dongcong.net
 
 


Lễ Các Đẳng Linh Hồn 2-11 : T.T. Thu

Giáo Hội Đau Khổ

(Lễ các Đẳng)

Giáo hội đau khổ

(Lễ các Đẳng Linh Hồn)

Tháng Mười Một được Giáo hội dành riêng để chúng ta nỗ lực chân thành cầu cho các linh hồn nơi Luyện Hình, dịp tốt để thể hiện đức ái Kitô giáo, thể hiện lòng thương xót với người khác và thể hiện tính liên kết của tinh thần “các thánh cùng thông công”.

Tháng Cầu Hồn tím rịm nỗi nhớ thương, khói nhang trầm buồn, nhưng những ánh nến vẫn lung linh niềm hy vọng, tất cả nỗi buồn thương chợt hóa thành niềm hạnh phúc vô thường. Hằng năm, những ngày này có biết bao linh hồn được giải thoát – trong đó có những người thân của mỗi chúng ta nữa. Rồi các ngài bay thẳng về Thiên Quốc hợp đoàn cùng các thánh, cùng được diện kiến Tôn Nhan Thiên Chúa và đời đời chúc tụng Thiên Chúa Ba Ngôi.

Khi cầu nguyện, người ta thường cầu cho các linh hồn mồ côi. Thiết nghĩ chẳng có linh hồn nào mồ côi. Có lẽ chữ mồ côi chúng ta hiểu theo phần đời, vì có những người mồ côi theo nghĩa nào đó, có thể họ bị hất hủi, bị bỏ rơi, cô thân, đơn độc. Nhưng về tâm linh, không linh hồn nào mồ côi – kể cả các linh hồn thai nhi. Tại sao? Hằng ngày, trong mọi giờ kinh, đặc biệt là các Thánh Lễ, Giáo hội luôn cầu cho tất cả các linh hồn – thậm chí cầu cho cả người còn sống. Tính liên đới của Giáo hội thật tuyệt vời!

Còn nữa, mỗi khi lần Chuỗi Mân Côi, chúng ta luôn cầu xin nhiều lần: “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội chúng con, xin đưa các linh hồn lên Thiên Đàng, nhất là những linh hồn cần đến Lòng Chúa Thương Xót hơn”. Cuối giờ kinh, chúng ta cũng thường đọc Kinh Vực Sâu để cầu cho các linh hồn, tức là không phân biệt linh hồn thân quen hay xa lạ, bất kỳ dân tộc nào. Tại các cộng đoàn tu trì, các giờ Kinh Nhật Tụng (Thần Tụng, Thần Vụ) đều cầu cho các linh hồn. Vâng, không hề có linh hồn mồ côi như chúng ta tưởng.

Có sinh thì có tử. Vì phạm tội mà con người phải chết. Quy luật muôn thuở. Chết là nỗi buồn kinh khủng của con người, là thất bại lớn nhất của con người. Nhưng nỗi u sầu đó trở thành niềm hy vọng đối với những ai tin vào Đức Kitô. Thánh Phaolô đặt vấn đề và giải thích: “Khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6:3-4). Vâng, như vậy cái chết không phải là “dấu chấm hết”, mà chỉ là “dấu phẩy”, là bước chuyển tiếp sang cuộc sống mới vĩnh hằng. Thánh Phanxicô Assisi xác định: “Chết là sống muôn đời” (Kinh Hòa Bình).

Sự thật kỳ diệu vậy ư? Đúng và chắc chắn như thế. Thánh Phaolô phân tích: “Vì chúng ta đã nên một với Đức Kitô nhờ được chết như Người đã chết, chúng ta cũng sẽ nên một với Người nhờ được sống lại như Người đã sống lại. Con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị huỷ diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa. Quả thế, ai đã chết thì thoát khỏi quyền của tội lỗi” (Rm 6:5-7). Chết là giải thoát khỏi đau khổ, hoàn toàn có lợi cho chúng ta. Triết lý tâm linh này không hề dễ hiểu nếu không có niềm tin Kitô giáo.

Thánh Phaolô định tín: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta. Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người” (Rm 6:8-9). Tử thần chính là ma quỷ. Đoàn âm binh của tướng Luxiphe đành thúc thủ, vì thế chúng cố vùng vẫy như con giun oằn khi bị đạp, như con rắn tìm cách cắn gót chân Đức Maria. Và rồi chúng tìm cách cám dỗ phàm nhân theo phe chúng. Nhưng cuối cùng, chắc chắn chúng sẽ hoàn toàn thất bại.

Cầu cho các linh hồn là dịp để chúng ta nhìn lại thân phận mình mà chấn chỉnh Đức Tin. Có Chúa là có tất cả: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” (Tv 23:1). Tất cả đều sẵn sàng như tác giả Thánh Vịnh đã xác nhận: “Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người” (Tv 23:2-3). Thiên Chúa là Chúa Tể càn khôn, chí minh và chí thiện, nơi Ngài chỉ có những gì thánh thiện nhất. Do đó, Ngài cũng chỉ làm những gì tốt lành mà thôi. Sự xấu có xảy ra với chúng ta là TẠI CHÚNG TA!

Có được Vị Chúa như vậy thì thật hạnh phúc, chẳng còn gì phải lo nữa. : “Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm. Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm, ly rượu con đầy tràn chan chứa. Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên” (Tv 23:4-6).

Cô Mác-ta là người đại diện cho cả nhân loại ghi nhận lời hứa của Đức Giêsu Kitô: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11:25-26). Chúng ta may mắn là những người đã tin Ngài, vấn đề còn lại là chúng ta phải cố gắng trung tín với Ngài cho tới hơi thở cuối cùng, dù hoàn cảnh có thế nào.

Để có được sự sống đó, chúng ta phải có Bánh Hằng Sống. Đúng như Chúa Giêsu đã nói: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Bánh tôi ban tặng chính là thịt tôi đây để cho thế gian được sống” (Mt 6:51).

Khi nghe nói vậy, người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau vì lời đó không bình thường, khiến họ chói tai. Họ không thể hiểu được Chúa Giêsu có thể cho chúng ta ăn thịt Ngài. Họ không tin vì họ hiểu theo cách thức của phàm nhân. Bình thường thì đúng là không ai ăn thịt hoặc uống máu người, nhưng họ đâu biết rằng với Thiên Chúa thì mọi thứ đều có thể.

Và Chúa Giêsu tái xác định với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống” (Mt 6:52-55). Chúa Giêsu biết điều Ngài nói rất khó hiểu với phàm nhân, thậm chí là không thể hiểu, thế nên Ngài giải thích chi tiết hơn: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào thì kẻ ăn tôi cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (Mt 6:56-58).

Hôm đó, chắc chắn cả hội đường Ca-phác-na-um rất ồn ào vì người ta xôn xao bàn tán. Nhưng sự thật vẫn mãi mãi là sự thật. Nếu chúng ta hiện diện lúc đó, chúng ta cũng chẳng hơn gì người Do-thái, nhưng thật may vì chúng ta là hậu duệ, được truyền lại đức tin được kiểm chứng lâu đời.

Các linh hồn nơi Luyện Hình là những người đã từng được ăn Bánh Trường Sinh, Bánh Giêsu, các linh hồn đó sẽ có ngày được sống đời đời sau khi được thanh luyện cho xứng đáng với Thiên Chúa chí thiện. Nhân vô thập toàn, mấy ai vô tội đâu!

Có một loài hoa nhỏ có màu tím buồn: Forget-me-not, Việt ngữ gọi là Lưu Ly Thảo. Ý nghĩa của loài hoa này nói về sự chung thủy của tình yêu đôi lứa. Nhưng với người Công giáo, nó mang một ý nghĩa khác, đặc biệt trong Tháng Cầu Hồn này. Vâng, Lưu Ly Thảo đang nhắc nhở chúng ta về lời kêu cứu tha thiết của các linh hồn nơi Luyện Hình: “Forget-me-not – Xin đừng quên tôi!”.

Khi cầu nguyện cho họ thì lại là chính cầu nguyện cho chúng ta. Đúng như Thánh Phanxicô Assisi nói: “Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân”. Các linh hồn không tự “cải thiện” mức án, nhưng các ngài vẫn có thể cầu nguyện cho chúng ta. Hy vọng mai đây mỗi chúng ta cũng được phân loại là “chiên” và được nghe Chúa nói: “Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến lãnh nhận phần gia nghiệp Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ” (Ga 11:25-26).

Tháng Mười Một, chúng ta cùng nhau nhớ lại tâm sự của Thánh Faustina: “Tôi bị thiêu đốt trong lòng bằng lửa yêu mến Chúamuốn cứu các linh hồn mà tôi cảm thấy mình bị thiêu đốt. Tôi sẽ chiến đấu với ma quỷ bằng Vũ khí Lòng Chúa Thương Xót. Tôi khao khát cháy bỏng là cứu các linh hồn. Tôi đi xuyên qua sức mạnh và hơi thở của thế giới và mạo hiểm đến nỗi các biên giới và các vùng đất hoang vu nhất để cứu các linh hồn. Tôi làm điều này bằng cách cầu nguyệnhy sinh” (Nhật Ký, số 754). Tình yêu lớn lao quá!

Có Chúa là có tất cả, Ngài là Alpha và Omega, là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Tận Cùng (Kh 1:8; Kh 21:6; Kh 22:13). Ước gì chúng ta nói được như Thánh Thomas Aquino, Tiến sĩ Giáo hội: “Lạy Chúa, con chỉ muốn Ngài mà thôi”. Đó mới chính là phần thưởng cao quý nhất và tuyệt vời nhất của chúng ta.

Lạy Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, vì cuộc khổ nạn đau thương và máu của Đức Kitô, xin thương tha thứ và cho các linh hồn sớm về hưởng phúc trường sinh muôn đời. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU


KINH CẦU HỒN
Nghe hồi triêu mộ (*), lắng lòng
Vọng lời kinh nguyện cầu hồn râm ran
Nhớ người khuất bóng gian trần
Thương người đau khổ trầm luân Luyện Hình
Trăm năm một chuyến tội tình
Nhưng luôn kiên vững Đức Tin sáng ngời
Tin một Thiên Chúa Ba Ngôi
Tin vào Tình Chúa muôn đời xót thương
Nhưng kiếp người quá mỏng dòn
Mang thân tục lụy nên vương lỗi lầm
Từng lời kinh nguyện vọng trầm
Cầu xin Thiên Chúa từ nhân hải hà
Rủ lòng thương xót thứ tha
Nhờ công nghiệp Đức Kitô muôn đời
Xin mau ban thưởng Nước Trời
Các linh hồn sớm hưởng đời trường sinh
TRẦM THIÊN THU
(*) Triêu mộ: Sớm tối, tức là “hồi chuông sớm tối”.


HỢP XƯỚNG CẦU HỒN
Điệu buồn trăm nhớ ngàn thương
Bao người khắc khoải ở trong Luyện Hình
Cúi xin Thiên Chúa thương tình
Thứ tha tội lỗi, phúc vinh hưởng nhờ
Cầu hồn – điệu thức thánh ca
Sợi dây bác ái thiết tha ân tình
Tuyệt vời nối kết tâm linh
Cả ba Giáo hội mến tin một lòng (*)
Âm vang Hợp Xướng Cầu Hồn
Tôn vinh Thiên Chúa xót thương đời đời
TRẦM THIÊN THU
(*) GH hiển vinh, GH chiến đấu, GH khổ đau.


 XIN THƯƠNG XÓT
Lạy Chúa Trời, Đấng giàu lòng thương xót!
Xin giải thoát các Đẳng chốn Luyện hình
Vì yếu đuối, vương tội lúc bình sinh
Nhưng suốt đời vẫn kính thờ Thiên Chúa
Nay đã mãn kiếp người nơi dương thế
Còn bụi trần nên áo chưa trắng tinh
Phải thanh luyện cho sạch nơi Luyện hình
Mới xứng đáng hưởng Tình Ngài muôn kiếp
Lâu hay mau cũng chịu nhiều khổ cực
Dẫu một ngày cũng ví tựa ngàn năm
Lạy Chúa Trời đại lượng và chí nhân!
Xin rửa sạch các Đẳng bằng Bửu Huyết
Của Giêsu, Con Chúa đã chịu chết
Để cứu độ những ai tin vào Ngài
TRẦM THIÊN THU


ĐIỀU DUY NHẤT
(Thánh vịnh 27:4)
Một mình đứng giữa nghĩa trang
Lặng thầm suy nghĩ, bâng khuâng nỗi niềm
Một điều con mãi kiếm tìm
Là con đây được ngắm nhìn Thánh Nhan
Ngụ trong Nhà Chúa chí nhân
Trọn đời con được ở bên Chúa Trời
Hưởng nguồn êm ái của Ngài
Chiêm ngưỡng đêm ngày Thánh Điện không ngơi
Một điều duy nhất, Chúa ơi!
Xin cho con được như lời cầu mong
TRẦM THIÊN THU

 

VẤN ĐỀ HỎA NGỤC

Hỏa Ngục có thật, không là chuyện mơ hồ hoặc bịa đặt để hù dọa. Hỏa Ngục như một Biển Lửa, lửa-của-các-loại-lửa, cực mạnh và vô cùng khủng khiếp, không như lửa bình thường ở thế gian này. So với Lửa Hỏa Ngục và Lửa Luyện Hình, lửa thế gian chỉ như “gió mát” mà thôi. Đừng cứng lòng mà phải khốn nạn đời đời!

Bài chia sẻ này gồm vài chứng cớ mạnh mẽ và khủng khiếp mà các thánh nhân đã được mặc khải và trực tiếp cảm nghiệm thực tế về nơi ở ngùn ngụt lửa của ma quỷ. Các mặc khải này đã được Giáo hội chuẩn nhận vì hoàn toàn phù hợp với các giáo huấn trong Phúc Âm. Kitô hữu không buộc phải tin các mặc khải tư, nhưng các mặc khải về Hỏa Ngục này khả dĩ giúp chúng ta suy nghĩ nghiêm túc hơn và sâu sắc hơn về sự bí ẩn và thực tế của Hỏa Ngục.

Tháng Mười Một, tháng cầu cho các linh hồn nơi Luyện Hình, là dịp thuận tiện để chúng ta cùng kiểm tra và xác định lại đức tin của chính mình. Hãy chú ý các “bí quyết” mà ma quỷ áp dụng để cám dỗ và khiến chúng ta phạm tội. Mưu ma chước quỷ thật đáng sợ!

1. THÁNH TIẾN SĨ TERESA ÁVILA (1515–1582)

Thánh nữ Teresa Ávila là nhà thần bí, tiến sĩ Giáo hội. Bà cho biết:
“Một hôm, khi tôi đang cầu nguyện, tôi thấy chính mình trong một lúc, không biết thế nào, rõ ràng chìm vào Hỏa Ngục. Tôi biết đó là Ý Chúa muốn tôi thấy nơi mà ma quỷ đang sẵn sàng đối với tôi, tôi đáng như vậy vì tội của tôi. Thời gian kéo dài một lúc, nhưng có vẻ như tôi không thể quên được dù tôi còn sống nhiều năm sau đó. Lối vào có vẻ hẹpdài, giống như lò lửa, rất tối tămchật chội. Nền như đầy nước, bùn lầy, hôi thối, kinh tởm, và đầy sâu bọ gớm ghiếc. Phía cuối là khoảng trống rỗng như khoang trống ở trên vách tường, tôi thấy mình bị nhốt giam ở đó. Không có gì khoác lác trong lời tôi nói đâu”.

“Với những gì tôi cảm thấy lúc đó, tôi không biết bắt đầu từ đâu nếu tôi phải diễn tả nơi đó. Rất khó giải thích. Tôi cảm thấy lửa trong linh hồn tôi nhưng tôi không thể diễn tả. Đau khổ thể lý của tôi không thể chịu nổi. Tôi chịu các đau khổ nhất trong đời, như các thầy thuốc diễn tả là teo gân khi tôi bị tê liệt, không thể so sánh với các dạn bệnh khác, ngay cả những gì tôi nói, Satan bắt tôi phải chịu. Nhưng những điều đó chẳng là gì so với những gì tôi cảm thấy lúc đó, nhất là khi tôi thấy không có sự tạm ngưng hoặc kết thúc cực hình”.

“Các cực hình đó không là gì so với nỗi thống khổ của linh hồn tôi, một cảm giác áp bức, ngột ngạt, đau nhói, cùng với cảm giác vô vọng và tàn khốc, tôi không biết mô tả như thế nào. Nếu tôi nói rằng linh hồn tiếp tục bị xé ra khỏi thân xác thì cũng chưa chính xác, vì điều đó ngụ ý nói sự hủy diệt sự sống bằng tay của người khác, nhưng ở đây, chính linh hồn tự xé ra từng mảnh. Tôi không thể mô tả lửa hoặc nỗi vô vọng trong lòng, hơn cả mọi sự giày vò và đau khổ. Tôi chưa thấy ai bị hành hạ như tôi, tôi cảm thấy mình đang cháy và bị xé ra từng mảnh. Tôi lặp lại rằng đó là lửa trong lòng, và nỗi vô vọng là cực hình khủng khiếp nhất.

“Khi vào nơi khủng khiếp đó, không còn hy vọng được thoải mái, tôi không thể ngồi hoặc nằm, không có khoảng trống nào hết. Tôi như bị đặt vào khoảng không trên vách tường, nhìn mình rất khủng khiếp, xung quanh tôi là những tiếng rên la. Tôi không thể hít thở. Không có ánh sáng, chỉ có bóng tối dày đặc. Tôi không biết mô tả nó như thế nào. Dù không có ánh sáng, nhưng mọi thứ có thể gây đau khổ bằng cách bị thấy mà vô hình”.

“Lúc đó, Đức Mẹ không cho tôi thấy Hỏa Ngục nữa. Sau đó, tôi có một thị kiến khủng khiếp nhất, trong đó tôi thấy hình phạt của các tội lỗi. Các hình phạt nhìn rất khủng khiếp, nhưng vì tôi không còn đau đớn nữa, nỗi kinh hoàng của tôi cũng không còn ghê gớm…”.

“Tôi quá đỗi hoảng sợ khi thấy thị kiến đó, nhìn như nơi mà tôi thấy sáu năm trước, sức nóng tự nhiên của cơ thể khiến tôi rùng mình mỗi khi tôi nghĩ tới nó. Vì thế, trong mọi đau khổ mà tôi có thể phải chịu, tôi luôn nhớ rằng mọi đau khổ trên thế gian này không là gì cả. Có vẻ chúng ta than phiền vô cớ. Tôi lặp lại rằng thị kiến này là một trong các điều thương xót của Thiên Chúa. Đó là điều tuyệt vời nhất đối với tôi, vì điều đó đã hủy diệt nỗi lo sợ của tôi về sự rắc rối và sự mâu thuẫn của thế gian, vì điều đó đã làm tôi đủ mạnh mẽ để chống lại, tôi tạ ơn Đức Mẹ là Đấng giải thoát tôi khỏi những nỗi đau khổ kinh khủng và lâu dài như vậy”.

2. NỮ TU JOSEFA MENENDEZ (1890–1923)
Nữ tu Josefa Menendez, người Tây Ban Nha, qua đời năm 1923 ở tuổi 33, là một trong các nhà thần bí “nổi tiếng” của thế kỷ XX. Nữ tu này có cuộc đời ngắn ngủi nhưng chịu nhiều đau khổ, và được mặc khải trong đa phần cuộc đời, gom lại trong cuốn “The Way Of Divine Love” (Cách Thức của Tình Chúa). Bà đã được đưa tới Hỏa Ngục để chứng kiến và cảm nhận nỗi thống khổ. Nữ tu Josefa buộc lòng phải viết về Hỏa Ngục, vì bà làm vậy chỉ là làm theo ý muốn của Chúa. Đây là chứng cớ:

“Linh hồn tôi rơi vào vực thẳm, rộng bao la, không thấy đáy... Rồi tôi bị đẩy vào một hồ lửa, giống như ở giữa các tấm ván đang cháy, các đinh nhọn sắc và các thanh sắt nóng đỏ như muốn đâm vào da thịt tôi. Tôi cảm thấy như thể chúng muốn tuốt lưỡi tôi ra nhưng không thể. Cực hình này khiến tôi đau đớn đến nỗi mắt tôi như không còn nhìn thấy. Tôi nghĩ đó là vì lửa cháy, bừng cháy… Không móng tay nào của tôi không đau đớn, người ta không thể nhúc nhích dù chỉ một ngón tay để cho bớt đau nhức, không thể thay đổi tư thế, vì cơ thể có vẻ như bị dát mỏng và bị gấp đôi lại. Các âm thanh khó phân biệt và lời phỉ báng không ngừng, dù chỉ trong một thoáng. Mùi hôi thối kinh tởm làm ngột ngạt và làm hư hại mọi thứ, như thể mùi thịt thối rữa bị cháy, pha lẫn với mùi hắc ín (nhựa đường) và lưu huỳnh... Đó là sự pha tạp mà không thể so sánh với bất cứ mùi gì khác trên thế gian này... Mặc dù các cực hình này rất rùng rợn, không thể chịu đựng nổi, không thể mô tả được... Nhữ gì tôi viết ra đây chỉ là bóng mờ nhạt của những gì mà linh hồn phải chịu, không lời nào có thể mô tả nỗi đau khổ khốc liệt như vậy” (ngày 4-9-1922).

“Đêm nay, tôi được đưa tới một nơi hoàn toàn tăm tối... Xung quanh tôi có bảy hoặc tám người. Tôi chỉ có thể thấy họ qua ánh lửa. Họ ngồi nói chuyện với nhau. Một người nói: Chúng ta phải rất cẩn thận kẻo bị phát hiện, vì chúng ta dễ bị phát hiện lắm”.

“Ma quỷ nói: Hãy xúi giục họ bất cẩn... nhưng hãy ở phía sau để không bị phát hiện... cứ dần dần rồi họ sẽ chai lì, chúng ta sẽ kéo nó về phía xấu xa. Hãy cám dỗ những người khác tham lam, ích kỷ, giàu có mà không cần làm việc, dù đúng luật hay không. Hãy kích thích người ta khoái nhục dụcham vui. Hãy làm cho thói xấu làm mờ mắt họ... Với những người khác... hãy vào trái tim họ... nên biết khuynh hướng của tâm hồn họ...! Hãy làm cho họ yêu thích... yêu thích say đắm...! Hãy làm việc hết sức... đừng nghỉ ngơi... đừng thương hại! Cứ để họ say mê ăn uống! Như vậy sẽ dễ cho chúng ta... Hãy để họ tiếp tục tiệc tùngchè chén. Ham vui là cửa ngõ để chúng ta đến với họ...” (ngày 3-2-1923).

“Tôi thấy vài linh hồn sa Hỏa Ngục, trong số đó có một em gái mới 15 tuổi, nó nguyền rủa cha mẹ đã không dạy nó kính sợ Thiên Chúakhông cho nó biết có Hỏa Ngục. Nó cho biết rằng đời nó ngắn ngủi nhưng đầy tội lỗi, vì nó đã chiều theo mọi thứ mà thể xác và đam mê đòi hỏi...” (ngày 22-3-1923).

“Hôm nay, tôi thấy rất nhiều người phải vào lò lửa... Họ có vẻ như người trần gian và một quỷ hét lớn: Thế giới đã chín muồi cho ta thu hoạch...! Ta biết rằng cách tốt nhất để bắt giữ các linh hồn là khuấy động lòng ham vui của người ta... Hãy ưu tiên tôi... Tôi trước mọi người... không có sự khiêm nhường đối với tôi! Hãy cứ để tôi vui thỏa... Với dạng này chắc chắn chúng ta chiến thắng... và chúng sẽ xuống Hỏa Ngục” (ngày 4-10-1923).

3. THÁNH NỮ FAUSTINA (1905–1938)
Nữ tu Faustina, người Ba Lan, được Giáo hội tuyên thánh ngày 30-4-2000, đã được Chúa cho thấy Hỏa Ngục năm 1936. Chị ghi trong Nhật Ký số 741:

“Hôm nay, tôi được thiên thần dẫn tới vực thẳm Hỏa Ngục. Đó là nơi tra tấn dữ dội, rất khủng khiếp và rộng lớn! Các cực hình tôi thấy: Cực hình thứ nhất tạo thành Hỏa Ngục là mãi mãi xa cách Thiên Chúa; cực hình thứ hai là lương tâm cắn rứt đời đời; cực hình thứ ba là tình trạng mãi mãi bất biến; cực hình thứ tư là lửa thiêu đốt mà không hủy diệt linh hồn – đau khổ khủng khiếp, vì đó là lửa tinh thần (không như lửa thường), đốt lên bởi cơn giận của Thiên Chúa; cực hình thứ năm là bóng tối dầy đặcngột ngạt khủng khiếp, mặc dù tối tăm, ma quỷ và các linh hồn vẫn thấy nhau, thấy người khác và thấy chính mình; cực hình thứ sáu là đời đời ở với Satan; cực hình thứ bảy là tuyệt vọng, căm thù Thiên Chúa, với các lời phỉ bángnguyền rủa hèn hạ. Các linh hồn hư mất phải cùng nhau chịu các cực hình này, nhưng đó không là chấm dứt đau khổ. Có các loại cực hình đặc biệt dành cho các linh hồn cá biệt. Có các cực hình của ngũ quan. Mỗi linh hồn chịu những nỗi đau khổ khủng khiếp, không thể diễn tả nổi, liên quan những gì họ đã phạm tội. Có các hang động và hầm hố có các cực hình khác nhau. Hẳn là tôi đã chết giấc khi nhìn thấy các cực hình này nếu Thiên Chúa không nâng đỡ tôi. Hãy cho các tội nhân biết rằng họ sẽ chịu cực hình đời đời theo các giác quan mà họ đã dùng để phạm tội.

“Tôi viết điều này theo lệnh của Thiên Chúa, để không linh hồn nào có thể viện cớ gì mà nói rằng không có Hỏa Ngục hoặc không có ai ở đó, vì thế không ai có thể nói như vậy. Tôi là Nữ tu Faustina, theo lệnh của Thiên Chúa, đã được thăm Hỏa Ngục để tôi có thể nói cho các linh hồn biết về Hỏa Ngục và làm chứng về sự hiện hữu của Hỏa Ngục”.

“Tôi không thể nói về Hỏa Ngục bây giờ, nhưng tôi đã được lệnh của Thiên Chúa viết về Hỏa Ngục. Ma quỷ rất căm thù tôi, nhưng chúng phải vâng lời tôi theo lệnh của Thiên Chúa. Những gì tôi viết chỉ là bóng mờ nhạt của những gì tôi thấy. Nhưng tôi chú ý một điều: Đa số các linh hồn ở đó là những người đã không tin có Hỏa Ngục. Khi tôi tới đó, hầu như tôi không thể hồi phục vì hoảng sợ. Các linh hồn chịu cực hình ở đó thật khủng khiếp! Cuối cùng, tôi cầu nguyện tha thiết hơn để xin ơn hoán cải cho các tội nhân. Tôi không ngừng cầu xin lòng thương xót của Thiên Chúa tuôn đổ trên họ. Lạy Chúa Giêsu của con, thà con chịu khổ cực cho đến tận thế, giữa các đau khổ nhất, còn hơn con phản nghịch Ngài vì tội nhỏ nhất.

4. FATIMA – BA TRẺ THẤY HỎA NGỤC
Năm 1917, trong thời gian Thế Chiến I, Đức Mẹ đã hiện ra với ba trẻ nhỏ tại Fatima, Bồ Đào Nha, vào các ngày 13 từ tháng Năm tới tháng Mười. Trong lần hiện ra ngày 13-7-1917, Đức Mẹ đã cho ba trẻ em này thấy Hỏa Ngục. Đây là chứng cớ:

“Đức Mẹ xòe tay ra, những tia sáng như xuyên thấu thế gian, chúng tôi thấy như là biển lửa. Chìm trong biển lửa đó là ma quỷ và các linh hồn trong dáng vóc con người, như than hồng trong suốt, mọi thứ như đồng đen hoặc hoặc bóng lộn, lơ lửng trong lửa cháy, lửa bốc cao đưa người ta lên như đám khói, rồi lại rơi xuống như những đốm lửa trong ngọn lửa lớn, không trọng lượng hoặc mất thăng bằng, ở giữa những tiếng la hétkêu thanđau khổtuyệt vọng, điều đó làm chúng tôi sợ hãi và phát run vì hãi hùng. Cảnh tượng đó khiến chúng tôi bật khóc, như thể người ta nghe được vậy”.

Ma quỷ có thể phân biệt bằng cách nhìn chúng giống như những con vật lạ lẫm, gây hoảng sợ, cự tuyệt, đen đủi và trong suốt như những cục than hồng. Chúng tôi sợ hãi và xin Đức Mẹ cứu giúp, Đức Mẹ nói với chúng tôi bằng giọng buồn: “Các con đã thấy Hỏa Ngục, nơi các linh hồn tội lỗi phải vào. Như vậy, khi các con đọc Kinh Mai Côi, hãy đọc câu này sau mỗi chục kinh: Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội chúng con, xin cứu chúng con cho khỏi Hỏa Ngục, xin đem các linh hồn lên Thiên Đàng, nhất là những linh hồn cần đến Lòng Chúa Thương Xót hơn.

Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Nếu tay hoặc chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; thà cụt tay cụt chân mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai tay hai chân mà bị ném vào lửa đời đời. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã thì hãy móc mà ném đi; thà chột mắt mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào lửa hoả ngục” (Mt 18:8-9).

Chúng ta cùng sám hối và chân thành cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài” [Tv 50 (51):3-6]. Từ vực thẳm, con kêu lên Ngài, lạy Chúa, muôn lạy Chúa, xin Ngài nghe tiếng con. Dám xin Ngài lắng tai để ý nghe lời con tha thiết nguyện cầu. Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng? Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ để chúng con biết kính sợ Ngài” [129 (130):1-4].

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ all-about-the-virgin-mary.com)

 

KIẾP HOA

Kiếp hoa là số phận của một đóa hoa. Kiếp hoa xem chừng “thú vị” lắm, nhưng không phải vậy. Kiếp hoa ở đây lại là kiếp hoa Phù Dung, chứ nếu được như một trong số các loài hoa bền lâu, có hương hoặc có sắc cũng còn “đỡ tủi thân”. Vì ít ra cũng còn có chút gì đó gọi là “vui sướng”. Ước gì chúng ta là những đóa hoa Bất Tử!

Tháng Mười Một, Tháng Cầu Hồn, chúng ta nhớ tới các linh hồn nơi Luyện Hình bằng cách hy sinh và cầu nguyện cho họ, đồng thời cũng là khoảng thời gian cần thiết để nhìn lại thân phận mình cũng như một “kiếp hoa” mà thôi!

ĐÓA HOA PHÙ DUNG
Hoa Phù Dung (Hibiscus Mutabilis) còn gọi là Mộc Phù Dung, Địa Phù Dung, Phù Dung Núi, hoặc Mộc Liên. Phù Dung là một loài thực vật có hoa thân vừa, thuộc họ Cẩm Quỳ (Malvaceae). Cành Phù Dung mang lông ngắn hình sao. Lá có năm cánh, cuống lá hình tim, mép có răng cưa, đường kính có thể tới 15 cm, mặt dưới nhiều lông hơn, 5 thùy hình 3 cạnh ngắn, có 7 gân chính. Hoa lớn có 2 loại: hoa đơn (5 cánh), hoa kép (nhiều cánh). Hoa thay đổi màu sắc (sáng trắng, trưa hồng, chiều đỏ) vì trong cánh hoa có chất anthoxyan bị ô-xít hoá khi tiếp xúc với không khí, kích thước hoa khoảng 10–15 cm. Kiếp Phù Dung quá ngắn ngủi: sớm nở, tối tàn!

Kiếp hoa đó chẳng gì xa lạ, mà chính là đời người của mỗi chúng ta! Kiếp phù dung cũng như cuộc đời chúng ta, liên tục thay đổi “màu sắc” và mau tàn. Quả thật, đúng như Thánh Vịnh (Tv 103:15-16) đã xác định:

Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi
Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng
Một cơn gió thoảng là xong
Chốn xưa mình ở cũng không biết mình!

Làn ranh sinh – tử rất mong manh, khe sống – chết chỉ là “khoảng tích tắc”, cứ tưởng dài mà lại ngắn, ngắn hơn chúng ta tưởng. Đó là quyền của Thiên Chúa, Đấng tạo dưng nên chúng ta: “Chúa lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi” (Tv 104:29).

Cuộc đời ngắn ngủi, tựa thoi đưa, vụt mau như bóng câu qua cửa sổ, thế mà đầy những đoạn trường, vui mừng chẳng mấy chốc. Mơ ước nhiều mà chẳng trọn được bao nhiêu!

Với bản tính con người yếu đuối, khi đau khổ cùng cực, ông Gióp đã nguyền rủa chính mình: “Phải chi đừng xuất hiện ngày tôi đã chào đời. Phải chi ngày ấy là đêm tối. Phải chi từ nơi cao thẳm Thiên Chúa đừng để ý tới ngày ấy làm gì. Phải chi trên ngày ấy ánh sáng đừng chiếu rọi. Phải chi trên ngày ấy tối tăm mờ mịt bao trùm, mây đen đến che phủ và sương mù bỗng dưng ập xuống. Phải chi đêm ấy bị tối tăm xâm nhập, không được kể vào niên lịch, không được tính trong số các tháng. Phải chi đêm ấy là đêm cô đơn buồn thảm, đêm chẳng hề có tiếng reo vui. Phải chi những kẻ đã nguyền rủa ngày đã sẵn sàng đánh thức con giao long cũng nguyền rủa đêm ấy. Phải chi tinh tú ban mai thành tăm tối mịt mờ, và ban mai uổng công chờ ánh sáng, không hề thấy bình minh xuất hiện” (G 3:2-9). Nghe mà não lòng quá, và chúng ta lại chợt nghĩ về thân phận mình!

Với cảm giác tương tự, tác giả Thánh Vịnh cũng đã phải thốt lên: “Lạy Chúa là Thiên Chúa cứu độ con, trước Thánh Nhan, đêm ngày con kêu cứu. Nguyện cho lời kinh vọng tới Ngài, xin lắng nghe tiếng lòng thổn thức. Vì hồn con ngập tràn đau khổ, mạng sống con âm phủ gần kề, thân kể như đã vào phần mộ, ví tựa người kiệt sức còn chi! Con nằm đây giữa bao người chết, như các tử thi vùi trong mồ mả đã bị Chúa quên đi, và không được tay Ngài săn sóc. Chúa hạ con xuống tận đáy huyệt sâu, giữa chốn tối tăm, giữa lòng vực thẳm. Cơn giận Chúa đè nặng thân con như sóng cồn xô đẩy dập vùi. Chúa làm cho bạn bè xa lánh và coi con như đồ ghê tởm. Con bị giam cầm không thể thoát ra, mắt mờ đi vì quá nhiều đau khổ (Tv 88:2-10). Đọc tâm sự của người mà chợt gặp thấy chính mình, buồn rười rượi!

Ai nên khôn mà chẳng khốn một lần. Chính những lần vấp ngã là những kinh nghiệm sống quý giá và là những nấc thang đưa chúng ta lên cao hơn. Với kinh nghiệm sống và kinh nghiệm điều hành Khánh Lễ Viện, Thánh LM Don Bosco nhắc chở chúng ta: “Khốn khó càng nhiều thì càng phải tin cậy vào Thiên Chúa”. Chắc chắn Thiên Chúa không bỏ rơi ai: “Ta biết các kế hoạch Ta định làm cho các ngươi, kế hoạch thịnh vượng, chứ không phải tai ương, để các ngươi có tương lai và hy vọng” (Gr 29:11). Vả lại, Thiên Chúa “biết hết mọi sự” (1 Ga 3:20).

Kiếp người khác chi kiếp hoa, không chỉ ngắn ngủi mà còn chẳng mang theo được gì khi nhắm mắt, xuôi tay. Thế mà người ta vẫn kèn cựa nhau đủ thứ, không chịu nhường nhau một bước nào. Đơn giản như khi đi đường, ai cũng có lúc lỡ lầm, thế mà người khác chỉ va quẹt chút xíu thôi, người ta vội hung dữ với nhau, nhẹ thì chửi rủa, nặng thì ẩu đả, thậm chí còn dám đâm chém nhau. “Một câu nhịn là chín câu lành”, nhưng người ta lại nghĩ rằng “một câu nhịn là chín câu nhục”. Đáng sợ quá!

Biết chắc đời người như kiếp hoa mà thôi, vậy mà người ta vẫn kèn cựa nhau trong mọi lĩnh vực. Rõ nét nhất là vật chất. Có thể nói rằng thời đại ngày nay có dạng hội chứng mới là “hội chứng vật chất”. Người ta trọng bề ngoài hơn. Nếu không khéo có thể “dính líu” tới chủ nghĩa duy vật (materialism) hoặc thuyết Nhất Nguyên (monism) chứ chẳng đùa đâu. Đó là dạng tương tự chứng ám ảnh hoặc mê tiền bạc (Anh ngữ là “plutomania” – có nguồn gốc Hy ngữ: “pluto” là của cải, và “mania” là đam mê thái quá). Khái niệm này không mới, vì nó đã có từ năm 1652. Nói chung, trong mọi lĩnh vực, người ta thấy người khác hơn mình chút gì thì tỏ ra “khó chịu”, ghen ghét, có thể thì tìm cách gièm pha, trù dập,...

Nhưng thôi, cứ bỏ ngoài tai hết, chấp nhận điên khùng vì Nước Trời, và không ngừng cố gắng thực hành lời khuyên của Thánh Phêrô: Hãy từ bỏ mọi thứ gian ác, mọi điều xảo trá, giả hình và ghen tương cùng mọi lời nói xấu gièm pha” (1 Pr 2:1). Đời là thế! Thế gian nó gian xảo thế đấy!

Tiền nhân nói: “Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”. Tục ngữ nói: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Thật vậy, “ở rộng thì người cười, ở hẹp thì người chê”, chẳng làm sao có thể sống vừa lòng hết mọi người. Chúa Giêsu là Thiên-Chúa-làm-người, là Đáng chí thiện, thế mà vẫn bị người ta ghen ghét “tới bến”, ghét cay ghét đắng, thậm chí là thù, để rồi họ giết Ngài chết te tua tơi tả. Cuộc sống thật nhiêu khê, “dốt nát thì bị khinh, thông minh thì bị ghét”. Chúa Giêsu luôn thẳng thắn, thật thà, hiền lành,... nên bị người ta ghét. Có lần Ngài đã đặt vấn đề: “Phải chăng vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức?” (Mt 20:13-15).

Kiếp hoa là thế, bọt bèo và mong manh. Phàm nhân như cánh bèo trôi lêu bêu trên dòng đời tưởng chừng như vô định, không biết trôi về đâu. Nhưng trong mọi hoàn cảnh và bất cứ bằng giá nào, hãy ghi nhớ: “Dù thất vọng nhưng đừng tuyệt vọng” (x. 2 Cr 4:8). Thiên Chúa vẫn đồng hành với chúng ta: “Ta ở gần khi tấm lòng con tan vỡ, cứu con khi tâm thần thất vọng ê chề” (Tv 34:19).

Và lạ thay, đối với các Kitô hữu, kiếp hoa bình thường bỗng trở thành vô thường: Hoa Phù Dung sẽ hóa thành Hoa Bất Tử. Và rồi tất cả cũng sẽ qua. Sau cơn mưa, trời lại sáng! Ước gì mỗi chúng ta đều nhận thức rõ thân phận cát bụi của mình, mong manh và ngắn ngủi như kiếp hoa, biết vậy không phải để bi quan, yếm thế, hoặc buông xuôi, nhưng nhờ đó mà có thể can đảm quyết tâm “sống như mình sắp chết” và “hành động như mình bất tử”.

ĐÓA HOA BẤT TỬ
Hoa Bất Tử (Xerochrysum Bracteatum) còn gọi là Cúc Bất Tuyệt, là một loài thực vật thuộc họ Cúc (Asteraceae) – tại Việt Nam có nhiều ở vùng Đà-lạt. Hoa Bất Tử được coi là biểu tượng cho tình yêu bất diệt, thường được giới trẻ tặng nhau để thể hiện tình yêu. Những bông hoa Bất Tử nhỏ bé nhưng lại mang ý nghĩa sâu sắc. Tuy những cánh hoa đã “chết khô” nhưng vẫn giữ được màu sắc. Vì vậy, Hoa Bất Tử được coi là biểu tượng của tình yêu vĩnh cửu.

Không một phàm nhân nào bất tử, trừ một thụ tạo đặc biệt: Đức Maria. Sự thường, có sinh thì có tử, vì “con người không bất tử” (Hc 17:30). Đó là quy luật muôn thuở. Nhưng “đức công chính thì trường sinh bất tử” (Kn 1:15), những ai “yêu mến lề luật, tuân giữ lề luật, và chú tâm tới lề luật của Đức Khôn Ngoan là bảo đảm được trường sinh bất tử” (Kn 6:18).

Sách Khôn Ngoan cho biết: “Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong” (Kn 1:13). Chắc chắn như vậy, vì Ngài là Sự Sống (Ga 14:6), và Ngài muốn chúng ta “được sống dồi dào” (Ga 10:10), thế thì Ngài không thể làm chúng ta chết, chúng ta chết thì Ngài chẳng vui gì, thế nên Ngài đã sai chính Con Một Yêu Dấu là Đức Giêsu Kitô nhập thể và nhập thế để cứu độ chúng ta bằng Giá Máu của Người Con đó, chứ không bằng máu chiên, máu bò, hoặc máu dê như thời Cựu Ước. Vả lại, chúng ta chết vì phạm tội (Rm 8:10; 1 Cr 15:56), chính tội gây ra cái chết, và cái chết là thất bại khủng khiếp nhất của nhân loại.

Cuộc đời cần sống theo chiều sâu, không cần sống theo chiều dài. Có những cuộc đời ngắn ngủi mà vẫn “sống dài”. Chẳng hạn, Thánh Đa-minh Saviô, Thánh Teresa Hài Đồng, Thánh Goretti, Chân phước Anrê Phú Yên,... Các thánh cũng là những người mang “kiếp hoa” (*) và chịu đựng đủ thứ đau khổ, bị hàm oan, bị ngờ vực, bị xa lánh, bị ghen ghét,... nhưng các ngài “bỏ ngoài tai” và vui chịu vì Danh Đức Giêsu Kitô, để rồi giờ đây, những đóa hoa Phù Dung ấy đã trở thành những đóa hoa Bất Tử: “Cái thân phải hư nát này sẽ mặc lấy sự bất diệt, và cái thân phải chết này sẽ mặc lấy sự bất tử” (1 Cr 15:53).

Ba Giáo hội (khải hoàn, chiến đấu và đau khổ) luôn có liên hệ mật thiết với nhau. Mối liên hệ đó được thể hiện bằng Đức Tin – thực sự và chắc chắn chứ không mơ hồ. Thiên Chúa quá đỗi nhân từ: Những người chết không còn làm được gì để “cứu vãn tình thế” của mình, nhưng họ vẫn được hưởng nhờ công đức của người sống. Thật kỳ diệu! Và đó là động thái tâm linh chúng ta thể hiện hằng ngày, đặc biệt trong Tháng Mười Một. Các linh hồn nơi Luyện Hình chắc chắn sẽ vào Nước Trời, vấn đề chỉ còn là thời gian. Vâng, các linh hồn ấy là thánh.
Mối liên hệ giữa người sống và người chết cũng được người ngoại giáo cảm thấy. Thật vậy, dù không là Kitô hữu, cố Ns Trịnh Công Sơn cũng đã “cảm nghiệm” khác thường so với người khác: “Người chết nối linh thiêng vào đời và nụ cười nở trên môi” (Nối Vòng Tay Lớn). Vâng, người sống và người chết vẫn liên hệ mật thiết với nhau bằng “sợi dây” tâm linh.

Chân phước Mẹ Teresa Calcutta đã đưa ra một chuỗi kết quả của các hoạt động rất lô-gích: “Kết quả của Im lặng là Cầu Nguyện, kết quả của Cầu Nguyện là Đức Tin, kết quả của Đức tin là Tình Yêu, kết quả của Tình Yêu là Phục Vụ, kết quả của Phục Vụ là Bình An”. Và đó chính là chuỗi hoạt động chúng ta cần làm và phải làm như điều kiện ắt có và đủ, thực hiện để có lợi cho chính mình và các linh hồn.

Tháng Cầu Hồn, nói chuyện sinh – tử, liên quan việc vào Nước Trời, thiết tưởng chúng ta cũng nên nhớ lại lời Chúa Giêsu đã nói rạch ròi: “Những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót. Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít” (Mt 20:16). Vậy những ai KHÔNG ĐƯỢC vào Nước Trời? Chúng ta cùng “điểm lại” một số câu Kinh Thánh đề cập vấn đề này:

– Không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu thì chẳng được vào Nước Trời (Mt 5:20), và những người vô dụng, không sinh lời (Mt 25:14-30; Lc 19:12-27).

– Chàng rể nói với những người không tỉnh thức: “Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai cả!” (Mt 25:12).

– Đức Vua nói với những người bên trái: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng” (Mt 25:41-43).

– Những kẻ dâm đãng, thờ ngẫu tượng, ngoại tình, trụy lạc, kê gian, những kẻ trộm cướp, tham lam, say sưa rượu chè, quen chửi bới, sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp (1 Cr 6:9-10).

– Không một kẻ gian dâm, ô uế hay tham lam nào – mà tham lam cũng là thờ ngẫu tượng – được thừa hưởng cơ nghiệp trong Nước của Đức Kitô và của Thiên Chúa (Ep 5:5-6).

– Anh em đã được gọi để hưởng tự do. Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau. Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy (Gl 5:13, 19-21).

– Xác thịt và khí huyết không thể thừa hưởng Nước Thiên Chúa được, cũng như cái hư nát không thể thừa hưởng sự bất diệt được (1 Cr 15:50).

– Những quân chó má, làm phù phép, gian dâm, sát nhân, thờ ngẫu tượng, cùng với mọi kẻ thích điều gian dối và ăn gian nói dối, hãy xéo ra ngoài (Kh 22:15).

Thật đáng sợ! Bạn có tin không? Baudelaire nói: “Mánh lới xảo quyệt nhất của ma quỷ là thuyết phục bạn rằng nó không hiện hữu”. Hy vọng không ai trong chúng ta ở trong số người đó!

Để vào được Nước Trời, người ta phải là “nhà vô địch” về Điều Thiện, cố gắng tránh bất cứ “ngã rẽ” nào KHÔNG đi về phía Thiên Quốc, vì Chúa Giêsu đã xác định về sự hiện hữu của Hỏa ngục, Vương quốc của Ma Quỷ. Thật vậy, Kinh Thánh đề cập Hỏa Ngục 90 lần, nhiều hơn nói về Nước Trời. Thật vô phúc nếu người nào phủ nhận sự hiện hữu của Hỏa Ngục: “Đến ngày tận thế, các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính, rồi quăng chúng vào lò lửa. Ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 13:49-50).

Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài” (Tv 51:3-6). Từ vực thẳm, con kêu lên Ngài, lạy Chúa, muôn lạy Chúa, xin Ngài nghe tiếng con. Dám xin Ngài lắng tai để ý nghe lời con tha thiết nguyện cầu. Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng? Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ để chúng con biết kính sợ Ngài (Tv 130:1-4).

Xin cho các linh hồn được nghỉ yên muôn đời. Xin cho chúng con cũng chắc chắn được trở thành công dân Nước Trời. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU
Mùa Cầu Hồn 2014
(*) Nghe thánh ca Kiếp Hoa: http://mp3.zing.vn/bai-hat/Kiep-Hoa-Bich-Phuong/IWAAD0ED.html

 

CHUYỆN NƯỚC TRỜI

Ai muốn vào Nước Trời? Nếu bạn là Kitô hữu mà “bị” hỏi như vậy, hẳn là bạn sẽ thấy “ngứa tai” hoặc “xốn bụng”. Có thể bạn sẽ “hỏi ngược” lại: “Có ai lại không muốn vào Nước Trời chứ?”. Thế nhưng có thể cũng chẳng oan đâu!

Ví dụ: Người ta cảnh báo “hút mỗi điếu thuốc lá sẽ tổn thọ 4 phút”. Thử làm toán nhân thì “ớn” thật. Hoặc lấy chất nicotine có trong một điếu thuốc mà chích vào cơ thể thì người ta chết ngay lập tức. Thế mà người ta vẫn hút, cứ “điếu này vừa hạ rộng, điếu kia đã động quan”. Vì người ta không chết ngay nên vẫn “phớt tỉnh Ăng-lê”.

Cũng vậy, người ta biết nghiện ma túy là chết chắc, thế mà người ta vẫn “chơi”, hít chưa “đã” nên chích thẳng vào máu mới “phê”. Tử Thần đối với họ chẳng là cái quái gì cả!

Về ý nghĩa tâm linh cũng tương tự. Rõ ràng là dù Nước Trời vô cùng quý giá, đáng mơ ước, đáng khao khát, không gì sánh bằng, thế mà vẫn có những người thẳng thừng từ chối bước vào Nước Trời!

Vào một ngày Sabát, Đức Giêsu đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pharisêu để dùng bữa. Khi đề cập việc tổ chức tiệc tùng, Chúa Giêsu nói: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù” (Lc 14:12-13).

Nghe kỳ quá! Rất sốc! Chắc hẳn lúc đó ông ta rất “ngứa óc” và khó chịu lắm, nhưng lại không nói được gì! Và rồi Đức Giêsu nói luôn lý do: “Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại” (Lc 14:14). Lúc này không còn là “kỳ cục” mà “kỳ lạ”. Đúng là quá kỳ lạ, dù có vẻ rất ngược đời!

Thường thì khi tổ chức các loại đám tiệc, người ta muốn mời những người “tai to, mặt lớn” để hãnh diện, mời những “đại gia” để có lời, thậm chí mời ai cũng “nhắm chừng” trước, chứ chuyện “tình nghĩa” có đáng gì! Thế nên người ta vẫn thích “đùa dai” với câu: “Tình cảm là chín (chính), tiền bạc là mười”. Quả thật, nếu đãi tiệc gì mà đi mời mấy người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù thì có nước mà… ăn mày!

Chúng ta không hiểu hay cố tình không hiểu ý Chúa? Sao chỉ thấy ít người làm như Chúa dạy? Cũng có thể chúng ta cho rằng Chúa “nói bóng” hoặc “nói cho vui” thôi. Tuy nhiên, thiết tưởng Chúa Giêsu hoàn toàn nói theo nghĩa đen chứ chẳng bóng gió gì cả. Trong lịch sử Giáo hội, đã có nhiều vị thánh sống đúng nghĩa đen của tinh thần khó nghèo theo Phúc Âm đủ chứng minh cho chúng ta thấy rõ: Thánh Phanxicô Assisi (mệnh danh là Phanxicô khó nghèo), Thánh Gioan Maria Vianney, Chân phước Têrêsa Calcutta,…

Khi nghe Chúa Giêsu nói về cách đãi tiệc “kỳ cục” như vậy, một trong những kẻ đồng bàn nói với Đức Giêsu: “Phúc thay ai được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa!” (Lc 14:15). Nói được như vậy chứng tỏ ông này biết Chúa Giêsu muốn nói đến Tiệc Nước Trời, Thiên Đàng, Vương Quốc Thiên Chúa. Thế nhưng cũng có thể ông này nói mỉa mai chứ chưa hẳn thật lòng!

Chúa Giêsu trả lời ông ta bằng một dụ ngôn: Một người kia làm tiệc lớn và đã mời nhiều người. Đến giờ tiệc, ông sai đầy tớ đi thưa với quan khách rằng: “Mời quý vị đến, cỗ bàn đã sẵn” (Lc 14:17). Được mời đích danh, nhưng mọi người đồng loạt bắt đầu xin kiếu với đủ lý do, ai cũng có “cớ”... chính đáng!

Người thứ nhất thản nhiên nói: “Tôi mới mua một thửa đất, cần phải đi thăm; cho tôi xin kiếu” (Lc 14:18). Người khác phân bua: “Tôi mới tậu năm cặp bò, tôi đi thử đây; cho tôi xin kiếu” (Lc 14:19). Người khác lại viện cớ: “Tôi mới cưới vợ, nên không thể đến được” (Lc 14:20). Ai cũng có lý do chính đáng riêng để từ chối đi dự tiệc. Rõ ràng HỌ KHÔNG MUỐN VÀO NƯỚC TRỜI.

Đầy tớ ấy trở về, kể lại sự việc cho chủ. Chủ nhà liền nổi cơn thịnh nộ và bảo người đầy tớ: “Mau ra các nơi công cộng và đường phố trong thành, đưa các người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt vào đây” (Lc 14:21). Đầy tớ chân thật trình bày: “Thưa ông, lệnh ông đã được thi hành mà vẫn còn chỗ” (Lc 14:22). Ông chủ ôn tồn bảo người đầy tớ: “Ra các đường làng, đường xóm, ép người ta vào đầy nhà cho ta” (Lc 14:23). Cuối cùng, Ông Chủ Giêsu quyết định: “Tôi nói cho các anh biết: Những khách đã được mời trước kia, không ai sẽ được dự tiệc của tôi” (Lc 14:24).

Những lý do họ đưa ra để từ chối dự tiệc đều là những lý do rất “quen thuộc”, liên quan vật chất và thực tế, chẳng khác ngày nay, có điều là ngày nay chúng ta từ chối “khéo” hơn nhiều. Quả thật, chính chúng ta cũng đã và đang có những lúc là Pharisêu nhưng lại khoác chiếc-áo-nhân-nghĩa, rất khó có thể phát hiện. Miệng nói muốn vào Nước Trời nhưng cách sống lại trái ngược!

Các lối dẫn vào những nơi ăn chơi hoặc các khu nhà cao cấp đều rộng thênh thang, bóng láng, trơn tru, mượt mà và sang trọng, ai thấy cũng ham; còn những con hẻm nhỏ vào những khu dân cư nghèo thì nhỏ bé, gồ ghề, lầy lội, hôi tanh, chẳng ai thèm nhìn chứ đừng nói bước chân vào.

Đường vào Nước Trời cũng tương tự. Nếu thật lòng muốn vào Nước Trời thì phải làm sao? Hẳn là ai cũng biết!

Chúa Giêsu đã từng sống trong ngôi làng nhỏ bé, lao động cực khổ, nên Ngài khuyên thực tế lắm: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7:13-14). Đáng lưu ý cách Chúa nói về tỷ lệ chênh lệch nhau: “Nhiều người” đối với “cửa rộng” và “đường thênh thang”, còn “ít người” đối với “cửa hẹp” và “đường chật”.

Muốn vào Nước Trời thì phải tuân phục Thánh Ý Chúa. Chắc chắn không còn cách khác. Điều đó thể hiện qua dụ ngôn hai người con, đứa nhận lời thì không làm, đứa cãi lời thì lại làm (x. Mt 21:28-30), nhưng vấn đề là tuân phục hay bất tuân: Chính đứa đi làm mới là đứa hiếu thảo và biết vâng lời cha, vì biết cãi lệnh là sai nên nó hối hận.

Chúa Giêsu đã cảnh báo nhóm Pharisêu nhưng cũng chính là cảnh báo mỗi chúng ta: “Những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước quý vị” (Mt 21:31). Một sự thật trắng trợn, quá phũ phàng, nhưng sự thật luôn là sự thật. Nước Trời không có chỗ cho những người giả hình hoặc ảo tưởng!

Như vậy, vào Nước Trời dễ hay khó?

Dễ, vì ai cũng có thể vào; nhưng cũng khó, vì phải nghiêm túc thực hiện Thánh Ý Chúa. Vả lại, phàm điều gì dễ thì ít giá trị, điều gì khó mới thực sự giá trị cao: “Phải trải qua nhiều nỗi khó khăn mới vào được Nước Thiên Chúa” (Cv 14:22), thậm chí còn phải từ bỏ chính mình (x. Mt 16:24; Mc 8:34; Lc 9:23).

Muốn vào Nước Trời còn phải có động thái dứt khoát, không được chần chừ hoặc lần lữa: “Vì ngươi hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” (Kh 3:16). Động thái dứt khoát rất quan trọng đối với việc “vào Nước Trời”. Dứt khoát còn đòi hỏi phải thực sự can đảm. Một là “vào Nước Trời qua cửa hẹp”, hai là “vào Hỏa ngục qua đại lộ”. Chỉ có hai con đường, nhưng phải chọn một trong hai. Không thể sống hai mặt, lơ lửng con cá vàng, bắt cá hai tay, hoặc “chân trong, chân ngoài”.

Chúa Giêsu nói rõ ràng: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa” (Lc 9:62). Không ai có thể tự biện hộ, và cũng chẳng ai có thể biện hộ giúp, bằng bất cứ lý do gì nữa!

Người Pháp nói: “Vouloir, c’est pouvoir! – Muốn là được”. Vấn đề là có thực sự muốn và quyết tâm thực hiện để biến ước mơ thành hiện thực hay không mà thôi. Điều đó tùy vào mỗi người, vì Chúa không hề ép buộc, Ngài hoàn toàn cho mọi người tự do!

Thánh tiến sĩ Augustinô nói: “Chúa dựng nên con, Chúa không cần con; nhưng Chúa cứu độ con, Chúa cần con”. Nghĩa là phải có sự hợp tác của chúng ta, và Chúa coi sự hợp tác nhỏ bé đó là công trạng đáng giá riêng của mỗi chúng ta.

Lạy Thiên Chúa chí minh, chí công và chí thiện, xin thương tha thứ chúng con về những ước muốn chủ quan hoặc ích kỷ, những ý tưởng không đẹp lòng Chúa. Xin Cha ban Thánh Thần cho chúng con và giúp chúng con luôn mau mắn tuân phục Thánh Ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

CỨ XIN SẼ ĐƯỢC

Thiên Chúa hứa: “Con cứ xin, rồi Cha ban tặng muôn dân nước làm sản nghiệp riêng, toàn cõi đất làm phần lãnh địa” (Tv 2:8). Chúa Giêsu nói: “Cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho” (Mt 7:7-8).

Vài năm trước, khi vợ tôi 20 tuổi, chúng tôi xung khắc với nhau về tài chính. Chúng tôi học đại học cùng nhau, tạo dựng sự nghiệp, cưới nhau và có hai đứa con.

Là bác sĩ thú y, tôi theo những gì tôi nghĩ là Ý Chúa tiền định cho cuộc đời tôi. Rồi tôi bỏ mọi thứ để đi dạy học. Lương giáo viên không bằng lương BS thú y, điều đó ảnh hưởng nhiều đến mối lo tài chính. Thế nên tôi làm ba công việc. Tôi dạy toàn thời gian ở một trường đại học ở Dallas, rồi dạy thêm lớp ban đêm ở một trường cao đẳng. Để phụ thêm vào lương giáo viên, tôi dành thời gian chăm sóc thú bệnh ở một phòng thí nghiệm của trường đại học vào các chiều thứ Sáu, từ 13 giờ tới 17 giờ. Đó là việc hèn hạ nhất, và đa số thú bệnh đều là của sinh viên nên tôi chỉ đủ thời gian chợp mắt một chút.

Tiền bạc quá eo hẹp và chúng tôi không thể đủ thanh toán một số hóa đơn. Quá căng thẳng đến nỗi vợ tôi quyết định đưa các con về nhà ngoại vài ngày để bớt căng thẳng, bỏ tôi một mình thui thủi.

Một buổi tối thứ Năm, tôi gọi điện cho vợ và hỏi xem chúng tôi cần bao nhiêu tiền nữa để thanh toán nợ nần. Cô ấy nói cần 311 USD. Chúng tôi cùng cầu xin Chúa giúp chúng tôi vượt qua lúc khó khăn này. Chúng tôi cùng cầu nguyện với nhau qua điện thoại, điều mà tôi chưa bao giờ làm. Tôi quỳ gối và thành tâm xin Chúa đặc biệt giúp cho một số tiền. Tôi xin Ngài nếu Ngài đem đến cho tôi một số thú bệnh vào chiều hôm sau thì tôi sẽ đủ tiền thanh toán hóa đơn. Tôi nói với Ngài rằng tôi cần 311 USD.

Sau khi cầu nguyện, tôi đi ngủ và khi tôi thức dậy vào sáng hôm sau, tôi quên mình đã cầu nguyện điều gì. Tôi đi dạy và đi chăm sóc bệnh nhân như thường. Đó là một ngày tôi rất bận, tôi thấy 5 con thú và lúc đó khoảng 5 giờ chiều. Chữa xong, nếu chủ nhân có tiền thì họ trả, nếu không thì tôi nói họ có thể trả sau. Tôi nhận tiền và bỏ ngay vào túi áo. Tôi luôn chú ý tới việc chữa bệnh chứ không chú ý đến tiền, và tôi không có gì hối tiếc vào cuối ngày.

Về nhà tối hôm đó, tôi rất mệt và buồn ngủ. Chuông điện thoại reo. Vợ tôi gọi và hỏi tôi có kiếm thêm ít tiền nào hồi chiều không. Tôi lấy nắm tiền ra đếm khi vợ tôi vẫn nghe điện thoại: 310 USD. Vợ tôi ngạc nhiên và nhắc tôi chỉ thiếu 1 USD nữa thôi. Tôi nhìn xuống và thấy đồng 1 USD trên nền nhà, có lẽ khi tôi rút tiền ra đã để rơi nó. Thế là vừa đủ 311 USD để thanh toán nợ hóa đơn.

Hôm đó là ngày đặc biệt trong cuộc đời chúng tôi. Chúng tôi không bao giờ gặp lại tình cảnh tài chính như vậy nữa. Tôi biết đó chỉ là một nhu cầu nhỏ, nhưng đó là một phép mầu khi chúng tôi nhận ra Thiên Chúa ban cho chúng tôi đúng như chúng tôi đã cầu xin, không thừa cũng không thiếu một xu.

Phép lạ rất lạ vẫn xảy ra trong cuộc sống đời thường của chúng ta!

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ Chicken Soup for the Soul: A Book of Miracles)

 


ĐIỆP KHÚC KHỐN

Có những “mối phúc” thì cũng có những “mối khốn”. Tuy nhiên, khi nghe các “mối phúc”, chúng ta thực sự cảm thấy “dễ chịu” hơn, dù đôi khi vẫn cảm thấy “lấn cấn” một chút: “Phúc thay…! Phúc thay...!”. Thế nhưng khi nghe các “mối khốn”, chúng ta cảm thấy “nhức đầu” lắm: “Khốn thay…! Khốn thay...!”.

Kinh Thánh cho chúng ta thấy rõ ràng rằng Thầy Chí Thánh Giêsu rất ghét dạng người giả hình, dù đó là điều nhỏ nhất hoặc bất cứ dạng giả hình nào. Sau khi Ngài nói đừng nhận ai là “cha” vì chúng ta chỉ có một Cha là Cha trên trời, và cũng đừng để ai gọi mình là “người lãnh đạo” vì chỉ có một vị lãnh đạo, đó là chính Đức Kitô. Rồi Ngài nói: “Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên” (Mt 23:12). Ngài đề cao đức khiêm nhường, nhân đức nền tảng và cột trụ trong “tòa nhà” nhân đức.

Tiếp theo là trình thuật Mt 23:13-33, Chúa Giêsu đưa ra “điệp khúc khốn”, đó là một loạt lời nguyền rủa mà Ngài nhắm thẳng vào bè lũ giả hình – tức là những người ưa hình thức, khoái bề ngoài, thích nổi trội.

“Điệp khúc” này rất khó nghe vì rất “rát tai”, gây “dị ứng”, ai có “máu giả hình” rất ngại nghe nói hoặc không muốn người khác nhắc tới. Thuận ngôn nghịch nhĩ. Sự thật vốn dĩ dễ mất lòng. Đó là điều tất yếu. Chuyện đời như vậy, chuyện đạo cũng thế thôi. Tuy nhiên, dù thích hay không thì cũng là điều Chúa Giêsu đã khuyến cáo, Ngài phê bình nặng nề và rõ ràng từng chi tiết, vì Ngài là người luôn nói thẳng nói thật, “không vị nể ai” (1 pr 1:17). Thuốc có đắng thì mới “đã” tật. Có thể lâu nay chúng ta chỉ đọc lướt hoặc thoáng nghe, rồi quên hoặc không muốn nhớ. Hôm nay, chúng ta cứ thử đọc lại xem sao, đọc chậm thôi, để “nội soi” chính mình:

– KHỐN cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người khoá cửa Nước Trời không cho thiên hạ vào! Các người đã không vào, mà những kẻ muốn vào, các người cũng không để họ vào.

– KHỐN cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ, cho nên các người sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn.

– KHỐN cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người rảo khắp biển cả đất liền để rủ cho được một người theo đạo; nhưng khi họ theo rồi, các người lại làm cho họ đáng xuống hoả ngục gấp đôi các người.

– KHỐN cho các người, những kẻ dẫn đường mù quáng! Các người bảo: “Ai chỉ Đền Thờ mà thề thì có thề cũng như không; còn ai chỉ vàng trong Đền Thờ mà thề thì bị ràng buộc”. Đồ ngu si mù quáng! Thế thì vàng hay Đền Thờ là nơi làm cho vàng nên của thánh, cái nào trọng hơn? Các người còn nói: “Ai chỉ bàn thờ mà thề thì có thề cũng như không; nhưng ai chỉ lễ vật trên bàn thờ mà thề thì bị ràng buộc”. Đồ mù quáng! Thế thì lễ vật hay bàn thờ là nơi làm cho lễ vật nên của thánh, cái nào trọng hơn? Vậy ai chỉ bàn thờ mà thề là chỉ bàn thờ và mọi sự trên bàn thờ mà thề. Và ai chỉ Đền Thờ mà thề là chỉ Đền Thờ và Đấng ngự ở đó mà thề. Và ai chỉ trời mà thề là chỉ ngai Thiên Chúa và cả Thiên Chúa ngự trên đó mà thề.

– KHỐN cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và thành tín. Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ. Quân dẫn đường mù quáng! Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà.

– KHỐN cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bócăn chơi vô độ. Hỡi người Pha-ri-sêu mù quáng kia, hãy rửa bên trong chén đĩa cho sạch trước đã, để bên ngoài cũng được sạch.

– Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các người cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hìnhgian ác!

– KHỐN cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người xây mồ cho các ngôn sứ và tô mả cho những người công chính. Các người nói: “Nếu như chúng ta sống vào thời của tổ tiên, hẳn chúng ta đã không thông đồng với các ngài mà đổ máu các ngôn sứ”. Như vậy, các người tự làm chứng rằng các người đúng là con cháu của những kẻ đã giết các ngôn sứ. Vậy thì các người đổ thêm cho đầy đấu tội của tổ tiên các người đi!

Đọc kỹ “điệp khúc khốn” này thì thấy rởn tóc gáy và thực sự đáng sợ. Ngày nay, người ta giả hình tinh vi hơn, khó có thể nhận ra theo lẽ thường. Loại người này xuất hiện bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào. Hình như người ta càng có chức có quyền thì người ta càng dễ bị “nhiễm” virus giả hình. Phải chăng xã hội ngày nay coi trọng bề ngoài nên người ta tiêm nhiễm? Chưa chắc. Thiết nghĩ do chính lối suy nghĩ thiển cận và ảo tưởng mà sinh ra thôi.

Xét các dạng giả hình trên đây, chúng ta thấy “nổi gai óc”, nhưng đáng sợ nhất là câu này của Chúa Giêsu: “Đồ mãng xà, nòi rắn độc kia! Các người trốn đâu cho khỏi hình phạt hoả ngục?” (Mt 23:33). Như vậy, rõ ràng người giả hình không thoát khỏi hỏa ngục, tức là chắc chắn có “vé” vào cửa tự do rồi. Ai có máu giả hình thì mau mà chấn chỉnh ngay kẻo không kịp đâu, vì Chúa đến bất ngờ như Chàng Rể trong dụ ngôn “Mười Cô Trinh Nữ” (Mt 25:1-13) mà chúng ta đã “thuộc lòng” rồi.
Nếu tịnh tâm mà đọc và suy, phải công nhận rằng càng đọc càng thấy hãi hùng!

Nhưng cũng chưa xong đâu, vì ngoài “điệp khúc khốn” trên đây – có thể gọi là “bát khốn” cho dễ nhớ, trình thuật Lc 6:24-26 còn đưa ra “tứ khốn” khác, cách nói tương tự nhưng đối lập với Bát Phúc, chắc hẳn cũng khiến chúng ta “giật mình” không kém. Ai “giật mình” càng mạnh và càng nhiều thì càng có lợi cho đời sống tâm linh. “Tứ khốn” đó như sau:

KHỐN cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi.

KHỐN cho các ngươi là những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói.

KHỐN cho các ngươi là những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than.

KHỐN cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế”.

Tự “nội soi” bằng siêu-tia-X “bát khốn” và “tứ khốn” trên đây, chắc hẳn chúng ta cảm thấy “nổi da gà” lắm rồi. Tuy nhiên, “bệnh án linh hồn” của chúng ta chưa hoàn tất, vì chúng ta còn có thêm “nhị khốn” khác để khả dĩ xét nghiệm linh hồn một cách toàn diện hơn:

– KHỐN cho những thành đã chứng kiến các phép lạ mà không sám hối! (Mt 11:21-24; Lc 10:13-15).

– KHỐN cho thế gian, vì làm cớ cho người ta sa ngã! Tất nhiên phải có những cớ gây sa ngã, nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta sa ngã! (Mt 18:7; Mc 9:42-48; Lc 17:1-2).

Khốn nạn, khốn kiếp, khốn thay! Đó là dạng nguyền rủa nặng nề nhất trong phàm ngôn, ai bị nguyền rủa như vậy thì thật là khốn đốn, khốn khổ, khốn cùng! Tương tự là lời nguyền rủa “quân chó má” mà Tân Ước có đề cập 2 lần. Thứ nhất, Thánh Phaolô cảnh báo chúng ta về những kẻ xấu, kẻ giả hình: “Anh em hãy coi chừng quân chó má! Hãy coi chừng bọn thợ xấu! Hãy coi chừng những kẻ giả danh cắt bì!” (Pl 3:2). Thứ nhì, Thánh Gioan cho biết: “Những quân chó má, làm phù phép, gian dâm, sát nhân, thờ ngẫu tượng, cùng với mọi kẻ thích điều gian dối và ăn gian nói dối, hãy xéo ra ngoài” (Kh 22:15). Những người thích gian dối tức là những kẻ giả hình vậy!

Tóm lại, nói xa chẳng qua nói thật, vấn đề “đáng sợ” nhất vẫn là câu nguyền rủa của Chúa Giêsu: “Đồ mãng xà, nòi rắn độc kia! Các người trốn đâu cho khỏi hình phạt hoả ngục?” (Mt 23:33). Vấn đề “đáng sợ” ở đây không phải là khốn khổ ở đời này, cũng chẳng phải đau khổ ở Luyện Hình, mà là khốn nạn đời đời trong Hỏa Ngục!

Lạy Thiên Chúa, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài. Như vậy, Ngài thật công bình khi tuyên án, liêm chính khi xét xử (Tv 51:5-6).

TRẦM THIÊN THU
Cuối Tháng Mười – 2014

Nghĩa tử là nghĩa tận
R.I.P. – Requiescat in Pace – Xin cho các Linh hồn được nghỉ yên!
Cầu nguyện cho các linh hồn là trách nhiệm liên đới Kitô giáo. Đó cũng là tính hiệp nhất của cả ba Giáo hội: Giáo hội Khải hoàn (chư thánh), Giáo hội Đau khổ (các linh hồn nơi Luyện hình, chắc chắn sẽ làm thánh), và Giáo hội Chiến đấu (những người còn tại thế). Theo truyền thống tốt lành của Giáo hội Công giáo, tháng Mười Một là tháng đặc biệt cầu cho các linh hồn. Dĩ nhiên, chúng ta phải cầu nguyện cho các linh hồn hàng ngày, chứ không chỉ trong tháng Mười Một.
Đây là mong muốn “không giống ai” của Thánh Lm Don Bosco: “Da mihi animas, coetera tolle – xin cho tôi các linh hồn, còn mọi sự khác cứ lấy đi”. Thánh nhân đã cảm nhận rất sâu sắc nên mới mong ước như vậy. Chính Chúa Giêsu cũng đề cập tầm quan trọng của việc cứu các linh hồn khi Ngài nói với Thánh nữ Faustina: “Đừng sợ, hỡi ái nữ bé nhỏ, con không đơn độc đâu. Hãy chiến đấu can trường, vì tay Ta luôn nâng đỡ con. Hãy chiến đấu vì phần rỗi các linh hồn, khuyến khích họ tin vào Lòng Thương Xót của Ta, vì đó là nhiệm vụ của con ở đời này và và đời sau” (Nhật Ký, số 1452).
Sinh ký, tử quy. Sống gởi, thác về. Đó là quy luật muôn thuở. Kể cũng lạ, người đời mà cũng nói “tử quy – thác về”. Phải chăng người ta cũng “mơ hồ” nhìn nhận “chết là đi về” một cõi vĩnh hằng? Động từ “về” là nói tới việc di chuyển đến “nhà mình”, chí ít cũng là một nơi “thân quen”. Không ai nói “về” một nơi xa lạ hoặc nơi mình không thích. Tháng Mười Một cũng có thể coi là một Mùa Vọng khác và một Mùa Chay khác: Sám hối. Thiết nghĩ, dù có đức tin hay không, đó vẫn là “sự tiền định” – dù người vô tín ngưỡng (hoặc vô thần) hoặc những loại tôn giáo “phi đức tin” (non- hoặc no-) cho đó là “vô lý” hoặc “vô nghĩa”, người có “niềm tin” khác nói đó là “vòng luân hồi”. Ngày nay, điều đó có vô nghĩa với người có niềm tin? (Ở đây muốn nói niềm tin chính đáng, không nói niềm tin lệch lạc). Tháng Mười Một nhắc nhớ về Sự Chết, phàm nhân cần phải sám hối để được cứu độ.
Càng sống lâu, người ta càng có “cơ hội” thấy những người khác “ra đi không hẹn trở lại” và tham dự nhiều đám tang. Dù giàu hay nghèo, dù sang hay hèn, dù giỏi hay dốt,... ai cũng buông xuôi đôi bàn tay trắng! Đó là những dịp nhắc chúng ta nhớ lại quy luật Thiên Chúa đã tiền định từ ngàn xưa: “Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3:19). Cho sống hay bắt chết là quyền của Đấng Tạo Hóa: “Chúa lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi” (Tv 104:29).
“Thời giờ thấm thoắt thoi đưa, nó đi đi mất chẳng chờ đợi ai”. Ca dao Việt Nam đã ví von như vậy. Thời gian qua mau thì đời người cũng mau qua. Mới sinh ra mà đã mau về già: “Tính tuổi thọ trong ngoài bảy chục, mạnh giỏi chăng là được tám mươi, mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ, cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi” (Tv 90:10). Khi tư tưởng chín muồi thì thân xác rã rời. Đó là nghịch-lý-thuận, hoặc có thể coi là một dạng “tỷ lệ nghịch” – cái này tăng, cái kia giảm.
Kiếp người mong manh là thế, không có lý do gì để mà chúng ta “hành hạ” nhau, ghen ghét nhau, thù hận nhau, hoặc không tha thứ cho nhau. Thật khó hiểu khi có những người vẫn kèn cựa nhau từng chút, kể cả những điều nhỏ nhoi nhất. Kinh Thánh đặt vấn đề: “Nếu Chúa chấp tội, nào ai rỗi được?” (Tv 130:3). Một câu hỏi nhỏ nhẹ mà gây “nhức đầu” lắm!
Khi bị người khác ghét, nếu xét theo lương tâm ngay thẳng mà thấy mình không sai trái, về phương diện bản tính nhân loại, mới đầu chúng ta có thể cảm thấy buồn, nhưng rồi chúng ta sẽ cảm thấy thanh thản vì được nên giống Đức Kitô. Chính kẻ thù lại cũng là ân nhân đấy, vì nhờ họ ghét mà mình hoàn thiện theo ý Đức Kitô. Vậy là chúng ta đang dần dần nên thánh đấy. Thật chí lý khi Chúa Giêsu bảo chúng ta “yêu kẻ thù, cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi mình, và làm ơn cho kẻ ghét” (Mt 5:44; Lc 6:27; Lc 6:35).
Rồi tất cả sẽ qua, cuộc đời này chẳng là chi cả, càng thu vén, càng nuối tiếc, càng tự dày vò mình: “Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi, tươi thắm như cỏ nội hoa đồng, một cơn gió thoảng là xong, chốn xưa mình ở cũng không biết mình” (Tv 103:15-16). Nhưng thật may, các Kitô hữu có một chỗ vĩnh cư: Thiên Đàng, nơi có Thiên Chúa Ba Ngôi, Đức Maria, Đức Giuse, chư thần và chư thánh. Đại Gia Đình này mãi mãi hợp xướng liên khúc Yêu Thương và Cảm Tạ. Tuyệt vời biết bao!
Nếu cuộc sống là “vòng luân hồi”, chúng ta chẳng cần cố gắng chịu khổ chi cho cực thân, cứ hưởng thụ và xả láng, tức là không cần “vác thập giá”. Tại sao? Vì chết một cuộc đời này thì chúng ta lại có kiếp sống khác, dù kiếp khác có thể là một con vật, thậm chí chỉ là kiếp phù dung. Nghĩa là được “chuyển kiếp”, sống lại lần nữa rồi tái sống lại lần nữa. Chẳng có gì phải lo sợ! Thế nhưng không phải vậy đâu, người ta chỉ có một kiếp sống thôi. Kiếp sau là đời đời, một là huy hoàng, hai là khốn nạn. Đôi nơi cách biệt, người bên này không thể qua bên kia, hoặc ngược lại (x. Lc 16:19-31), đó là điều Tổ phụ Áp-ra-ham đã xác định trong dụ ngôn “Phú hộ và Ladarô”. Vì thế mà người ta mới phải cố gắng sống tốt để trường sinh bất tử trên Thiên Quốc.
Thời Cựu Ước, ông Cô-he-lét đã nhận xét: “Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân. Lợi lộc gì đâu khi con người phải chịu đựng bao gian lao vất vả dưới ánh nắng mặt trời? Thế hệ này đi, thế hệ kia đến, nhưng trái đất mãi mãi trường tồn. Mặt trời mọc rồi lặn; mặt trời vội vã ngả xuống nơi nó đã mọc lên. Gió thổi xuống phía nam, rồi xoay về phía bắc: gió xoay lui xoay tới rồi gió đi ; gió trở qua trở lại lòng vòng. Mọi khúc sông đều xuôi ra biển, nhưng biển cũng chẳng đầy. Sông chảy tới đâu thì từ đó sông lại tiếp tục. Chuyện gì cũng nhàm chán, chẳng thể nói gì hơn. Mắt có nhìn bao nhiêu cũng chẳng thấy gì lạ, tai có nghe đến mấy cũng chẳng thấy gì mới. Điều đã có, rồi ra sẽ có, chuyện đã làm, rồi lại sẽ làm ra: dưới ánh mặt trời, nào có chi mới lạ?” (Gv 1:2-9). Chẳng có gì bền vững, cái gì cũng chỉ có “một thời” mà thôi (x. Gv 3:1-8).
Kiếp người đầy gian truân, đời người tưởng dài mà ngắn: “Con người khác chi hơi thở, vùn vụt tuổi đời tựa bóng câu” (Tv 144:4). Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng thắc mắc về thân phận con người: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi…” (Cát Bụi). Ông không là Kitô hữu, nhưng nhân sinh quan và ý thức hệ của ông rất gần với Công giáo.
Trong ca khúc “Một Mai Em Đi”, Nhạc sĩ Trường Sa viết: Một mai xa nhau xin nhớ cho nhau nụ cười, cho cuộc tình người hẹn hò nhau đến kiếp mai. Đừng hận nhau nữa, lệ nào em khóc cho đầy, tình đã mù theo sương khói, theo cơn gió lùa tả tơi”.
Sự xa nhau là chuyện của hai người yêu nhau về tình cảm nam nữ. Ở đây chúng ta không bàn về chuyện đó, mà nói về “sự xa nhau” giữa con người với con người, tức là sự chết. Đại từ “em” ở đây không hẳn là ngôi thứ hai số ít, mà có thể là bất kỳ ai. Và người ta thường nói: “Nghĩa tử là nghĩa tận”. Có ý nói rằng, dù có giận ghét nhau tới đâu thì người ta cũng sẵn sàng tha thứ cho nhau khi đứng giữa làn ranh Sinh – Tử, đối diện với Tử thần.
“Một mai em đi ngày tháng bơ vơ giận hờn, nhớ về tình người buồn như con nước đã vơi. Lời nào gian dối để người đã lỡ một giờ, một đêm nào em đã lỡ buông tay ngậm ngùi xót xa”. Gần nhau thì coi thường nhau, có yêu thương thì đôi khi cũng chỉ là môi miệng, lẻo mép. Khi “xa nhau” rồi mới thấy thương tiếc, yêu thương, muốn nói lời xin lỗi mà không còn kịp nữa rồi. Người “ra đi” có thể còn buồn hoặc không, nhưng chắc chắn người ở lại sẽ buồn nhiều, thậm chí còn bị lương tâm cắn rứt khôn nguôi!
Câu kết của ca khúc “Một Mai Em Đi” thật là thấm thía: “Đời vui không mấy, niềm đau đã chín kiếp người, lòng đâu phụ nhau thêm nữa, khi mai không còn có nhau. Vâng, nghĩa tử là nghĩa tận, đừng phụ lòng nhau nữa. Và như vậy, chắc hẳn không ai lại nỡ khép lòng lại với nhau, mà sẽ sẵn sàng tha thứ cho nhau mọi thứ – cả tinh thần lẫn vật chất.
Nghĩa tử là nghĩa tận. Chúng ta cũng nên “tập chết” hàng ngày. Hãy yêu thương và tha thứ, kẻo không còn cơ hội. Đừng “Hận Tình” (ca khúc của Nhạc sĩ Anh Bằng và Mạc Phong Linh) mà thắc mắc với nhau: “Nếu mai anh (em) chết em (anh) có buồn không? Sao em (anh) không đến khi anh (em) còn sống? Lỡ mai anh (em) chết em (anh) khóc nhiều không. Anh (em) xin bia đá ghi tên ngưòi sống”. Sự hối hận luôn mang ý nghĩa muộn màng, và sự muộn màng luôn đồng nghĩa với sự nuối tiếc!
Ở dưới bầu trời này, mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời (Gv 3:1-8). Vâng, tất cả chỉ là phù vân, chẳng có gì bền vững, chỉ có Thiên Chúa là Đấng vạn đại trường tồn (Tv 102:25). Con người chẳng là chi, vậy mà Thiên Chúa vẫn cần biết đến (x. Tv 144:3). Và còn hơn thế nữa, Ngài yêu thương chúng ta đến cùng (Ga 13:1), làm ngơ mọi tội lỗi tày trời của chúng ta, bằng chứng là Chúa Giêsu đã đổ đến giọt máu và nước cuối cùng (Ga 19:34). Đặc biệt là Thiên Chúa rất muốn chúng ta được hạnh phúc bên ngài mãi mãi. Thật là mầu nhiệm quá!

Tháng Mười Một, Giáo hội mời gọi chúng ta: “Oremus pro Defunctis – Xin cầu cho các linh hồn”. Cầu cho người mà lại có lợi cho mình: “Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân” (Thánh Phanxicô Assisi). Tháng Cầu Hồn phủ đầy màu tím rịm, khói buồn lan tỏa, nghi ngút nén nhang thương nhớ, đặc biệt là chúng ta ghi nhớ lời Thánh Vịnh: “Dù sống trong danh vọng, con người cũng không thể trường tồn; thật nó chẳng khác chi con vật một ngày kia phải chết” (Tv 49:13).
Trong ca khúc “Nửa Hồn Thương Đau”, Nhạc sĩ Phạm Đình Chương tâm sự: “Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngát... Ôi những người khóc lẻ loi một mình...!”. Nỗi cô đơn lớn quá! Ở đây chúng ta hiểu nghĩa “tím” và “lẻ loi” theo định hướng Kitô giáo, chứ không hiểu theo nghĩa “đời thường”. Vâng, một trong các nghĩa “cô đơn” đó là nghĩa cô đơn của em Phạm Thị Nhung và gia đình em Nhung. Đó là ai???
Em Phạm Thị Nhung là học sinh lớp Ba, con nhà nghèo, 10 tuổi, học sinh Trường tiểu học Nguyễn Đức Bồng (xã Đức Bồng, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh). Em bị bệnh tim bẩm sinh, vì nhà nghèo nên phải nhịn đói buổi sáng để đến trường. Em chết vì ĐÓI lúc 10 giờ ngày 25-9-2014. Em có là Kitô hữu hay không, đó không là vấn đề, vấn đề là có phần TỘI của chúng ta liên quan trong cái chết của em, vì chúng ta cứ leo lẻo bảo “xóa đói, giảm nghèo”, nhưng chúng ta đã “giảm” được gì và “xóa” được gì, chúng ta có làm được gì thực tế chưa? Hay chỉ theo “bề nổi” để vinh danh mình? Thậm chí, ngay khi chúng ta đi làm từ thiện, có vẻ chúng ta vẫn trọng “bề ngoài” (để đăng báo, để đưa tin,...) hơn là yêu mến thật lòng. Có oan không??? Ai có thể biện hộ cho cái chết của bé Nhung? Chúng ta trả lời với Chúa như thế nào đây??? Vâng, lạy Chúa, lỗi tại con mọi đàng. Con xin lỗi Chúa!
Tháng Mười Một là tháng của... Sự Chết. Ngoài Thiên Chúa, chắc hẳn không ai có thể biết ngày giờ chết. Thế mà có người được Thiên Chúa cho biết ngày giờ chết. Đó là Tu sĩ Gioan, qua đời năm 1501, một nông dân chính hiệu, chỉ là “người làm vườn” thôi, và tới nay cũng chỉ mới được Giáo hội tôn phong là Tôi Tớ Chúa, nhưng ngài đã được ơn biết trước giờ đối diện với Tử Thần.
Ngài sinh trưởng trong một gia đình nghèo ở Bồ Đào Nha. Mồ côi sớm, chính ngài phải đi ăn xin vài năm để sống. Sau khi có việc làm ở Tây Ban Nha là chăn chiên, ngài chia sẻ phần thu nhập ít ỏi của mình với những người nghèo khổ hơn mình. Người khác nhìn thấy thế chắc hẳn cho ngài là “đồ khùng”, nghèo mà còn “chảnh”. Một hôm, hai tu sĩ dòng Phanxicô gặp Gioan trên đường đi, trong khi nói chuyện, hai tu sĩ này thấy quý mến một con người đơn giản và mời Gioan đến làm việc tại tu viện của họ ở Salamanca. Gioan chấp nhận và được phân công làm vườn. Một thời gian sau, Gioan đã nhập Dòng Phanxicô, sống cuộc đời chiêm niệm, ăn chay, giúp đỡ người nghèo, và dành thời gian ban đêm để cầu nguyện. Vì công việc của ngài là làm vườn và chăm sóc hoa để cắm trên bàn thờ, ngài nổi tiếng với danh xưng “người làm vườn”.
Thiên Chúa ban cho Gioan có biệt tài nói tiên tribiết rõ tâm hồn người khác. Các nhân vật quan trọng, kể cả các hoàng tử, cũng đến với ngài để xin lời khuyên. Ngài là người khiêm nhườngtuyệt đối vâng lời. Ngài yêu thương cả những người muốn chống đối ngài. Lời khuyên của ngài là tha thứ vì ngài bảo đó là hành động đẹp lòng Chúa nhất. Ngài đã tiên báo đúng ngày ngài qua đời: 11-1-1501.
Ai là người lớn nhất trong Nước Trời? Đó là người có cách sống đơn sơ như trẻ em (Mt 18:1-5; Mc 9:33-37; Lc 9:46-48). Theo nghĩa “lớn” – thậm chí là vĩ đại – của Chúa Giêsu, người lớn KHÔNG là người cao niên, quyền thế, giỏi giang, giàu có,... Thánh nữ Teresa học chẳng bằng ai, tu chẳng bao lâu, làm chẳng được việc gì lớn, thế mà Giáo hội tôn vinh là Tiến sĩ nhờ bí quyết “Con Đường Thơ Ấu”. Còn chúng ta, đủ loại bằng cấp, quyền cao chức trọng, tiền rừng bạc bể, uy tín nhiều,... để làm gì? Vấn đề quan trọng là chúng ta có Bằng Cấp Bác Ái (mến Chúa, yêu người) hay không. Mỗi người phải tự trả lời!
Nghĩa tử là nghĩa tận – với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính mình!
Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, xin thương tha thứ hình phạt cho các linh hồn và sớm cho các ngài về hưởng Tôn Nhan Chúa muôn đời. Xin giúp chúng con biết cố gắng sống cho trọn ba đức đối thần và các nhân đức đối nhân. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Mùa Cầu Hồn – 2014


Trình diện
Trình diện là ra mặt cho người ta biết, là gặp mặt trực tiếp một người nào đó, đặc biệt là gặp người lớn và có quyền thế. Trình diện có dạng tích cực và tiêu cực, có thể đáng buồn hoặc đáng vui. Trình diện khá đa dạng: Những người sắp kết hôn trình diện ông bà, cha mẹ, họ hàng đôi bên; phạm nhân trình diện cảnh sát hoặc tòa án; quân nhân trình diện cấp trên sau thời gian đi công tác hoặc nghỉ phép; tu sĩ trình diện bề trên khi đi đâu về; trò trình diện thầy... Đủ dạng và đủ cấp độ trình diện.
Trong Kinh Thánh có nhiều dạng trình diện khác nhau. Cựu Ước cho biết: “Ông Giuse được ba mươi tuổi khi ra trình diện Pharaô, vua Ai-cập. Ông cáo biệt Pharaô và rảo qua khắp xứ Ai-cập. Trong bảy năm sung túc, đất đã sinh ra mùa màng dư dật” (St 41:46-47). Sau khi anh em hùa nhau giết “thằng chiêm bao” Giuse, nhưng rồi một người anh ngăn cản nên họ đem bán Giuse làm nô lệ. Nhưng Giuse được Thiên Chúa che chở và danh tiếng lẫy lừng. Khi biết tin, ông Ít-ra-en bảo các con đi gặp Giuse: “Những người này lấy những món quà đó, mang theo số bạc gấp đôi, và đem Ben-gia-min theo. Họ đứng lên, xuống Ai-cập và vào trình diện ông Giuse” (St 43:15). Giờ đây, các anh phải “trình diện” quan em là Giuse.
Trình diện cũng có luật rõ ràng và nghiêm túc: “Mỗi năm ba lần, tất cả đàn ông con trai của anh em phải đến trình diện Đức Chúa, ở nơi Người chọn: vào dịp lễ Bánh Không Men, lễ Ngũ Tuần và lễ Lều. Người ta sẽ không đến trình diện Đức Chúa tay không” (Đnl 16:16). Trong thời gian sống trong sa mạc, cố gắng nằm gai để chờ ngày nếm mật tại Đất Hứa, chính ông Mô-sê đã truyền luật cho dân: “Sau bảy năm, vào thời kỳ có năm tha nợ, trong dịp lễ Lều, khi toàn thể Ít-ra-en đến để ra trình diện Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, ở nơi Người chọn, anh em phải đọc luật này trước toàn thể Ít-ra-en, cho họ nghe” (Đnl 31:10-11). Sau khi chiến thắng, đích thân Đa-vít ra trình diện vua Sa-un (Đnl 17:55-58).
Trong thị kiến thứ tám về “chiến xa”, ngôn sứ Dacaria nghe thần sứ lên tiếng trả lời: “Đó là bốn luồng gió trời tiến đi sau khi đã trình diện Chúa Tể toàn cõi đất. Xe thắng ngựa ô tiến về đất bắc, ngựa bạch tiến theo sau; ngựa đốm tiến về đất nam” (Dcr 6:5-6). Đặc biệt nhất là chính Thiên Chúa đã tuyên phán rạch ròi: “Chính tay Ta đã thiết lập địa cầu, tay hữu Ta đã trải rộng trời cao. Ta gọi chúng, chúng cùng nhau trình diện” (Is 48:13).
Tân Ước cũng đề cập một số trường hợp trình diện. Chúa Giêsu chữa lành và bảo người phong cùi đi trình diện các tư tế (Mt 8:1-4; Mc 1:40-45; Lc 5:12-14), Ngài cũng bảo mười người phong cùi đi trình diện với các tư tế (Lc 17:14). Và rồi Thánh Phaolô cũng đã từng ra trình diện vua Ác-ríp-pa (Cv 25:13-27).
Con cái trình diện cha mẹ, bề dưới trình diện bề trên, người nhỏ trình diện người lớn,... Đó là chuyện bình thường. Nhưng thật là kỳ lạ, vì ngay cả ma quỷ cũng phải trình diện Thiên Chúa: “Một ngày kia, con cái Thiên Chúa đến trình diện Đức Chúa; Satan cũng đến trong đám họ để trình diện Đức Chúa” (G 2:1).
Đối với các Kitô hữu, hằng ngày mỗi người phải tự trình diện Thiên Chúa khi xét mình vào buổi tối trước khi đi ngủ. Và hằng tháng, chí ít là hằng năm, người Công giáo trình diện Thiên Chúa bằng cách lãnh nhận Bí tích Hòa giải. Ngay cả khi thức dậy vào buổi sáng, họ cũng phải trình diện Thiên Chúa, kể cả nhiều lúc khác trong ngày. Ai càng yêu mến Ngài thì càng muốn trình diện Ngài.
Cuối cùng, lần trình diện quan trọng và đáng sợ là lúc chết, quan trọng nhất và đáng sợ nhất chính là Ngày Phán Xét Chung – lúc này biết rõ ai là chiên và ai là dê (x. Mt 25:31-46). Trong các cuộc xét xử khác, người ta có thể kháng án, tự biện hộ hoặc có luật sư biện hộ, nhưng tại Cuộc Phán Xét Chung, không ai có thể tự biện minh và không có ai biện hộ. Cuốn-sách-cuộc-đời đã ghi đầy đủ từng chi tiết, cuốn-phim-cuộc-đời đã ghi đầy đủ mọi hình ảnh, và cuộn-băng-cuộc-đời cũng đã ghi rõ ràng từng âm thanh nhỏ nhất của nhịp thở. Không thể biện minh được chút gì. Tất cả là đời đời rồi!
Cuộc trình diện Thiên Chúa vừa đáng sợ hãi vừa đáng vui mừng. Còn tùy người. Cổ nhân đã nói: “Sinh hữu hạn, tử bất kỳ”. Người ta có thể biết trước thời điểm sinh một cách tương đối khá chính xác, nhưng không ai có thể biết trước lúc chết, ngay cả đối với những người xem chừng sắp chết đến nơi mà cũng chẳng ai đoán được tương đối chính xác. Có người tưởng chỉ vài giờ nữa sẽ tắt thở, nhưng rồi kẻ hấp hối đó vẫn sống thêm vài ngày nữa.
Sinh – tử là chuyện của Ông Trời, phàm nhân chỉ biết cúi đầu tuân lệnh. Vâng, dù là người vô tín ngưỡng hoặc vô thần, người ta cũng vẫn nói: “Trời kêu ai nấy dạ, trời gọi ai nấy đi”. Như vậy, dù không minh nhiên nhưng mặc nhiên họ vẫn có phần tâm linh đấy chứ! Quả thật, “chuyến đi xa” này bất ngờ hơn cả sự bất ngờ, và kẻ “ra đi” không bao giờ hẹn tái ngộ, một chuyến đi rất xa... rất xa...
Họ đi đâu vậy? Người ta thường nói rằng họ về nơi “chín suối” – nói văn hoa là “cửu tuyền”, về nơi “suối vàng” (hoàng tuyền), về Niết Bàn,... Nói là nói vậy chứ chẳng ai biết nơi đó là nơi nào hoặc ở đâu.
Nhưng với các tín hữu, những người có niềm tin vào Đức Kitô, Ngôi Hai mặc xác phàm, nơi đó rõ ràng và chính xác, nơi mà Đức Giêsu đã đến và cũng đã về lại nơi đó, nơi mà Ngài gọi là “về cùng Chúa Cha” (Ga 14:28). Vì thế, các tín hữu “ra đi” không hẹn gặp lại nơi trần gian nhưng hẹn gặp lại trên Thiên Quốc, họ ra đi để về với Thiên Chúa hằng sinh, Đấng từ bi nhân hậu và giàu lòng thương xót.
Tháng Mười Một lại về như một cuộc hẹn với các linh hồn nơi Luyện Hình, và cũng là dịp để chúng ta chuẩn bị cho cuộc trình diện với Thiên Chúa mà không ai không hẹn, càng phải chuẩn bị hơn vì cuộc trình diện này là cuộc-hẹn-bất-ngờ. Vâng, có thể lát nữa, ngày mai, tuần tới, tháng sau hoặc năm tới, chúng ta phải “trình diện” Thiên Chúa.
Càng chuẩn bị kỹ, chúng ta càng an tâm và sẵn sàng “lên đường” bất cứ lúc nào. Thánh Phaolô nói: “Nếu chúng ta tin rằng Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giêsu sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giêsu” (1 Tx 4:14). Điều Thánh Phaolô nói liên quan cuộc-trình-diện-bất-ngờ mà chúng ta đang đề cập, dù ông không dùng hai chữ “trình diện”.
Trong các đám tang, một số nơi đọc Kinh Bảo Đàng, lời kinh hay lắm: “...Trái xanh trái chín cùng một chúa cây, Người muốn hái trái nào chẳng kỳ chín hay là xanh. Vậy dù già dù trẻ, chớ lấy sự chết là dễ làm chi. Sự chết là sự thật, giờ chết chẳng ai biết đâu…”. Đó là những từ ngữ nhắc chúng ta phải luôn nhớ tới thời điểm chúng ta ra trình diện Thiên Chúa – dù muốn hay không.
Chúng ta cùng đọc và suy lời Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Thời ông Nô-ê thế nào thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy. Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Bấy giờ, hai người đàn ông đang làm ruộng, một người được đem đi, một người bị bỏ lại; hai người đàn bà đang kéo cối xay, một người được đem đi, một người bị bỏ lại” (Mt 24:37-41).
Đặc biệt là lưu ý và ghi nhớ câu quan trọng này: “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ thì Con Người sẽ đến (Mt 24:42-44).
Chúng ta cùng cầu nguyện cho nhau và cầu nguyện cho các linh hồn nơi Luyện Hình. Ước gì mỗi chúng ta đều có thể hân hoan nói với nhau: “Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi: Ta cùng trẩy lên đền thánh Chúa” (Tv 122:1). Về Nhà Cha thì phải hân hoan chứ!
Lạy Thiên Chúa từ bi và nhân hậu, xin thương xót chúng con. Chúng con chân thành xin lỗi Chúa. Xin Chúa tha thứ hình phạt để các linh hồn mau được trình diện Ngài và được hưởng phúc trường sinh. Lạy Đức Mẹ Maria, lạy Đức Thánh Giuse, lạy các thánh, xin nguyện giúp cầu thay. Xin các linh hồn cũng nguyện giúp cầu thay cho chúng con đang trên đường lữ hành trần gian. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Tháng Mười Một – 2014
Suy niệm với bài thánh ca Trình Diện:
https://www.youtube.com/watch?v=jL8H2uJkxBA&feature=em-share_video_user.


Cô thôn
Cô thôn là ngôi làng nhỏ, hẻo lánh, trơ trọi một mình, tĩnh lặng, mặc vẻ cô đơn. Danh từ “cô thôn” gợi cảm giác của một “khoảng buồn” nào đó. Trong thi phẩm “Cảnh Chiều Hôm” – bài thơ Đường (thất ngôn, bát cú), nữ thi sĩ Bà Huyện Thanh Quan đã khéo léo lồng vào vẻ quạnh hiu và lặng lẽ của buổi chiều ở miền quê. Bà mô tả:
Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn
Gác mái, ngư ông về viễn phố
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn
Trong đó có những âm thanh và những hình ảnh quê hương phảng phất nỗi nhớ nhà bâng khuâng, thâm trầm, xa vắng,... Có lẽ ai đã từng sinh trưởng ở miền quê nghèo, rồi vì sinh kế mà phải xa nhà, thì mới khả dĩ cảm nhận được nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi có ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn bè, xóm giềng,... Miền quê rất kỳ lạ, thôn dã tĩnh lặng nhưng tình người luôn như biển động, thắm thiết tình làng, nghĩa xóm. Cái tĩnh động đó khó quên được, nhất là vào lúc hoàng hôn, chất thi vị như ùa tràn, ngồn ngộn cả khoảng trời quê, khó tả...
Cô thôn luôn mặc vẻ trầm buồn, nhưng mỗi nỗi buồn đều khác nhau, với mức độ khác nhau, chiều sâu và chiều rộng cũng khác nhau,...
Có một “ngôi làng” rất đặc biệt, loại “cô thôn” đặc biệt nhất trong các làng mạc có nét gì đó “khác lạ”. Dù ở những nơi hẻo lánh nhất, cô thôn cũng vẫn có sức sống và ít nhiều hoạt động. Riêng “ngôi làng đặc biệt” muốn nói ở đây lại khác hẳn. Mỗi người ở riêng một nhà, không ai ở với ai, không ai nói gì với ai, không gian tĩnh lặng như tờ suốt ngày suốt đêm. Tại “cô thôn” này, người ta như những người ngủ mơ, không bon chen, không so đo, không hờn giận, không chê trách nhau, không thù hận,... Vào những ngày đặc biệt, khói tỏa nghi ngút, nhìn rất lạ!
Bạn đã từng nhiều lần đến thăm “cô thôn” đó. Bạn biết “cô thôn” đó là gì và ở đâu?
Vâng, “ngôi làng hẻo lánh” đặc biệt đó vừa lạ vừa quen, có tên là Nghĩa Trang [cũng gọi là Nghĩa Địa, đôi khi còn gọi là “bãi tha ma”. Anh ngữ: Cemetery, Pháp ngữ: Cimetière]. Từ này có xuất xứ từ Hy ngữ là κοιμητήριον, nghĩa là “nơi an nghỉ”. Tại đây, chúng ta thấy có dấu hiệu riêng là Thánh Giá và ba chữ viết tắt: R.I.P. (Requiescat in Pace – Xin hãy nghỉ yên). Đó là Miền Tĩnh Lặng, là Cõi Tịch Liêu rất đặc trưng!
Dọc ngang “cô thôn” Nghĩa Trang có những “căn nhà nhỏ” (ngôi mộ – ngày nay thường được làm giống nhau về cả hình thức lẫn kích cỡ, nói lên “sự bình đẳng”). Những con người đang nằm yên nơi đó, đủ lứa tuổi, đủ trình độ, đủ giai cấp. Họ cũng đã một thời cùng sinh hoạt, cùng ăn uống, cùng ngủ nghỉ,... với chúng ta, nhưng giờ đây, họ hoàn toàn bất động. Tất cả đều im lặng, không gian hoang vu, chỉ có tiếng gió reo đùa với cỏ cây, đêm về có côn trùng hòa điệu ru buồn...
Cuộc đời ngắn hay dài thì cũng trong khoảng trăm năm, giờ đây chỉ còn “một nấm cỏ khâu xanh rì” (Truyện Kiều – Nguyễn Du), gom lại một “bia đá”, với vài chi tiết: Tên thánh, họ tên, ngày sinh, ngày mất. Chỉ thế thôi! Với ai cũng bấy nhiêu, dù giàu hay nghèo, dù sang hay hèn, dù cao hay thấp, dù giỏi hay dốt. Và theo thời gian, tất cả sẽ đi vào quên lãng! Theo tục lệ người Việt là “mãn tang”, khép lại khoảng ba năm.
Với người không có niềm tin tôn giáo, đặc biệt là đức tin Công giáo, như vậy là hết. Chó chết thì hết chuyện. Nhưng với người có niềm tin vào Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng đã chịu chết và đã phục sinh khải hoàn, “cửa tử” là ngưỡng cửa bước vào sự sống đời đời. Tử thần hoàn toàn “bó tay” và phải tâm phục khẩu phục khi Đức Kitô bất ngờ sống lại.
Những người “cư ngụ” tại “cô thôn” Nghĩa Trang đang chờ ngày được sống lại: “Ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6:39). Thiên Chúa muốn như thế, nhưng Ngài cũng cảnh báo: “Những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót. Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít” (Mt 20:16; Mt 22:14). Và rồi chúng ta cũng vậy, kẻ trước, người sau. Nhưng thật hạnh phúc khi chúng ta vững tin cậy vào Thiên Chúa, vì nếu chúng ta “cùng chết với Đức Kitô thì chúng ta cũng sẽ được cùng sống lại với Ngài” (Rm 6:8). Đó là điều chắc chắn. Thật vậy, tác giả Thánh Vịnh chân nhận: “Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ” (Tv 16:10). Chính “cô thôn” đó sẽ trở thành “lạc viên”, và những thân xác nằm ở đó sẽ được về Miền Cực Lạc là Thiên Quốc.
Thánh Phaolô cho biết: “Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô. Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ! Người đã cho chúng ta được cùng sống lạicùng ngự trị với Đức Kitô Giêsu trên cõi trời” (Ep 2:4-6).
Thiên Chúa là tình yêu, nhưng Thiên Chúa cũng vô cùng công bình và rạch ròi: “Nợ máu Chúa không tha, nhưng hãy còn nhớ mãi, tiếng những người nghèo khổ, Chúa chẳng quên bao giờ” (Tv 9:13). Có thể chúng ta không may mắn được chứng kiến giờ Chúa Giêsu quang lâm – tận thế, nhưng chắc chắn ai cũng có ngày tận thế riêng: Lúc chết. Tuy nhiên, chúng ta đừng nghe bất cứ ai hoặc bất cứ lời đồn thổi nào, chính Chúa Giêsu đã nói rõ về ngày Ngài quang lâm: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu. Còn về ngàygiờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay cả người Con cũng không; chỉ một mình Chúa Cha biết mà thôi” (Mt 24:35-36; xem thêm Mc 13:33 và Lc 17:26-30, 35-36).
Ai chết trong lúc còn mắc tội nhẹ (khinh tội), không phải sa Hỏa Ngục nhưng phải vào Luyện Ngục một thời gian để chịu thanh luyện bằng lửa, chờ passport hoặc visa vào Nước Trời. Đó chính là các linh hồn nơi Luyện Hình, thuộc Giáo hội Đau khổ. Hiện nay, họ không còn làm được gì để tự cứu mình, vì thế họ rất cần chúng ta – các sinh linh còn tại thế – giúp họ rút ngắn thời gian thanh luyện, nhờ đó mà họ sớm được hưởng Tôn Nhan Thiên Chúa muôn đời.
Khoảng buồn sầu và đau khổ luôn dài hơn khoảng vui mừng và hạnh phúc. Chúng ta thường nghe nói: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”. Tương tự, Thánh Vịnh cũng nói: “Một ngày tại khuôn viên thánh điện quý hơn cả ngàn ngày” (Tv 84 11).
Các linh hồn nơi Luyện Hình khao khát Chúa hơn chúng ta hiện nay, vì các linh hồn đã biết thế nào là đau khổ khi phải xa cách Chúa. Thánh Vịnh đã cầu nguyện thay các linh hồn: “Xin rủ lòng thương con, lạy Chúa, xin kéo con lên khỏi ngục tử thần, để con dâng muôn lời ca tụng Chúa” (Tv 9:14-15a). Chúng ta hãy cầu thay nguyện giúp vì yêu mến các linh hồn, và cũng chính là cầu xin cho chính mình: “Xin đưa con ra khỏi chốn ngục tù, để con cảm tạ danh thánh Chúa” (Tv 142:8).
Thánh Gióp đã từng khiêm nhường thưa với Thiên Chúa: “Con đây tầm thường bé nhỏ, biết nói chi để trả lời Ngài? Con sẽ đưa tay lên che miệng. Đã nói một lần rồi, con không lặp lại nữa, có nói lần thứ hai, cũng chẳng thêm được gì!” (G 40:4-5). Chúng ta chẳng là gì, nhưng chúng ta được Thiên Chúa nhận làm con cái, Ngài muốn chúng ta cầu xin để chính chúng ta được lợi ích. Ngài biết hết, nhưng Ngài muốn chúng ta xin Ngài để chứng tỏ chúng ta yêu mến Ngài: “Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ, biết cả khi con đứng con ngồi. Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa, đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét, mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả. Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời, thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết. Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước, bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con” (Tv 139:1-5).
Không ngừng cầu xin cho các linh hồn và cầu xin cho chính mình, đó là điều cần thiết, đồng thời chúng ta PHẢI biết kết hợp với Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô để mọi động thái hy sinh của chúng ta mới có giá trị. Thánh Phaolô đã cho biết: “Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người. Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người. Nếu ta chối bỏ Người, Người cũng sẽ chối bỏ ta. Nếu ta không trung tín, Người vẫn một lòng trung tín, vì Người không thể nào chối bỏ chính mình” (2 Tm 2:11-13).
Lời cầu nguyện thật kỳ lạ, là “sức mạnh” của con người khiến Thiên Chúa “mềm lòng”. Lời cầu nguyện có tác dụng và giá trị cao, hiệu quả không chỉ cho chính mình mà còn hiệu quả cả khi chúng ta cầu xin cho người khác – người sống và người chết. Thời Cựu Ước, ông Tô-bít đã khuyên con trai Tô-bi-a: “Con hãy dùng của cải bố thí cho tất cả những ai thực thi công chính, và khi bố thí, mắt con đừng có so đo. Đối với ai nghèo khổ, con đừng ngoảnh mặt làm ngơ, để rồi đối với con, Thiên Chúa cũng sẽ không ngoảnh mặt làm ngơ. Tùy con có bao nhiêu, hãy cho bấy nhiêu; có nhiều thì cho nhiều, có ít thì đừng ngại cho ít. Như thế là con tích trữ một vốn liếng vững chắc cho những ngày gian nan. Thật vậy, việc bố thí cứu cho khỏi chết và không để rơi vào cõi âm ty. Vì trước nhan Đấng Tối Cao, của bố thí là một lễ vật quý giá cho những ai làm việc bố thí” (Tb 4:7-11).
Sự thật là thế, vì Thiên Chúa hằng hữu chứ không phải một vị thần do con người tạo ra như người ta lầm tưởng. Năm 1964, Nga phóng phi thuyền lên mặt trăng và đem theo các phi hành gia để khám phá hành tinh mệnh danh là Chị Hằng. Khi trở về trái đất, một phi hành gia tuyên bố: “Tôi chẳng thấy Chúa nào cả!”. Đúng là tư tưởng vô thần, luôn cố chấp và kiêu ngạo. Có lẽ họ tưởng Thiên Chúa là một vị thần có thể nhìn thấy và sờ được, có thể định vị ở chỗ này hoặc chỗ nọ theo dạng phần mềm “định vị toàn cầu” chăng? (sic!). Khoa học tiến bộ là điều tốt, nhưng khoa học đức tin có tiến bộ hay không?
Thiên Chúa là Chúa của các chúa, Vua của các vua, Thần của các thần. Ngài có tất cả, nhưng Ngài chấp nhận vô sản vì yêu: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người KHÔNG có chỗ tựa đầu” (Mt 8:20; Lc 9:58).
Các linh hồn cũng đã cả đời tin vào Đức Kitô, nhưng giờ đây, họ chưa được diện kiến Thánh Nhan Thiên Chúa, đang chịu thanh luyện trong “Lửa của các loại lửa”, họ chịu đau khổ tột cùng vì phải xa cách Thiên Chúa, họ ở một nơi còn hơn là “cô thôn”, vì đó là “vũng lầy đau khổ”, và chắc chắn họ “nhớ nhà” lắm. Vì mối quan hệ yêu thương trong tình liên đới của Nhiệm Thể Đức Kitô, chúng ta hãy hy sinh và cầu nguyện cho các linh hồn, nhất là trong Tháng Mười Một này.
Lạy Thiên Chúa nhân từ, xin xót thương tha thứ cho các linh hồn được yên nghỉ trong Tình Chúa muôn đời. Vì cuộc khổ nạn đau thương của Chúa Giêsu, vì Máu Thánh cứu độ của Đức Kitô, vì Nước Mắt của Đức Maria, xin thương xót các linh hồn. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Mùa Tưởng Niệm – 2014


Hỏa ngục đáng sợ thật không?
Chúng ta biết ơn về ánh sáng chói ngời của Thiên Chúa đã soi đường cho chúng ta theo hướng dẫn tâm linh của Giáo hội. Trong cuốn “The Fulfillment of All Disire” của tác giả Ralph Martin đã cung cấp một kho tàng vô giá cho những người khao khát đào sâu mối quan hệ với Thiên Chúa. GS Ralph Martin là trưởng tổ chức Renewal Ministries, một tổ chức có mục đích canh tân Giáo hội và loan truyền Tin Mừng qua nhiều hoạt động ở hơn 30 quốc gia. Ông cũng là Giám đốc Chương trình Bồi dưỡng Thần học trong việc truyền bá Tin Mừng kiêm giáo sư Thần học tại Đại chủng viện Thánh Tâm của TGP Detroit. Ông có bằng tiến sĩ thần học của ĐH Angelicum tại Rôma.
Tháng 12-2011, ĐGH Biển Đức XVI đã bổ nhiệm GS Ralph Martin làm cố vấn cho Hội đồng Giáo hoàng về việc “Loan báo Tin Mừng theo cách mới” (New Evangelization, quen gọi là Tân Phúc Âm hóa), nhiệm kỳ 5 năm. Ông cũng đã được bổ nhiệm làm chuyên viên trợ giúp các giám mục trong Công nghị năm 2012 về Tân Phúc Âm hóa. Ông cũng đã viết nhiều bài và nhiều sách – chẳng hạn các sách “The Urgency of the New Evangelization: Answering the Call” (2013), “Will Many Be Saved? What Vatican II Actually Teaches and Its Implications for the New Evangelization” (2012) và “The Fulfillment of All Desire: A Guidebook for the Journey to God Based on the Wisdom of the Saints” (2006). Hiện nay, ông và vợ, bà Anne, sống tại Ann Arbor, Michigan, USA.
Khi dạy học về việc “Tân Phúc Âm hóa”, GS Ralph Martin cho biết: “Tôi bị hút vào cách Chúa Giêsu và các tông đồ thường đưa ra sứ điệp không chỉ tích cực loan báo Tin Mừng bằng cách hy sinh mà còn tìm cách được ơn cứu độ cho cả thế giới, nhưng cũng có những hậu quả xấu của sự kinh suất – tức là hỏa ngục. Nhưng tại sao chúng ta sợ nói tới hỏa ngục?”.
Có vài phản hồi phổ biến với vài ý điển hình như sau:
– Tôn giáo của chúng ta là tôn giáo của tình yêu thương, chứ không của sự sợ hãi.
– Người ta có nhận thức kém về bản thân, và điều này có thể khiến họ cảm thấy tồi tệ.
– Sợ hỏa ngục là động lực không xứng đáng đối với một Kitô hữu.
– Chúng ta không nên làm người khác sợ trở thành người tốt.
GS Ralph Martin nói: “Trong bài viết ngắn, tôi không thể phản ứng như vậy, tôi muốn xác định rằng, theo suy nghĩ của chúng tôi, kể cả việc giảng dạy và rao giảng, chúng tôi bám sát những gì Chúa Giêsu và các tông đồ bảo chúng tôi giao tiếp với người khác. Hẳn là Chúa Giêsu và các tông đồ có những lý do đúng đắn”.
Khi tích cực loan báo và tuyên xưng ơn cứu độ, dù không nói về kết quả của việc không phản ứng với lòng thương xót kỳ diệu này, nhưng chúng ta rất dễ để nhận biết lời mời gọi đối với việc “Loan báo Tin Mừng cách mới” như “phần phụ không bắt buộc” — hấp dẫn nhưng không thực sự cần thiết.
Sau vài thập niên không nói về kết quả của việc không phản ứng với lòng thương xót của Chúa bằng đời sống đức tin, sám hối và vâng lời, một “thế giới quan lạ” đã chiếm lĩnh trí óc của rất nhiều người Công giáo, họ cho rằng hầu như mọi người đều được cứu độ – có thể chỉ ngoại trừ một số người sát nhân hàng loạt.
Nhưng tội giết người chỉ là một trong các tội trọng, nếu không ăn năn thì sẽ không được vào Nước Chúa: “Nào anh em chẳng biết rằng những kẻ bất chính sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp sao? Anh em đừng lầm. Những kẻ dâm đãng, thờ ngẫu tượng, ngoại tình, trụy lạc, kê gian, những kẻ trộm cướp, tham lam, say sưa rượu chè, quen chửi bới, sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp” (1 Cr 6:9-10).
Đây là những người KHÔNG ĐƯỢC VÀO NƯỚC TRỜI mà Kinh Thánh cho biết:
+ Anh em đã được gọi để hưởng tự do. Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau. Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy (Gl 5:13, 19-21).
+ Không một kẻ gian dâm, ô uế hay tham lam nào – mà tham lam cũng là thờ ngẫu tượng – được thừa hưởng cơ nghiệp trong Nước của Đức Kitô và của Thiên Chúa (Ep 5:5-6).
+ Những quân chó má, làm phù phép, gian dâm, sát nhân, thờ ngẫu tượng, cùng với mọi kẻ thích điều gian dối và ăn gian nói dối, hãy xéo ra ngoài (Kh 22:15).
Và còn nhiều chỗ khác trong Kinh Thánh có liệt kê các loại tội lỗi, dĩ nhiên trong đó có một loại tội đặc biệt nhất: “Mọi tội, kể cả tội nói phạm thượng, cũng sẽ được tha cho loài người, chứ tội nói phạm đến Thần Khí sẽ chẳng được tha. Ai nói phạm đến Con Người thì được tha; nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần sẽ chẳng được tha, cả đời này lẫn đời sau” (Mt 12:31-32).
Chúa Giêsu đặc biệt nhấn mạnh về việc xa lánh tội trọng là điều tối cần thiết, nếu chúng ta muốn vào Nước Trời: “Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; thà chột mắt mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào lửa hoả ngục” (Mt 18:9).
Chúa Giêsu nói rõ: “Thầy nói cho anh em là bạn hữu của Thầy được biết: Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác, mà sau đó không làm gì hơn được nữa. Thầy sẽ chỉ cho anh em biết phải sợ ai: hãy sợ Đấng đã giết rồi, lại có quyền ném vào hoả ngục. Thật vậy, Thầy nói cho anh em biết: anh em hãy sợ Đấng ấy” (Lc 12:4-5).
Có thể tội nặng nhất là tội “không tin”. Chúa Giêsu nói: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa” (Ga 3:16-18). Chúa Giêsu đã xác định: “Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời; còn kẻ nào không chịu tin vào người Con thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy” (Ga 3:36).
Tân ước có 12 đoạn nói về hậu quả đời đời vì không sám hối, không tin, và không sống đức vâng lời để làm môn đệ của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu biết rõ lòng con người thế nào, và Ngài cũng biết rằng việc sợ hỏa ngục là một khởi đầu tốt đẹp nếu nó thúc đẩy sự ăn năn.
Tình yêu hoàn hảo không sợ sự trừng phạt trong Ngày Phán Xét: “Căn cứ vào điều này mà tình yêu đã nên hoàn hảo với chúng ta: đó là chúng ta được mạnh dạn trong ngày phán xét, vì Đức Giêsu thế nào thì chúng ta cũng như vậy ở thế gian này. Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo” (1 Ga 4:17-18). Sự khôn ngoan tâm linh của Giáo hội cho biết rõ rằng chúng ta không thể đi tới cuối hành trình nếu không có khởi đầu tốt, không kiên trì từng bước thanh lọc và tẩy rửa.
Thánh tiến sĩ Catarina Siena nói về cách khởi đầu hành trình được định rõ bằng chính sự sợ hỏa ngục, đó là “sự sợ hãi mù quáng” (slavish fear), sau đó chuyển thành “tình yêu vụ lợi” (mercenary love), cuối cùng mới chuyển thành “tình yêu hoàn hảo” (perfect love). Đừng nhảy vọt tới tình yêu hoàn hảo mà không có một khởi đầu đúng.
Thánh Gioan Thánh giá giả định rằng trước khi sẵn sàng khởi động hành trình tâm linh, người ta phải biết khao khát sống, đó là đường-sự-sống: “Cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7:14). Thánh Phêrô nói: “Thời phán xét đã đến, bắt đầu từ nhà của Thiên Chúa. Nếu việc đó bắt đầu từ chúng ta, thì cuối cùng số phận của những kẻ từ chối không chịu tin vào Tin Mừng của Thiên Chúa sẽ ra sao? Nếu người công chính còn khó được cứu độ thì người vô đạo, kẻ tội lỗi sẽ ở đâu? Vì vậy, những ai chịu khổ theo ý của Thiên Chúa, hãy phó mạng sống mình cho Đấng Tạo Hoá trung thành, và cứ làm điều thiện” (1 Pr 4:17-19).
Thánh Inhaxiô Loyola nói rằng động lực quan trọng nhất để phục vụ Chúa chính là tình yêu thuần túy, nhưng thánh nhân cũng nói về vai trò hữu ích của “nỗi sợ hãi nô lệ” (servile fear) trên hành trình tâm linh: “Chúng ta cũng nên ca tụng sự kính sợ vẻ uy nghiêm của Thiên Chúa. Đó không chỉ là sự kính sợ của con cái đối với sự hiếu thảo và chí thánh, mà còn là sự kính sợ mang tính nô lệ. Dù nó không đem lại cho ai đó điều gì tốt đẹp hơn hoặc lợi ích hơn thì nó cũng giúp người đó thoát khỏi tội trọng. Khi thoát khỏi tội trọng, người ta dễ dàng đạt được sự kính sợ của con cái”. Thánh Phanxicô Salê cũng có cách nói tương tự.
Thánh nữ Faustina Kowalska (1905-1938) xác nhận: “Theo lệnh của Chúa, tôi đã thăm Hỏa Ngục để có thể nói với các linh hồn về Hỏa Ngụcchứng thực sự hiện hữu của nó… Ma quỷ rất thù ghét tôi, nhưng chúng phải nghe lời tôi theo lệnh của Thiên Chúa. Tôi chú ý một điều: Đa số các linh hồn ở Hỏa ngục đều là những người không tin có Hỏa ngục” (Nhật Ký, số 741).
Nếu chúng ta có một Giáo hội mạnh mẽ và nhiệt thành loan báo Tin Mừng, chúng ta cần chuyển tới mọi người mà Chúa Giêsu và các tông đồ đã truyền lệnh cho chúng ta, kể cả hậu quả của việc không tin và không vâng lời. Đừng sợ những người sợ hỏa ngục, mà hãy sợ hỏa ngục. Vâng, hỏa ngục thật đáng sợ! Đó là một khởi đầu tuyệt vời đối với hành trình tâm linh – và tiếp tục có giá trị giúp đời sống tâm linh tiến bộ.
TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ RcSpiritualDirection.com)


Miền cô đơn
Cô đơn (đơn côi) là lẻ loi, trơ trọi, quạnh quẽ, hắt hiu. Cô đơn thật đáng sợ! Tuy nhiên, cũng nên phân biệt: Cô đơn có thể là một mình (mình ên), nhưng một mình (alone) chưa hẳn là cô đơn (lonely). Cô độc không đáng sợ bằng cô đơn. Có những người sống một mình nhưng không cô đơn, họ có niềm đam mê chân chính nào đó (nhạc, thơ, họa, dịch thuật, nghiên cứu,...). Có những người ở giữa nhiều người mà vẫn cảm thấy cô đơn. Nỗi cô đơn tâm hồn nguy hiểm hơn sự cô đơn thể lý hoặc ngoại cảnh.
Nếu không có gì để “làm bạn” thì cô đơn thật kinh khủng, nó sẽ làm cho người ta chết dần chết mòn, chưa chết về thể lý thì cũng chết về tinh thần. Nỗi cô đơn như loại virus độc hại nhất. Khoảng cô đơn trở nên như mênh mông hơn mỗi khi màn đêm buông xuống. Ca dao đã bộc bạch thay cho những tâm hồn cô đơn:
Đêm khuya nằm nghĩ sự tình
Xót xa sự thế, thương mình cô đơn
Sa mạc rộng rãi và trống trơn, nhưng sa mạc chưa chắc là miền cô đơn. Trong cuộc sống, đặc biệt là đời sống tâm linh, người ta rất cần có những “khoảng lặng”, phải biết vào “miền sa mạc tâm hồn” để hồi phục sau thời gian mệt nhọc, hao tâm tổn lực, đặc biệt là để gặp được chính Đức Kitô. Miền sa mạc đó là những lúc chúng ta cầu nguyện riêng, nhất là buổi tối, và những dịp tĩnh tâm.
Nỗi cô đơn cũng có thể xảy ra khi mình “cho” mà không ai muốn “nhận”, hoặc mình muốn “nhận” mà chẳng có ai “cho”, hoặc điều mình mong chờ lại không xảy ra. Khi cô đơn, một ngày cũng vẫn 24 giờ, nhưng người ta cảm thấy như nó dài hơn nhiều. Sự cô đơn có thể xảy ra ở mọi nơi và mọi lúc. Hai bờ sông luôn đối diện nhau, gần mà vẫn xa, vì chẳng bao giờ gặp nhau. Con người với nhau đôi khi cũng có tình trạng này. Cùng ở trong một gia đình, một cộng đoàn, một nhóm,... ra vào nhìn thấy nhau hàng ngày mà vẫn khó “gặp nhau”. Gần nhau về thể lý nhưng xa nhau về tâm hồn – bằng mặt mà không bằng lòng. Khoảng cô đơn này thật đáng sợ!
Có nhiều lý do khiến người ta cảm thấy cô đơn với nhiều mức độ khác nhau: Bị mất mát (cha, mẹ, thân nhân), bị thất vọng, bị xa lánh, bị tình phụ, bị hàm oan, bị ghen ghét, bị chê trách, bị chơi gác, bị lợi dụng, bị phản bội, bị bỏ rơi,... Nói chung là đủ thứ “bị”. Sự đời nhiêu khê và phũ phàng lắm, người ta gọi là “thế thái nhân tình”. Thế thái là thói đời. Nhân tình là tình đời – ở đây không có nghĩa là người yêu hoặc tình nhân. Người ta thường thở dài và buông lời: “Đời là thế!” – C’est la vie! It’s life! Quả thật, tình đời nhạt như nước ốc, bạc trắng như vôi!
Tuy nhiên, cuộc đời vốn dĩ có nhiều nghịch lý, chính cái “nghịch” lại có thể là cái “thuận”. Ai từng trải “nỗi đau đời” như vậy mới khả dĩ “thành nhân”, như trong ca khúc “Thói Đời”, Nhạc sĩ Trúc Phương cho biết: “Đường thương đau đầy ải nhân gian, ai chưa qua chưa phải là người. Trong thói đời, cười ra nước mắt...”.
Văn hào William Shakespeare (Anh quốc) nhận định: “Những gương mặt tươi cười không có nghĩa là không có nỗi buồn, mà có nghĩa là họ có thể chế ngự nó” (Laughing faces do not mean that there is absence of sorrow, but it means that they have the ability to deal with it). Không ai lại không có ít nhiều đau khổ và đã từng có những lúc cô đơn, nhưng hơn nhau là biết kiềm chế hay không.
Cũng như đau khổ, cô đơn như một phần tất yếu của cuộc sống. Ngày xưa, Ét-te đã cầu nguyện: “Lạy Chúa của con, lạy Vua chúng con, Ngài là Thiên Chúa duy nhất. Này con đang liều mạng, xin đến cứu giúp con. Con cô đơn, chẳng còn ai cứu giúp, ngoại trừ Ngài. Con cô đơn, xin đến cứu giúp con. Lạy Chúa, ngoài Ngài ra, con đâu còn ai nữa!” (Et 4:17). Nỗi cô đơn đó vì yêu thương, và vì yêu thương mà người ta khả dĩ làm tất cả mọi thứ.
Trong những nỗi đau khổ dồn dập, ông Gióp đã có lần thốt ra lời nguyền rủa ngày ông chào đời: “Này, phải chi đêm ấy là đêm cô đơn buồn thảm, đêm chẳng hề có tiếng reo vui” (G 3:7). Trong “Bài Ca Người Tôi Trung” thứ hai, Ngôn sứ Isaia cũng có nhắc tới “thân phận lưu đày, số kiếp lẻ loi” (Is 49:21).
Trong bài “Ai Ca” thứ nhất có câu: “Tôi khóc ròng khóc rã, cặp mắt tôi, suối lệ tuôn trào. Bởi Đấng ủi an tôi, Đấng ban lại cho tôi sức sống, Người đã lìa xa tôi. Con cái tôi phải mồ côi cô độc bởi chưng thù địch quá hung tàn” (Ac 1:16). Còn trong bài “Ai Ca” thứ ba có câu: “Người để tôi lạc lối nhằm xé xác phanh thây, bỏ mặc tôi cô đơn tiều tuỵ” (Ac 3:11). Khoảng cô đơn thật khó tả vì nó vượt qua “tầm nhìn” của phàm nhân.
Con người là vậy, yếu đuối, kém cỏi, mỏng dòn, cứ tưởng Thiên Chúa làm ngơ hoặc “ngủ quên”, bỏ mặc chúng ta chống chọi với bao nỗi gian khổ ngay trong nỗi cô đơn cùng cực. Nhưng không, Ngài vẫn hiện diện và đồng hành với chúng ta trong mọi biến cố của cuộc đời – dù lớn hay nhỏ, dù quan trọng hay bình thường. Thánh tiến sĩ Augustinô đã xác nhận: “Ngài có đó khi ta tưởng mình cô đơn, Ngài nghe ta khi chẳng ai đáp lại, Ngài thương ta khi mọi người hững hờ”.
Vua Khít-ki-gia (vua xứ Giu-đa) lâm bệnh và tưởng chừng sẽ chết, ông cảm thấy cô đơn và thất vọng lắm, nhưng rồi ông được khỏi. Rồi ông đã sáng tác một bài ca, trong đó có câu: “Tôi có nói: nửa cuộc đời dang dở mà đã phải ra đi, bao tháng năm còn lại, giam tại cửa âm ty. Tôi có nói: chẳng còn được thấy Đức Chúa ở trên cõi dương gian, hết nhìn thấy con người đang sống nơi trần thế. Lạy Chúa, con như người thợ dệt, đang mải dệt đời mình, bỗng nhiên bị tay Chúa cắt đứt ngay hàng chỉ. Từ sáng tới khuya, Chúa làm con hao mòn sinh lực” (Is 38:10-12). Có vẻ Thiên Chúa “vô tình” lắm, nhưng không phải vậy, vì Ý Chúa hoàn toàn cách biệt và khác hẳn với ý phàm nhân. Có những trường hợp chúng ta thấy rất tốt đẹp, nhưng bỗng dưng bị ngưng – như khi chúng ta thấy một người giỏi giang và đạo đức, đang làm được những việc tốt đẹp. Chúng ta thấy nuối tiếc. Nhưng Ý Chúa khác hẳn!
Phàm nhân cô đơn. Thánh nhân cô đơn. Và chính Chúa Giêsu cũng đã từng đơn độc trong Vườn Dầu. Ngài đã tâm sự nỗi lòng mình với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mt 26:38; Mc 14:34). Nỗi cô đơn quá lớn khiến nhân tính của Ngài cảm thấy như chết đi được, đến nỗi Ngài đã “toát mồ hôi như những giọt máu rơi xuống đất” (Lc 22:44). Theo nhân tính, Ngài cũng run sợ. Tuy nhiên, Ngài đã chiến thắng chính mình: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha. Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha” (Mt 26:39 và 42; Lc 22:42).
Trên Núi Sọ, các đệ tử bỏ của chạy lấy người, nỗi cô đơn của Chúa Giêsu dân cao tột đỉnh, đến nỗi Ngài đã phải thốt lên: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? Lạy Chúa, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?” (Mt 27:46; Mc 15:34; x. Tv 22:2). Thế nhưng Ngài vẫn chấp nhận, và còn xin tha thứ cho những kẻ giết mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Trong khoảng cô đơn ấy, Ngài vẫn tín thác: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46; x. Tv 31:6).
Các biến cố cuộc đời của Chúa Giêsu trên hành trình tâm linh và lữ hành trần gian này cho chúng ta thấy rằng, cuộc đời của chúng ta cũng như vậy, hành trình của chúng ta cũng diễn biến tương tự. Thánh Phêrô căn dặn: “Mọi âu lo, hãy trút cả cho Người, vì Người chăm sóc anh em” (1 Pr 5:7).
Chính Chúa Giêsu vẫn luôn mời gọi chúng ta: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:28). Không chỉ vậy, chúng ta còn được sống dồi dào trong chính Đức Kitô (x. Ga 10:10). Ai làm những điều đẹp Ý Chúa thì sẽ không phải cô đơn (x. Ga 8:29). Thật vậy, có những lúc Chúa Giêsu cô độc nhưng Ngài không cô đơn, vì Chúa Cha luôn ở với Ngài (x. Ga 16:32).
Thánh Faustina Kowalska (1905-1938) muốn một loại “cô đơn” đặc biệt nên đã cầu nguyện: “Lạy Đức Kitô, xin cho con các linh hồn. Xin đừng để những gì con thích lại xảy ra với con, nhưng xin cho con các linh hồn. Con muốn cứu các linh hồn. Con muốn các linh hồn biết Lòng Thương Xót của Chúa. Con không còn lại gì cho riêng con, vì con trao mọi thứ cho các linh hồn, với kết quả là con sẽ đứng trước mặt Chúa với đôi tay trắng trong Ngày Phán Xét, vì con đã trao tất cả cho các linh hồn. Như vậy, Chúa không còn gì để phán xét con, Chúa và con sẽ gặp nhau vào ngày đó: Tình Yêu và Lòng Thương Xót (Nhật Ký, số 1426). Tình yêu ấy quá lớn, tình yêu của Thánh Faustina dành cho các linh hồn!
Trong tình yêu thương liên đới Kitô giáo, chúng ta hãy cầu xin cho những người cô đơn được cảm thấy Chúa gần gũi và nhận được sự trợ giúp của tha nhân. Cầu thay nguyện giúp cho tha nhân cũng chính là cầu nguyện cho chính mình: “Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân” (Kinh Hòa Bình, Thánh Phanxicô Assisi).
Tháng Mười Một “gắn liền” với miền cô đơn Nghĩa Trang, nơi có những thân xác con người lặng lẽ chờ ngày phục sinh. Chúng ta cảm thấy lòng chùng xuống mỗi khi vào cõi lặng này. Chân Phước Anna Katharina Emmerich (1774-1824, người Đức) được Đức Mẹ mặc khải và kể lại: “Đêm nay tôi ở trong Luyện Hình. Tôi như thể bị dẫn vào một vực thẳm, tôi thấy có một phòng lớn. Thật thống thiết khi thấy các linh hồn lặng lẽ và u buồn, nhưng khuôn mặt họ cho thấy rằng họ vẫn vui trong lòng vì nhớ lại lòng thương xót của Thiên Chúa. Trên ngai tòa vinh hiển, tôi nhìn thấy Đức Mẹ, xinh đẹp hơn tôi đã từng thấy. Đức Mẹ nói: “Mẹ xin con bảo người ta cầu nguyện cho các linh hồn nơi Luyện Hình’ Chắc chắn các linh hồn sẽ cầu nguyện lại cho vì biết ơn. Cầu nguyện cho các linh hồn là điều làm vui lòng Thiên Chúa vì điều đó làm cho các linh hồn được sớm diện kiến Thiên Chúa”.
Lạy Thiên Chúa, xin giải thoát chúng con khỏi nỗi cô đơn, nếu đẹp Ý Ngài. Chúng con tin tưởng nơi Ngài, xin Ngài đừng để chúng con tủi nhục, đừng để quân thù đắc chí nhạo cười chúng con. Đường nẻo Ngài, xin dạy cho chúng con biết; lối đi của Ngài, xin chỉ bảo chúng con (Tv 25:2 và 4); và xin cứu chúng con khỏi bước ngặt nghèo (Tv 143:11). Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU

XIN LỖI
Xin lỗi Chúa
Vì con chưa bao giờ yêu Chúa thật lòng
Con chỉ yêu Ngài qua môi miệng khôn lường
Con nói phét hơn con tưởng, Chúa ơi!
         Xin lỗi mọi người
         Vì con không sống đúng những gì Chúa dạy
         Con là kẻ vô cùng ươn ái
         Thế mà con ảo tưởng cuộc đời con tốt lành!
Xin lỗi các linh hồn
Con cũng chưa bao giờ thật lòng thương xót
Bất cứ những gì con nói và viết
Chỉ là bức bình phong!
         Con vô duyên bất thường
         Đệ nhất tội nhân con khốn nạn
         Con hữu hạn mà tưởng mình bất biến
         Chỉ một chữ YÊU mà cả đời con không sạch nợ!
Xin lỗi Chúa
Có thể là đúng, là hay
Với những gì con nói hoặc viết ra đây
Nhưng thật ra con chỉ là kẻ nói phét!
         Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót
         Xin dạy con biết xót thương
         Con muốn sống đời thường một cách vô thường
         Như một giọt máu của Giêsu mà thôi!
Con biết con là ai
Tạ ơn Chúa đã khiến đời con vô duyên thật
Hữu duyên thiên lý là sự chết
Xin cho con được ở nơi nào có Ngài. Thế thôi!
TRẦM THIÊN THU
Một đêm cuối tháng Mười – 2014

HỎA NGỤC
Hỏa Ngục là “nơi tối tăm u ám” (1)
Nơi chỉ có “sự huỷ diệt tiêu vong” (2)
Là “chỗ chết” (3), “cõi hư nát” vô thường (4)
Là “cái chết thứ hai” (4) trong “hồ lửa” (6)
         Hỏa Ngục là “nơi giòi bọ rúc rỉa” (7)
         Tiếng khóc than vì đau khổ muôn đời
         Lửa thế gian là “gió mát” mà thôi
         Lửa Hỏa Ngục không có gì sánh được!
Hỏa Ngục là nơi khiếp sợ, hoảng hốt
Muốn thoát ly nhưng vô vọng mà thôi
Tiếng khóc lóc, tiếng nghiến răng chẳng ngơi (8)
Lửa Hỏa Ngục là “lửa không hề tắt” (9)
TRẦM THIÊN THU
(1) 2 Pr 2:17. (2) 1 Tm 6:9. (3) Rm 6:21. (4) Gl 6:8. (4) Kh 2:11. (5) Kh 20:14. (6) Gđt 16:17. (8) Mt 13:41-42. (9) Mc 9:43, Mt 5:22; Mt 5:29; Mt 10:28.


ĐÈN và ĐẤU
(Suy tư Mc 4:21-25)
Một khi đèn đã được đốt
Đâu ai để nó dưới thùng
Hoặc để nó dưới gầm giường
Phải để trên cao cho sáng
          Chẳng gì có thể giấu giếm
          Bí ẩn sẽ được tỏ bày
          Kim trong bọc lòi ra ngay
          Hoặc ánh sáng sẽ soi thấu
Người ta thường đong bằng đấu
Để biết số lượng ít nhiều
Tình yêu ta dành cho nhau
Bao nhiêu thì Chúa biết hết
          Lòng giả dối hay chân thật
          Làm sao che giấu Chúa Trời?
          Đấu nào mình đong cho người
          Chúa đong lại bằng đấu đó
Có rồi sẽ được thêm nữa
Không có thì chẳng có chi
Cái có cũng bị lấy mất
Có tai thì hãy lắng nghe!
          Đèn con, xin Ngài thắp sáng
          Để soi lối bước cuộc đời
          Tim con xin dằn lắc xuống
          Đong đầy Tình Chúa, tình người
TRẦM THIÊN THU
Tháng Mười Một – 2014


MÀU TÌNH YÊU
(Kính mừng Thánh Martin de Porres, OP, 1579-1639)
Người đen mà tấm lòng vàng
Đơn sơ, thánh thiện, khiêm nhường, mến yêu
Chạnh lòng thương những người nghèo
Bị khinh miệt, chịu khổ đau, u buồn
Đen da nhưng chẳng đen lòng
Người xinh, da trắng, yêu thương màu gì?
Martin kinh nghiệm sầu bi
Vào Dòng cũng chỉ mong là hiến sinh
Bởi vì ngài cảm thấy mình
Không hề xứng đáng trở thành Thầy tu
Gương cầu nguyện, đức khiêm nhu
Bề trên bảo hãy khấn như mọi người
Không ai kỳ thị nữa rồi
Ngài đi tìm trẻ mồ côi khắp miền
Khi tu viện phải nợ nần
Ngài rằng: “Con chỉ da đen thôi mà
Nhà Dòng cứ bán con đi
Con là tài sản của Nhà Dòng thôi” (*)
Nhiều người thấy kính trọng ngài
Nhưng ngài vẫn sống cả đời khiêm nhu
Noi gương Đức Chúa Giêsu
Martin bác ái, thiết tha yêu người
Xin thương nâng đỡ cả đời
Cho con mến Chúa, yêu người thành tâm
TRẦM THIÊN THU
(*) “Con chỉ là người da đen, hãy bán con đi. Con là tài sản của nhà dòng, hãy bán con đi!”.


NẰM
Đời dài, ngắn – khoảng trăm năm
Cuối cùng gom đủ một lần đưa tang!
Kiếp hèn hạ, kiếp cao sang
Hơn nhau là chiếc hòm vàng, hòm đen
Quan tài đẹp, mắc tiền hơn
Nằm vô có khác chiếc hòm rẻ kia?
Rộn kèn, trống – Tím nhiều cờ
Nằm im lặng lẽ, còn gì vẻ vang?
Giống nhau một chỗ Nghĩa Trang
Cách nhau một khoảng y chang, khác gì?
Hơn nhau hai chữ từ bi
Khác nhau là một chỗ nằm đời sau
Đời này rộng, hẹp – chẳng sao
Chỉ nằm mà ngủ cho qua đêm đời
Cốt sao mai ở cõi trời
Bình an nằm mãi, tuyệt vời biết bao!
Người ơi, xin hãy chia nhau
Dẫu là ánh mắt thương sầu cảm thông
Đừng kèn cựa, hãy chạnh lòng
Cho người một chỗ nằm trong tim mình
TRẦM THIÊN THU
Mùa Tưởng Niệm – 2014


ĐI và VỀ
Ra đi mà chẳng đi ra
Đi xa mà lại chỉ là gần thôi
Ra đi là trở về Trời
Đi xa là để gặp Người mình yêu
Chết đi để sống dồi dào
Chết là ngưỡng cửa bước vào trường sinh
Ra đi cho trọn cuộc tình
Đi xa cho bóng và hình nhập chung
Đường đi thăm thẳm vô cùng
Luyện Hình từ biệt, Thiên Đường bước vô
Ra đi là cuộc trở về
Nhà Cha rộn rã hoan ca đời đời
TRẦM THIÊN THU
Lễ Cầu Hồn – 2014


CHỢT MỘT NGÀY
Chợt một ngày sỏi đá cũng biết buồn
Mưa thắc thỏm những buổi chiều nhung nhớ
Giọt xa xôi rơi xuống ngập hồn đá
Nhánh hoang đường nở rộ đóa tương tư
*Chợt một đêm tiếng kinh buồn ngu ngơ
Ướp vào hồn dòng hoang vu kỷ niệm
Lời ký ức vẫn muôn đời kiều diễm
Cho ngàn năm rực sáng tuổi thương yêu
 *Chợt khoảnh khắc chuyển hóa thành ca dao
Vừa êm dịu, vừa ngọt ngào, mặn đắng
Bước khuya dồn từng hồi khua lãng mạn
Khúc thụy du vẫn lịm giữa buồng tim
 *Chợt tiếng mưa lảnh lót tựa tiếng chim
Lạc vào Thu tình chiêm bao nửa giấc
Từng lá vàng úa nỗi buồn hốc hác
Trăm năm dài chợt ngắn chỉ gang tay!
 *Chợt Chúa gọi con “ra đi” một ngày
Còn chút gì khiến lòng con lo lắng?
Ước mong sao lòng con được thanh thản
Vui khi con được gọi về Nhà Cha
 TRẦM THIÊN THU


TRẮNG
Đoàn người áo trắng tinh tuyền
Cùng nhau lũ lượt vào Miền Trường Sinh
Những tà áo mới trắng tinh
Giặt trong Máu Đấng giàu Tình Xót Thương
Vùng trời ngời sáng vô thường
Đời đời vang vọng Khúc Trường Ca Yêu
Áo ai trắng muốt ca dao
Trắng màu thánh thiện, đẹp màu Thiên Cung
TRẦM THIÊN THU
Lễ Chư Thánh – 2014


MỞ
Tháng Mười Một đã mở ra
Lời cầu hồn chợt thiết tha thâm trầm
Nén nhang tỏa ánh kinh thơm
Như dòng suối mát ngược lên cõi trời
Vòng cầu hồn sáng tinh khôi
Đẹp niềm hy vọng, ắp lời tin yêu
Dòng thiêng ân xá dạt dào
Cuồn cuộn tuôn trào xóa vết trầm luân
Bao linh hồn nhẹ bay lên
Về Thiên Quốc hưởng bình an muôn đời
Hồng ân mở rộng Cửa Trời
Bao hồn được gặp Con Người ngày xưa
Đó là Đức Chúa Giêsu
Giáng sinh mặc xác phàm vì thương yêu
Đành cam chịu chết khổ đau
Bao người được cứu bước vào Thiên Cung
Luyện Hình là chốn đau thương
Hồn nay từ giã về chung Nước Trời
Cảm tạ Thiên Chúa không ngơi
Máu Con Chúa rửa sạch đời oan khiên
TRẦM THIÊN THU
Đầu Tháng Cầu Hồn – 2014


TÂM TÌNH LUYỆN HÌNH
Luyện Hình là chốn khổ đau
Ngay trong khắc khoải vẫn nhiều yêu thương
Niềm hy vọng vẫn vô thường
Chờ mong ngày hưởng Thiên Đàng phúc vinh
Ưu tư giữa chốn Luyện Hình
Ăn năn tội lỗi vô tình ngày xưa
Cậy lòng thương xót bao la
Máu và Nước Chúa Giêsu rửa hồn
Niềm hy vọng vẫn vô ngần
Đợi ngày hưởng trọn hồng ân muôn đời
Luyện Hình đau khổ tơi bời
Nhưng xin cảm tạ Chúa Trời vô biên
Chỉ đau khổ một thời gian
Mai đây chắc chắn được phần trường sinh
TRẦM THIÊN THU
Tháng Cầu Hồn – 2014

KHÉP
Mùa Thu nhạt ánh nắng vàng
Tháng Mười khép lại một vòng Mân Côi
Lời kinh nối kết đất trời
Yêu thương đan quyện mọi người với nhau
Vòng đời lúc mạnh lúc đau
Lúc vui sướng, lúc khổ sầu, buồn tênh!
Dẫu bằng phẳng, dẫu chông chênh
Vẫn luôn cố gắng cho tình đừng phai
Khép vòng từng Chuỗi Mân Côi
Mong khép vòng đời cho trọn trăm năm
Lạy Hiền Mẫu của chúng nhân
Xin thương dẫn dắt bước con đêm ngày
Dẫu chân con đạp phải gai
Mân Côi con vẫn từng lời kính dâng
TRẦM THIÊN THU
Cuối Tháng Mân Côi – 2014


Giọt Thu Sầu Thánh Đức
Tháng Mười Một lại về, về giữa mùa Thu, “điểm báo” cuối năm, nhắc nhớ sự chết, nhắc nhớ về “cuộc hẹn” bất ngờ với một người mà chúng ta không hề mong đợi: Tử Thần.
Tháng Mười Một là Tháng Cầu Hồn: Buồn! Cầu hồn là cầu cho người đã khuất: Buồn! Cầu hồn là khoảng trăm nhớ ngàn thương: Buồn! Tháng Mười Một lại trùng với khoảng thời gian mùa Thu: Buồn! Một chuỗi buồn không sắc không màu mà vẫn khả dĩ cảm thấy vẻ ảm đạm!
Theo dòng thời gian, những hạt buồn cứ nối kết với nhau, những giọt buồn cứ hòa tan vào nhau, những nỗi buồn cứ đan quyện vào nhau...
Với tâm trạng đó, trong khổ cuối của bài thơ “Chợt”, một tác giả đã bất ngờ để rơi một nốt trầm da diết:
Chợt tiếng mưa lảnh lót tựa tiếng chim
Lạc vào Thu tình chiêm bao nửa giấc
Từng lá vàng úa nỗi buồn hốc hác
Trăm năm dài chợt ngắn chỉ gang tay!
Nỗi buồn rất lạ nếu nỗi buồn đó “lạc” vào mùa Thu. Trong ca khúc “Thu Sầu”, Nhạc sĩ Lam Phương đã mô tả: “Mùa Thu thưa nắng gió mang niềm nhớ, trời chiều man mác buồn nát con tim...”. Mùa Thu luôn có màu nắng nhạt, nhất là vào buổi chiều, gợi lên niềm thương hoặc nỗi nhớ nào đó, khiến lòng người buồn man mác, nhưng chính nỗi buồn có vẻ nhẹ nhàng đó vẫn đủ sức giã nát con tim những ai đang mang niềm tâm sự. Tháng Mười Một, đối với người Công giáo, không ai lại không mang niềm tâm sự riêng, vì ai cũng có những người thân đã ra đi rất xa...!
Đời người trăm năm, tưởng dài mà ngắn quá, chưa làm được gì cho ra hồn mà đã sắp hết đời rồi! Nói đến cái chết thì luôn liên quan nỗi buồn, mà nói tới nỗi buồn thì thường liên quan nước mắt – dù nước mắt chảy ra ngoài hoặc nuốt vào trong. Triết gia Voltaire định nghĩa: “Nước mắt là ngôn ngữ câm lặng của nỗi đau buồn”. Vâng, nước mắt là ngôn ngữ thâm thúy của trái tim mà chúng ta không thể diễn tả bằng lời. Và Lord Byron gọi nước mắt là “giọt sương của lòng trắc ẩn”. Hay quá chừng!
Nước mắt rất bình thường mà cũng rất kỳ lạ. Đó là một dung dịch thể lỏng được tiết ra từ đôi mắt thông qua tuyến lệ. Về mặt sinh học, nước mắt là dung dịch dùng để làm lau sạch những bụi bẩn bám ở con ngươi, khi tuyến lệ tiết ra nước mắt để làm ướt và làm trôi các bụi bẩn khỏi mắt. Khi gặp hơi cay làm khô mắt, tuyến lệ tiết ra nước mắt để bảo vệ mắt.
Nước mắt còn có tác dụng đào thải một số hormone và protein “xấu” được sản sinh khi cơ thể bị căng thẳng. Nếu thi thoảng biết khóc, nước mắt có thể làm sáng mắt, nhưng khóc nhiều quá có thể khiến mù mắt. Sophia Loren nói: “Nếu bạn chưa từng khóc, đôi mắt bạn không thể đẹp”. Những đôi mắt ướt long lanh có sức thu hút mạnh. Tuy nhiên, nước mắt không hẳn là biểu hiện của nỗi buồn, mà có khi là biểu hiện của niềm vui: “Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười” (thi phẩm “Cây Thông” của Nguyễn Công Trứ).
Tháng Mười Một có thể gọi là Tháng Nước Mắt, Tháng Thương Nhớ, Tháng Thu Sầu, nhưng với những người có niềm tin Kitô giáo, nỗi buồn đó không hề bi quan, không hề tuyệt vọng, mà luôn đầy ắp niềm yêu thương và hy vọng. Vì thế, Tháng Mười Một trở thành Tháng Hy Vọng, có thể gọi Tháng Mười Một là Giọt Thu Sầu Thánh Đức.
Trong ca khúc “Giọt Lệ Sầu” của Nhạc sĩ Lam Phương tâm sự: “Lời thề nguyện muôn năm sau anh vẫn nhớ, nụ cười này, đôi mắt đó làm sao quên...”. Ở đây, chúng ta hiểu ý nghĩa theo định hướng Kitô giáo chứ không theo ý nghĩa trần tục. Người chết luôn nói thật, họ trăn trối chân thành vì họ biết họ không còn dịp để nói nữa. Chẳng ai có thể quên được lời trăn trối của người thân. Vâng, di ngôn luôn quý giá và đáng trân trọng. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Chúa Giêsu cũng đã để lại di ngôn tuyệt hảo và vô giá đối với nhân loại.
Phàm nhân yếu đuối lắm, thế nên luôn cần phải nỗ lực không ngừng. Sống rất cần sự mạnh mẽ tinh thần để có đủ can đảm vượt qua nghịch cảnh. Thật vậy, chúng ta phải biết nhìn lại những giọt nước mắt có thể khiến chúng ta mỉm cười, nhưng đừng bao giờ nhìn lại những nụ cười có thể khiến chúng ta bật khóc.
Theo sinh học bình thường, nước mắt cũng đã là loại hợp chất rất kỳ lạ, đặc biệt là chất mỡ oleamide rất cần cho mắt. Nước mắt rất trong, rất nóng, rất mặn,... Về tâm linh, nước mắt còn kỳ diệu hơn nhiều. Thánh Phaolô cũng đã từng có ấn tượng sâu sắc vì giọt nước mắt của người khác: “Nhớ đến những giọt nước mắt của anh, tôi ước ao gặp lại anh để được chan chứa niềm vui” (2 Tm 1:4). Nước mắt còn kỳ diệu hơn như thế: Một nữ tội nhân đã dùng những giọt nước mắt để làm trôi đi bao tội lỗi của mình (x. Lc 7:36-40).
Có khổ mới cần khóc. Có khóc mới cần cười. Có cười mới thỏa vui. Vui nghĩa là hết khổ, là sung sướng, là hạnh phúc. Tác giả Thánh Vịnh xác định: “Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng. Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo; lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng” (Tv 126:5-6). Với kinh nghiệm đã có, tác giả Thánh Vịnh vừa tâm sự vừa chia sẻ: “Tôi lang thang như người khóc mẹ, tôi tủi buồn cúi mặt xuống mà đi” (Tv 35:14).
Chắc hẳn chúng ta cũng đã từng hơn một lần như vậy. Các linh hồn nơi Luyện Hình cũng đang có tâm trạng đau khổ lắm, nhưng họ chẳng làm được gì cho mình nữa, họ rất cần chúng ta, những người còn sống trên trần gian. Chúng ta hy sinh và cầu nguyện cho họ càng nhiều và càng chân thành thì họ càng mau được hưởng Thánh Nhan Thiên Chúa. Họ đã thoát Hỏa Ngục, chắc chắn được trở thành thánh nhân bên Thiên Chúa hằng sống đời đời. Và rồi Thiên Chúa sẽ “lau sạch nước mắt” trên khuôn mặt của họ, những người đã từng chịu đựng gian truân đau khổ và cùng chết với Đức Kitô, chính Thiên Chúa sẽ “dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh” (Kh 7:17). Cuối cùng, họ sẽ chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất (Kh 21:4).
Với niềm tin “xác loài người sẽ sống lại”, chúng ta hãy biến Giọt Thu Sầu của Tháng Mười Một trở thành Giọt Hy Vọng và Giọt Thánh Đức trong tình liên đới “các thánh thông công”.
Kinh Thánh cho biết: “Ông Giu-đa quyên được khoảng hai ngàn quan tiền, và gửi về Giêrusalem để xin dâng lễ đền tội; ông làm cử chỉ rất tốt đẹp và cao quý này vì cho rằng người chết sẽ sống lại. Thực thế, nếu ông không hy vọng rằng những chiến binh đã ngã xuống sẽ sống lại thì cầu nguyện cho người chết quả là việc dư thừa và ngu xuẩn. Nhưng vì ông nghĩ đến phần thưởng rất tốt đẹp dành cho những người đã an nghỉ trong tinh thần đạo đức. Đó là lý do khiến ông đến dâng lễ tế đền tạ cho những người đã chết để họ được giải thoát khỏi tội lỗi” (2 Mcb 12:43-46).
Requiescat in Pace – Xin cho các Linh Hồn được nghỉ yên muôn đời!
Da mihi animas, coetera tolle – Xin cho tôi các linh hồn, còn mọi sự khác cứ lấy đi (Don Bosco).
Laudetur Jesus Christus – Ngợi khen Chúa Giêsu Kitô.
TRẦM THIÊN THU
Lễ các Đẳng – 2014

SỐNG và YÊU
Chị Brittany Maynard, 29 tuổi, được chẩn đoán có khối u ác tính trong não ở giai đoạn 4 từ hồi tháng 4-2014, và bác sĩ nói chị chỉ còn sống thêm trong vòng 6 tháng.
Ngày 1-11-2014, chị sẽ kết thúc cuộc đời với sự trợ tử của bác sĩ bằng phương pháp “an tử” (làm cho chết êm ái). Chị cho biết rằng chị không muốn chị và gia đình chịu nỗi đau khổ vì chứng ung thư não của chị. Chắc chắn đây là tình cảm tốt đẹp khi người ta không muốn những người thân chịu đau khổ, nhưng đó không phải là cách yêu thương!
Các phương tiện truyền thông hết lời ca tụng quyết định của Brittany là can đảm. Thật mắc cười khi các phương tiện truyền thông khen chị dám chết vì không muốn gia đình đau khổ, và kêu gọi những người khác hủy hoại sự sống mà không cần bác sĩ trợ tử. Nhưng các phương tiện truyền thông ca tụng một phụ nữ trẻ mới kết hôn mà lại muốn chết chứ không muốn sống. Các phương tiện truyền thông ca tụng sự chết, dù đó là phá thai, an tử, hoặc trợ tử, họ gọi đó là sự chọn lựa, sự tự do, hoặc sự can đảm. Tuy nhiên, Thiên Chúa cấm chúng ta nghĩ rằng chúng ta có thể là gánh nặng cho người khác vì sức khỏe giảm sút hoặc cần được chăm sóc về y tế.
Sợ hãi là động lực có thật: Sợ những gì ở phía trước, sợ đau khổ, sợ không thể kiềm chế,... Các phương tiện truyền thông và xã hội muốn chúng ta sống trong nỗi lo sợ vì nỗi lo sợ khiến chúng ta phải kiểm soát. Nỗi lo sợ biến chúng ta thành nô lệ dưới chiêu bài của sự tự do, sự can đảm, và sự tự tha thứ cho mình. Nỗi lo sợ xoay chúng ta hướng vào bên trong (tự hướng nội) và làm cho chúng ta tin rằng mình đáng bị thu nhỏ lại.
Chân phước Chiara Luce Badano đã không sống trong nỗi lo sợ mặc dù Chị chịu đau khổ và chết vì chứng ung thư xương rất đau nhức khi còn ở độ tuổi thiếu niên. Thay vì đầu hàng nỗi đau đớn thể lý, Chị đã chịu đựng đau khổ và nhìn cha mẹ thấy Chị chống chọi với bệnh tật. Chị dùng đau khổ để thánh hóa chính mình và những người khác. Chị dùng đau khổ làm phương tiện để hy vọng.
Ngược lại, chị Brittany Maynard lại dùng đau khổ làm phương tiện để tuyệt vọng! Buồn biết bao khi Brittany cho phép bóng tối làm tiêu tan chính mình. Chân phước Chiara được một người bạn đặt cho biệt danh Luce khi Chị gia nhập phong trào Focolare, vì Chị là ánh sáng cho người khác. Chị như ánh đuốc soi sáng trong bóng đêm của cuộc sống này để đi tới Chúa Giêsu và sự sống đời đời.
Các phương tiện truyền thông chẳng bao giờ ca tụng những loại ánh sáng này của con người. Bạn sẽ không bao giờ nghe nói về những con người thầm lặng chịu đau khổ trên đời này, hoặc thời gian kỳ diệu mà họ cố gắng sống tốt, và hôm nay họ vẫn sống vô thường dù ngày mai họ sẽ chết, họ sống như thể là bất tử. Những con người này là những ánh đuốc sáng thực sự trong thế giới này, họ đối diện với bóng tối và tuyên bố: “Mi cứ làm điều tồi tệ nhất! Tôi sẽ không bị hủy diệt”. Những người này sống trọn vẹn tình yêu thương, hoàn toàn biết từ bỏ mình, ngay cả khi họ phải đối diện với tử thần, họ không bao giờ chịu thua sự cám dỗ của nỗi thất vọng, vì họ biết rằng SỰ SỐNG và TÌNH YÊU đáng tận hưởng. Dù sao thì cuộc đời cũng vẫn đáng sống, không đáng chấm dứt.
Bạn sẽ chẳng bao giờ nghe nói về những con người như Ginnie Levin. Chị được chẩn đoán bị ung thư vú, mặc dù cắt cả hai vú và các khối u, chứng ung thư vẫn di căn tới nhiều bộ phận khác trên cơ thể. Chỉ còn ít thời gian ngắn ngủi trên thế gian này, chị muốn dành tất cả cho gia đình. Người bà và người mẹ của chị đã chết vì ung thư, người cha của chị cũng đang phải điều trị ung thư. Ginnie muốn tới thế giới của Walt Disney với gia đình một lần nữa, tạo ký ức vui mừng một lần cuối. Xin mọi người hãy cầu nguyện nhiều cho chị Gennie Levin!
Trong một thế giới ca tụng việc hủy hoại sự sống, chúng ta hãy ca tụng Sự sống. Hãy tạo sự khác biệt trong cách sống của chúng ta hôm nay!
Thánh nữ Teresa Margaret Thánh Tâm Chúa (Dòng Kín Chân Đất, 1747-1770) nói: “Không có gì phải than phiền, tôi sẽ chịu đựng mọi thứ vì yêu mến Chúa, tôi không có gì phải lo sợ”. Chân phước Chiara Luce được an táng với chiếc áo cưới vì Chị sẽ đi gặp Đức Lang Quân là Chúa Giêsu trong cõi trường sinh. Chết lúc mới 19 tuổi vì bệnh trầm kha, nhưng chân phước Chiara Luce vẫn khả dĩ nói: “Tôi không còn lại gì, nhưng tôi vẫn còn trái tim, và tôi có thể yêu thương bằng trái tim đó”.
Chị Chiara Luce Badano sinh ngày 29-10-1971 tại ngôi làng nhỏ Sassello ở Ý quốc, qua đời ngày 7-10-1990 sau một năm đau đớn vì chứng ung thư xương. Chị được Giáo hội tôn phong chân phước ngày 25-9-2010.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)

DongCongNet - November 3, 2014

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)