dongcong.net
 
 

Hai đoản khúc suy tư

Suy tư tuần này, lại thấy có giòng thơ những ngâm rằng:


“Tình cứ đuổi theo người như chiếc bóng”

Người thì không bắt bóng được bao giờ.”

Ngâm thế rồi, người lại hát:

“Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi,”
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt.

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về.”

Thôi thì, có ngâm hoặc có hát cũng chỉ là hát và ngâm những lời thơ cùng điệu nhạc đầy ý yêu thương, thông thường vào các tháng ngày dài cuộc đời, cũng rất thương và rất mến. 

Thế đó là ý/từ cùng ý tứ thân thương xin được gửi đến bà con trong họ ngoài làng, ở Hội thánh rất Nước Trời.

Mai Tá 

www.giadinhanphong.com

Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ 15 mùa Thường niên năm A 13.7.2014

“Tình cứ đuổi theo người như chiếc bóng”

Người thì không bắt bóng được bao giờ.”

(Dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mt 13: 1-23

            Tình nhà thơ, vẫn hững hờ/thờ ơ như chiếc bóng, người đeo đuổi. Tình nhà Đạo, vẫn lân-tuất ở đâu đó chốn thiên-đường, người thụ hưởng. Cuộc tình đời, người người vẫn viện-dẫn thi-ca để diễn-tả. Tình Chúa với con người, nhà Đạo xưa nay lại nhờ dụ-ngôn chuyển-tải để người nguời nhớ mà hiện-thực.

            Hiện-thực Tin Mừng, thánh Mác-cô và Mát-thêu có thói quen diễn-tả bằng thể-thức dụ-ngôn để mọi người cảm-kích mà trải rộng tình thương suốt mọi thời.       

            Tin Mừng các thánh diễn-tả, ta như cảm-nghiệm được cả mùi cát bụi lẫn mồ hôi cùng mùi máu của các thánh tử-đạo khi xưa bị Nêrô giết hại. Tin Mừng còn diễn-tả sinh-hoạt của cộng-đoàn Rôma truyền-tụng từ thời tiên-khởi. Thánh Mác-cô, là tác-giả Tin Mừng từng suy-tư các diễn-biến thời Hội-thánh Chúa bị bách-hại, hầu hỗ-trợ, ủy-lạo cộng đoàn sống khốn-khổ, như thời Chúa.

            Hôm nay, người đọc Tin Mừng lại thấy một loạt truyện kể do thánh Mát-thêu ghi, để mọi người biết sinh-hoạt cộng đoàn Hội-thánh sống vào buổi đầu. Đọc dụ-ngôn, nếu người đọc muốn biết ý của tác-giả, cũng phải tìm-hiểu kỹ đại ý nằm ở dưới truyện, rồi phải xét xem Tin Mừng muốn đưa ra điều gì gửi đến với ta và cho ta?

            Suy cho kỹ, ta thấy cách viết của thánh Mát-thêu đã dựa trên cốt truyện do thánh Mác-cô viết trước nhất. Làm thế, thánh Mát-thêu mới đưa ý chính vào nội-dung rồi áp-dụng cho mỗi truyện. Nói chung thì, dụ-ngôn là lối kể truyện có lời nói lẫn ảnh-hình được diễn-tả để người đọc thấy “bí kíp” và ý nghĩa cuộc sống được các bậc thày người Do-thái sử-dụng để răn đời.

            Nhiều lúc, tác-giả cũng sử-dụng câu đố hoặc ẩn-dụ thật cũng khó. Có khi, câu truyện lại giống trò chơi “ô chữ” cốt để người đọc đoán ý-nghĩa mỗi câu sao cho phù-hợp với lời kể. Nói tóm lại, tất cả là kiểu nói và kể cốt đòi người đọc phải bỏ giờ ra mà suy-tư cho thật kỹ, mới hiểu được.

            Thánh Mác-cô là thánh-sử đầu tiên viết Tin Mừng, từng áp-dụng phương-cách này hầu diễn-bày Lời Chúa về các sự-việc tiêu-biểu. Chẳng hạn, khi Chúa nói: “Hãy trở thành hư không/trống rỗng đến độ anh em không còn giữ thứ gì trong mình”. Hoặc đoạn khác, Ngài lại bảo: “Thày ra đi một nơi mà anh em không thể tìm đến được!” Dĩ nhiên, những người nghe Ngài nói, đều không thể hiểu ý Ngài muốn diễn-tả. Thế nên, người bộc-trực như thánh Phêrô đã phải ra mặt phản-đối, nên mới làm phật ý Thày.

            Thánh Mát-thêu thì lại khác. Là người sinh sau đẻ muộn những hai thập-niên sau tác-giả Mác-cô, thánh Mát-thêu biết ý của vị tiền-nhiệm và hiểu rõ mục-đích viết dụ-ngôn, hơn ai hết. Thế nhưng, thánh-nhân lại không theo khuôn-phép người đi trước vẫn làm, mà lại đã chỉnh-sửa cốt truyện cũng như ảnh-hình nằm trong đó. Là nhân-sĩ cao niên nhiều kinh-nghiệm, thánh Mát-thêu thêm vào đó cả sự khôn-ngoan lẫn thể-loại khác-biệt vào truyện hầu giúp người đọc hiểu dễ hơn.

            Nơi dụ-ngôn người gieo giống, thánh Mát-thêu kể rõ từng loại đất trại, hầu nói lên một hình-thái thế-giới của mình, trong đó có Chúa gieo-vãi hạt giống màu-mỡ để nó dồi-dào, phong-phú hơn. Thánh-nhân còn kể rõ về “cỏ lùng” là loại cỏ dại mọc chen với lúa, vào độ gặt. Thành thử, ý của thánh-nhân muốn căn-dặn người Do-thái hãy kiên-nhẫn với cỏ dại kẻo làm hại vụ mùa đang tươi tốt.

            Ở đoạn khác, thánh-nhân lấy ví-dụ về hạt cải tuy nhỏ nhưng vẫn trở-thành thứ gì đó quan-trọng hơn nhiều thứ khác, nếu nhận ra được thứ gì quí giá như viên ngọc quý nằm ẩn trong trai sò ốc hến. Thế nên, đừng loại bỏ thứ gì quí giá ẩn-tàng trong lớp vỏ xù xì, cũ kỹ. Cũng hệt thế, dân chài nào nhiều kinh-nghiệm thường sử-dụng “lưới cào” mắt nhỏ mới bắt được nhiều thứ có giá trị. Kể dụ-ngôn thông-thường, thánh Mát-thêu vẫn đặt vào đó tâm-hồn cao sang, hiền-dịu nên đã đánh động rất nhiều người.                             

            Nói cách khác, thánh Mát-thêu ghi-chép lại rất nhiều điều, từ nội-dung truyện kể do thánh Mác-cô viết trước, và rồi đưa vào đó phong-thái tư-riêng của chính ngài. Thế nên, về người nhỏ bé kể ở dụ-ngôn, thánh-nhân biết họ không thể nắm bắt tại chỗ sứ-điệp thập-giá, cái chết hoặc việc Ngài ra đi về nơi không ai hay biết. Thánh Mát-thêu biết Đức Giêsu đã làm thế và Ngài đã lấy đi khỏi nơi ta nhu-cầu cấp-thiết sống trọn vẹn, đến như thế.

            Thánh Mát-thêu cũng đã thấy nơi sự việc Chúa sống lại, là một chúc lành cho mọi đường-lối thông-thường ta vẫn theo. Thánh-nhân còn muốn dạy cho ta biết cách thấy và hiểu rằng ta được biết bao ơn lành từ Đức Giêsu và Thiên Chúa, nên từ đó mới có thể cảm kích biết ơn Ngài cho đủ.

            Các dụ-ngôn do thánh Mát-thêu kể, lại vẫn là truyện kể rất hay và rất đẹp từng bộc-lộ “bí kíp” và “bí mật” của cuộc sống thường nhật, ta vẫn sống. Điều bí mật, nằm ở chỗ: cuộc sống của ta có Chúa cùng sống lại đẹp đẽ biết bao. Thiên Chúa rất thích điều đó. Và, thánh Mát-thêu đạt được cung-cách kể truyện dụ-ngôn qua việc tập-trung nơi những người bé nhỏ, trong đời thường.           

            Sống đời thường, đối với những người bé nhỏ, đòi hỏi phải theo cung-cách bình-thuờng là như thế. Thánh Mát-thêu lại đã khám-phá ra tính thực-tại của Mầu nhiệm Nhập Thể. Chúa không cần nền thần-học đầy khoa-bảng hoặc phương-án hùng-biện đầy kích-bốc để làm những việc Ngài muốn làm. Nhưng, Ngài lại chọn “lối sống bình thường” rất thông thường ở đời, cho mọi người.

            Thánh Mát-thêu lại cũng tự thúc-bách chính mình để nói lên sự phong phú nơi quà-tặng Chúa ban cho con người, đẹp dường bao. Thánh-nhân tập-trung ý-nghĩa và hình-ảnh của sự phong-phú ấy nơi “đất màu-mỡ”, chí ít là dụ-ngôn truyện kể về đất đai, gieo vãi hạt giống tốt. Hạt giống gặp đất tốt tươi màu mỡ sẽ cho ra 30, 60 và cả đến trăm lần hơn ta kỳ-vọng hoặc trông ngóng nữa.

            Thánh-sử Mát-thêu không chỉ nói về mùa gặt nơi mảnh ruộng. Ông còn nói về các giá-trị đang tăng-trưởng bên trong chúng ta khi ta sống vui tươi cảm kích thì sẽ biết được chiều sâu và các sự việc tốt đẹp trong đời người.

            Người người thường vẫn ưa thích lắng nghe Lời của Chúa cả trong những sự việc nhỏ bé và hiểu được chúng rất rõ. Đó, còn là lời lẽ sử dụng trong Tin Mừng, đặc biệt là Tin Mừng theo thánh Luca và Mát-thêu khi các thánh-sử đề cập đến Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Mẹ được diễn-tả là Đấng được chúc phúc hơn các phụ-nữ khác vì Mẹ biết nghe Lời Chúa, hiểu ý-nghĩa Lời Ngài và còn giữ kỹ trong tâm can của Mẹ và biến Lời Ngài thành hiện-thực nữa.

            Hãy xin Mẹ dạy ta cung-cách được thánh Mát-thêu áp-dụng sống ân-nghĩa mình nhận lãnh, là thấy được những điều tích-cực nơi sự việc ở trước mắt. Và rồi, mỉm cười chấp-nhận như ta thường làm. Có như thế, ta cũng sẽ thấy nơi lời lẽ thánh-nhân ghi chép, là cả một giòng nhạc êm-ái, rất thương yêu.

            Trong tâm tình đón nhận điều hay lẽ đẹp do thánh Mát-thêu ghi, ta cũng nên ngâm lên lời thi-ca vẫn ngân-nga rằng: 

           

            Tình cứ đuổi theo người như chiếc bóng”

            Người thì không bắt bóng được bao giờ.

            Anh muốn khóc trong buổi đầu niên học,

            Bởi yêu em nên sầu khổ dịu dàng.”

            (Nguyễn Tất Nhiên – Sầu Khổ Dịu Dàng) 

            Sầu khổ dịu dàng, nhưng không là tình đuổi theo người như chiếc bóng, vẫn yêu thương. Thương người và thương mình, bởi tình Chúa vãi gieo nơi ta nay phong phú, màu-mỡ rất đa dạng.  Yêu thương rồi, ta lại dàn trải tình thương ấy nơi mọi người, ở đời. Đó, vẫn là ý chính, thánh-sử viết khi kể truyện dụ-ngôn đầy âm-nhạc cho người bé nhỏ ở trên đời, vẫn ưa thích.  

            Lm Kevin O’Shea CSsR

            Mai Tá lược dịch.

 

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 15 mùa Thường niên năm A 13-07-2014

“Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi,”
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt.

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về.”

(Trịnh Công Sơn - Một cõi đi về)

 

(Lc 9: 6tt)

            Đặt đầu đề cho bài hát nghe quen như thế, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đâu có tả tình/tả cảnh cái cõi nào đâu mà gọi là “một cõi đi về”.  Có đi và về như thế, mới hát “Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt.” Cũng có thể, nghệ-sĩ nhà mình quá mệt mỏi nên cứ ngồi ở nhà mà nhìn mưa rơi, rồi lại hát: 

            “Nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa.

Mưa bay trong ta, bay từng hạt nhỏ.

Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ.

Chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà.

Đường chạy vòng quanh một vòng tiều tụy.

Một bờ cỏ non một bờ mộng mị ngày xưa.

Từng lời tả dương là lời mộ địa.

Từng lời bể sông nghe ra từ độ suối khe.

(Trịnh Công Sơn – bđd) 

Thế đó, là ý-kiến của nhà thơ khi viết nhạc ở đời thường, có nhiều cõi cứ đi và cứ về. Thêm vào đây, là tư-tưởng của nhà Đạo ở chốn trên cao bên trời Tây xứ ấy, rất như sau: 

“Trong thánh-lễ tại nhà nguyện Santa Maria sáng thứ Năm ngày 8 tháng 5, Đức Phanxicô đã trình-bày những suy tư của ngài trên bài trích sách Tông Đồ Công Vụ thuật chuyện ông Philípphê rao giảng Tin Mừng và rửa tội cho một viên thái giám.

Đức Thánh Cha giải thích rằng bất cứ Kitô-hữu nào muốn rao giảng Tin Mừng nên vâng phục ý chí và ân sủng của Thiên Chúa, cũng như mở cửa cho đối thoại.

Đức Giáo Hoàng lấy làm tiếc rằng đôi khi Bộ máy quan liêu trong Giáo hội là một trở ngại cho những người muốn được gần gũi hơn với ân-sủng của Thiên Chúa.

Đức Thánh Cha nói: “Ông Phillípphê vâng phục, ông ngoan ngoãn và chấp nhận lời mời gọi của Chúa. Chắc chắn ông phải bỏ ngang nhiều thứ đang thực hiện dở dang, bởi vì các Tông Đồ trong khoảng thời gian đó đang rao giảng Tin Mừng rất bận rộn. Ông bỏ lại tất cả mọi thứ và lên đường. Và điều này làm cho chúng ta thấy rằng nếu không có sự vâng phục/hiền lành trước tiếng nói của Thiên Chúa không ai có thể rao giảng Tin Mừng, không ai có thể loan báo Chúa Giêsu Kitô: cùng lắm là chỉ loan báo về chính mình. Chính là Thiên Chúa, Đấng kêu gọi chúng ta, chính là Thiên Chúa Đấng kêu gọi Phillípphê trên con đường đó. Và Phillípphê đã ra đi. Phillípphê ngoan ngoãn vâng lời.”

“Anh chị em không thể nào rao giảng Tin Mừng mà không đối thoại. Đó là điều không thể. Bởi vì chúng ta phải bắt đầu với xuất xứ của người được Phúc-Âm-hoá. Điều này rất là quan trọng.” (x. www.tamlinhvaodoi.net, Tình trạng quan liêu của Giáo hội 15/5/2014)   

Tư-tưởng và lập-trường của đấng-bậc ở trên cao nơi nhà Đạo thì như thế. Như thế, tức đã diễn tả những khía cạnh hân-hoan/vui mừng của sự việc Phúc-Âm-hoá, tức Tin Mừng. Tin Mừng với người nhà Đạo, là phổ-biến tin nói rằng “Thiên-Chúa-là-Tình-yêu” nay đang trải rộng khắp chốn miền có rao và có giảng. Đồng thời có cả đối-thoại với cả những người không ở trong Đạo.

Tin vui về Tình Thương-yêu, còn trải rộng bên ngoài nhà Đạo, tức nơi cuộc đời gồm đầy những thương-yêu đằm thắm rất thi-ca. Thế đó, là tình yêu-thương đôi lứa rất chí tình được diễn tả bằng lời thơ, nét nhạc đời như tâm-tình của người viết cũng rất thơ, như ở trang thư gửi người tình của mình:     


“Đêm đã xuống dày và sương cũng đã bay vào cửa sổ. Lạnh lắm Ánh. Anh cố gắng buộc đời mình vào nỗi đơn độc này để còn Ánh. Trong cuộc sống với số - phần - vực - thẳm này vẫn còn hình - phạt - huyền - nhiệm đó để ru mình vào bình an. Anh không mong gì hơn, Ánh ơi. Ánh ơi.
           

Bình hoa hồng trước mặt anh có những cánh hoa đều đặn thật đẹp. Anh vẫn thường nghĩ đến hình ảnh một người con gái cầm nhánh hoa hồng buổi chiều đi trên hè phố một mình. Hè phố thì vắng. Hè phố dẫn về một giáo đường. Buổi chiều người con gái tay cầm nhánh hoa hồng, đầu cúi gặp trên hàng ghế gỗ nhà thờ, áo lụa trắng trải dài trên thân thể như một linh - thiêng. Anh ca tụng hình ảnh đó trong anh. Đôi lúc hình ảnh đó mang khuôn mặt của Ánh. Của Ánh. Của Ánh.” (Xem Trịnh Công Sơn, Thư Tình Gửi Một Người, nxb Trẻ 2013 tr. 40) 

Ý thơ và giòng nhạc tình là như thế, cứ triển-nở nơi ca-từ anh viết vào hôm trước, ý-tứ vẫn  bảo rằng:

“Lời nào của cây, lời nào cỏ lạ.
Một chiều ngồi say, một đời thật nhẹ ngày qua.
Vừa tàn mùa xuân, rồi tàn mùa hạ.
Một ngày đầu thu nghe chân ngựa về chốn xa.
Mây che trên đầu và nắng trên vai.
Đôi chân ta đi sông còn ở lại.
Con tim yêu thương vô tình chợt mỏi.
Lại thấy trong ta hiện bóng con người.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Mỏi lắm không, con tim yêu thương ấy? Mệt rồi ư, nhưng sao vẫn viết và hát, như sau:

“Trong khi ta về lại nhớ ta đi. 
Đi lên non cao đi về biển rộng.
Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng.
Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì.
Hôm nay ta say ôm đời ngủ muộn. 
Để sớm mai đây lại tiếc xuân thì.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)           

À thì ra: “trong khi ta về lại nhớ ta đi...”, nhớ cả vào lúc “ôm đời ngủ muộn” để rồi “sớm mai đây lại tiếc xuân thì!” Tiếc hay không, nhà thơ vẫn biết đó là tiếc và thương một cõi đi về? Quan liêu hay cường điệu, phải chăng là trạng-huống của ai đó vẫn cứ sống và cứ giảng rao, nhưng chừng như đã nghe thấy ở đâu đó có ca từ của nghệ sĩ vẫn cứ hát: “đi đâu loanh quanh, cho đời mỏi mệt.”

Mỏi mệt ư? Thế thì, một đời giảng rao/rao giảng “Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu” cho muôn người có mệt và có mỏi không? Câu trả lời chắc chắn không thể nào có ngay ở đây bây giờ, được. Thế nên, bần đạo bày tôi đề-nghị ta cứ “loanh quanh” đây đó để tìm gặp các lập-trường ý-tưởng và tâm-thức của bà con anh em bầu bạn ở đâu đó, cũng rất lạ.

Trước hết là ý chính của Lời Vàng đấng thánh-hiền khi trước vẫn diễn tả:  

“Sau khi thấy thị kiến đó,

lập tức chúng tôi tìm cách đi Makêđônia,

vì hiểu ra rằng

Thiên Chúa kêu gọi chúng tôi

loan báo Tin Mừng cho họ.”

(Cv 16: 10) 

Và, ở một đoạn khác, bậc thánh-hiền lại cũng ghi: 

“Đức Giê-su tập họp Nhóm Mười Hai lại,

ban cho các ông năng lực và quyền phép

để trừ mọi thứ quỷ và chữa các bệnh tật.2

Người sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa

và chữa lành bệnh nhân...

Các ông ra đi,

rảo qua các làng mạc loan báo Tin Mừng

và chữa bệnh khắp nơi.”

(Lc 9: 6tt)

            Thế đó là hiệu lệnh. Thế đấy, lại là thực-tế với thực-tại ở nhiều nơi vẫn như thế. Nhiều nơi, trên thế-giới, vẫn thấy vấn-đề là: thực-tế và thực-tại mà bạn và tôi, ta thấy có gì đáng ngại, và sự thể thực-tế nay ra sao?

Đây là vấn-đề không nhỏ, để tìm-hiểu. Nhưng, cứ từ từ rồi bạn và tôi, ta cũng sẽ tìm ra cung-cách để nắm bắt mối gút từng thắt chặt rồi lần ra được sự thể rất thực-tiễn khá thực-tình và cũng rất thực. Nói thực như thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta đi vào chốn rất thực ở ngay dưới.

 Nhưng, trước khi đi vào chính-đề, tưởng cũng nên ngang qua một vài truyện kể khá lai rai đại loại cũng lễ-mễ để trích và dẫn. Thực ra, truyện kể ở bên dưới không phải để ta diễn tả lý-chứng của sự giận-dữ hay giận-hờn nào khác; nhưng, lại gián-tiếp nói về Tình-Yêu viết Hoa, chứ không chỉ tình đôi lứa, mà thôi. Thôi thì, ta cứ mời nhau nghe truyện kể vẫn nhủ rằng: 

“Có vị hiền-triết nọ, một hôm lên tiếng hỏi các đệ-tử của ông, như sau:

-Tại sao trong cuộc đời, nhiều người cứ phải hét cho thật to vào mặt nhau?

Sau một hồi suy-nghĩ, một trong các đệ-tử của ông bèn trả lời:

-Thưa, là bởi vì người ta mất bình tĩnh,mất tự-chủ!

Nghe thế, vị hiền-triết không đồng ý lắm với câu trả lời như thế, nên lại hỏi:

-Nhưng, tại sao lại phải hét lên như vậy trong khi cả hai người đang ở cạnh nhau. Tại sao hai người không thể nói bằng âm-thanh vừa đủ cho nhau nghe, thôi?   

Các đệ-tử lại ngẫm-nghĩ thêm phút chốc hầu trả lời thày mình, nhưng không ai có được lời giải-thích nào khả dĩ khiến vị thày của họ hài lòng hết. Cuối cùng, ông mới bảo:

-Khi hai người giận nhau, thì trái tim của họ không còn ở gần nhau nữa. Tự thâm-tâm, họ thấy giữa họ và người kia có một khoảng cách rất xa, nên nếu muốn nói cho nhau nghe, họ phải dùng hết sức bình sinh để hét lên cho thật to. Giận dữ càng lớn, thì khoảng cách càng xa và họ lại càng nói to hơn, để tiếng nói của họ bao trùm lên khoảng cách ấy.

Ngưng một lúc, rồi vị hiền-triết lại hỏi:

-Thế, còn khi hai người hai người yêu nhau thì thế nào? Họ không bao giờ hét to mà chỉ nói rất nhỏ nhẹ thế nghĩa là làm sao? Nhỏ nhẹ, là bởi vì trái tim họ nay cận kề bên nhau. Khoảng cách giữa hai người, giờ rất nhỏ...

Nói thế rồi, vị hiền-triết lại tiếp tục:

-Khi hai người yêu nhau thật đậm sâu, thì cả hai không nói nữa mà chỉ thì thầm, vì đã ở gần bên nhau bằng tình yêu của họ. Cuối cùng, ngay cả tiếng thì thầm cũng không cần-thiết nữa, cả hai chỉ cần đưa mắt nhìn nhau, cũng đã đủ. Vì, ngang qua ánh mắt, họ đều đã biết đối phương nghĩ gì, muốn gì rồi... Khi các con bàn cãi với nhau về vấn đề gì đó như tình thân thương chẳng hạn, hãy giữ sao cho trái tim của các con lúc nào cũng cận kề. Đừng bao giờ thốt ra điều gì khiến các con cảm thấy xa cách nhau nữa... Nếu không thì, một ngày nào đó khoảng cách ấy càn lúc càng nới rộng, càng xa cách và khi ấy các con sẽ không tìm ra con đường nào để quay trở về được nữa rồi...”

Truyện kể về tình thân thương/yêu mến rất ở trên, có thể áp-dụng vào nhiều trường-hợp. Cả những trường-hợp có quyết-tâm trải rộng tin vui mừng về “Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu” mà mọi người đều biết. Nhưng, vì một lý-do nào đó, lại đã không tiếp tay dàn trải cho người quên sót hoặc “mỏi mệt” vì cứ “đi loanh quanh” bên cuộc đời người.

Chẳng thế mà, nghệ-sĩ ngoài đời lại cứ hát mãi câu ca, trước, rằng: 

“Trong khi ta về lại nhớ ta đi. 
Đi lên non cao đi về biển rộng.
Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng.
Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì.
Hôm nay ta say ôm đời ngủ muộn. 
Để sớm mai đây lại tiếc xuân thì.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Còn nhớ, có lần truyền-thông báo chí ở Úc lại đã thông-truyền về chuyện đấng bậc vị vọng nó có tên là Bob Maguire từng bảo: “Bạn sẽ không thể nào rao truyền Tin Mừng của Chúa được, nếu không đi ra bên ngoài mà làm cho đôi tay mình lấm bẩn một đôi chút...” Để diễn rộng ý của Lm Bob Maguire, cây viên có tên là Ray Cassin từng viết như thế này: 

“Trong tông thư đầy khích-lệ mang tựa-đề là “Niềm Vui Rao Giảng Tin Mừng” Đức Phanxicô có nói: Tôi thích có một Giáo hội bị bầm-dập, đau mình mẩy và lấm bẩn vì từng có mặt ngoài phố chợ hơn là Giáo hội lành mạnh vì cứ giới hạn và bám riết vào chính sự an-toàn của mình...”

Lời của Đức Phanxicô có ý muốn đỡ nâng hàng giáo sĩ cũng như giáo-dân từng để thì giờ ra mà ở giữa những kẻ bị bầm-dập, xúc phạm và lam lũ bẩn thỉu vẫn lớn lên trong giới lao-động thợ thuyền hơn là cứ ngồi ở nơi chốn ổn-định rồi hướng-dẫn/khuyến-khích người khác như giới chức ở giáo-triều. Trong số các đấng bậc hoạt động rất nhiệt-tình ở Úc, có linh mục được biết đến rất nhiều là Lm Bob Maguire.

Lm Bob Maguire không còn là mục-tử dẫn dắt họ đạo thánh Phêrô và Phaolô ở Melbourne nữa, mà chỉ là linh mục đi đứng nhiều hơn là ngồi một chỗ, trong giáo xứ. Ngang qua tổ-chức có tên gọi là “Father Bob Maguire Foundation”, vị linh mục đầy nhiệt-huyết này vẫn tiếp-tục hoạt-động tông-đồ chung đụng với người nghèo khó, vô gia-cư và giới xì-ke ma-tuý đã biến ông trở-thành người nổi tiếng trong giới truyền-thông đại-chúng. Và mới đây, ông còn xuất hiện với tư-cách là ngôi sao điện-ảnh trong bộ phim tài-liệu của Lynn Maree Milburn được ca-tụng rất nhiều là phim “In Bob We Trust”...

Có lần, người thưởng lãm từng tìm-hiểu xem: sau khi không còn là linh mục chánh-xứ nữa, ông sống ra sao? Ông có suy-nghĩ gì khác lạ về Giáo hội và nhất là loại-hình mục-vụ theo kiểu ông đeo đuổi không? Thì được ông cho biết: “Quí vị biết đấy. Đã có lúc tôi giống như đám trẻ mồ-côi bị người khác lấy đi căn-tính/lý-lịch của mình ngay từ nơi mà tôi coi như thánh-địa của mình. Gọi như thế, là vì đó là nơi tôi từng đổ mồ hôi sôi nước mắt do không chỉ mình tôi mà cả các giáo-dân ở nơi đó đã đầu-tư tạo dựng nên. Quả thực, nó là như thế đó.  Nếu nói bằng ngôn ngữ của Công Đồng Vaticăng thứ 2 thì điều đó có thể gọi là “văn-hoá nhập-nội” . Và, thực sự thì: ta không thể nào rao truyền Tin Mừng của Chúa được, nếu không có thứ văn-hoá nhập-nội ấy.” 

Bằng vào sự đổi thay văn hoá của pháo-đài trung-ương, thì một khi đã đi vào nền văn-hoá nhập-nội như thế rồi, ta sẽ được coi như đang áp-dụng thứ văn-hoá của Đức Phanxicô Bergoglio. Và khi đó, ta sẽ biến nhà xứ không chỉ thành mỗi chốn miền để nuôi dưỡng người nghèo mà thôi, nhưng còn trở-thành mái ấm tình-thương giống như kiểu của Dorothy Day đang thực-hiện ở bên Mỹ.

Ý của Lm Bob Maguire là: chủ-trương của Công Đồng Vaticăng 2 kéo dài bằng việc mở rộng lòng ra với nhân-loại mà ông coi có là thành-quả của Công đồng này. Ông tin rằng thành-quả ấy đã bị những vị chủ-trương “xét lại” đánh phá dữ dội nên đã để luột mất, nhưng nay lại được Đức Phanxicô đang tìm cách tái-tạo tinh-thần của một Vatican thứ 2 đấy thôi.” (xem Ray Cassin, The Do-It-Yourself Catholic, Australian Catholics số Summer edition năm 2014, tr. 22-23)

Nói đi thì lại nói lại, chuyện phiếm Đạo/đời mà lại nói chuyện Đạo nhiều hơn đời e cũng khó. Khó nuốt trôi, khi những người quan-tâm đến chuyện đạo hay chuyện của Giáo-hội vẫn là những vị còn nằm trong guồng máy của Giáo-hội vì nhiều thứ. Có một thứ nên làm nếu muốn nói đến và nói về “Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu” là cứ nói nhiều về tình-yêu nhưng không theo lối biện-luận hoặc cãi cọ, mà theo cung-cách của truyện kể rất dân gian.

Nếu thế thì, mời bạn và mời tôi, ta cứ thế mà “tự-nhiên như người Hà-Nội” của cha ông tôi, đừng khách sáo. Nay, hãy đi vào vườn truyện kể mà kể cho nhau nghe những chuyện rằng: 

“Hôm ấy, trong buổi học, cô giáo dặn các em học sinh là: ngày mai, mỗi người hãy mang theo một dụng-cụ bảo-vệ sức-khoẻ. Hôm sau, cô gọi một em có tên là Cu Tý, mà hỏi:

-Tí à, hôm nay em đem gì vậy?

-Dạ, em đem băng gạt để băng bó vết thương, khi bị nạn.

-Giỏi! Thế còn Tèo thì sao?

-Dạ, em đem Oxy già để rửa vết thương, nếu có bị.

-Tốt! Còn bé Tũn đem gì?

-Dạ thưa cô, em đem bình Oxy!

-Em lấy của ai vậy?

-Dạ, em lấy của Bà em đấy cô!

-Thế lúc em đem đi Bà của em có nói gì không?

-Dạ không! Bà chỉ thở dài rồi phều-phào bảo: Không...được...đem...nó..đi...

-Thế thì em làm sao?

-Dạ, thì cô bảo em đem đi rồi sẽ đem về cũng được.

-Không được! Lập tức em phải đem về cho Bà thở chứ!!!

Còn bé Lan đem gì thế?

-Dạ, em đem theo nụ cười!

-Sao lại thế? Nụ cười thì ai chả có, đem đến đây làm gì?

-Thưa cô, em nghĩ: chỉ có nụ cười mới giải quyết được mọi sự, cả yêu thương lẫn sức khoẻ”.

(truyện kể như của người lớn chế, nhưng đâu sao) 

Vâng. Truyện kể, do ai kể mà chả được. Miễn, nó đáp-ứng được nhu-cầu của người nghe, và cả người kể nữa. Vâng. Đúng là như thế. Bởi lẽ, trong quá-trình kể lể những chuyện khá “phiếm” như thế này, thì: truyện kể vẫn cần hơn chuyện biện-luận này khác, dù về Đạo.

Nghĩ thế nên, bần đạo bầy tôi đây hẹn sẽ còn kể lai rai dài dài, nhiều chuyện phiếm, cũng rất “phiếm”, chỉ để vui trong sống Đạo giữa cuộc đời có quá nhiều thứ thiếu vui, như con người. Chí ít, là người đi Đạo và giữ Đạo, nhưng không sống thực một đời người rất có Đạo. Đạo làm người và sống với mọi người trong đời. 

Trần Ngọc Mười Hai
Có viết nhiều viết ít
Những chuyện phiếm Đạo đời,
Cũng chỉ để cho vui.
Mà thôi.

2014     

 

Chuyện phiếm tuần 15 TN năm 2011

"Em còn nhớ hay em đã quên,"  

Nhớ Sài gòn mưa rồi chợt nắng
Nhớ phố xưa quen biết tên bàn chân…
  (Trịnh Công Sơn – Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên)

(2Ti 2: 8-9   )


 Đành rằng, khi sáng tác nhạc bản này, nghệ sĩ họ Trịnh chỉ muốn nhắc đến người Em thân yêu của mình, từng rời bỏ khung trời Sàigòn để ra đi biền biệt. Nhắc, là nhắc đôi điều để Em nhớ mà thương Sàigòn thời đó, có “phố xưa quen biết tên bàn chân”. Có “đèn đường từng đêm thao thức.” Nhắc khá nhiều, nhưng chẳng biết em có nhớ hay không. 

Ở đời thường, hôm nay, có nhiều điều cũng được nhắc nhớ, từ người vợ hiền, mà sao anh chồng nọ chẳng còn nhớ, như truyện nhỏ ở bên dưới: 

“Truyện rằng:

Vợ chồng nhà nọ, ít khi có chuyện cãi cọ. Rất im lìm. Suốt cả năm. Nhưng một hôm, người vợ ghen tức chịu không nổi bèn vào phòng kéo cổ ông chồng ra khỏi cửa mà nói những lời tuy nhẹ nhưng thấm thía, rằng:

-Sao cả ngày anh cứ chúi đầu vào mấy cuốn sách mà không nhớ gì đến ai cả?

Suốt ngày, không thấy anh mở miệng nói với em đến nửa lời, là làm sao?


-Hôm nay có chuyện gì mà em “làm ầm” lên thế? Vách tường có tai đấy!

-Anh cứ nhìn mà xem! Quanh anh toàn là sách với sách không à! Anh không thèm biết vợ con sống chết ra sao ư? Giá như em là cuốn sách có khi còn hay hơn. Còn được anh đầu ôm tay ấp chứ thế này, thật rõ chán!

-Đừng nghĩ thế, tội anh em ơi! Em là tất cả của đời anh mà! Mấy sách này, mỗi cuốn anh chỉ đọc có vài ngày rồi đem đổi lấy cuốn mới. Em có chịu đổi chác như vậy không?...

-Ừ nhỉ… Cũng có lý, đấy chứ!

            Nhà Đạo mình, cũng có lời nhắc nhở, để người người tạc ghi suốt đời, một lời thơ như sau:

“Anh hãy nhớ đến Đức Giê-su Kitô, sống lại từ cõi chết,
(sinh) bởi dòng giống Đa-vít.
chiếu theo Tin Mừng của tôi,
vì đó tôi phải lao đao khốn khó đến cả xiềng xích như kẻ gian phi.
Nhưng lời Thiên Chúa đâu bị xiềng xích!”
(2Ti 2: 8-9)

            Còn ngoài đời, nghệ sĩ nhắc nhớ là nhắc để ta nhớ những dòng chảy như thế này:

                                    “Em ra đi, nơi này vẫn thế
                                    Vẫn có em trong tim của Mẹ
                                    Thành phố vẫn có những giấc mơ
                                    Vẫn sống thiết tha
                                    Vẫn lấp lánh hoa trên đường đi.”
(Trịnh Công Sơn – bđd)

            Phải chăng, nơi này vẫn thế. Vẫn “có em trong tim của Mẹ”, “vẫn sống thiết tha”, “lấp lánh hoa trên đường đi”? 

Thế còn, Hội thánh thì sao? Hội thánh mình, có còn nhớ những người thường xót quên một bổn phận của dân con mình ở đời? Bởi, dân con Hội thánh sống ở đời, vẫn bị cuốn hút vào dòng đời bon chen, lo lắng, nên quên hết chuyện Đạo? Chí ít, là chuyện nhà thờ nhà thánh, ngày chủ nhật? 

Còn nhớ, có lần tân chức nọ đến nhà thờ họ đạo nhỏ ở trời Tây làm lễ mở tay đã giảng và thuyết lời lẽ như sau: “Thánh lễ là trọng tâm cuộc sống của người tín hữu. Có thể nói mà không sợ ngượng miệng rằng: Không có thánh lễ, thì vai trò của vị linh mục không cần thiết nữa. Và, giáo dân mà không đi lễ mỗi ngày Chúa Nhật, thì sẽ không nên gọi mình là tín hữu được nũa.”

Bỏ qua một bên, để xem lời “đức thày” mới tấn phong, đúng hoặc sai. Cứ để một chỗ, lập trường của người anh em vừa được phong chức, còn mới chớm. Cứ rồi xem, hai chục năm sau đức thày nhà Đạo có còn nói thế nữa hay không? Chí ít, là nói với đồng Đạo ở trời Tây. Nơi mình phục vụ.

Nay chỉ xét,  tại sao trẻ nhỏ ở trời Tây, lại cứ hay thắc mắc hỏi cha mẹ những câu lẩn thẩn chỉ thấy có ở trời Tây, thôi. Hỏi, là hỏi rằng: “Tại sao ta cứ phải đi lễ ngày Chúa nhật, thế hả mẹ”? Nghe trẻ hỏi, chắc hẳn có vị sẽ chột dạ mà tìm hiểu xem thực chất của tình trạng giữ đạo, ở bên này, rày ra sao. Còn nhớ, cách đây không lâu, Lm Andrew Hamilton sj ở Úc cũng đã nhận định về chuyện này:

“Đây là câu hỏi không chỉ riêng mỗi người trẻ mới hỏi, thôi. Cả người lớn cũng thế. Đó là thắc mắc cũng rất cũ giống như câu nói của ai đó: thánh lễ vẫn thế, nhưng Ngày của Chúa rày đã đổi thay.

Vào niên biểu 1954, ở Úc, có khoảng 80% số người Công giáo vẫn thường xuyên đi lễ ngày Chúa nhật. Rất đều đặn. Dạo đó, thánh lễ nào cũng đầy đủ cả người trẻ lẫn cụ già. Ngày nay, chỉ còn thấy độ 20% số người Công giáo Úc là chịu đi lễ, thôi. Và, con số này ngày một giảm sút. Nhiều cộng đoàn vẫn cử hành thánh lễ, nhưng chỉ lác đác một vài người đến dự thôi. Người trẻ càng ít thấy. Chừng như người Công giáo hôm nay đã trở thành đám người thiểu số ngay trong lòng dân tộc, vẫn theo Kitô giáo.

Các Giáo hội khác cũng trải nghiệm một sút giảm tương tự. Ngày của Chúa hôm nay, đã bị trần-tục-hoá rất nhiều. Khi xưa, ít có người chịu làm việc vào ngày của Chúa. Lúc bấy giờ, làm gì có các trận bóng bầu dục! Làm gì có truyền hình tràn lan nhiều chương trình! Ngay đến báo chí, phim ảnh cũng chỉ rải rác ở một vài nơi, thôi. Chỉ mỗi tiệm bán sữa là mở cửa vào những ngày này. Thăm viếng bạn bè, cũng đã là chuyện hiếm khó vì khi ấy người dân ở đây không có nhiều xe cộ, hoặc phương tiện di chuyển như bây giờ. Người người gặp nhau ở nhà thờ, vào các giờ lễ Chúa nhật. Các giáo hội khi ấy tài trợ rất nhiều sự kiện thể thao, giải trí như quần vợt, khiêu vũ, vui chơi ngoài trời, có nơi tổ chức các lễ hội vui chung nữa. Người người đến nhà thờ là để gặp gỡ, hàn huyên nguyện cầu. Rất thoải mái.

So với ngày nay, mọi người đều đi làm cả vào ngày dành cho Chúa. Có người, lại ngủ bù vào ngày của Chúa, hoặc lo mua sắm. Chuyện đi nhà thờ nhà thánh hôm nay đã phải cạnh tranh ganh đua với chương trình thi đấu thể thao, phim ảnh, truyền hình, chơi games, sinh hoạt ở trường hoặc ra ngoài dạo mát với mẹ cha…”(x. Lm Andrew Hamilton, www.eurekastreet.com.au)

Với nhà Đạo ở phương Tây, hôm nay, vấn đề không còn là thế. Tức, bàn dân thiên hạ không còn ngồi đó trông mong người đi Đạo trở vềi với thánh đường để đi lễ. Nhưng đã nghĩ ra nhiều cách  để lôi cuốn mọi người nhớ đến Chúa, và Hội thánh. Cũng tốt thôi. Nhớ dự lễ, có thể là nhớ cách nào đó, cho hấp dẫn. Có thể, là làm sao tạo cho thánh lễ hoặc buổi diễn giảng ở đâu đó ở phố chợ. Tại trung tâm thương mại. Hoặc trên truyền hình. Thế nhưng nơi nào, kiểu nào cũng có khó khăn của nó.

            Với thánh lễ truyền hình, khó khăn xảy đến cũng rất nhiều. Một trong những vấn đề khiến dân con nhà Đạo để tâm đến, là như mắc của độc giả nọ đã có thư lên đấng bậc vị vọng ở Sydney , để hỏi như sau:

“Con có người bạn nghe tin ở đâu đó nói rằng: nếu anh/chị chỉ xem lễ trên truyền hình vào ngày của Chúa thôi, cũng đủ. Câu hỏi của con hôm nay gửi đến với cha, là: có thật thế không? Trường hợp người đau yếu hoặc ngã bệnh không đến nhà thờ được, hoặc không có khả năng đến dự thánh lễ cho Giới Trẻ ở trường đua Randwick, Sydney được thì sao? Xin cha giúp lời chỉ giáo. Rất biết ơn. (Một giáo dân ở Sydney )

Một lần nữa, chừng như đấng bậc đây vẫn chờ mong những câu hỏi tương tự, để có dịp mà trả lời/trả vốn, rất như sau:

“Tôi thiết nghĩ, những gì chị nghe được từ cô bạn nọ, cũng không đúng. Thế nhưng, câu hỏi của chị ở đây, hôm nay, đã hàm ngụ một số điều trong đó có kể đến thánh lễ bế mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới ở Sydney, nên tôi xin phép được giải thích một số nguyên tắc nền tảng như sau:

Những ai có khả năng đến nhà thờ dự lễ, nghĩa là không đau ốm, hoặc thánh lễ được cử hành ở một nơi không xa chỗ mình ở, vv. thì phải đến nhà thờ để dự lễ ngày Chúa nhật.

Điều này cũng dễ hiểu thôi. Đức Giêsu đã hy sinh cả đời Ngài cho chúng ta. Vì thế, chúng ta cũng nên đáp trả sao cho phải phép. Nghĩa là, cũng nên hy sinh cách nào đó, để đi lễ. Và điều này, ta cũng đừng nên quên, là: làm như thế là để việc Ngài hy sinh trên đồi Calvariô, trở thành hiện thực đối với ta, ở nhà thờ.

Nếu có ai ban cho ta một ân huệ nào đó thật cao cả, thì ta cũng nên tỏ lòng cảm kích biết ơn, dù phải đi xa cách mấy cũng chẳng sao. Xa thì xa, vẫn nên đi thăm viếng; và nếu được cũng nên đem theo quà đáp lễ để tặng và có khi còn phải cúi gập mình mà tỏ lòng tri ân nữa không chừng. Chẳng ai trên đời này lại ban cho ta ơn huệ cao cả bằng Chúa. Ngài là Đấng dựng nên ta, cứu chuộc và tỏ cho ta biết ơn quan phòng triền miên yêu mến, đối với ta. Ngài còn kêu mời ta cùng Ngài đi vào cuộc sống vĩnh cửu, và bao điều tốt lành khác, Chỉ bấy nhiêu thôi, cũng đủ để ta hăng hái tỏ bày lòng biết ơn đối với Ngài, theo cách của riêng mình.

Cách tốt đẹp nhất Ngài thiết lập nên để ta chu toàn là giữa các ngày Sabát, rất thánh thiêng. Đối với người Công giáo, đó là đến nhà thờ dự lễ, ngày của Chúa. Nếu có khả năng đến nhà thờ đuợc thì “xem” lễ trên truyền hình là việc không phải phép, và cũng không đủ. Xem lễ kiểu đó, chứng tỏ rằng tình yêu thương ta có với Chúa, cũng quá nhỏ. Về điều này, sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo có đoạn nói rất rõ:“Vào các ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc, tín hữu có bổn phận phải tham dự thánh lễ. ” (x. GLHTCG #2180)

Hơn thế nữa, đích thân đến nhà thờ dự lễ, ta mới có thể rước Mình Thánh Chúa vào lòng được mà thôi.Và rước Mình Thánh Chúa, là cung cách giúp ta san sẻ sự hy sinh của Chúa. Thêm vào đó, hiện diện ở nhà thờ, là ta gia nhập cộng đoàn dân Chúa với giáo xứ để thờ phụng Chúa, qua tư cách thành viên cộng đoàn Nước Trời. Nói cho cùng, Hội thánh không là nhóm hội gồm các cá nhân riêng lẻ, mà là toàn thể dân Chúa kết hiệp làm một với nhau, nơi Thân Mình rất Thánh của Đức Chúa. Ta là dân Chúa chọn lựa. Là, Thân Xác Nhiệm Mầu của Đức Kitô. Là, Hội thánh rất thông công. Có mặt bên nhau, thì ta mới có thể hỗ trợ cho nhau được.

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo còn nói rõ:“Cùng tham gia cử hành Tiệc thánh vào ngày của Chúa là bằng chứng nói lên rằng ta thuộc về Chúa và là kẻ tin vào Đức Kitô và Hội thánh của Ngài. Tín hữu Đức Kitô làm chứng cho điều đó qua việc hiệp thông trong lòng tin và đức bác ái. Cùng nhau ta chứng minh tính thánh thiêng của Chúa và có như thế, mới nói lên niềm hy vọng của mình vào ơn cứu độ. Làm như thế, mỗi người mới củng cố cho nhau dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần.” (x. GLHTCG # 2182)

Thế còn người đau yếu bệnh tật đang nhập viện hoặc đang nằm nhà dưỡng bệnh thì sao? Bởi, những người bị bệnh không làm sao đích thân đến nhà thờ được, nên họ được miễn chuẩn không buộc phải đến nhà thờ như người khoẻ, được. Nếu người bệnh có thể tham dự thánh lễ qua truyền hình, vẫn được phép. Dù, họ không buộc phải làm thế. Vào lúc rước lễ, người bệnh có thể thông công hiệp lễ cách thiêng liêng.

Tôi biết nhiều người buộc phải ở nhà và vẫn dự lễ mỗi ngày qua truyền hình và được nhiều ơn lành thiêng liêng, rất đặc biệt. Về sự kiện đặc biệt như thánh lễ bế mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, nhiều người muốn đích thân đến tham dự, nhưng không được vì nhiều lý do, thì họ vẫn có thể làm tròn nhiệm vụ ngày Chúa nhật hôm đó, qua truyền hình.

Có trường hợp khá đặc biệt, là người tham dự thánh lễ thì đông, mà nhà thờ lại không đủ sức chứa, nên nhiều người vẫn cố gắng hết mình để cùng tham dự thánh lễ với người khác, tuy không sốt sắng, bằng cách đứng ngoài hiên hoặc trong sân nhà thờ. Chuyện này thường diễn ra, nhất là vào dịp nghỉ hè ở các khu thị tứ, hay du lịch. Những người đứng ngoài như thế, vẫn làm tròn bổn phận, ngày của Chúa; và vẫn có thể rước Chúa vào lòng, dù mắt mình không thấy vị linh mục chủ tế bẻ bánh hoặc truyền phép, trên bàn thờ. Đó là những trường hợp ngoại lệ, có thể châm chước. “(x. Lm John Flader, The Catholic Weekly 6/7/2008, tr. 18)

Về với ý kiến của Lm Andrew Hamilton, sj về vấn đề nói trên, thì ông cũng đề cập đến trường hợp tại sao thánh lễ ngày của Chúa rất cần thiết đối với tín hữu thời Giáo hội tiên khởi. Đây, còn là việc bắt buộc đối với tín hữu thời Trung Cổ. Đến hôm nay, ta đã trở về với thời điểm giống hệt tín hữu thời ban đầu, đã trở thành nhóm thiểu số khác người ngoài Đạo, ở niềm tin và cung cách sử dụng ngày của Chúa. Giống cộng đoàn thời tiên khởi, vấn đề thâm sâu không phải là: có đến nhà thờ đích thân dự lễ hay không. Mà là, có còn thuộc về Hội thánh nữa hay không thôi. Trước hết và trên hết, cần có lý để chứng tỏ mình là người Công giáo, trước đã. Chỉ khi đó, mới nói được là việc đến nhà thờ dự lễ hay không, thôi.   
 
            Với Hội thánh thời tiên khởi, muốn chứng tỏ mình là Kitô-hữu, đã là một chọn lựa khó khăn rồi. Bởi, làm thế rất dễ bị cha mẹ hoặc gia đình ruồng bỏ. Chính quyền cũng bách hại hoặc giết chết. Và, khi tham gia Tiệc thánh, là ta mừng Chúa trỗi dậy từ nỗi chết. Điều này đem đến cho ta hy vọng phải giáp mặt với cái chết, đang trờ đến. Ta tin rằng Đức Kitô sống lại từ cõi chết, rất thật sự. Ngài đang thực sự hiện diện với ta, qua Hội thánh.

Thế giới hôm nay, một số người không tham dự Tiệc thánh nữa vì lý do đơn giản là họ được người khác bảo cho biết mình không có bổn phận “phải” làm thế. Nhưng kỳ thực, sự thật lại khác. Là, thành viên công đoàn Kitô-hữu và thành phần chủ chốt của Tiệc thánh, hai việc vẫn đi đôi với nhau. Ngày của Chúa, dân con nhà Đạo sống thực thụ niềm tin của mình qua tư cách cộng đoàn tình thương, rất Nước Trời.

Nói cho cùng, thì thế giới ta sống hôm nay cũng giống hệt như thời tiên khởi của Hội thánh. Thời, mà các thánh sống đích thực niềm tin đi Đạo đã biến mình thành con người rất đặc biệt. Thế giới hôm nay, đặt nặng lên chủ nghĩa cá nhân riêng lẻ. Vẫn cứ suốt ngày bận rộn với công kia việc nọ, khiến ta khó lòng mà theo chân Chúa. Vì thế nên, tín hữu Đạo Chúa cần đến cộng đoàn cùng tháp tùng, chung sống. Cùng hỗ trợ cho nhau, để tồn tại.

Tiệc thánh, là thời khắc giúp ta nguyện cầu, lắng nghe. Là, lúc để ta cùng nhau nói tiếng “cảm ơn” về quà tặng Chúa trao ban. Thế giới hôm nay, con người lúc nào cũng bận rộn. Thế nên, hãy biến ngày của Chúa, thành ngày thư giãn, rất buông lỏng để mình có thể cùng nhau nguyện cầu. Và, trao cho nhau thời gian và không gian, mà gặp gỡ. Gặp, để tiếp cận nhau bằng phần sâu thẳm của cuộc sống.

Có làm thế, mới chứng tỏ là mình biết quan tâm đến người khác. Chí ít, là những người còn nghè túng. Thiếu thốn. Có nhu cầu. Thế giới hôm nay, con người thấy mình cô đơn, lẻ bóng hơn bao giờ. Bởi, họ không có thì giờ để tiếp cận, gặp gỡ. Không có thời gian để gần nhau. Gặp gỡ. Bởi thế nên, đây là thời khắc giúp ta thực hiện điều cần thiết chứng tỏ rằng thế giới của nhà Đạo, không như thế. Nhà Đạo, là nhà của thành viên vẫn có nhau vào những lúc rất cần. Vào cả giờ phút hiếm quý, ngày cuối tuần. Nhà Đạo, là nhà của những con người và người con biết tìm đến nhau. Dù, chỉ để hỏi han, san sẻ một nỗi niềm, rất riêng tây. Gặp nhau, không chỉ để giùm giúp lẫn nhau. Ở bên nhau. Mà còn để cảm tạ những ơn lành mình đã có và đang có. Cái mình có chắc chắn nhất, đó là niềm tin. Tình yêu thương. Và, niềm hy vọng. Hy vọng có mãi bên nhau. Có nhau, thật dài lâu.

Thế đó, là tình yêu thương. Bằng hữu. Tính hiếu khách. Thế đó, là đối thoại. Mở lòng. Là, khát vọng biến đổi thế giới thành nơi chốn bình an. Công chính. Có làm thế, ta mời có thể đi theo đường lối Chúa vạch ra, cho cộng đoàn Nước Trời. Là Hội thánh.

Nói gì thì nói. Hát gì thì hát. Cũng nên nói và hát, như người nghệ sĩ ngoài đời, vẫn hôm nào. Vẫn cứ hát, những lời ca, như sau:

                        “Em còn nhớ hay em đã quên,
                        Nhớ Sàigòn mỗi chiều gặp gỡ,
                        nhớ món ăn quen nhớ ly chè thơm,
                        Nhớ bạn bè chào nhau quen tiếng,
                        Phố em qua, gạch ngói quen tên…”
(Trịnh Công Sơn – bđd)

Nhà Đạo hôm nay, có hát bài này cũng nên thay lời ca “Sàigòn” bằng ca từ “dự thánh lễ”, cũng sẽ thấy rằng Hội thánh, vẫn cứ bảo:

“Em ra đi, nơi này vẫn thế.
Vẫn có em trong tim của Mẹ
Thành phố vẫn có những giấc mơ,
vẫn sống thiết tha, vẫn lấp lánh hoa trên đường đi .”          

            Quả đúng thế, có dự tiệc thánh ở nhà thờ hay qua truyền hình, thì hỡi bạn và tôi, ta hãy nhớ: Hội thánh vẫn còn đó ngóng chờ. Chờ bạn và chờ tôi. Mọi ngõ ngách, của con tim.

            Trần Ngọc Mười Hai
            vẫn cứ nhắn và cứ nhủ
            chính mình và bầu bạn
            chỉ một lời
            rất như thế.


Suy niệm Chúa Nhật 15 Thường Niên 
Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh
Mai Tá lược dịch   
     

Làm sao tình vĩnh cửu, không tan?

“yêu trọn đời này và kiếp tới.”
(dẫn từ thơ Niệm Nhiên)

Mt 13: 1-9

            Không vỡ tan, nên tình người vẫn vĩnh cửu. Yêu trọn kiếp, nên đời người còn lưu mãi. Yêu thương vĩnh cửu, là ý nghĩa của dụ ngôn truyện kể ở trình thuật, rất hôm nay. 

            Trình thuật thánh Mátthêu viết hôm nay, lại vẫn mang dáng dấp của dụ ngôn truyện kể, để nghĩ suy. Suy, là suy những gì gói ghém trong truyện. Nghĩ, là nghĩ làm sao về những gì dụ ngôn nói.

            Dụ ngôn hôm nay, là một trong nhiều phong cách để kể về đời sống Đức Kitô, theo kiểu khác. Bằng vào cung cách thuật truyện lạ như thế, thánh Mátthêu còn kể ra một loạt các dụ ngôn, có ngôn từ và hình ảnh để người đọc nắm bắt được bí kíp của cuộc sống.

            Trước đó, thánh Máccô cũng đã sử dụng đường lối này để thuật truyện. Bằng vào cách này, thánh Máccô viết: Đức Giêsu nói nhiều đến điều rất khó lòng, để bày tỏ. Chẳng hạn như khi nói: Ngài sẽ không đi nơi đâu ra khỏi nỗi chết. Nỗi chết trên thập tự. Và, Ngài cũng không có chổ để gối đầu. Hãy đến ở lại với Ngài, rồi người người sẽ toả đi muôn nơi. Cả khi bị vùi dập và giết chết, Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi một ai. Ngài vẫn giúp. Hãy tự mình tạo trống rỗng đến mức độ không để lại gì ở nơi mình. Nghe như thế, ít người hiểu được điều Ngài nói, nên mới chống đối giận dữ. 

Bằng vào lối viết như thế, thánh Máccô cho thấy Chúa muốn đả kích thái độ của người Do thái đối với cuộc sống. Đả phá mọi ảo tưởng, mộng mơ và những tham vọng vẫn có, nơi họ. Ngài muốn đem họ về với thực tế, dưới đất. Với thánh Máccô, bí kíp để mọi người sống là giáp mặt nhìn thẳng vào khó khăn. Rất cứng cỏi. Bởi, cuộc sống con người đâu có nghĩa luôn thuận lợi, dễ dãi. Và, thoải mái!    

Kể về dụ ngôn người gieo giống, thánh Máccô nhắm đến những người sống chệch đường lối Chúa đưa ra. Tức, chỉ phớt qua nơi mặt ngoài, chứ không đặt thẳng trọng tâm đích thực của vấn đề. Họ là những người chỉ muốn thoát khỏi chủ đề chính. Chỉ thích những chuyện khác, bên lề thôi. 

Kể về hạt giống rơi bên vệ đường, bị chim chóc bay đến lấy đi, là ý nói đến những người lơ là, không hiểu biết. Kể về những hạt rơi vào nền đất đá, quá nông, không bám sâu vào lòng đất. Nên, đã bị nắng trời thiêu rụi, là ý nói về những người chỉ chú trọng mặt ngoài, không quyền uy sức mạnh để có thể ở lại. Thánh nhân còn nói về những hạt rơi vào bụi gai, dễ chết ngạt. Tức, về những người quá ưu tư về thế giới. Về những cám dỗ ở đời, không để ý gì đến cung cách Chúa dạy, để mà sống. Những gì thánh Máccô đề cập đến hạt giống, là nói về cung cách sống đạo, cho đúng cách.

Dụ ngôn thánh Mátthêu kể, được viết vào thời gian sau thánh Máccô, rất nhiều. Khi kể về cùng một truyện, thánh Mátthêu cũng hiểu những điều mà tiền nhiệm mình từng nói. Hiểu rõ dụng đích của dụ ngôn, theo cách rất khác thường. Và, thánh nhân diễn tả theo phong cách cũng khác. Khác, ở cách nói về cuộc đời. Về tình tiết lẫn ảnh hình, của câu truyện. Dưới ngòi viết của thánh Mátthêu, cuộc đời con người có những cốt cách rất đẹp. Đẹp đến độ ta không thể dùng ngôn ngữ ngày thường để diễn tả. Mà, phải khôn ngoan nắm bắt. Và, thực hiện. Chừng như thánh Mátthêu còn đưa âm nhạc vào trong đó, cùng với ngôn ngữ truyện kể, có hình ảnh. Không dùng lời lẽ thuyết phục người nghe, mà đưa ra luận cứ về luân lý. Nhưng dùng tất cả những thứ nêu trên cốt cho mọi người thấy sự việc tuy tầm thường và bé nhỏ trong cuộc sống vẫn đều có bí kíp, rất tốt đẹp. 

Dụ ngôn hôm nay, thánh Mátthêu kể về các loại đất ở nông trại. Và tín thư mà thánh nhân đưa ra, là: hãy sử dụng tất cả để kiến tạo thế giới. Rồi thì, hạt giống tốt lành của Chúa sẽ đổ tràn lên tất cả. Rồi cứ thế, thánh sử viết thêm về cỏ lùng mọc chung quanh lúa tốt, để rồi thánh nhân còn đưa thêm một sứ điệp, là: hãy kiên nhẫn với cỏ lùng. Nhổ nó đi, sẽ gây hoạ cho lúa tốt. Cho mùa gặt. Thánh nhân viết thêm: những gì tuy nhỏ như hạt cải, vẫn có tầm quan trọng của nó, nếu ta biết dùng nó.

Với thánh Mátthêu, ta không tài nào phát hiện được ngọc trai trong vỏ sò, nếu đa vứt bỏ cả vỏ trai lẫn ruột ngọc. Hệt như thế, ta không thể loại bỏ lưới cào, khi bắt cá. Tất cả vật dụng đều hữu ích cho con người. Cả những đồ xưa cũ đáng vứt bỏ. Vẫn có ích. Nếu biết sử dụng truyện kể do thánh Mátthêu ghi, rồi ra người người cũng sẽ nhận thấy tấm lòng bao la, tử tế mà cuộc đời đem lại, cho mỗi người. Với thánh nhân, cuộc đời người vẫn như những điểm sáng rút ra từ dụ ngôn truyện kể theo phong cách người Do thái viết.         
       
Thánh Mátthêu thu thập nhiều điều từ Tin Mừng theo thánh Máccô, và đã biến chúng thành truyện kể, theo phong cách tư riêng của mình đối với những “con người bé nhỏ” như ngôn từ mà thánh nhân vẫn đề cập. Bởi, dù bé nhỏ mọn hèn không bằng ai, những người như thế vẫn nắm bắt được thông điệp thập giá, sự chết và việc Chúa ra đi về nơi vĩnh cửu mà mọi người không hề hay biết. Thánh nhân biết rõ Chúa làm thế để mặc khải cho người bé nhỏ mọn hèn, nên không đả động gì về các nhu cầu triệt để, mà mọi người cần đến. Và, thánh nhân nhìn Phục sinh như một chúc lành Chúa ban cho đường lối thông thường ta vẫn sống. Thánh nhân còn cho ta biết cách mà nhìn và hiểu thấu đáo sự việc để rồi sẽ cảm kích biết ơn Chúa . 

Nói cho đúng, các truyện dụ ngôn do thánh Mátthêu ghi thực sự là những truyện kể, đều rất đẹp. Đều mở cho ta thấy bí kíp của cuộc sống bình thường luôn có Chúa cùng sống, rất đẹp.

Thánh Mátthêu tự thôi thúc mình tiến xa hơn, hầu quả quyết rằng: quà tặng Chúa ban cũng dồi dào như thế. Ngài nhấn mạnh đến đất lành trong dụ ngôn người gieo vãi. Đất lành, cho vụ mùa đạt gấp 30, 60 lần. Có khi còn gấp trăm lần mà mọi người hằng trông mong, hy vọng. 

Về vụ mùa, thánh nhân không đả động gì đến lúa giống hoặc đất ruộng, cho bằng chỉ nói về đức hạnh đang nảy nở trong con người. Chí ít, là khi ta cảm kích biết ơn được am hiểu thấu đáo những gì tốt đẹp nằm sâu trong cuộc sống. Để rồi, vẫn thích nghe Lời Chúa nói và hiểu rõ những điều Ngài căn dặn. Đó là những Lời được ghi ở Tin Mừng. Đặc biệt, là: Tin Mừng theo thánh Luca. Và cả Tin Mừng do chính thánh nhân ghi lại nữa. Và, lời lẽ ở Tin Mừng còn là Lời về Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Lời, tỏ lộ cho Mẹ biết là Mẹ được chúc phúc vì đã nghe và giữ lại trong lòng. Và rồi, Mẹ thực thi Lời Ngài dạy bằng động thái thân yêu, tích cực.               
Tham dự Tiệc thánh có dụ ngôn người gieo giống hôm nay, ta cũng nên yêu cầu Mẹ chỉ cho mình con đường để sống nhân từ. Độ lượng. Sống làm sao, chỉ thấy những gì tích cực, ở phía trước. Để rồi, sẽ mỉm cười chấp nhận. Thực hiện. Bao lâu mình còn làm được.
Trong tinh thần đó, hãy cứ ngâm vang lời thơ nhẹ của người nghệ sĩ còn viết thêm:

            “Làm sao tình vĩnh cửu, không tan?
            Yêu trọn đời này và kiếp tới
            lời huyền thoại, chàng hứa với nàng
            lửa thiêu thân xác thành tro than
            tái sinh từ tro, tình vẫn nồng nàn.”
(Niệm Nhiên – Ngụ Ngôn Tình Yêu)

Tình yêu, với ngụ ngôn. Vẫn là tình không tan. Không thành tro bụi. Dù là huyền thoaị, hay vĩnh cửu. Vẫn nồng nàn, như tình Chúa với người đời. Suốt đời người.

 

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh
Mai Tá lược dịch

dongcongnet-sưu tầm 7-7-2011

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)