vã, ẩu đả, thậm chí là án mạng. Xã hội ngày nay có những vụ án mạng rất lãng nhách, từ chuyện chẳng đáng gì.

Chuyện cám dỗ cũng tương tự. Nói theo ngôn ngữ bình dân, cám dỗ là “dụ khị” hoặc lừa dối. Người cám dỗ sử dụng động thái hoặc lời đường mật khiến người khác mắc lừa mà sa ngã. Vật cám dỗ không dụ dỗ nhưng nó có ma lực khiến người ta mắc bẫy hoặc “chết” mà không biết. Tất nhiên, các chước cám dỗ cũng có những mức độ khác nhau, và lúc nào cũng có – dù ngày hay đêm. Chỉ lơ là một chút thôi sẽ “sập bẫy” ngay. Cám dỗ rất tinh vi, có khi khó nhận ra, đến khi biết thì... muộn mất rồi!

Chiến đấu với cơn cám dỗ là chiến đấu với ba thù, ma quỷ và thế gian dễ tránh hơn chính mình – “nội gián” đáng sợ, và là cuộc chiến cam go nhất. Tuy nhiên, vẫn phải cảnh giác cao độ vì ma quỷ không bao giờ nghỉ ngơi, luôn rình rập. Thánh Lê-ô Cả nói: “Tên cám dỗ lúc nào cũng tỉnh táo, khai chiến thật dữ dội để chống lại những người hắn thấy rất cẩn trọng tránh tội.” Cái gì cũng có nguyên nhân, sập bẫy cũng vậy: con chuột sập bẫy chỉ vì tham miếng ăn. Còn con người, tại sao bị sập bẫy đời?

1. THIẾU NỖ LỰC
Nỗ lực rất cần thiết, nỗ lực để vượt lên chính mình. Không nỗ lực, không thể thành công. Thánh Phaolô khuyên: “Đừng để ma quỷ thừa cơ lợi dụng!” (Ep 4:26) Ngày xưa, trên hành trình về Miền Đất Hứa ròng rã suốt 40 năm, Dân Chúa đã phải cảnh giác cao độ trước những thứ cám dỗ không ngừng. (x. Đnl 8:7-20) Và chính Chúa Giêsu cũng đã căn dặn: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ.” (Mc 14:38; Lc 22:40; Mt 26:41a) Tại sao? Lý do rất đơn giản: “Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu hèn.” (Mt 26:41b; Mc 14:38) Thật vậy, phàm nhân chỉ là bụi tro, mau tan như hạt sương, rất yếu đuối, bạc nhược và khốn nạn, ấy thế mà lại rất “chảnh,” cứ tưởng mình là “số dzách,” ngang hơn cua bò, có thể “nổi loạn” bất kỳ lúc nào. Ôi, lạy Chúa, thật là kinh khủng!

Chỉ là “ác phẩm của nghệ nhân điêu khắc mà dám chống lại người tạo nên mình. Rõ là gan cóc tía, quá sức liều! Chúng ta không chỉ có Sinh Hồn như cỏ cây (sống và động), có Giác Hồn như động vật (biết đau, biết buồn, biết yêu, biết ghét,…), mà đặc biệt hơn cả là có Linh Hồn, biết lành biết dữ. Triết học cũng phải công nhận rằng “con người là sinh vật cao cấp nhất” trong các loài. Nhờ linh hồn mà con người trở nên “cao cấp,” mà chính linh hồn đó là tặng phẩm vô giá mà Thiên Chúa trao ban cho chúng ta: “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” (St 2:7) Ngài là Thiên Chúa duy nhất, không có thần linh nào quyền năng như vậy, mà có là thần linh thì cũng vẫn là thụ tạo của Ngài.

Thiên Chúa hoàn tất mọi thứ rồi mới tạo dựng con người, Ngài chuẩn bị mọi thứ để cho con người tận hưởng. Ngài trồng một vườn cây ở Ê-đen (Vườn Địa Đàng, Thiên Thai) ở phía Đông, rồi Ngài đặt vào đó chính con người mà Ngài tạo nên. Ngài khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn, là cây cho biết điều thiện và điều ác. Ngài tạo dựng con người có hai giới tính: nam và nữ. Họ không chỉ được tận hưởng mọi thứ và có quyền trên mọi loài khác, mà họ còn được tận hưởng niềm hạnh phúc do kết hợp âm dương, và đó cũng là cách cân bằng giới tính. Vậy mà con người vẫn chưa thỏa mãn, vẫn ham hố, tham lam, tranh giành, và tìm cách nổi loạn.

Loài rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật mà Thiên Chúa đã làm ra. Nó là hiện thân loài quỷ dữ. Nó ghen ăn tức ở với con người, thế nên nó “dụ khị” người đàn bà: “Có thật Thiên Chúa bảo các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?” (St 3:1) Người đàn bà thản nhiên nói với con rắn: “Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn. Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: ‘Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết.” (St 3:2-3) Con rắn thẳng thắn nói với người đàn bà: “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.” (St 3:4-5) Thật là ranh ma, quỷ quyệt! Nói ngọt như mía lùi như thế nên nghe lọt tận xương. Và điều gì sẽ xảy ra thì cũng đã xảy ra như một hệ lụy tất yếu.

Có lẽ thực sự có lý khi người ta bảo “gái tai, trai mắt.” Đàn ông là sóng cồn, còn phụ nữ là sóng ngầm nên khó tránh hơn. Cuộc đời có sự-cám-dỗ-dây-chuyền: Ma quỷ è Đàn bà è Đàn ông. Eva “chết” vì lời đường mật của ác quỷ, Ađam “chết giấc” vì lời năn nỉ của người đẹp Eva, (St 3) Samson “xiêu lòng” vì lời nỉ non của ác phụ Đalila. (x. Tl 16:4-21) Thật là “rợn tóc gáy” khi Kinh Thánh cho biết điều này: “Không vết thương nào sánh nổi vết thương lòng, không sự dữ nào bằng sự dữ do đàn bà gây nên, không độc ác nào bằng độc ác của người phụ nữ.” (Hc 25:13)

Nghe con rắn xúi giục rất bùi tai, lại nhìn thấy trái cây có vẻ ngon lắm, bà Eva không thể kềm lòng nên hái ăn ngay. Ăn thấy ngon, bà đưa cho chồng. Ông Ađam nghe vợ năn nỉ ỉ ôi quá nên cũng ăn cho vợ vừa lòng. Trái đó nhìn rất bắt mắt, nhưng ăn trái đó rồi thì bà “khôn ra” thật. Và rồi y như rằng, mắt cả hai người mở ra tròn vành vạnh, sáng như đèn cao áp, họ mới giật thót và bỗng dưng thấy mắc cỡ vì nhận biết mình trần truồng. Đúng là khôn hẳn ra. Cái miệng hại cái thân. Muộn mất rồi! Họ hết hồn hết vía, luýnh quýnh chạy đi lấy lá vả kết làm khố che thân. Đoạn phim thú vị thật, có lẽ đây là đoạn phim độc nhất vô nhị và hay nhất từ thuở hồng hoang cho tới kỳ tận thế chăng? Rất có thể như vậy.

Mệnh danh là “mẹ của chúng sinh,” (St 3:20) bà Eva là Bà Tổ. Bà có cái nickname đó là do chính ông Ađam đặt cho, có lẽ ông đề cao vợ quá nên mới đề cao bà xã như vậy. Chúng ta là hậu duệ nên cũng bị “di truyền” gen ác nghiệt là Tội Nguyên Tổ. Cũng đành chịu vậy thôi, bởi vì tội lỗi cũng có tính liên đới: cha mẹ phạm tội thì con cái cũng chịu hậu quả. (Ed 18:5-13) Ngoài tình trạng di truyền, hằng ngày chúng ta còn dám liều mình “coi trời bằng nắp bia” nên phạm tội cứ như tằm ăn dâu vậy. Khiếp thật! Và cũng vì thế mà chúng ta phải đêm ngày thú tội và hết lòng van xin: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài. Như vậy, Ngài thật công bình khi tuyên án, liêm chính khi xét xử.” (Tv 51:3-6) Quả thật, “lỗi tại tôi mọi đàng” chứ chẳng dính líu tới ai!

Cuộc đời con người cũng như máy móc, cứ phải tân trang nhiều lần – hết tiểu tu, trung tu, rồi đại tu, thế mà vẫn xục xịch. Chúng ta cứ hứa rồi quên, quyết tâm chừa rồi lại tái phạm. Trái tim của chúng ta cứ sửa tới sửa lui, rửa bằng đủ loại thuốc tẩy mà vẫn không ổn. Chán lắm! Chỉ có Chúa mới có thể điều chỉnh nó. Do đó, chúng ta vẫn phải kiên trì mà năn nỉ Ngài: “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ. Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài. Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con.” (Tv 51:12-14) Chỉ có vậy mới hy vọng được cứu độ. Và chắc hẳn ai cũng chỉ mơ ước được như vậy, đó là mục đích nhắm tới mà cố gắng ‘’sửa chữa” không ngừng.

Hằng ngày, trong các giờ kinh nhật tụng, Giáo Hội vẫn cầu xin: “Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con, cho con cất tiếng ngợi khen Ngài.” (Tv 51:17) Mỗi chúng ta cũng phải cầu xin như vậy, nhất là mỗi sớm mai, thức dậy và khởi đầu một ngày mới với nhiều thứ phải chiến đấu.

2. THIẾU CAN ĐẢM
Can đảm là dám đương đầu với mọi thử thách. Rất cần can đảm. Người can đảm cũng là người tự tin, nhưng phải cậy nhờ ơn Chúa chứ không thể ỷ lại vào sức mình. Ngày xưa, Napoléon Đại Đế là người đã từng chinh Nam phạt Bắc thế mà còn phải thốt lên: “Chiến thắng một đạo quân còn dễ hơn chiến thắng chính mình.” Thánh Phaolô cũng đã thú nhận: “Tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm.” (Rm 7:15) Thật vậy, không ai có thể nói khôn. Chưa bị cám dỗ thì chưa thể nói mình hay hoặc mạnh. Chưa có dịp phạm tội thì đừng vội tưởng mình đạo đức. Có cơn cám dỗ mà không chiều theo nó thì mới là người hay, người giỏi, đạo đức, thánh thiện – đặc biệt là khi chỉ có một mình. Đừng vội trách những người phạm tội. Chúng ta PHẢI ghét tội và cương quyết chống lại tội chứ KHÔNG GHÉT người sai lầm, tội lỗi.

Sự can đảm (dũng cảm, dũng khí) càng cần hơn trong hành trình sám hối Mùa Chay, Giáo Hội nhắc nhở chúng ta về cách so sánh của Thánh Phaolô: “Vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội. Trước khi có Lề Luật, đã có tội lỗi ở trần gian. Nhưng nếu không có Luật, thì tội không bị kể là tội. Thế mà, từ thời Ađam đến thời Môsê, sự chết đã thống trị cả những người đã không phạm tội bất tuân lệnh Thiên Chúa như Ađam đã phạm. Ađam là hình ảnh Đấng sẽ tới.” (Rm 5:12-14) Can đảm để vươn lên, trước tiên là vượt qua chính mình, chiến thắng các thói hư và tật xấu – kể cả các thói quen không tốt hằng ngày về vệ sinh, ăn uống, sinh hoạt,...

Chính khách Winston Churchill (1874-1965, thủ tướng Anh) nói: “Thành công không phải là cuối cùng, thất bại không phải là chết người, vấn đề quan trọng là can đảm tiếp tục.” Có vẻ rất ư bình thường mà lại rất khác thường.

Tuy Ông Tổ Ađam nghe vợ mà phạm tội bất tuân, nhưng ông lại là hình ảnh liên quan Đức Kitô. Thật là kỳ diệu, thế nên Giáo Hội vui mừng thốt lên trong bài Exultet: “Ôi, tội hồng phúc!” Tội lỗi mà lại hóa ơn phúc. Giả sử ông Ađam không nghe vợ “dụ khị” thì chúng ta đâu được Chúa Giêsu đến thế gian làm người để đồng lao cộng khổ với chúng ta, và làm gì chúng ta diễm phúc được ăn Thịt và uống Máu Đức Kitô qua Bí tích Thánh Thể? Thánh Ý Thiên Chúa thật quá mầu nhiệm, chúng ta không bao giờ có thể hiểu nổi. Xin tạ ơn Thiên Chúa!

Có cách so sánh tỉ mỉ nên có vẻ dài dòng một chút, Thánh Phaolô cho biết thêm: “Nhưng sự sa ngã của Ađam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa. Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người. Ơn Thiên Chúa ban cũng khác với hậu quả do một người phạm tội đã gây ra. Quả thế, vì một người duy nhất phạm tội, con người đã bị xét xử để phải mang án, còn sau nhiều lần sa ngã thì lại được Thiên Chúa ban ơn cho trở nên công chính. Nếu chỉ vì một người, một người duy nhất sa ngã, mà sự chết đã thống trị thì điều Thiên Chúa làm qua một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô, lại còn lớn lao hơn biết mấy. Quả vậy, những ai được Thiên Chúa ban ân sủng dồi dào và cho trở nên công chính thì sẽ được sống và được thống trị.” (Rm 5:15-17) Lòng Thương Xót của Thiên Chúa là tuyệt đối, bất biến, vĩnh viễn.

Trải dài và xuyên suốt lịch sử của Giáo Hội, chúng ta thấy hầu hết các thánh đều có một quãng đời tối tăm, thậm chí rất tội lỗi, nhưng sau khi “sáng mắt” thì cũng “sáng lòng,” họ quyết tâm hối cải và sửa chữa, quyết không lăn vào vết xe cũ, nhờ đó mà họ đã nên thánh ngay từ đời này. Quả thật, con-đường-tội-lỗi-và-thứ-tha là con đường mà mọi phàm nhân đều đi qua để có thể đến với Đức Kitô, Đấng-Tử-Nạn-và-Phục-Sinh. Chắc hẳn chúng ta cũng đã, đang và sẽ như thế. Nhân vô thập toàn, phạm tội là điều không tránh khỏi, ví như một “quyền” của phàm nhân vậy. Tại sao chúng ta sa ngã? Đó là để “sức mạnh của Đức Kitô được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” (x. 2 Cr 12:9) Thực sự là một mầu nhiệm mà chúng ta không thể hiểu hết.

Cuối cùng, Thánh Phaolô kết luận: “Tóm lại, cũng như vì một người duy nhất đã sa ngã mà mọi người bị Thiên Chúa kết án thì nhờ một người duy nhất đã thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống. Thật vậy, cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính.” (Rm 5:18-19) Chúng ta chẳng làm được gì nếu không có Đức Kitô. (x. Ga 15:5) Vì thế, chúng ta có thể nhờ Đức Kitô mà nên công chính, mà nên công chính thì được cứu độ. Thật là trên cả tuyệt vời, hoàn toàn hợp lý.

Trình thuật Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu kể về ba chước cám dỗ mà Chúa Giêsu đã chịu: Ăn uống, kiêu ngạo, và danh vọng. Đó là “tam độc” hoặc các “mối tội” như những trái phá cực mạnh, vô cùng nguy hiểm, có thể khiến người ta thất điên bát đảo, quay cuồng như chong chóng.

Hôm đó, chính Đức Giêsu đã được Thần Khí dẫn vào hoang địa để chịu ma quỷ cám dỗ. Sau bốn mươi đêm ngày ăn chay ròng rã, Ngài cũng cảm thấy đói theo nhân tính như phàm nhân chúng ta. Phàm nhân là vậy, con người chỉ thế thôi!
Trước tiên, tên cám dỗ đến gần Chúa Giêsu và nói: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì truyền cho những hòn đá này hoá bánh đi!” (Mt 4:3) Đúng là láo toét! Thế nhưng Ngài nói thẳng với nó: “Đã có lời chép: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4:4; Lc 4:4; Đnl 8:3)

Ai trong chúng ta cũng biết rằng ăn uống là thứ hàng đầu trong “tứ khoái” của con người. Khi đói, người ta có thể trộm cướp và dám sát hại người khác để mình có cái ăn. Đó là phản xạ sinh tồn. Khi đói ngấu, Thằng Bờm chẳng cần gì khác, dù là của cải quý giá, mà chỉ cần nắm xôi để giải quyết cái bụng đang “gõ lô tô” mà thôi. Miếng ăn rất thực tế. Tuy nhiên, cũng vì “cái thực tế” đó mà người ta tranh giành nhau, không ngừng tranh chấp và chiến tranh, bao nhiêu tệ nạn như cướp của, giết người, lừa đảo, áp bức,… cũng chỉ vì người ta “sợ đói” đấy thôi. Miếng ăn có thể là miếng cao quý, nhưng cũng có thể là miếng tồi tệ. Chiến thắng cái đói là vượt qua chính mình, ăn chay là để kiềm chế nhục dục, chiến thắng chính mình, không cho “cái tôi” manh động.

Tuy nhiên, có lẽ cũng nên “hiểu rõ” một chút: ăn chay không phải là để dành phần đó cho bữa khác, mà là để chia sẻ cho người nghèo hơn mình. Đó mới là cách thực thi bác ái – đặc biệt là trong Mùa Chay. Chuyện nhỏ mà là chuyện to. Có lẽ vấn đề này thường không được thực hiện đúng mức theo ý muốn của Giáo Hội.

Thua keo này bày keo khác. Quỷ mưu mô đưa Chúa Giêsu đến thành thánh, đặt Ngài trên nóc đền thờ, rồi nó dụ dỗ: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì gieo mình xuống đi! Vì đã có lời chép: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá.” (Mt 4:6) Ngài cũng “chỉnh” nó ngay lập tức: “Nhưng cũng đã có lời chép: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.” (Mt 4:7) Quỷ lại bị thua, 2–0.

Chắc chắn ai cũng yêu chính mình. Yêu mình là tự bảo vệ mình, để sinh tồn. Đó là điều tốt. Nhưng nếu yêu mình quá thì lại là xấu, vì đó là tự ái (tự yêu mình thái quá). Người ta tự ái vì đề cao “cái tôi” của mình, luôn cho mình là “cái rốn của vũ trụ,” là “bách khoa tự điển,” là “người có cả bụng chữ,” là siêu nhân thông thái,… Điều này liên quan tính kiêu ngạo (kiêu căng, ngạo mạn, tự phụ,…), đồng thời cũng liên quan tính ích kỷ – vị kỷ (vì mình) chứ không vị tha (vì người khác). Một chuỗi liên đới xấu xa, đậm chất tội, rất nguy hiểm. Kiêu ngạo là tính xấu đứng đầu trong bảy mối tội. Thật là khủng khiếp!
Chắc chắn nó cay cú lắm, nhưng chưa chịu bỏ cuộc. Nó lại đem Ngài lên một ngọn núi rất cao, chỉ cho Ngài thấy tất cả các nước thế gian và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy, nó huênh hoang nói: “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi.” (Mt 4:9) Đúng là “điếc không sợ súng.” Chó mà đòi chạy trước hươu. Và Chúa Giêsu liền nghiêm giọng: “Satan kia, xéo đi! Vì đã có lời chép: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi.” (Mt 4:10) Quỷ thua trắng, 3–0. Nó đành “ngậm bồ hòn làm ngọt” và xấu hổ muốn độn thổ, rồi đành cụp đuôi bỏ người chạy lấy của. Các sứ thần tiến đến hầu hạ Ngài.

Cuộc sống luôn có nhiều thứ “bả” khiến người ta sập bẫy. Nào là vật chất, danh vọng, địa vị, chức tước, quyền bính,… Trong xã hội đời thường đã đành, trong sinh hoạt tôn giáo cũng vẫn “cám dỗ” người ta mê muội, muốn được nổi trội hơn người khác, họ tranh giành và thách thức đủ dạng. Cả trong xã hội và Giáo Hội cũng vẫn có những người dùng vật chất để lũng đoạn một cách rất tinh vi, khó có thể nhận ra. Người ta “che đậy” và “biện minh” bằng nhiều chiêu bài nghe rất kêu, và xem chừng cũng rất đậm tính bác ái. Thế nhưng, nếu can đảm xét cho cùng thì chỉ là “sáng danh con” hơn là “sáng danh Chúa,” thậm chí có khi Chúa cũng chẳng “xơ múi” được gì! Ngày xưa người ta “mua chức quyền” theo kiểu “mộc mạc” nên dễ nhận ra, ngày nay người ta “mua chức quyền” theo lối rất tinh vi nên khó có thể nhận ra. Lộng giả thành chân.

Xét theo thế gian thì thất vọng lắm. Tuy nhiên, với ơn Chúa thì chúng ta có thể chiến thắng tất cả, nhưng phải thực sự kiên trì và cố gắng chiến đấu không ngừng thì mới có thể chiến thắng 3 “mối tội” đó. Và như vậy là chúng ta chiến thắng chính mình, là “chết” cho tội, là “xé lòng,” và là giữ chay. Nhờ đó mà chúng ta có thể được công chính hóa. Ai nên công chính thì được cứu độ, tức là nên thánh: “Ai cùng chết với Đức Kitô thì cũng được sống lại với Người.” (x. Rm 6:4-5) Sống lại với Chúa để được hưởng phúc vĩnh sinh, chứ không để chịu án phạt đời đời.

Tất cả là hồng ân. Thánh LM TS Thomas Aquinas (1225-1274) cho biết: “Chúng ta không có quyền đòi hỏi, nhưng phải nài xin Thiên Chúa ban cho ơn bền đỗ, nhận ra những ai là người mà chúng ta phải tránh là một phương thế quan trọng để cứu lấy linh hồn mình.” Không có Chúa, chúng ta chẳng làm được gì đâu! (x. Ga 15:5)

Có loại “bẫy” dễ bị sập vì nó vừa ngọt ngào vừa êm đềm, rất đáng sợ, đó là loại mà Thánh Catherine Bologna đề cập: “Đôi khi ma quỷ xúi giục các linh hồn HAM HỐ một nhân đức hoặc một việc đạo đức nào đó đến lạ kỳ, để họ thực hiện việc ấy cách cuồng nhiệt; rồi nó làm họ đâm ra CHÁN NẢN đến độ chểnh mảng với mọi sự vì mỏi mệt và ngao ngán. Chúng ta cần phải thắng vượt cả chiếc bẫy này lẫn chiếc bẫy kia.”

Lạy Cha hằng hữu, xin thêm lòng can đảm để chúng con đủ sức chiến thắng mọi cám dỗ, xin canh giữ để chúng con đừng bao giờ là cám dỗ người khác hoặc làm cớ vấp phạm cho tha nhân. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU


SẮC LỆNH MÀU TÍM

Xé Tâm Hồn Để Tỏ Lòng Sám Hối
Làm Bác Ái Mà Đền Tội Xin Tha

Vì là tội nhân nên lúc nào cũng cần sám hối và chay tịnh, nhưng chắc hẳn Mùa Chay là dịp thuận tiện nhất: “Ta đã nhận lời ngươi vào thời Ta thi ân, phù trợ ngươi trong ngày Ta cứu độ. Vậy, đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ.” (2 Cr 6:2)
Có nhiều thứ cần xé, cả nghĩa đen và nghĩa bóng, nhưng “xé lòng” là điều cần hơn cả. Có là hai dạng mệnh lệnh cách: một là xác định – hãy, nên, phải,… hai là phủ định – đừng, chớ, cấm... Mỗi dạng có “phong cách” riêng biệt. Tích cực (khuyên) và tiêu cực (cấm) vẫn hỗ trợ lẫn nhau.

1. XÉ LÒNG MÌNH
Xé là một động từ, nghĩa là “làm rách” cái gì đó – có thể là xé để bỏ và cũng có thể là xé để sửa hoặc ráp lại thành cái đẹp hơn. Xé có thể là hành vi chủ động, tự nguyện, hoặc thụ động, miễn cưỡng. Thiên Chúa bảo chúng ta không nên “xé áo,” vì đó là hành động của kẻ điên, vả lại như vậy là làm hư hại phương tiện sống. Nhưng về tâm linh, Ngài lại muốn chúng ta “điên” thật, vì Ngài bảo chúng ta phải thực sự chủ động mà tự xé lòng mình, xé nát tâm hồn vì cảm thấy mình khốn nạn và bất xứng với Ngài.
Phải “tự xé” lòng mình – chứ không xé lòng ai, có thể “xé” bất cứ lúc nào trong cuộc sống, không câu nệ về thời gian, nhưng chắc hẳn tốt nhất là Mùa Chay – bởi vì đây là cơ hội tốt để chấn chỉnh mà hưởng nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa. Nếu không, Thiên Chúa sẽ thẳng thắn và dứt khoát nói với chúng ta điều đáng sợ này: “Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn; các ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe. Vì tay các ngươi đầy những máu.” (Is 1:15)
Xé cũng mang nghĩa là “quá mức” chịu đựng. Trong cuộc sống có những chất cay khiến chúng ta cảm thấy như xé miệng, xé lưỡi, xé họng. Có những chất mặn quá hoặc ngọt qua cũng khiến chúng ta khó ăn, khó uống, hoặc không thể. Và cũng có những nỗi đau khiến chúng ta như bị xé nát tâm can, tan nát cõi lòng.
Chắc chắn tất cả chúng ta đều phải xé lòng mình hằng ngày, đặc biệt là trong Mùa Chay. Thiên Chúa là từ bi nhân hậu vẫn dang tay chờ đợi chúng ta trở về – càng sớm càng có lợi cho chúng ta. Vì thương xót, Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn chờ đợi và mời gọi: “Lúc này, các ngươi hãy hết lòng trở về với Ta, hãy ăn chay, khóc lóc, và thống thiết than van.” (Ge 2:12) Một loạt các động từ quan trọng mà Thiên Chúa muốn chúng ta thực hiện với cả tấm lòng yêu mến, chứ không giả bộ hoặc sơ sài, không chiếu lệ, không làm cho xong lần. Vải thưa không thể che mắt thánh.
Quả thật, Thiên Chúa muốn mọi người sám hối và được cứu độ, Ngài đã minh định nghiêm túc – và cũng nghiêm khắc: “Đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng. Hãy trở về cùng Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em, bởi vì Người từ bi và nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương, Người hối tiếc vì đã giáng họa.” (Ge 2:13) Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, tội lỗi chúng ta có thế nào thì cũng chẳng là gì, vì “dù tội đỏ như son cũng ra trắng như tuyết, có thẫm tựa vải điều cũng hoá trắng như bông.” (Is 1:18) Thiên Chúa nhân từ lắm, có gom tất cả tội lỗi của cả thế gian này cũng không thể sánh bằng lòng thương xót bao la của Ngài, chỉ cần chúng ta chân thành sám hối thì Ngài sẽ sẵn sàng thứ tha ngay, và Ngài cũng chỉ muốn thứ tha mà thôi: “Nếu Chúa chấp tội nào ai rỗi được?” (Tv 130:3) Tuy nhiên, đừng thấy vậy mà ỷ lại, được đằng chân lân đằng đầu, rồi làm tới!
Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, Ngài không tạo cái chết và chẳng vui gì khi con người phải tiêu vong. (Kn 1:13) Ngay cả kẻ gian ác phải chết cũng khiến Ngài buồn lòng. (Ed 33:11) Rõ ràng Ngài rất yêu thương và rất muốn chúng ta được sống, được cứu độ. Nhưng chúng ta có quyền tự do, thích gì thì tùy ý, “lỗi tại tôi” mọi đàng chứ chẳng tại ai: “Trước mặt con người là cửa sinh cửa tử, ai thích gì, sẽ được cái đó.” (Hc 15:17) Về dạng này, người đời có kiểu nói thế này: “Thích thì chiều!”
Ngày xưa, ngôn sứ Giô-en đã cho biết rằng nếu chúng ta thực sự thành tâm sám hối thì “biết đâu Đức Chúa chẳng nghĩ lại và hối tiếc mà để lại phúc lành, hầu anh em có lễ phẩm và lễ tưới rượu dâng lên Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em.” (Ge 2:114) Nói là “biết đâu” chứ thật ra Ngài sẵn sàng tha thứ ngay, chẳng nói suông, và không chỉ là lời hứa. Thật vậy, Thiên Chúa “không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải.” (2 Pr 3:9) Ngôn sứ Giô-en tiếp tục tha thiết mời gọi: “Hãy rúc tù và tại Sion, ra lệnh GIỮ CHAY THÁNH, công bố mở cuộc họp long trọng; hãy tụ tập chúng dân, mời dự đại hội thánh, triệu tập các cụ già, tụ họp đám thiếu nhi cũng như trẻ thơ còn đang bú. Tân lang hãy ra khỏi loan phòng, tân nương hãy rời bỏ phòng khuê!” (Ge 2:15-16) Ai cũng phải giữ chay, dù là trẻ sơ sinh, vì ai cũng là tội nhân, và “dày kinh nghiệm” phạm tội – càng nhiều tuổi càng nhiều “kinh nghiệm quái đản” này.
Về loại “tình huống” này, chúng ta nhớ tới việc ăn chay nghiêm ngặt của cả thành Ni-ni-vê, từ vua tới dân, từ người tới súc vật, khi được ngôn sứ Giô-na kêu gọi, và Thiên Chúa đã tha tội chết cho cả thành. (x. Gn 3:4-10) Rõ ràng việc ăn chay và cầu nguyện có thể thay đổi số mệnh của con người – cả chính mình và người khác.
Không thể làm ngơ, không thể im lặng, ngôn sứ Giô-en tiếp tục kêu gọi: “Giữa tiền đình và tế đàn, các tư tế phụng sự Đức Chúa hãy than khóc và nói rằng: ‘Lạy Đức Chúa, xin dủ lòng thương xót dân Ngài! Xin đừng để gia nghiệp của Ngài phải nhục nhã và nên trò cười cho dân ngoại! Chẳng lẽ các dân lại được cớ mà nói: Thiên Chúa của chúng ở đâu rồi?’ ” (Ge 2:17) Quả thật, “Đức Chúa đã nồng nhiệt yêu thương đất của Người, đã tỏ lòng khoan dung đối với dân Người, tai ương chấm dứt và dân được giải thoát.” (Ge 2:18) Chứng cớ rành rành, không thể chối cãi, và ngày nay cũng vậy, nhưng con người vẫn vô ơn bội bạc!
Là phàm nhân mang thân tro kiếp bụi, ai cũng đều là tội nhân, như Thánh Vịnh gia xác nhận: “Lúc chào đời con đã vương lầm lỗi, đã mang tội khi mẹ mới hoài thai.” (Tv 51:7) Vì thế, ai cũng rất cần đến ơn thứ tha từ lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, người nào nhận biết mình là ai và là gì thì sẽ không ngừng van xin: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.” (Tv 51:3-4) Và chắc chắn Thiên Chúa bỏ qua tất cả ngay lập tức.
Hệ lụy tất yếu của sự thú tội là ơn thứ tha. Vấn đề là không được vòng vo, tránh né, hoặc đổ lỗi cho người khác – dù chỉ một phần nhỏ, mà phải thành tâm khiêm hạ: “Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài. Như vậy, Ngài thật công bình khi tuyên án, liêm chính khi xét xử.” (Tv 51:5-6) Nước mắt luôn chảy xuôi, con người còn cảm thấy mủi lòng huống chi Thiên Chúa – Đấng giàu Lòng Thương Xót.
Hết ngày này qua ngày khác, chúng ta vẫn cùng nhau thú tội: “Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và anh chị em, tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm, và những điều thiếu sót...” Thực sự thiếu sót nhiều lắm. Đủ dạng lầm, đủ thứ tội. Thú nhận với Thiên Chúa là điều hiển nhiên, mà chúng ta còn phải thú nhận với tha nhân, nhưng chúng ta vẫn “ngại” lắm, có lẽ chỉ mới làm theo “nghi thức” mà thôi. Thật vậy, ngay khi chúc bình an cho nhau mà nhiều người vẫn có vẻ miễn cưỡng, làm một cách máy móc hoặc làm cho xong lần, thậm chí là “đứng nghiêm” như trời trồng vậy.
Có thể đây là một thực tế phũ phàng: Là “chiên hiền” khi ở trong nhà thờ nhưng là “cọp dữ” khi ở ngoài nhà thờ. Ảo thuật, xảo thuật, hay là “sự lạ” vậy? Một dạng giả hình. Mọi kiểu phạm tội không phải là lỗi của ai khác mà của chính mình, chúng ta cùng xác nhận ba lần: “Lỗi tại tôi mọi đàng.” Sợ nhất là tội tư tưởng, vì người ta không biết – nhưng Thiên Chúa biết. Thế nên phải cầu xin Ngài thương xót mà tha thứ. Tuy nhiên, chắc chắn rằng Ngài chỉ tha nếu chúng ta thật lòng tha cho tha nhân. Đó là điều kiện ắt có và đủ để “nên hoàn thiện,” để nên thánh, nhất là trong Mùa Chay Thánh – cơ hội tốt để giặt chiếc áo cuộc đời, vá chiếc áo tâm hồn.
Nếu không có ơn Chúa, chúng ta không thể làm gì. (x. Ga 15:5) Đã bao lần chúng ta ăn năn sám hối, có vẻ rất chân thành, nhưng rồi lại chứng nào tật nấy, bằng chứng minh nhiên là chúng ta vẫn dễ dàng tái phạm, để rồi cứ luôn phải “tẩy rửa” qua Dòng Tình Thương Xót – Bí tích Hòa Giải. Biết vậy để cố gắng hơn, van xin ơn phù trợ và khao khát được tái tạo: “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ. Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài. Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con.” (Tv 51:12-14)
Bổn phận của chúng ta là cầu xin, nhưng xin để được điều này hay điều nọ mới chỉ là dạng “cấp thấp,” dạng “cấp cao” là không xin gì cả, chỉ muốn chúc tụng và tạ ơn Thiên Chúa: “Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con, cho con cất tiếng ngợi khen Ngài.” (Tv 51:17) Càng sống lâu càng được nhiều ơn, dù có những ơn chúng ta không hề xin mà vẫn được Chúa thương ban – đơn giản nhất mà cần thiết nhất là không khí để sống, thế thì không thể không tạ ơn Ngài.
Ăn năn là việc làm cả đời, Thánh Phaolô kêu gọi: “Chúng tôi là sứ giả thay mặt Đức Kitô, như thể chính Thiên Chúa dùng chúng tôi mà khuyên dạy. Vậy, nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hoà với Thiên Chúa. Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người.” (2 Cr 5:20-21) Kỳ diệu quá, chúng ta không thể nào hiểu thấu. Ngày nay vẫn có những người không tin hoặc không muốn tin điều đó, nhưng sự thật vẫn mãi là sự thật!
Thánh Phaolô có kinh nghiệm nhiều nên thành thật khuyên nhủ: “Anh em đã lãnh nhận ân huệ của Thiên Chúa thì đừng để trở nên vô hiệu.” (2 Cr 6:1) Vả lại, chính Chúa đã xác định: “Ta đã nhận lời ngươi vào thời Ta thi ân, phù trợ ngươi trong ngày Ta cứu độ. Vậy, đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ.” (2 Cr 6:2) Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí. Cố gắng nắm bắt kẻo vuột mất!

2. XÉ THÓI XẤU
Có nhiều thói xấu, đếm không xuể. Một trong các thói xấu “phổ thông” là thói giả hình – làm cho cái ảo như có thật, bề ngoài thấy rõ ràng như thật mà lại không phải là thật, kiểu như ảo thuật hoặc xảo thuật. Về phương diện tâm linh, giả hình là thói đạo đức giả. Giả hình còn là thái độ lững lờ nước đôi, sống hai lòng mà thòng hai thứ. Người đời còn không thể chấp nhận thì huống chi Thiên Chúa là Đấng chí thánh. Muốn tránh giả hình thì phải can đảm dứt khoát để có thể chấm dứt sự giằng co.
Là Đấng chí thánh, duy nhất và tuyệt đối, Thiên Chúa rất ghét thái độ đạo đức giả, do đó Ngài gay gắt lên án và cảnh cáo: “Ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi! Nhưng vì ngươi hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta.” (Kh 3:16) Rất khó nghe, nhưng có thấy “chói tai” thì mói có thể quyết thay đổi.
Thật vậy, chính Chúa Giêsu cũng đã lên tiếng: “Các con hãy coi chừng men Pha-ri-sêu, tức là thói đạo đức giả.” (Lc 12:1) Rồi một lần khác, Ngài gay gắt lên án thói đạo đức giả bằng cách ví von với những hình ảnh rất thực tế: “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các người cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác!” (Mt 23:27-28; Lc 11:42-44) Thói “đạo đức giả” hoặc “ra vẻ đạo đức” không chỉ phổ biến ở thời xưa, mà ngày nay cũng vẫn phổ biến. Ngày xưa dễ nhận biết vì người thời đó có “tua áo dài,” nhưng ngày nay rất khó nhận biết vì quá đỗi tinh vi, không có gì giúp phân biệt, cái giả có khi còn “mượt mà” hơn cái thật.
Thế nhưng người ta có thể “che mắt” người trần mắt thịt, chứ không thể “qua mặt” Thiên Chúa, và rồi có lúc người ta sẽ nhận ra: “Không có gì che giấu mà sẽ không bị lộ ra, không có gì bí mật mà người ta sẽ không biết.” (Lc 12:2) Người Việt cũng xác định: “Cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra.” Cái gì thật thì vẫn thật – dù không đẹp mã, cái gì giả thì không thể thật – dù rất đẹp mã, chắc chắn bí mật sẽ “bật mí” thôi, chẳng chóng thì chày.
Đối với việc sống Mùa Chay, người ta thường thích “biểu diễn” vẻ đạo đức, thế nên Chúa Giêsu căn dặn: “Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, CHỚ CÓ PHÔ TRƯƠNG cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng. Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.” (Mt 6:1-4)
Thực sự Chúa Giêsu muốn người ta làm từ thiện, bố thí, nhưng không được khoe khoang – ngày nay thường thấy chụp hình đưa lên facebook, instagram, twitter,... Ngài không hề có ý “chơi ép” chúng ta, bởi vì làm bí mật mới đáng công trạng. Thế nhưng ngày nay, chúng ta vẫn thường “đánh trống, khua chiêng” bằng nhiều kiểu mỗi khi đi xa với danh nghĩa “làm từ thiện” trong khi lại “làm ngơ” trước nỗi khổ của những người ngay bên cạnh mình. Liệu có phải là “máu Pharisêu,” là giả hình hoặc thói đạo đức giả? Và Chúa có vui không? Khó trả lời cũng phải tự trả lời.
Đối với việc cầu nguyện, Chúa Giêsu bảo: “Khi cầu nguyện, anh em đừng làm như BỌN ĐẠO ĐỨC GIẢ: chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy. Thầy bảo thật anh em: chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.” (Mt 6:5-6) Với “tình huống” này, chúng ta được gợi nhớ tới hai người lên Đền Thờ để cầu nguyện. (Lc 18:9-14) Người Pharisêu (biệt phái) “chảnh” và tự hào, còn người thu thuế rất xấu hổ, đấm ngực ăn năn xin Chúa xót thương. Và rồi hệ lụy hoàn toàn khác nhau.
Về cách ăn chay, Chúa Giêsu khuyến cáo: “CHỚ LÀM BỘ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.” (Mt 6:17-18) Có lẽ chúng ta không khoái cái kiểu ăn chay “ngầm” như vậy. Không ai biết thì… chán lắm. Thích thì chiều, nhưng chắc chắn Chúa không chúc lành.
Chúa Giêsu xác định rằng nếu ai thích khoe khoang thì cứ làm, nhưng đó là “phần thưởng” cho họ ngay ở đời này rồi. Rất lô-gích, rất hợp lý, rất công bằng, và cũng rất… thú vị. Trong trình thuật Tin Mừng, câu “đã được phần thưởng rồi” được Chúa Giêsu nhắc tới BA LẦN, nghĩa là chúng ta phải cẩn trọng và cảnh giác. Và Chúa Giêsu còn nói thẳng: “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.” (Mt 6:7-8) Đúng là “nhức óc” lắm, bởi vì Ngài dùng chữ “lải nhải” – vừa dài vừa dai. Phải thế thôi, không nói mạnh thì không được, vì chúng ta “chứng” lắm chứ chẳng nhu mì gì.
Đến hẹn lại lên. Mùa Chay lại về. Có lẽ không ai lại không nhớ rõ dụ ngôn “Người Cha Nhân Hậu” (Lc 15:11-32) – dụ ngôn điển hình về lòng thương xót của Thiên Chúa. Ước gì mỗi người đều đủ can đảm để trở về ngay lập tức, cùng quyết tâm sống đúng ý Chúa muốn: KÍN ĐÁO khi bố thí, cầu nguyện, và ăn chay.
Cái giá của Nước Trời rất mắc (đắt, đắt đỏ, tốn phí) vì phải thực hành đức tin và sám hối cả đời, lơ đãng một chút là “rớt giá” ngay. Nhưng cái giá của Nước Trời cũng có thể rẻ hoặc miễn phí, chỉ cần thành tâm ăn năn sám hối – điều mà Thánh Tướng Cướp Tốt Lành Dimas (Dismas – Lc 23:43) đã làm. Chúng ta cũng có cơ hội như Thánh Dimas. Đừng ngưng tín thác vào lòng thương xót của Thiên Chúa, đừng bao giờ tuyệt vọng – mặc dù có thể có lúc chúng ta cảm thấy thất vọng. (x. 2 Cr 4:8) Ơn Chúa không luôn đủ cho mỗi chúng ta. (x. 2 Cr 12:9)
Lạy Thiên Chúa chí thánh, xin dẫn đường chỉ lối của Ngài để chúng con đi và ban ơn bền đỗ cho chúng con. Xin biến đổi chúng con ngay hôm nay để chúng con dứt khoát với quá khứ và bắt đầu trang đời mới trong Mùa Chay này. Nguyện xin Đức Mẹ Maria, Đức Thánh Giuse, các thiên thần, các thánh và các linh hồn chuyển cầu cho chúng con lên Thiên Chúa – Đấng giàu lòng thương xót. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

CỐ CHẤP và KỲ THỊ

Tính cố chấp và thói kỳ thị có vẻ “xa lạ” với nhau, thế nhưng chúng lại không hề xa lạ, thậm chí còn rất “thân thiết” với nhau. Trình thuật Mc 6:1-6 (≈ Mt 13:53-58; Lc 4:16-30) cho thấy điều đó.
Thánh Máccô kể ngắn lời mà dài ý: Đức Giêsu ra khỏi đó và đến nơi quê quán của Người, có các môn đệ đi theo. Đến ngày sabát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên. Họ nói: “Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì? Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê, Giôxết, Giuđa và Simôn sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?” Và họ vấp ngã vì Người. Đức Giêsu bảo họ: “Ngôn sứ có BỊ RẺ RÚNG thì cũng chỉ là Ở CHÍNH QUÊ HƯƠNG mình, hay giữa đám BÀ CON THÂN THUỘC, và trong GIA ĐÌNH mình mà thôi.”
Thánh Máccô kết luận: Người (Chúa Giêsu) đã KHÔNG THỂ làm được phép lạ nào tại đó; Người chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ. Người lấy làm lạ vì họ KHÔNG TIN.
Người ta cố chấp vì không muốn nhận mình sai, không dám thừa nhận thực lực của người khác và có định kiến với người khác. Kỳ thị là phân biệt đối xử với người khác – về bất kỳ lĩnh vực nào đó, mang tính tiêu cực, và hành vi đó cũng bởi định kiến mà ra. Chính cái định kiến (thành kiến) là rào cản người ta phát triển, là tấm chắn che mắt khiến người ta hóa mù lòa, mất thị lực thiện hảo và thị lực tâm linh.
Trước đó, họ đã thắc mắc và đặt vấn đề:  “Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì?” Và họ tự chứng minh rằng họ biết tỏng, biết tuốt tuồn tuột, rõ tất tần tật, rành cả sáu câu luôn: “Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê, Giôxết, Giuđa và Simôn sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?” Mấy mươi năm sinh sống ở cái xóm nghèo này, trong ngôi làng nhỏ này, chẳng ai xa lạ gì ráo trọi, thế mà sao Anh Chàng Giêsu này hôm nay nói năng rất hay, lý luận rất giỏi, hiểu biết mọi chuyện, phân tích thấu đáo, nói đâu ra đó. Con nhà nghèo chính hiệu mà nay sao “sang” dữ vậy ta? Không lẽ “đột biến gen” chăng? Sao kỳ vậy?
Họ thắc mắc, rồi tự xác định, thế nhưng chính họ thấy rõ ràng mà không chịu tin – cũng có thể họ không muốn tin. Cõi lòng xơ cứng. Tâm hồn chai lì. Niềm tin lệch lạc. Vì thế mà họ cố chấp, rồi sinh ra kỳ thị. Ghen ghét người khác vì mình hèn hạ, vì mình độc đoán. Và từ đó nảy sinh nhiều mối bất lợi khác. Thật nguy hiểm!
Tại sao Chúa Giêsu đã KHÔNG THỂ làm được phép lạ nào khi Ngài về quê? Ngài là Thiên Chúa toàn năng, nhưng Ngài vẫn KHÔNG THỂ hành động vì người ta KHÔNG TIN rằng Ngài là một Thiên Tài, và còn hơn thế nữa, Ngài là Đấng Thiên Sai. Ngài KHÔNG THỂ hành động vì người ta có quyền tự do – tự do tin hay không tin, chấp nhận hay từ chối. Và Ngài luôn tôn trọng quyền tự do và cách chọn lựa của người khác.
Chúa Giêsu cảm thấy ngạc nhiên về sự cứng lòng của những người cùng quê hương. Có lẽ là Ngài buồn lắm. Họ là ai? Họ không chỉ là dân làng, xóm giềng, mà là chính thân nhân và người trong gia đình. Ôi, cái não trạng cục bộ thật đáng buồn biết bao!
TRẦM THIÊN THU
Miền Tháng Hai – 2020

 

TÌNH YÊU KỲ DIỆU

Jerzy Bielecki và Cyla Cybulska yêu nhau phía sau hàng rào kẽm gai tại trại tập trung Auschwitz của Đức quốc xã, nhưng họ đã trốn thoát.
Ngày nay Jerzy đã 62 tuổi, ông kiên nhẫn đứng tại phi trường Krakow để chờ chiếc máy bay đến từ New York. Trên chuyến bay đó có bà Cyla – “cô bé Cyla” ngày xưa của ông. Ông cầm 39 đóa hồng, tượng trưng những năm họ xa cách nhau – từ Mùa Đông năm 1943. Jerzy gặp Cyla lần đầu tiên ở hầm ủ lúa cho súc vật tại Auschwitz. Ông bị bắt năm 1940 vì tham cuộc gia kháng chiến của quân đội Ba Lan.
Trong một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh Ba Lan, Jerzy cho biết: “Ngay từ cái nhìn đầu tiên, tôi đã mê nụ cười, khuôn mặt, vẻ nữ tính của cô ấy,… Nhưng trớ trêu thay, cái chết đang bao vây quanh tôi.”
TÌNH YÊU NẢY NỞ
Jerzy nhớ rất rõ lúc ông nhìn thấy một nhóm phụ nữ trẻ Do Thái tới hầm ủ lúa. Cô nào cũng có mái tóc hoe và tươi cười, thấy họ khá vui. Họ mang tạp dề và áo blouse trắng, tóc thắt chiếc khăn. Jerzy cho biết: “Tôi kinh ngạc như trời trồng khi nhìn thấy họ. Phụ nữ mà cũng ở đây ư? Tôi không biết điều gì sắp xảy ra vào lúc đó. Một cô gái cười và nháy mắt với tôi. Lúc đó tôi e thẹn như một đứa trẻ.”
Cyla đến từ một làng nhỏ ở Ba Lan. Cô phải vào trại tháng 01-1943 với cả nhà – cha mẹ, em gái và hai em trai. Cô là người duy nhất còn sống sót. Cô nói: “Chúng tôi có khoảng 40 tù nhân với các giám thị người Đức ở một tòa nhà gần hầm ủ lúa. Đó là điều may mắn khó tin. Chúng tôi ngủ trong phòng trải rơm. Chúng tôi phải giặt giũ cả buổi sáng và buổi chiều, phải may vá các bao bột cho cả hầm này.”
Tại đây, Cyla đã phải lòng Jerzy, một thanh niên Công giáo Ba Lan, một trong các tù nhân đầu tiên của trại Auschwitz. Jerzy bị bắt khi đang tìm cách vượt qua Hungary để gia nhập quân đội Pháp. Tình yêu của họ đã nảy nở. Họ có thể nói chuyện với nhau trong lúc ăn uống nhờ các lính gác du di cho phép. Jerzy nói: “Tôi say mê cô ấy. Tôi thấy cô ấy không vô tình khi tôi theo đuổi. Chúng tôi như những thiếu niên ngồi trên ghế công viên lén hôn nhau khi thần chết rảo quanh chúng tôi.”
QUYẾT CHÍ VƯỢT NGỤC
Một hôm, Cyla đến với Jerzy và khóc thương người bạn thân vừa bị lính Đức quốc xã bắn chết. Anh vừa nhắm súng vào cổ cô vừa giữ cò súng và nói: “Đừng khóc, Cyla. Anh sẽ đưa em ra khỏi địa ngục này.” Rồi anh liền chuẩn bị để đưa người yêu trốn trại.
Anh nói: “Anh không đủ can đảm bóp cò. Anh biết khó trốn thoát, nhưng vì em và vì tình yêu của chúng mình thì anh làm được hết, kể cả điều không thể.”
Anh nhờ một người bạn kiếm cho bộ đồng phục của lính Đức. Kế hoạch vượt ngục vào tháng 5-1944, nhưng nhóm các cô gái lại không đến làm việc ban đêm nữa. Anh không biết Cyla còn sống hay không.
Vài tháng sau, anh nhận được mảnh giấy ghi: “Anh Jerzy, em làm việc ở nơi giặt giũ. Cố gắng đến tìm em nhé.” Họ gặp lại nhau. Ngày 20-07-1944, Jerzy nói nhỏ với cô: “Ngày mai, một nhóm lính sẽ đến đưa anh đi tra vấn. Hẹn gặp lại.” Cyla không hỏi gì.
Hôm sau, cô thấy trước lối vào… Jerzy hóa trang thành một binh sĩ đồng phục Rottenfürher SS (cận vệ Đức quốc xã, SS là Schutzstaffel). Anh chào lính cận vệ và đưa Cyla đi. Hai người đi ra cổng trại tập trung… và họ được tự do!
NGÀN TRÙNG XA CÁCH
Sau 9 đêm đi bộ, họ đến nhà chú của Jerzy. Để bảo đảm an toàn, họ quyết định chia tay nhau. Jerzy gia nhập quân đội kháng chiến của Ba Lan, còn Cyla làm việc với các nông dân tại một ngôi làng nhỏ. Khi chiến tranh chấm dứt, Cyla vẫn không hề biết tin gì về người yêu.
Một hôm, người ta cho cô biết rằng Jerzy đã tử vong trong một trận chiến. Cô buồn bã trở về New York để tìm quên và làm tạo lập cuộc sống mới. Điều cô không biết là vùng mà Jerzy chiến đấu được giải cứu sau đó ba tuần. Cuối cùng, Jerzy được tự do, anh đi tìm Cyla... nhưng trễ ba tuần rồi.
Gia đình của Jerzy nói với anh rằng Cyla đã qua đời tại một bệnh viện ở Stockholm, ngay trước khi trở về Mỹ. Nhưng anh không hề biết họ đã nói dối. Có phải là gia đình cô không muốn anh anh kết hôn với một phụ nữ Do Thái chăng?
NHỮNG ĐÓA HOA HỒNG
Nhiều năm sau, tại New York, Cyla đã là góa phụ vài năm và là mẹ của một cô con gái. Năm 1982, Cyla mời người giúp việc uống cà phê – một dịp hiếm có để trò chuyện với một người đồng hương. Cô kể về chuyện tình xưa và chuyện trốn thoát trại tập trung Auschwitz. Thật bất ngờ, người giúp việc cho cô biết rằng cô có thể gặp lại cố nhân trên một chương trình tương tự trên truyền hình Ba Lan. Người đó là hiệu trưởng một trường học và nếu không lầm thì hiệu trưởng đó tên là… hình như là… Jerzy.
Cyla nói: “Tôi không thể tin được, tôi tìm số điện thoại và gọi. Anh nói rằng ‘Jerzy đây, anh đây, Cyla bé bỏng của anh!’ Khi nghe giọng anh, tôi biết ngay rằng đó là người xưa của tôi ở Auschwitz.”
Vài tháng sau, Cyla quyết định gặp anh. Cô bay tới Krakow. Jerzy đứng đợi cô tại phi trường với 39 đóa hồng trong tay… Tình yêu tái sinh, cảm xúc tràn trề. Nhưng Jerzy, đã kết hôn sau chiến tranh, không muốn bỏ vợ và con cái. Jerzy nói: “Đó là số phận đã tạo mọi sự theo cách này, nhưng nếu anh không làm lại thì không thể thay đổi được điều gì.”
Cyla Cybulska (qua đời năm 2006) và Jerzy Bielecki (qua đời năm 2011) vẫn là bạn của nhau cho đến cuối đời. Năm 1985, Jerzy Bielecki được nhận huy chương Người Tốt.
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ Aleteia.org)

 

TRẢ GIÁ

Trả giá hoặc ngã giá là việc làm khi mua bán, cũng gọi là mặc cả, nhưng trả giá cũng có nghĩa là “cái giá phải trả” – và thường là giá đắt, giá mắc.

Khi những người Pharisêu, ỷ mình là dân biệt phái, với ý là được đặc cách, lên mặt tranh luận với Chúa Giêsu và đòi Ngài một dấu lạ từ trời để thử Ngài. Thấy họ “chảnh” như vậy, Ngài thở dài não nuột và nói: “Sao thế hệ này lại xin một dấu lạ? Tôi bảo thật cho các ông biết: thế hệ này sẽ KHÔNG ĐƯỢC MỘT DẤU LẠ NÀO CẢ.” (Mc 8:12) Theo lời kể của Thánh Mátthêu, Chúa Giêsu gọi họ là “thế hệ gian ác và ngoại tình.” (Mt 16:4)

Chúa Giêsu đã thẳng thắn từ chối cho họ thấy dấu lạ. Ngài làm được, nhưng Ngài không làm, vì họ không xứng đáng được thấy dấu lạ. Và đó là cái giá mà chính họ phải trả.

Khi Chúa Giêsu chịu cám dỗ trong hoang địa (Mt 4:1-11; Mc 1:12-13; Lc 4:1-13), Ngài từ chối, không nghe lời dụ dỗ của nó, rồi nói thẳng với nó – và cũng là mệnh lệnh dành cho nó: “Ngươi CHỚ THỬ THÁCH Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi. Ngươi PHẢI BÁI LẠY Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và PHẢI THỜ PHƯỢNG một mình Người mà thôi.”
Mặc dù không nói rõ, nhưng có thể nhiều lần chúng ta cũng đòi dấu lạ như người Pharisêu. Nhưng Thiên Chúa đã từ chối. Ngày xưa, Thiên Chúa đã nói rõ: “Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn; các ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe. Vì tay các ngươi đầy những máu.” (Is 1:15) Và Ngài cũng xác định: “Chúng có ăn chay, cầu khẩn, Ta cũng chẳng thèm nghe tiếng; có dâng lễ toàn thiêu và lễ phẩm, Ta cũng chẳng tỏ lòng xót thương, vì Ta sắp dùng gươm đao, đói khát và ôn dịch mà tiêu diệt chúng.” (Gr 14:12)

Cho tới ngày nay, khi cơn đại dịch Corona bùng phát và lây lan với tốc độ nhanh như hỏa tiễn, con người bất lực trong việc kiềm chế mà vẫn vênh vang, ngang ngược, chưa thực sự sám hối. Lời Chúa từ ngàn xưa lại vang lên giữa thời đại ngày nay: “Dân này còn khinh thị Ta đến bao giờ nữa? Cho đến bao giờ, chúng không chịu tin vào Ta, mặc dầu Ta đã làm bấy nhiêu dấu lạ ở giữa chúng? Ta sẽ dùng ôn dịch mà đánh phạt chúng, sẽ không cho chúng hưởng gia nghiệp.” (Ds 14:11-12)

Thiên Chúa không im lặng, Ngài vẫn nói, nói không ngừng, nhưng vì nhân loại không muốn nghe lời Ngài cảnh cáo. Tuy Ngài là Thiên Chúa cao cả, nhưng Ngài “vẫn nhìn đến kẻ thấp hèn.” (Tv 138:6a) và sẵn sàng biến đổi số phận của chúng ta, bởi vì Ngài thực sự muốn chúng ta hạnh phúc – ngay cả đời này và đời sau. Ngài sẵn sàng bỏ qua tất cả nếu chúng ta nhận biết tội lỗi của mình mà chân thành sám hối.

Thật vậy, trong trình thuật St 18:20-32, Tổ Phụ Áp-ra-ham đã đối diện Thiên Chúa với mối quan ngại về điều sẽ xảy ra cho thành Xô-đôm. Ông Áp-ra-ham đặt vấn đề: “Chẳng lẽ ngài tiêu diệt người lành một trật với kẻ dữ sao?” Theo lời mặc cả của ông Áp-ra-ham, Thiên Chúa chấp nhận tha chết cho dân thành Xô-đôm nếu có 50, 45, 40, 30, 20 người lành, thậm chí chỉ có 10 người lành. Và vì 10 người lành đó mà Thiên Chúa sẽ tha bổng cho cả thành. Sau đó Thiên Chúa đi và Áp-ra-ham trở về nhà. Chỉ cần 10 người lành mà cũng không có. Thật khốn thay!

Cầu nguyện như hơi thở duy trì sự sống tâm linh. Thánh Augustinô nói: “Bao lâu chúng ta chưa thôi cầu nguyện là dấu chắc chắn Chúa đang thương.” Chúa Giêsu đã từng xác định: “Xin sẽ được, tìm sẽ thấy, gõ sẽ mở.” (Mt 7:7-8; Lc 11:9-10) Xin không được, tìm không thấy, gõ không mở là lỗi của chúng ta. Thật vậy, Thánh Giacôbê phân tích: “Anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau. Anh em không có là vì anh em không xin; anh em xin mà không được là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc.” (Gc 4:2-3)

Đối với Thiên Chúa, tất cả chúng ta đều là tội nhân và luôn rất cần đến Lòng Thương Xót của Ngài, bởi vì “tất cả chúng ta đều phạm tội, ngay cả các tâm hồn đạo đức cũng chỉ chập chững tìm về Nhà Cha qua con đường tội lỗi và thứ tha.” (Thánh Y-nhã) Thiên Chúa luôn thấu hiểu, lắng nghe, cảm thông và chấp nhận sự yếu đuối chúng ta. Ngài chỉ cần chúng ta nhận biết mình là bụi tro phàm hèn, không dám ngông nghênh ngạo mạn, mà khiêm nhu thật lòng, và Ngài sẽ ra tay cứu giúp. Chỉ vì chúng ta không cần Ngài, rồi lại bảo Ngài làm ngơ, thậm chí còn cho rằng không có Ngài hoặc muốn tôn mình lên hơn Ngài. Tai ương vương tai họa thì chẳng oan ức chi cả!

Hôm nay, giữa cơn đại dịch Corona – Covid-19 này, cái giá mà chúng ta phải trả, thiết tưởng chúng ta nên suy tư về nhận định của Thánh Lm Arnold Janssen (1837-1909), Đấng sáng lập Dòng Ngôi Lời – SVD, Societas Verbi Divini: “Mặc dù ý Chúa KHÔNG PHÙ HỢP với bạn thì vẫn LUÔN ÍCH LỢI cho bạn.”

Vì cuộc khổ nạn đau thương của Chúa Giêsu Kitô, xin Cha thương xót chúng con và toàn thế giới. Xin Cha tha thứ và giải thoát chúng con khỏi tai họa mà chúng con tự tạo ra đang hoành hành thế giới trong thời gian này. Amen.

TRẦM THIÊN THU
Chiều 17-02-2020

 

SỐNG và YÊU

Cuộc sống và tình yêu là hai trạng thái khác nhau, nhưng lại không tách rời nhau, thậm chí là “nên một” với nhau. Sống để yêu, và yêu để sống.

Không thể sống mà không yêu, yêu là sống. Người ta nói vui mà thật: “Yêu thì khổ, không yêu thì lỗ. Thà chịu khổ chứ không chịu lỗ.” Không yêu thì yếu, mà yếu thì không thể yêu – tức là cần mạnh mẽ và can đảm. Vì yêu mà người ta dám chết, chết rồi lại được sống. Chúa Giêsu đã chứng tỏ điều đó, và chính Ngài xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15:13)

Yêu thì khổ, chính cái khổ đó là chất hy sinh tiết ra để chứng minh tình yêu chân thật. Yêu không chỉ khổ mà còn phải “chết” – theo nghĩa bóng hoặc nghĩa đen. Đó là nên thánh. Người ta chết rồi mới được làm thánh, chưa chết mà sao làm thánh? Làm gì có chuyện “ngược đời” như thế chứ? Đúng như vậy. Nhưng cái NGHỊCH đó lại là cái THUẬN. Tại sao vậy? Chết rồi mà làm thánh là “chuyện nhỏ,” sống mà làm thánh mới là “chuyện lớn” và xứng đáng nỗ lực. Thực sự chứ chẳng bông đùa. Bởi vì Chúa Giêsu đã truyền lệnh: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5:48) Là mệnh lệnh thì chắc chắn phải thi hành.

Là con người, chẳng ai hoàn hảo, được cái này thì mất cái nọ, đều là tội nhân, ngay cả các thánh nhân cũng đã từng lần mò tìm về Nhà Cha qua con đường tội lỗi và thứ tha: “Nếu Thiên Chúa chấp tội, chẳng ai được rỗi.” (Tv 130:3) Tuy nhiên, làm thánh hay không là dựa vào cuộc sống đời thường, sống sao chết vậy, có sống khôn thì mới chết thiêng. Người ta thường nói: “Cọp chết để da, người ta chết để tiếng.” Ở đây, cái “tiếng” mang ý nghĩa tích cực là “tiếng tốt.” Phàm nhân đầy “vết chàm,” tội nhân mà hoàn thiện thì nên thánh, nếu hoàn thiện ngay ở đời này thì là thánh sống. Thật vậy, Chúa Giêsu không chỉ bảo chúng ta phải làm thánh sau khi chết mà phải làm thánh ngay ở đời này – cứ hoàn thiện dần dần, bước nhỏ mà đều, bước chậm mà chắc.

Đã có các vị thánh sống trong thời đại của chúng ta – nổi bật là ĐGH Gioan Phaolô II (1920-2005) và Mẹ Teresa Calcutta (1910-1997). Hiện nay, thế giới cũng đang chú ý tới ĐGH Phanxicô, một người có phong cách “ngược đời” của một thánh nhân giữa đời thường, dám nói thẳng nói thật vì công lý và chân lý, luôn khôn ngoan nói: “Xin cầu nguyện cho tôi.” Nếu thực sự muốn làm thánh thì chúng ta cũng phải có “phong cách lạ” như vậy.

Là Kitô hữu, chắc hẳn ai cũng muốn nên thánh. Nếu muốn nên thánh thì phải yêu Chúa, mức độ yêu Chúa phải được chứng minh qua việc yêu tha nhân, kể cả người không theo phe mình – yêu người là “thước đo tiêu chuẩn” về lòng yêu mến Chúa. Ai yêu Chúa thì phải từ bỏ mình, ngược lại, ai yêu mình thì mặc nhiên từ bỏ Chúa. Rất lô-gích. Phàm nhân chẳng là gì, có là gì thì chỉ là tội nhân khốn nạn, bởi vì con tim của chúng ta là “tro bụi,” hy vọng của chúng ta “hèn hơn đất,” và cuộc đời của chúng ta “tệ hơn bùn.” (Kn 15:10) Chẳng có gì đáng giá mà dám tự mãn. Thế nên phải cố gắng hoàn thiện, nỗ lực không ngừng, rán sức suốt đời – dù ngày hay đêm.

Cái gì cũng có tính liên đới, cái này liên quan cái khác: Nếu muốn nên thánh một mình thì chỉ là ích kỷ – mà ích kỷ thì không thể nên thánh, nghĩa là chúng ta phải không ngừng nỗ lực nên thánh mà còn phải giúp người khác cùng nên thánh. Kinh Koran (Kinh Thánh của Hồi giáo) xác định: “Người hoàn thiện nhất là người đã giúp ích cho nhân loại nhiều nhất.” Rất chí lý!

Tất nhiên ai cũng có thể nên thánh và phải làm thánh, dù chúng ta chỉ là tội nhân khốn nạn, trừ phi chúng ta không muốn. Đã có những tội nhân “lớn” nhưng đã làm thánh: Vua Đa-vít, tướng cướp Dismas (tên gian phi tốt bụng, Lc 23:39-43), binh sĩ Longinô (người cầm giáo đâm thấu tim Chúa Giêsu trên Đồi Sọ), Giáo hoàng tiên khởi Phêrô, Tông đồ Phaolô, Người Phụ nữ Tội lỗi (Lc 7:36-50),... và một người ít “bị” để ý là vua Salômôn, dù là người khôn ngoan nhất nhưng cũng đã cãi lệnh Chúa và đã từng sống trong tội lỗi. (1 V 11:1-13) Thực sự nhận biết mình yếu đuối và tội lỗi xấu xa thì mới nỗ lực hoàn lương để nên thánh, điều cần là đừng bao giờ mất niềm tin vào Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Tính hợp lý rõ ràng. Nếu không cố gắng hoàn thiện mà còn lần lữa thì vô ích, vì Thiên Chúa đã từng khuyến cáo: “Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn; các ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe. Vì tay các ngươi đầy những máu.” (Is 1:15)

Tuy nhiên, đôi khi chúng ta vẫn chú trọng hình thức nên chưa thể “lột xác” được. Giảng hay, nói giỏi, viết tốt,… có sức thu hút người khác, nhưng chính mình lại vẫn giậm chân tại chỗ, chẳng thay đổi được gì. Đó chỉ là “lẻo mép” hoặc “lẻo bút,” hoàn toàn vô ích mà thôi. Loài rắn và loài cua phải lột xác để phát triển, nếu con người không chịu “lột xác” thì không thể phát triển về tâm linh được, mà “lột xác” thì phải đau đớn, phải dứt khoát. Càng “lột xác” nhiều thì càng hoàn thiện, càng tiến bộ trên đàng nhân đức.

Trong một lần hiện ra tại Fátima, Đức Mẹ đã đặt vấn đề với ba trẻ: “Các con có sẵn lòng dâng mình cho Chúa và chịu những đau khổ mà Ngài gởi đến cho các con để xin ơn hoán cải cho các tội nhân không?” Thiên Chúa cũng đã xác định: “Mọi kẻ Ta yêu mến thì Ta răn bảo dạy dỗ. Vậy hãy nhiệt thành và hối cải ăn năn!” (Kh 3:19)

Tội lỗi là thứ siêu vi độc hại, dễ nhiễm mà khó trị: “Khi dục vọng đã cưu mang thì đẻ ra tội; còn tội khi đã phạm rồi thì sinh ra cái chết.” (Gc 1:15) Và từ ngàn xưa, chính Thiên Chúa đã truyền cho ông Mô-sê: “Hãy nói với toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en và bảo chúng: Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta là Đấng Thánh.” (Lv 19:1-2) Đó là lẽ tất nhiên. Thiên Chúa là Đấng thánh thì con cái Ngài cũng phải thánh, không thể khác được. Chắc chắn ai không hoàn thiện thì không được nhìn thấy Thiên Chúa và không được ở bên Ngài. Sống thì phải yêu, biết yêu thì mới sống.

Thật vậy, Thiên Chúa cho biết tính liên đới và bí quyết hoàn thiện: “Ngươi không được để lòng ghét người anh em, nhưng phải mạnh dạn quở trách người đồng bào, như thế, ngươi sẽ khỏi mang tội vì nó. Ngươi không được trả thù, không được oán hận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình. Ta là Đức Chúa.” (Lv 19:17-18) Thấy điều trái tai gai mắt mà làm ngơ thì có thể là bao che hoặc nhát đảm, nhưng dám lên tiếng cảnh báo thì mới là can đảm bảo vệ công lý và yêu mến chân lý. Thật vậy, người bạn thân thiết là người dám phê phán chúng ta cả trăm lần chỉ vì muốn tốt cho chúng ta, ngoài ra không là “bạn” mà chỉ là “bè” mà thôi – loại “bè” thì vô số.

Đấng chí thánh là Thiên Chúa – Thiên Chúa duy nhất. Quả thật, chúng ta thực sự hạnh phúc khi nhận biết và tôn thờ Ngài, Đấng Thánh toàn năng và giàu lòng thương xót. Vì thế, chúng ta phải không ngừng tự nhủ: “Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi, toàn thân tôi, hãy chúc tụng Thánh Danh! Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi, chớ khá quên mọi ân huệ của Người.” (Tv 103:1-2) Phải hành động như vậy với lý do rất minh nhiên: “Chúa tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi, thương chữa lành các bệnh tật ngươi. Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt, bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà.” (Tv 103:3-4) Phàm ngôn không đủ từ ngữ để mô tả tình yêu thương của Ngài – Đấng mệnh danh là tình yêu. (x. 1 Ga 4:8 và 16)

Ngài không chỉ là Đấng chí tôn cao cả mà còn hết lòng thương xót mọi người – cả người tốt và người xấu: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương, chẳng trách cứ luôn luôn, không oán hờn mãi mãi. Người không cứ tội ta mà xét xử, không trả báo ta xứng với lỗi lầm. Như đông đoài cách xa nhau ngàn dặm, tội ta đã phạm, Chúa cũng ném thật xa ta. Như người cha chạnh lòng thương con cái, Chúa cũng chạnh lòng thương kẻ kính tôn.” (Tv 103:8-10, 12-13) Thật vậy, Người không đành bẻ gãy cây lau bị giập, và cũng chẳng nỡ tắt đi tim đèn leo lét. (x. Mt 12:20) Và chúng ta chỉ được phép và phải tôn thờ một mình Ngài mà thôi: “Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta. Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ.” (Xh 20:3-4)

Là thụ tạo của Ngài, chúng ta được coi là những thánh nhân theo ba chiều kích của Giáo Hội là các thánh cùng thông công – GH khải hoàn, GH đau khổ, và GH chiến đấu hoặc lữ hành. Chắc chắn chúng ta phải nên thánh vì một lý do khác nữa, như Thánh Phaolô đã đặt vấn đề: “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? Vậy ai phá huỷ Đền Thờ Thiên Chúa thì Thiên Chúa sẽ huỷ diệt kẻ ấy. Vì Đền Thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và Đền Thờ ấy chính là anh em.” (1 Cr 3:16-17) Thiên Chúa là Đấng Thánh thì không thể ở nơi ô uế tội lỗi. Chúng ta xấu xa, hèn hạ, khốn nạn và bất xứng như thế, vậy mà Thiên Chúa lại cho chúng ta trở thành Đền Thờ của Ngài. Thật không thể nào tưởng tượng nổi, thế nên chúng ta phải tạ ơn Ngài bằng cách cố gắng nên thành, nếu có thể thì làm thánh sống ngay ở đời này. Đó là điều hoàn toàn hợp lý, và Thiên Chúa rất muốn như vậy.

Ôi chao, có lẽ Thánh Phaolô cũng “ngược đời” khi nhắc nhở chúng ta: “Đừng ai tự lừa dối mình. Nếu trong anh em có ai tự cho mình là khôn ngoan theo thói đời thì hãy trở nên như điên rồ, để được khôn ngoan thật. Vì sự khôn ngoan đời này là sự điên rồ trước mặt Thiên Chúa, như có lời chép rằng: Chúa bắt được kẻ khôn ngoan bằng chính mưu gian của chúng. Lại có lời rằng: Tư tưởng kẻ khôn ngoan, Chúa đều biết cả: thật chỉ như cơn gió thoảng ngoài.” (1 Cr 3:18-20) Ít có ai dám “khác người” như vậy, bởi vì có thể người ta sẽ cho là “chạm điện,” người nào “không giống ai” như vậy sẽ bị ghen ghét, bị xa lánh, bị trù dập,… thế nhưng như vậy mới là “khôn ngoan thật” – khôn ngoan theo cách thức của Thiên Chúa. Đúng là không thoải mái – vừa khó vừa “căng” lắm!

Nhưng rồi chuyện gì cũng có bí quyết, có cách xử lý cụ thể, ngay cả những lúc khó khăn nhất tưởng chừng bế tắc. Thánh Phaolô kết luận rất cụ thể: “Đừng ai dựa vào phàm nhân mà tự hào. Vì tất cả đều thuộc về anh em; dù là Phaolô, hay Apôlô, hay Kê-pha, dù cả thế gian này, sự sống, sự chết, hiện tại hay tương lai, tất cả đều thuộc về anh em, mà anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô lại thuộc về Thiên Chúa.” (1 Cr 3:21-23) Thánh Vịnh gia xác định: “Cậy vào thần thế vua quan, chẳng bằng ẩn náu ở bên Chúa Trời.” (Tv 118:9)

Cần có luật để kiềm chế tội ác, nhưng phải được áp dụng với tình yêu thương chứ không thể xử theo kiểu luật rừng. Con người có trước, luật có sau. Luật vị nhân sinh, nhân sinh bất vị luật. Luật ví như dây cương và hàm thiếc để điều khiển ngựa chứng. Luật cũng đa dạng, có luật hợp lòng dân hoặc mất lòng dân. Luật hợp lòng dân là luật chứa sự nhân đạo, nhằm hoàn thiện con người – như Luật Tân Ước, nổi bật là chữ NÊN; còn luật chưa hợp lòng dân là luật chỉ nhắm tới những khung hình phạt – như Luật Cựu Ước, chú trọng chữ CẤM. Luật Cựu Ước xem chừng thoải mái, dễ thực hiện hơn, và ai cũng thích: “Mắt đền mắt, răng đền răng.” Có lý lắm, vì người ta đánh mình thì mình phải “chơi tới bến” chứ không thì người ta chê mình “dở ẹc” hoặc “lép vế.” Thế thì máu tự ái bốc tới chỏm đầu thôi, chịu gì nổi. Nếu chỉ như vậy thì chẳng có gì đáng nói!

Ngược lại, Chúa Giêsu dạy sống tích cực hơn: “Đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm thì hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin thì hãy cho; ai muốn vay mượn thì đừng ngoảnh mặt đi.” (Mt 5:39-41) Wow, thế thì “căng” quá chừng! Chúa Giêsu kỳ thí mồ, dạy những điều chi mà khó mần thế nhỉ? Tuy nhiên, đó lại là chuyện thật chứ không là chuyện bông đùa hoặc giả định.

Ngày xưa, Cựu Luật dạy: “Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù.” Như thế chỉ là “chuyện nhỏ,” các loài động vật khác cũng vẫn thực hiện như vậy, chẳng riêng gì con người. Vì thế, Chúa Giêsu dạy làm những điều mà chúng ta thấy có vẻ “chói tai” vì khó lọt nghe: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” (Mt 5:44) Đúng là gay go thật!

Thế nhưng không thế không được. Phải vậy thôi. Bởi vì Chúa Giêsu giải thích rạch ròi: “Như vậy, anh em mới ĐƯỢC trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao?” (Mt 5:45-48) Những bí quyết Chúa Giêsu đưa ra thật thú vị, rất “khác người,” rất “ngược đời,” nhưng mà rất chí lý vì có tính cao thượng. Quả thật, có dám “khác người” thì mới khả dĩ nên thánh, có thể làm thánh sống ngay trên thế gian này. Chân trần còn chạm đất nhưng hồn vẫn thanh thoát, bay bổng.

Khi nào thực sự nhận biết mình là tội nhân, chúng ta sẽ thấy yêu quý lời dạy của Chúa Giêsu – vừa khuyến cáo vừa động viên. Ngài dạy canh tân không ngừng bằng cách cố gắng “hoàn thiện như Cha trên trời.” (Mt 5:48) Khi định hướng rạch ròi như vậy, chúng ta sẽ thoải mái làm mọi thứ chỉ vì Chúa chứ không vì bất cứ lý do nào khác, như vậy chúng ta có thể thẳng thắn và mạnh mẽ xác định như Thánh Phaolô: “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi.” (2 Cr 5:14). Và có hệ lụy rất kỳ diệu: “Yêu thương là chu toàn lề luật.” (Rm 13:8 và 10)

Cuộc sống nhiêu khê hơn chúng ta tưởng – cả thể lý lẫn tinh thần. Có những thứ cần phải bỏ – buông bỏ hoặc cở bỏ vì đáng ghê tởm, có những thứ phải bám chặt vì đáng yêu quý. Nhưng phải biết BUÔNG thì mới có thể BỎ, phải biết CỞI thì mới có thể BỎ. Đây là vài điều trong Kinh Thánh:

– Chúng ta rên siết, khổ tâm vì không muốn CỞI BỎ cái này, nhưng lại muốn TRÙM thêm lên mình cái kia, để cho cái phải chết tiêu tan trong sự sống. (2 Cr 5:4)

– Anh em phải CỞI BỎ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải MẶC LẤY con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện. (Ep 4:22-24)

– Chúng ta hãy CỞI BỎ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta. (Dt 12:1)

Lạy Thiên Chúa chí thánh, con xin nhận tội, điều gian ác, con sẽ không dám làm; xin chỉ cho con điều con không thấy, nếu con đã bất công, con sẽ không tái phạm. (G 34:31-32) Con chân thành xin lỗi Ngài, bởi vì con viết nhiều và nói lắm mà chẳng sống được bao nhiêu. Xin giúp con biết tự làm khó mình mà cố gắng tích cực canh tân từng ngày theo định hướng của Ngài, nỗ lực hoàn thiện theo mỗi nhịp thở. Ngài là Đấng Chí Thánh thì con phải hoàn thiện thì mới xứng đáng. Xin thương biến đổi con theo Thánh Ý Ngài. Lạy Thiên Chúa nhân hậu, con đơn độc mình ên, xin cứu giúp con, ngoài Ngài ra, con đâu còn ai nữa! (Et 4:17t) Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

THỰC HÀNH MÙA CHAY

Thiên Chúa luôn tốt lành đến nỗi Ngài không ngừng ban dồi dào ân sủng cho chúng ta. Giáo Hội, Nhiệm Thể Đức Kitô, cung luôn phân phát các ân sủng cho chúng ta. Đó là cách thể hiện đặc biệt theo chu kỳ Phụng Vụ của Giáo Hội, nhất là trong các mùa quan trọng – Mùa Vọng dẫn tới lễ Giáng Sinh, Mùa Chay dẫn tới đỉnh cao là Tuần Thánh và lễ Phục Sinh, trọng nhất trong các lễ trọng.

Việc gì cũng cần chuẩn bị, đặc biệt là Lễ Vượt Qua. Chúng ta miệt mài với nhiều hoạt động của gia đình, xã hội, và công việc, cho đến khi các mùa quan trọng này gõ cửa lòng chúng ta. Sách Khải Huyền cho biết: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta.” (Kh 3:20) Thánh Augustinô giải thích ý tưởng này và nói rằng Chúa Giêsu là Lữ Khách đến gõ cửa, nếu chúng ta không mở cửa, Ngài sẽ đi và không trở lại nữa. Thiên Chúa không muốn điều đó xảy ra với chúng ta!

Do đó, chúng ta có 10 lời cầu đặc biệt với Chúa khi chúng ta kính nhớ tình yêu cao cả của Ngài dành cho chúng ta – Cuộc Khổ Nạn, Sự Chết và Phục Sinh. Nói cho ngay và nói thẳng ra là nếu chúng ta thực sự muốn sống Mùa Chay sinh ích lợi để chết cho tội lỗi, bí quyết chiến thắng là cầu nguyện liên lỉ, miệt mài và mạnh mẽ. Ước mong Mùa Chay này sẽ là Mùa Chay tuyệt vời nhất trong cuộc đời mỗi chúng ta!

I. CHIÊM NGƯỠNG CHÚA GIÊSU CHỊU ĐÓNG ĐINH

Trong cuốn Linh Thao (Spiritual Exercises), Thánh Y Nhã khuyên chúng ta nên chiêm ngắm Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Trong Mùa Chay, nên dành thời gian để chiêm ngưỡng Chúa Giêsu chịu chết trên Thánh Giá vì yêu thương chúng ta – trong đó có bạn và tôi.

Hãy ghi nhớ lời Thánh Y Nhã: “Chúa Giêsu chết cho cả nhân loại.” Và Ngài cũng chết cho bạn. Nếu bạn là người duy nhất trên thế gian này, Chúa Giêsu vẫn chịu đau khổ và chịu chết vì yêu thương bạn và để cứu lấy linh hồn bất tử của bạn. Trong con mắt của Thiên Chúa, bạn thực sự quý giá và linh hồn của bạn đáng giá biết bao!

II. ĐÀNG THÁNH GIÁ

Một cách khác là đi Đàng Thánh Giá, đặc biệt hữu ích trong Mùa Chay. Trong nhà thờ nào cũng có Đàng Thánh Giá. Hãy suy niệm và hướng mắt từng nơi trong 14 chặng Đàng Thánh Giá. Có vài cách thực hành:
1) Cùng nhau suy ngắm Đàng Thánh Giá theo một người hướng dẫn.
2) Đi Đàng Thánh Giá riêng một mình. Có thể dùng sách của Thánh Anphongsô Liguori.
3) Đơn giản là ngắm nhìn từng chặng Đàng Thánh Giá và thầm thĩ cầu nguyện theo cảm xúc lúc đó.
Chúa Giêsu yêu thương tất cả chúng ta, đến nỗi Ngài chấp nhận chịu đau khổ và chịu chết vì chúng ta.

III. BẢY NỖI ĐAU CỦA ĐỨC MẸ

Suy niệm về bảy nỗi đau của Đức Mẹ giúp chúng ta thêm yêu mến Chúa Giêsu. Đây là bảy nỗi đau của Đức Mẹ:
1. Lời tiên tri của ông Simêôn,
2. Cuộc chạy trốn sang Ai Cập.
3. Lạc mất Con Trẻ ba ngày.
4. Gặp Chúa Giêsu trên đường tới Núi Sọ.
5. Chúa Giêsu chịu đau khổ và chịu chết.
6. Xác Chúa Giêsu được hạ xuống và đặt vào vòng tay Đức Mẹ (La Pieta).
7. Mai táng Chúa Giêsu.

IV. BẢY LỜI CUỐI CỦA CHÚA GIÊSU

Một cách suy niệm hiệu quả là suy niệm về những lời cuối của Chúa Giêsu khi Ngài bị treo trên Thập Giá. TGM Fulton Sheen viết và giảng nhiều lần về các lời này, nhất là trong Tuần Thánh. Đây là bảy lời cuối cùng của Chúa Giêsu nói ra từ trên Thánh Giá:

1. “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.”
2. “Tôi khát!”
3. “Thưa Mẹ, đây là con của Mẹ; Đây là Mẹ của con.”
4. “Ngay hôm nay, anh sẽ ở trên Thiên Đàng với tôi.”
5. “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”
6. “Lạy Cha, con xin phó linh hồn con trong tay Cha.”
7. “Mọi sự đã hoàn tất.”

V. SUY NIỆM CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA

Cả bốn Phúc Âm đều nói tới cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Hãy chìm sâu vào dòng suy tư về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu – Đấng Cứu Độ, bằng cách sử dụng Kinh Thánh. Qua các Phúc Âm, chúng ta có thể biết cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu trong các chương này: Mt 26-27, Mc 14-15, Lc 22-23, Ga 18-19. Có thể đọc và cầu nguyện theo các chương đó, chú ý các chi tiết khác nhau với nét riêng trong mỗi Phúc Âm.

VI. THÁNH VỊNH 22
Đọc và suy niệm với Tv 22 là cách tuyệt vời. Vượt qua bóng tối của sự hoài nghi, Thánh Vịnh này làm nổi bật các chi tiết về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, mặc dù Thánh Vịnh này có từ hằng trăm năm trước khi Chúa Giêsu giáng sinh làm người. Một lý do khác để tin Chúa Giêsu là Con của Chúa Cha hằng hữu. Hãy đọc Thánh Vịnh này và bạn sẽ cảm thấy như thể mình đang đứng dưới chân Thánh Giá cùng với Đức Mẹ, Thánh Gioan, và Thánh Mađalêna vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.

VII. THÁNH LỄ
Thánh Lễ là phương cách hiệu quả mà chúng ta có thể dâng lên Thiên Chúa. Thật vậy, Thánh Lễ là Hy Lễ trên Đồi Can-vê xưa mà Chúa Giêsu hiến dâng lên Chúa Cha để cứu độ nhân loại nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Nếu có thể, hãy cố gắng tham dự Thánh Lễ trong Mùa Chay, sốt sắng rước lễ với lòng sùng kính và yêu mến hết sức.

VIII. SUY NIỆM THEO PHIM
Một phương cách hữu hiệu khác là xem phim và suy niệm. Nên xem các phim như Cuộc Khổ Nạn Của Chúa Giêsu, Phép Lạ Marcelino (1955), Mầu Nhiệm Mân Côi (Patrick Peyton). Tuy nhiên, hãy đeo cặp kính chiêm niệm và cố gắng suy niệm. Các hình ảnh, nhất là cảnh Chúa Giêsu chịu hành hạ, sẽ ghi sâu vào tâm trí chúng ta và có thể gợi lên cách chiêm ngưỡng, thúc giục chúng ta sống Mùa Chay có hiệu quả hơn.

IX. GIỜ THÁNH
Hãy rộng lòng với Chúa Giêsu, Đấng đã đổ đến giọt máu cuối cùng vì yêu thương chúng ta. Nếu có thể, hãy cố gắng làm Giờ Thánh mỗi ngày trong Mùa Chay này. ĐHY Fulton Sheen gọi đó là Giờ Quyền Phép. Đó là cách tốt làm Giờ Thánh trước Nhà Tạm, nơi Chúa Giêsu hiện diện trong Thánh Thể – với cả linh hồn, thần tính và nhân tính. Hãy tìm một góc lặng để cầu nguyện ngay trong gia đình mình. Cách này giúp biến đổi cuộc đời bạn.

X. KINH MÂN CÔI – MÙA THƯƠNG
Trong cuốn The Blessed Virgin Mary and the Rosary – Đức Trinh Nữ Maria và Chuỗi Mân Côi, Thánh GH Gioan Phaolô II đề nghị chúng ta chiêm ngưỡng Tôn Nhan Chúa Giêsu qua cách nhìn của Đức Mẹ, đó là cách tốt để chiêm ngưỡng Chúa Giêsu chịu đóng đinh theo tầm nhìn của Đức Mẹ. Đây là các mầu nhiệm của Mùa Thương:
1) Chúa Giêsu hấp hối trong Vườn Dầu.
2) Chúa Giêsu chịu đánh đập.
3) Chúa Giêsu đội vòng gai.
4) Chúa Giêsu vác Thánh Giá.
5) Chúa Giêsu chịu đóng đinh và tắt thở.
Tóm lại, lời cầu nguyện và ước mong cháy bỏng của chúng ta sẽ là Mùa Chay lợi ích nhất để có thể tận hưởng niềm vui trong Lễ Phục Sinh cùng với Chúa Giêsu Kitô – Đấng phục sinh vinh quang, bằng cách nỗ lực sống tinh thần Mùa Chay. Cầu mong chúng ta dám chết cho tội và được sống lại với Đấng Phục Sinh – Chúa Giêsu kitô.

LM ED BROOM, OMV

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Khởi đầu Mùa Chay – 2020

 

 RÁC RƯỞI

Rác là những thứ phế thải, bẩn thỉu và ô uế. Không phải là vứt bừa bãi, vứt đâu cũng được, xả rác lung tung, tiện tay, mà phải vứt đúng vị trí và phải biết xử lý. Chính cách vứt rác cũng cho thấy bản chất con người như thế nào, thực sự có ý thức văn hóa hay không.

Chúa Giêsu nói: “Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.” (Mt 6:34) Đủ thứ khổ, đủ mức khổ, đủ kiểu khổ. Và chúng ta cũng có thể nói: “Ngày nào có rác của ngày đó.” Đúng như vậy, bởi vì ngành nghề nào có rác của ngành nghề đó, ở mọi lĩnh vực đều có rác, từ trong nhà ra ngoài ngõ, từ chỗ nhỏ tới nơi to, từ nơi xa tới nơi gần, từ thể lý tới tinh thần. Ngày thường đã thấy nhiều rác, ngày lễ, ngày Tết hoặc các dịp tổ chức tiệc tùng thì rác tràn lan. Chỉ nhìn thôi mà cũng thấy ngộp rồi!

Rác thải không chỉ gây xốn mắt mà còn gây độc hại cho sức khỏe con người, đặc biệt là hệ hô hấp. Trong cuộc sống đời thường rất đa dạng rác – đủ thứ bị thải và phải bỏ, nên người ta gọi là rác thải – hoặc rác rưởi. Chỉ riêng tại Việt Nam, mỗi ngày lượng rác thải lên tới 12 triệu tấn, ước tính năm 2020 là 20 triệu tấn rác mỗi ngày. Thật là khủng khiếp quá!

Xét trên bình diện quốc tế, tổ chức Liên Hiệp Quốc ước tính mỗi năm lượng rác nhựa đủ để phủ 4 lớp trên mặt trái đất – nơi được mệnh danh là hành tinh xanh. Thật mỉa mai và nhục nhã cho loài người! Người ta ước tính tới năm 2050, khối lượng rác nhựa ở các đại dương sẽ nặng hơn khối lượng cá. So với thế giới, Việt Nam là quốc gia thải rác nhựa khá nhiều.

Rác không chỉ gây ô nhiễm môi trường, phá hệ sinh thái, mà còn gây bệnh cho con người và động vật, thậm chí là gây ra đại dịch. Xã hội càng hiện đại thì rác thải càng độc hại, tỷ lệ thuận về nguy cơ, nhưng lại tỷ lệ nghịch với sự văn minh – bởi vì người ta càng ngày càng mất ý thức, cứ hô hào Xanh-Sạch-Đẹp nhưng chỉ làm cho có phong trào theo cái quy trình nặng hình thức, hết phong trào rồi đâu lại vào đấy, thậm chí có khi còn tồi tệ hơn: Chỗ nào cũng thấy bảng bảng ghi văn hóa, từ thôn làng thới thành thị, nhưng lối sống lại phi văn hóa. Lo hình thức mà bỏ nội tâm, lo chiến dịch mà bỏ ý thức, lo ngắn mà bỏ dài, chỉ khoe mẽ – gọi là bệnh thành tích. Đó là dạng ô nhiễm con người, ô nhiễm lương tâm, ô nhiễm tư tưởng, ô nhiễm ý thức hệ,... Lối suy nghĩ thiển cận khiến người ta chạy đua theo thành tích. Hoàn toàn vô ích và bất lợi. Rác tội lỗi!

Ai cũng biết và xác định rằng vệ sinh môi trường là điều cần thiết, nhưng vệ sinh ý thức hệ còn cấp bách hơn. Vì thiển cận mà hóa ảo tưởng, vì ảo tưởng mà hóa ích kỷ, vì ích kỷ mà hóa tham lam, vì tham lam mà hóa mưu mô, vì mưu mô mà hóa tội ác, và vì tội ác mà chịu hậu quả. Cứ thế và cứ thế theo “chuỗi quy trình” của những người có chức to quyền lớn, ngồi ghế cao và rảnh rỗi quá rồi bày ra đủ thứ luật lệ làm khổ người khác, óc nhỏ thì nghĩ không rộng, không sâu, không dài, thế nên bất chấp và lộng hành ngang ngược. Loại rác rưởi đó tác hại khó lường, thực sự đáng quan ngại và phải hủy bỏ càng sớm càng tốt.

Ngày xưa Thiên Chúa đã khuyến cáo về việc “đổ rác” cấp tốc: “Hãy rửa cho sạch, tẩy cho hết, và vứt bỏ tội ác của các ngươi cho khỏi chướng mắt Ta. Đừng làm điều ác nữa!” (Is 1:16) Đồng thời Ngài cũng khuyến khích sống tích cực: “Hãy tập làm điều thiện, tìm kiếm lẽ công bình, sửa phạt người áp bức, xử công minh cho cô nhi, biện hộ cho quả phụ.” (Is 1:17)

Loại rác nào cũng bẩn thỉu, nguy hiểm, gây ô nhiễm, phải thải bỏ ngay – nhất là loại rác tinh thần và tâm linh (thói hư, tật xấu, tội lỗi,...) Thánh Giacôbê cho biết: “Nó là một bộ phận nhỏ bé của thân thể, mà lại huênh hoang làm được những chuyện to lớn. Cứ xem tia lửa nhỏ bé dường nào, mà làm bốc cháy đám rừng to lớn biết bao! Cái lưỡi cũng là một ngọn lửa, là cả một thế giới của sự ác. Cái lưỡi có một vị trí giữa các bộ phận của thân thể chúng ta, NÓ LÀM CHO TOÀN THÂN BỊ Ô NHIỄM, đốt cháy bánh xe cuộc đời, vì chính nó bị lửa hoả ngục đốt cháy.” (Gc 3:5-6) Loại rác được Thánh Giacôbê đề cập là loại rác gây ô nhiễm cả xác lẫn hồn. Rất nguy hiểm và thật đáng sợ, có thể làm bùng phát loại ôn dịch nguy hiểm nhất.

Ngày nay, càng văn minh hiện đại thì con người càng nham hiểm. Có những thứ chế biến thuốc để bảo vệ sức khỏe mà những kẻ ác ôn nỡ lòng sử dụng những thứ rác rưởi để tái tạo thành thuốc uống, đồ ăn,... Chất độc ngấm trực tiếp vào cơ thể chứ chẳng gián tiếp qua con đường nào khác, lương tâm họ bẩn còn hơn rác rưởi. Có loại rác hữu hình thì cũng có thứ rác vô hình hoặc trừu tượng. Giáo dục ô nhiễm thì làm sao người ta có thể sạch được?

Hệ lụy và tính liên đới không thể tránh. Ai cũng biết rằng Sinh – Tử là quy luật muôn thuở, bất biến, không ai có thể chuyển hóa. Thật vậy, y học và khoa học có tìm đủ cách để chữa trị hoặc cứu vãn, kéo dài sự sống, nhưng rồi cũng không ai thoát khỏi lưỡi hái của Tử Thần. Lão ta chặt mạnh hoặc cứa nhẹ thì ai cũng phải trút hơi thở cuối cùng, giã biệt trần gian, giàu sụ hoặc nghèo rớt cũng phải ra đi với đôi tay trắng, không có gì ráo trọi, y như lúc sinh ra, chỉ khác một điều: khi sinh ra thì tay nắm, khi tắt thở thì tay buông – xụi lơ.

Xưa nay người ta vẫn thường nói rằng “nghĩa tử là nghĩa tận,” buồn thương chất đầy, nỗi niềm khó tả khi mất đi một người thân. Ánh sao băng về nơi xa xôi, thăm thẳm... Tuy nhiên, từ những “chuyến xe cuối cùng” của một con người lại thấy bay bay xuống đường những tờ tiền âm phủ. Điều này không chỉ là mê tín dị đoan mà còn làm bẩn đường phố, chắc chắn rất lãng phí. Tại sao? Vì người ta phải bỏ ra một số “tiền thật” để mua những tờ “tiền giả” thì đúng là lãng phí. Vô cùng nghịch lý! Người chết ở thế giới vô hình, làm gì có kiểu sinh hoạt như trần gian này mà cần xài tiền hoặc các phương tiện như chúng ta hiện nay? Thật phi lý, vô ý thức, phạm pháp, nói thẳng ra là ngu xuẩn. Đáng trách là có những người trí thức vẫn mê tín như vậy!

Cũng chưa hết, nếu “lưu ý” thì thấy tại các giao lộ nào có người phát các tờ bướm hoặc các cung đường vừa có xe tang đi qua thì người ta nhìn thấy gì? Rất nhiều rác, đủ loại rác. Chỉ khổ cho người phu quét đường, vì họ phải chất chồng thêm gánh nặng, tăng thêm sự mệt mỏi, họ không dừng chổi để ĐỨNG NGHE (như Trịnh Công Sơn nói) mà họ dừng chổi để ĐỨNG NHÌN và LẮC ĐẦU NGAO NGÁN “cái sự đời” của con người ngày nay vẫn mê tín dị đoan, dù người ta đang sống trong kỷ nguyên hiện đại của thế kỷ XXI. Nói theo ngôn từ thời @ là BoTay.com, và đúng là... hết ý kiến. Thế thì “bó toàn thân” như xác ướp Ai Cập vậy.

Chỉ vì coi trọng hình thức, ưa bề ngoài, thế nên cứ khoác lác hoặc “nổ” về chiến dịch này đến chiến dịch nọ, hết phong trào nọ tới phong trào khác, nhưng rồi chẳng thay đổi được gì, không khác kiểu giậm chân tại chỗ hoặc đánh trống bỏ dùi. Cứ “bình thường hóa” như vậy thì làm sao môi trường có thể sạch và đẹp? Các dạng “xả rác” – rải tiền âm phủ và phát tờ bướm – khắp nơi như vậy mà tại sao không thấy nhà chức trách nghiêm trị, nhưng lại cứ tìm cớ hạch sách dân lành, đàn áp những người làm ăn lương thiện? Nhổ cỏ mà không nhổ tận gốc thì vô ích mà thôi!

Chắc chắn mê tín dị đoan là một loại rác nguy hiểm gây lây nhiễm mau chóng hơn cả các loại rirus độc hại. Liên quan chuyện mê tín dị đoan, Kinh Thánh đặt vấn đề: “Từ DƠ BẨN, có gì sạch được sao? Từ GIẢ DỐI, có chi thật được nào? Bói toán, rút quẻ, chiêm bao cũng đều hão huyền cả, như những tưởng tượng của phụ nữ sắp sinh con.” (Hc 34:4-5) Rác nào cũng bẩn, mặc dù khác nhau về mức độ bẩn. Thiên Chúa ghê tởm người xưa và nói thẳng: “Tại nhà Ít-ra-en, Ta đã thấy một điều ghê tởm, ở đó, Ép-ra-im đã làm điếm, Ít-ra-en đã ra DƠ BẨN.” (Hs 6:10) Đó cũng là lời Đấng Chí Thánh nói với mỗi chúng ta ngày nay, nhất là trong cơn đại dịch Corona này.

Mọi thời đại đều có loại rác đặc thù của thời đó. Về loại rác ngẫu tượng, Kinh Thánh cho biết: “Họ lấy tượng thần chúng mà thờ: đó chính là cạm bẫy họ sa chân. Họ giết con mình cả trai lẫn gái, mà hiến quỷ tế thần. Họ đổ máu vô tội, máu con trai con gái của mình, dâng tiến thần Ca-na-an làm tế phẩm, và vì máu này, đất đã ra Ô UẾ. Họ đã thành DƠ BẨN vì những hành vi đó, phản bội tình yêu Chúa bằng những việc họ làm.” (Tv 106:36-39) Một loại rác ngẫu tượng khác hữu hình và cụ thể nhưng có liên quan tâm linh: “Những tượng chạm dát bạc, tượng đúc bọc vàng của ngươi, ngươi sẽ coi là Ô UẾ, sẽ vất chúng đi như đồ DƠ BẨN và nói: Cút đi!” (Is 30:22) Mê vật chất là một dạng thờ ngẫu tượng mà người ta ít lưu ý hoặc khinh suất. Thánh Phaolô xác định: “Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc.” (1 Tm 6:10) Nhóm Biệt Phái “đại diện” cho loại người có “máu” này.

Bất cứ lúc nào cũng là “cơ hội tốt” để nhìn lại thế giới, xã hội, đất nước, Giáo Hội, gia đình, và đặc biệt là xét lại chính mình, để xem có loại rác nào cần thải ngay hay không. Cầu xin Thiên Chúa thêm sức để chúng ta có thể đủ can đảm và dứt khoát vứt bỏ mọi thứ rác rưởi – cả về vật chất lẫn tinh thần. Nhờ vậy mà chúng ta có thể thực sự trở nên “con người mới” như Thầy Chí Thánh Giêsu hằng mong muốn và khuyến cáo.

Thánh Phaolô gọi đó là cách “mặc lấy con người mới” – con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự SỐNG CÔNG CHÍNH và THÁNH THIỆN. (Ep 4:24) Mục đích để làm gì? Lý do rất đơn giản và rõ ràng: “Vì anh em đã cởi bỏ con người cũ với những hành vi của nó rồi, và anh em đã mặc lấy con người mới, con người hằng được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá, để được ƠN THÔNG HIỂU.” (Cl 3:10) Vứt bỏ mọi thứ rác rưởi là vệ sinh chính mình, làm sạch chính mình để hoàn thiện mỗi ngày một hơn. Cứ từ từ, chậm mà chắc.

Tuy nhiên, thứ cần thiết thì người ta lại coi thường: “Một số người đã VỨT BỎ lương tâm ngay thẳng đó, nên đức tin của họ đã bị chết chìm.” (Tm 1:19) Thứ rác rưởi thì người ta lại không mau chóng xử lý triệt để: “Hãy rửa cho sạch, tẩy cho hết, và VỨT BỎ tội ác của các ngươi cho khỏi chướng mắt Ta. ĐỪNG làm điều ác nữa!” (Is 1:16) Kẻ không khôn thì ắt phải khốn. Hệ lụy tất yếu. Chính Thiên Chúa đã khuyến cáo: “Khốn cho những ai biến lẽ phải thành ngải đắng và vứt bỏ công lý xuống đất đen.” (Am 5:7) Nguyên nhân rất có thể do người ta vứt lộn và vứt không đúng chỗ.

Cuộc sống con người có vô số loại rác – từ rác thật tới rác ảo, từ vật chất tới tinh thần. Đây là một số “rác rưởi” mà Thiên Chúa rất ghê tởm:

1. BẢY ĐIỀU CHÚA GHÊ TỞM – MẮT kiêu kỳ, LƯỠI điêu ngoa, TAY đổ máu người vô tội, LÒNG mưu tính những chuyện xấu xa, CHÂN mau mắn chạy đi làm điều dữ, kẻ LÀM CHỨNG GIAN thốt ra lời dối trá, người GIEO XUNG KHẮC giữa anh em. (Cn 6:17-19)

2. SÁU ĐIỀU CHÚA GỚM GHÉT – Đây tên gian ác, đây đứa xấu xa, nó tới lui, MIỆNG buông lời dối trá, nó nháy MẮT, khều CHÂN, dùng NGÓN TAY ra hiệu. Nó toan tính trong LÒNG mọi chước độc mưu thâm, lúc nào cũng GIEO BẤT HOÀ, xung khắc. Thế nên tai họa sẽ giáng xuống nó thình lình, bất ngờ nó bị suy sụp, vô phương cứu chữa. (Cn 6:12-15)

Ngày nay có loại rác ảo mà thật. Đó là những kẻ thừa nước đục thả câu, gây lây nhiễm bằng các tin đồn thất thiệt, những kẻ ác tâm muốn trục lợi, rồi vì sợ sự thật mà người ta giấu giếm thông tin thật, cũng có những kẻ lại “quá lời” nên gây hoang mang trong cộng đồng,... Tất cả đều là rác rưởi độc hại!
Cuối cùng, chỉ có Thiên Chúa toàn năng mới có thể dập tắt mọi thứ lửa, hủy diệt mọi thứ rác rưởi trên thế gian này. Chúa Giêsu đã nhắn nhủ và động viên: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy!” (Ga 14:1) Đồng thời Ngài cũng trấn an: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mt 14:27; Mc 6:50; Ga 6:20)

Điều cần thiết để được cứu thoát là phải chân thành sám hối: “Lạy Chúa, trước Thánh Nhan, tội chúng con thật nhiều vô kể, lỗi chúng con lại tố cáo chúng con. Quả thế, tội chúng con sờ sờ trước mặt, lỗi chúng con, chúng con biết cả rồi.” (Is 59:12) Và chắc chắn một điều: “Con cô đơn, xin đến cứu giúp con. Lạy Chúa, ngoài Ngài ra, con đâu còn ai nữa!” (Et 4:17t)

Vì cuộc khổ nạn đau thương của Chúa Giêsu Kitô, xin Cha phá tan dịch Corona, xin tha thứ cho ác nhân mưu hại, xin cứu thoát chúng con và toàn thế giới. Xin Đức Mẹ Lộ Đức cứu giúp tội nhân chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU
Ngày TGP Saigon ăn chay và cầu nguyện cho đại dịch Corona, 11-02-2020

 

NGÀY YÊU THƯƠNG

Ngày 14 tháng Hai được coi là Ngày Tình Yêu hoặc Ngày Tình Nhân, ngày dành cho những người yêu nhau – tình yêu nam nữ. Tuy nhiên, chúng ta không chỉ giới hạn trong loại tình yêu đôi lứa, mà có thể (và nên) mở rộng ý nghĩa với các loại tình yêu khác, đặc biệt là tình yêu cao cấp theo ý nghĩa vị tha mà Thiên Chúa muốn, và có thể gọi là Ngày Yêu Thương. Thật vậy, mọi thứ đều khởi nguồn từ Thiên Chúa, đặc biệt là tình yêu, bởi vì “Thiên Chúa là tình yêu.” (1 Ga 4:8 và 16)

Tình yêu có 4 loại, hoặc cấp độ, từ cơ bản đến sâu sắc: [1] PHILIA – tình yêu bạn bè, [2] STORGE – tình yêu gia đình, [3] EROS – tình yêu đôi lứa, và [4] AGAPE – tình yêu cao cả, vị tha, dám xả thân vì người khác. Bác ái mệnh danh là Agape – cao cả nhất, khác hẳn với Eros, Storge và Philia. Thánh LM TS Tôma Aquinô (1225-1274) xác định: “Nếu KHÔNG có đức ái thì KHÔNG có bất kỳ đức hạnh nào, giống như nếu KHÔNG có mặt trời thì cũng KHÔNG có tinh tú nào.”

Ngày Yêu Thương nhắc nhở chúng ta đấm ngực ăn năn và thành tâm sám hối: “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Thánh Phaolô khuyên: “Đây là điều tôi nói với anh em, và có Chúa chứng giám, tôi khuyên anh em: Đừng ăn ở như dân ngoại nữa, vì họ sống theo những TƯ TƯỞNG PHÙ PHIẾM của họ. Tâm trí họ đã ra tối tăm, họ XA LẠ với sự sống Thiên Chúa ban, vì LÒNG CHAI DẠ ĐÁ khiến họ trở nên dốt nát. Họ đã MẤT Ý THỨC nên đã BUÔNG THẢ, sống PHÓNG ĐÃNG đến mức làm mọi thứ ô uế cách VÔ ĐỘ. Còn anh em, anh em đã chẳng học biết về Đức Kitô như vậy đâu; ấy là nếu anh em đã được nghe nói về Đức Giêsu và được dạy dỗ theo tinh thần của Người, đúng như sự thật ở nơi Đức Giêsu. Vì thế, anh em phải CỞI BỎ CON NGƯỜI CŨ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những HAM MUỐN lừa dối, anh em phải để THẦN KHÍ ĐỔI MỚI tâm trí anh em, và phải MẶC LẤY CON NGƯỜI MỚI, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự SỐNG CÔNG CHÍNH và THÁNH THIỆN.” (Ep 4:17-24)

Thật chí lý với ý nghĩa trong câu tục ngữ Việt Nam: “Biết sửa sai không ai chê muộn.” Còn hiền triết Khổng Tử nói: “Không biết mình có lỗi mới thành ra người có lỗi.” Động thái “biết” rất quan trọng, bởi vì “tư tưởng không thông, vác bình không cũng nặng” vậy.

TRẦM THIÊN THU
Ngày Tình Yêu – 2020

 

February 22, 2020