dongcong.net
 
 

Hai đoản khúc suy tư

Suy tư tuần 17 thường niên năm A-2014 này, lại vẫn thấy giòng chảy đầy những thơ những ngâm rằng:

“Em đến từ trong giấc hỗn mang,”

Lời ca không mở cửa thiên-đường.”

Ngâm thế rồi, tôi lại hát những lời ca rất tạ ơn đời, ở nơi câu:

Muốn một lần tạ ơn với đời,”
Chút mặn nồng cho tôi
Có những lần nằm nghe tiếng cười
Nhưng chỉ là mơ thôi.”

Nói cho cùng, có ngâm thơ và hát nhạc nhiều chăng nữa cũng chỉ để người người cùng tôi, ta nhận chân ra được ân-huệ Chúa ban trong đời, rồi cứ vui tươi mà sống có cười có nói, rất khôn nguôi mà tạ ơn đời, tạ ơn Ngài, mà thôi.

Thế đó, là tâm-tình nay xin được gửi đến bà con trong họ ngoài làng rất Nước Trời.

Mai Tá

xin trân trọng

www.giadinhanphong.com


Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ 17 mùa Thường niên năm A 27.7.2014 

“Em đến từ trong giấc hỗn mang,”

Lời ca không mở cửa thiên-đường.”

(Dẫn từ thơ Đinh Hùng) 

Mt 13: 44-52

            Thiên đường hạ-giới rày không mở, làm sao đến được từ hỗn mang. Thiên-quốc Nước Trời nay không đóng, người người hân-hoan cứ tiến vào.

            Trình-thuật hôm nay, thánh-sử Mát-thêu cũng đề-cập đến thiên-đường là Nước Trời ở trần gian trong đó có kho tàng quý-giá vẫn chôn-giấu nơi ruộng đồng cuộc sống, rất bon chen.   

Nơi ruộng đồng cuộc sống, có những thực-tại sờ sờ ngay trước mắt, nhưng con người không nhận ra. Trong đời người đi Đạo, có những chân-lý được Đức Chúa mặc-khải, nhưng các tín-hữu Đạo Chúa lâu nay ra như chưa một lần cảm nghiệm Nước Trời ở trần gian là thực-tại trong chân-lý ấy.

Vào những tháng ngày rất xưa, nhiều vị thừa-sai Đạo Chúa vẫn sử-dụng bài Tin Mừng hôm nay như một bằng-chứng hùng-hồn để giảng-thuyết về thiên-đường. Khi dẫn giải thế nào là Thiên-đường, các ngài có thói quen đưa ví-dụ kho-tàng chôn nơi ruộng đồng và viên ngọc quý-giá làm bằng.

Không những thế, các ngài còn thêm-thắt về hỏa-ngục hầu minh-họa lời mình trần-tình qua ảnh-hình một lò lửa cháy bừng bừng, ở đó toàn những “khóc lóc nghiến răng” đến khiếp sợ. Tất cả các yếu tố nói ở đây đều là chuyện kể hằng ngày, ở huyện nhà.

Đằng khác, một số vị giảng-thuyết làm như thể mình biết rất nhiều điều về địa-ngục bừng cháy rất nóng-nảy. Làm như thể chính các ngài là những cây viết sáng-giá đã từng hơn một lần tham-quan/vãn-cảnh chốn địa-ngục trần-gian, rất nhiều lần. Và, các ngài còn cảnh-giác người nghe lo chuẩn-bị hành-trang để một mai lỡ có một lần trót dại, cũng không sao.

Có dạo nọ, nhân mùa thuyết-giảng ở giáo xứ mình, vị linh-mục đứng bục giảng đã hùng-hồn dẫn-giải cho giáo-dân hiểu/biết thế nào là hỏa-ngục lửa bỏng bằng cột miêu-tả rất khúc-chiết, gẫy gọn. Vị ấy còn khẳng định thêm: “Giả như anh chị em ra khỏi nhà thờ mà không chấm nước thánh và làm dấu thánh kêu tên Cực trọng, thì sẽ bị chết bất đắc kỳ tử và rồi sẽ đáp chuyến tầu suốt đi thẳng vào cõi địa-ngục ngàn đời, cho mà xem!”

Vào cuối bài giảng hôm ấy, người chị họ của chúng tôi đứng cạnh giếng thánh nhà thờ quan-sát thấy mọi người lần lượt tiến ra cửa nhà-thờ làm động-tác chấm chấm rất nhiều lần, rồi cứ thế không ngớt mời chào và nhường bước. Cuối cùng, chị không chấm nước thánh-thiêng, vẫn cứ về nhà mà vẫn chẳng bị đẩy vào chốn hoả-ngục lửa cháy đùng đùng đền tội chi hết.

Những ưu-tư thúc-bách như thế, chẳng làm giảm đi thực-chất của thứ địa-ngục nơi trần-thế. Nhưng, nếu tin vào thiên-đường và ý-chí tự-do cho đúng cách, có lẽ ta phải xác-quyết rằng hỏa-ngục-nơi-con-người vẫn có thật. Và, ta phải minh-xác với những ai từng phản-bác một cách có tự-do hiểu-biết và nghiêm-chỉnh chống lại sự-kiện Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu vẫn hiện-diện trong đời mình. Có như thế, ta mới cương-quyết định-đọat số-phận mình cho thế-giới ở đời sau.

Tuy nhiên, vẫn có sự khác-biệt rất lớn giữa các nhận-định của chúng ta, khi trước và vào lúc này, về thiên-đường cùng hỏa-ngục. Chắc hẳn, mọi người đều hiểu-biết ý-nghĩa của truyện kể về kho-tàng giấu nơi ruộng và viên ngọc quý-giá đều là ví-dụ súc-tích về thiên-đường. Các ví-dụ ấy tuyệt-diệu đến độ nó đã để lại những mấu-chốt giúp ta hình-tượng được các ý-niệm mà đầu óc con người không thể diễn-nghĩa được. Về hỏa ngục, cũng thế. Cuối cùng, vấn-đề đặt ra là: làm sao hình-dung được cuộc sống con người, mà lại không bao gồm tình-thương và sự hiện-hữu của Đức Chúa?

Đọc các sách tu đức, ta được hướng-dẫn về thứ hỏa-ngục tô vẽ bằng đường nét chấm-phá quanh-co cốt cho thấy đích-điểm và tình-huống mà trong đó tình thương không thể nào hiện-diện được vào lúc nào hết. Nói một cách xác tín hơn, có lẽ ta nên khẳng-định rằng: hỏa-ngục chính là tình-trạng “vô-thượng” hoặc đối-nghịch với Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu rất thương mến người đồng-loại, tức: không còn lòng xót-thương người khác nữa.

Thêm một khác biệt nữa, là: ngày nay ta đã thận-trọng hơn khi trước rất nhiều, không còn tự tiện quyết-đoán xem ai sẽ là người phải vào chốn “khóc lóc và nghiến răng” ấy, trước nhất? Trong khi đó, ta còn phải nhớ lời Đức Kitô luôn khẳng-định rằng: ý-định của Thiên-Chúa là: mọi người đã được cứu rỗi, từ lâu rồi. Ta không thể coi đây là chuyện nghiêm-chỉnh nếu ta cứ muốn  cho người nào khác phải rơi tuột vào chốn “nóng bỏng” ấy, vì họ dám vi-phạm chỉ một lỗi-lầm rất nhỏ nghịch-chống lại lề-luật ta ban ra.

Đọc Tin Mừng của Chúa theo hướng tích-cực, ta có thể dùng bài Phúc Âm hôm nay như bằng-chứng cho thấy Chúa đối-xử với ta vẫn thật tốt. Ngài luôn ban tặng cho ta Nước Trời mà Ngài từng tuyên-hứa. Hiểu như thế, thì: nhân-loại chính là kho-báu được chôn nơi ruộng mà Chúa đã bỏ tất cả mọi sự để mở rộng vòng tay ôm, đón nhận ta vào lòng. Đồng thời, con người phàm-trần chính là viên ngọc quý-giá được Chúa đổi cả thiên-đường lẫn trái đất để nhận lấy cho riêng Ngài. Và, bản thân ta phải được coi như lớp cá chất đầy mẻ lưới tình-thương do Chúa từng thâu gom thành cộng-đoàn đầy mến-mộ.

Chúa của ta, là Đấng dám trở nên con người phàm-trần giống như ta ngang qua và nhờ vào bản-thể Đức Kitô, ngõ hầu ta biết thông-cảm, yêu-mến và phục-vụ Ngài. Đó, là ý-nghĩa đích-thực của Tin Mừng. Đó, mới là điều mà Ngài nhắc nhở: môn đệ nào biết nhìn-nhận các sự việc của thiên-đường thì phải xử-sự như chủ nhà được kể ở dụ-ngôn hôm nay.

Đây là hình-ảnh súc-tích, đầy đủ ý-nghĩa về những người biết yêu thương, trân-trọng. Thời Đức Giêsu sống, chủ nhà phải là người biết thương-yêu đùm-bọc và tạo được an-bình/hài-hoà cùng sự công chính cho hết mọi người.

Lâu nay Đức Chúa vẫn phú ban cho ta mọi thứ tự do ngõ hầu ta có thể quyết-định mọi chuyện. Ngài vẫn trao-tặng ta kho tàng giấu nơi ruộng và viên ngọc quý-giá ấy, hầu giúp ta biết thương-yêu, đùm bọc lẫn nhau; biết tân-tạo an-bình/hài hòa cho nhau; đối xử với nhau vui vẻ, công bằng hơn. Mọi quyết-định đều do ta tự ý chọn-lựa. Một lựa-chọn vẫn được trân trọng, từ trước đến nay. Nhưng, lựa-chọn này bao-hàm sự cốt-thiết sống phù-hợp với Đạo Chúa, bây giờ và mãi mãi.

Đó, mới là thiên-đường. Đó, mới là Nước Trời ở trần gian, đang diễn-tiến trong cuộc sống thường nhật của ta và mọi người.

Trong tinh-thần cảm-nghiệm một sự thật như thế, ta lại sẽ ngâm lên lời ở trên, rằng: 

“Em đến từ trong giấc hỗn mang,

Lời ca không mở cửa thiên-đường.

Thời-gian bốn phía nhoà gương mặt,

Ảo-tưởng nghiêng vầng trán khói sương.”

(Đinh Hùng – Gặp Em Huyền Diệu

Em huyền-diệu gặp được ở Nước Trời trần-gian, vẫn là mộng giấc xưa hỗn mang nay hiện thực. Thiên-đường ấy, nay hiện-thực ở Nước Trời vẫn rộng mở để đón chờ cả người anh lẫn người chị cùng đàn em thương nhớ vầng trán khói sương, không ảo-tưởng. Đó, chính là lời ca ta vẫn hát ở mọi thời, trong Nước Trời.    

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá lược dịch

 

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 17 mùa Thường niên năm A 27-7-2014

Muốn một lần tạ ơn với đời,”
Chút mặn nồng cho tôi
Có những lần nằm nghe tiếng cười
Nhưng chỉ là mơ thôi.”
 (Trịnh Công Sơn – Như Một Lời Chia Tay)

            (Lc 6: 21) 

            “Nằm nghe tiếng cười” rất nhiều lần, mà nghệ sĩ mình lại bảo, đó: “chỉ là mơ thôi”, sao? Chao ôi, phải chăng đấy là thi-ca và âm-nhạc? Hay, ngày nay người mình “có những lần nằm nghe tiếng cười”, lại cứ nghĩ: đó chỉ là mơ/là mộng và còn phán: đó như một lời chia tay.” Rồi cứ thế, nghệ sĩ mình, lại hát tiếp những “lời chia tay” cũng rất buồn, như sau:

“Những hẹn hò từ nay khép lại
Thân nhẹ nhàng như mây
Chút nắng vàng giờ đây cũng vội
Khép lại từng đêm vui
Đường quen lối từng sớm chiều mong
Bàn chân xưa qua đây ngại ngần
Làm sao biết từng nỗi đời riêng
Để yêu thêm yêu cho nồng nàn
Có nụ hồng ngày xưa rớt lại
Bên cạnh đời tôi đây
Có chút tình thoảng như gió vội
Tôi chợt nhìn ra tôi.”

(Trịnh Công Sơn – bđd) 

Hôm nay, bần đạo đây cũng có nằm và có nghe thấy “tiếng cười”; nhưng không là “lời chia tay” và chẳng là “hẹn hò từ nay khép lại, khép lại từng đêm vui”, nhưng “chợt nhìn ra (những) tôi” và tôi. Chính tôi và tôi, là những người vẫn biết cười và/hoặc chỉ những cười là cười. Bởi, cười là “bản tính của người mình” như học giả Nguyễn Văn Vĩnh vẫn cứ bảo: gì cũng cười!

Cười, còn là và vẫn là: điểm son và là sự sống rất tin-yêu của nhà Đạo mình, nữa đấy bạn ạ! Không tin ư? Thế thì, mời bạn và mời tôi, ta quay về với đấng bậc vị-vọng trong Đạo từng quả quyết, qua suy-niệm và sẻ san Lời Chúa ngày hôm ấy, rất “thường niên” Chúa nhật 16 năm A như sau: 

            “Nghe kể về dụ-ngôn Chúa nhật hôm nay, người người được khích-lệ sống tích-cực điều Chúa dạy. Sống tích-cực, kèm theo nụ cười hạnh-đạo, bởi nơi Lời Chúa nói, vẫn có âm-nhạc được diễn-tả theo điệu kể của thánh Mát-thêu. Đó, còn là cung-cách rất riêng-tây của thánh-nhân khi sử-dụng dụ-ngôn do vị tiền-nhiệm kể, để mọi người thấy được Đức Giêsu đích-thực là người Do-thái đã biết vui tươi, mỉm cười, rất dễ chịu.

            Về cung-cách biết mỉm cười trong cuộc sống, cũng nên tìm hiểu xem thế nào là cười mỉm, vui tươi trong sống đời thường-tình, bằng các định-nghĩa ở bên dưới:

            -Cười, để học biết chấp-nhận tầm-kích ân-huệ của cuộc sống khó có thể kiểm soát;

            -Cười, là ý-nghĩa thần-học của việc mất đi mọi hiểu-biết chính con người mình;

            -Cười, là ngày sống có dấu-chỉ của sự đồng-thuận cuối cùng và mãi mãi với thực tại;

-Diễu cợt, là điều để ta cười vào đó, cho bõ kiếp sống này; chỉ những ai làm thế mới là người không áp-đặt mọi thứ vào chính con người mình;

            -Cười, là để sống thân-thiện với mọi thứ;

            -Cười là niềm cảm-thông huyền-nhiệm với mỗi thứ và mọi thứ trong đời;

            -Đứng trước những người biết cười như thế, ai cũng có dịp để đổi thay để ăn nói;

            -Chỉ những ai đã yêu và từng biết yêu mới cảm-thông được như thế;

            -Cười, khiến cho con người trở thành người đáng yêu;

            -Cười, là cung-cách của những người không lo-lắng nhiều về phẩm-cách của mình;

-Cười, là cách gom mọi sự và mọi người vào với nhau để sẽ không mất nhau trong đời;

-Cười, đôi khi khiến ta có nguy-cơ bị người đời coi là hời-hợt, sống ngoài mặt; nhưng  

 cười, ít ra cũng làm bớt đi những gì tầm-thường, vào mỗi ngày;

            -Cười trong đời sống hằng ngày là các cảnh-báo để mình sống tốt trong thực-tế ở đời;

-Cười, giúp ta hướng về tương-lai bằng lòng chấp-nhận có uy-lực về mọi mặt, qua đó người được cứu sẽ nói lời Amen với tất cả những gì mình từng làm;

            -Cười, là thành-phần của nghệ-thuật góp mặt với mọi sự;

-Biết cười thực-sự và cười rộn-rã là lối sống khiến người người lướt vượt được khó-khăn và là loại-hình sống cuốn trôi nước mắt và đem những chuyện vui vào con người, dù đang cay đắng, nóng giận.

-Cười phản-ánh rằng con người không còn nghi ngờ những gì mang tính trẻ con hoặc thuộc về con trẻ nữa.” (xem Lm Karl Rahner, The Content of Faith, Crossroad 1994, tr. 148-153)  

            Vâng. Với nhà Đạo rất chính-tông, chính-cống thì như thế. Với người đời, tiếng cười hay nụ cười được diễn-nghĩa và diễn-tả tùy mỗi tác-giả, rất như sau:

 

-Với Sách Châm Ngôn Đoạn 15 có câu: “Lòng mừng vui làm hân hoan nét mặt,”

-Với Herbert Samuel thì: “Thế-giới này như thể chiếc gương, nhăn mặt với nó, nó sẽ 

  nhăn lại với mình; cười với nó, nó sẽ cười lại với mình thôi”.

-Vô-danh:“Cười, là hào-quang chiếu sáng qua cửa sổ tâm-hồn cho biết mình đang ở nhà.”

-Vô danh:“Cười, là hệ thống chiếu sáng diện mạo và là hệ-thống nghe ngóng của con tim.”

-Tác-giả Les Gibbin: “Không sử-dụng nụ cười, bạn chỉ như người có cả triệu đô gửi ngân-hàng nhưng lại không có sổ chi-phiếu.”

-Fran A. Clark: “Hầu hết mọi nụ cười đều do nụ cười nào khác dấy lên.”

-Vô danh: “Khi bạn cười với ai đó, thì 90% người ấy sẽ mỉm cười đáp-lễ bạn và ngày hôm ấy ít nhất có đến hai người đều vui-tươi, chói sáng”.

-Vô-danh: “Thế-giới nay có cả trăm ngôn-ngữ khác nhau, nhưng duy chỉ có mỗi nụ cười là nói đủ hết bấy nhiêu thứ tiếng”.

-Với David Hare, thì: “Cười, là ngôn-ngữ của yêu-đương, hài-hoà”.    

-Vô-danh: “Không ai cần nụ cười cho bằng những người chẳng cho ai thứ gì”.

-Mark Twain: “Vết nhăn trên mặt là dấu hiệu nụ cười đã trụ ở đó, rất lâu”.

-Joseph Addison:“Hoa-trái cần ánh sáng thế nào, thì con người cần nụ cười cũng như thế”.

-Dough Horton:“Cười, là thuốc trị-liệu hết mọi bệnh mà không phải trả đến một xu”.

-Với Mẹ Têrêxa Calcutta, thì: “Hãy cười nhiều với nhau và cho nhau! Cười với vợ, với chồng và con cái mà không cần biết người đó là ai. Nội sự việc ấy thôi cũng giúp người và giúp mình tăng-trưởng trong tình yêu lan rộng dần”.

-Wilbur D. Nesbit: “Thứ làm cho con người tiến xa nhất và cho cuộc sống của mọi người đáng sống, vừa ít tốn kém lại làm lợi cho nhiều người nhất, chính là: nụ cười. Nó đầy thần-khí nhưng lại không là thần-linh. Nó nhào-trộn mọi sự tốt-lành của con người. Nó đáng giá cả triệu đô, nhưng lại không mất tiền mua, nhưng vẫn đáng giá”.

-Santosh Kalwar: “Hôm qua tôi đã cười, hôm nay tôi đang cười và ngày mai, tôi cũng sẽ cười nhiều hơn nữa, đơn giản, chỉ vì cuộc sống quá ngắn để ta khóc về mọi thứ”.

            -Charles Chaplin: “Bạn sẽ thấy giá trị thực của cuộc sống, nếu cứ cười”.  

-Freida Martinez: “Nụ cười nở trên môi, sẽ không bao giờ lịm tắt. Tôi đang cùng nó đứng đây chờ bạn đến ở bên cạnh chúng tôi đấy”. 

            -Bei Maejor: “Bạn sẽ không bao giờ nuối tiếc những gì làm mình mỉm cười”. 

 -Vô danh: “Hãy dùng nụ cười của mình để thay đổi thế giới, chứ đừng để thế giới thay đổi nụ cười của mình”.

            -Vô danh: “Nụ cười có thể làm bừng sáng một ngày đen tối nhất. 

-Nylle: “Mỗi người trong ta đều có vết thương lòng, một số người giấu nó trong đôi mắt, người khác lại giấu nó trong nụ cười”.  

            -Vô danh: “Nụ cười, là khoảng cách ngắn nhất giữa hai tâm hồn”. 

-Maya Angelou: “Nếu bạn có duy nhất chỉ một nụ cười hãy dành nụ cười đó cho người mình yêu thương”.     

            Vâng. Quả nhiên là như thế. Quả thật là như vậy. Cứ cười nhiều, bất kể nụ cười đó có là cười điệu, cười tiền, cười trừ hoặc vô duyên cũng cứ cười, nhé anh. Nhiều danh-y trên đời từng quả-quyết: cười là liều thuốc bổ không tốn đến một xu. Vậy thì, mời bạn và mời tôi: ta hãy cười. Cười hoài cười mãi, rất khôn nguôi!

            Vâng. Ai cũng quyết tâm làm như thế. Nhưng, chữ “nhưng” đây thật vô lối, nhưng lại rất giá-trị, là hỏi rằng: tại sao người nhà Đạo ít cười, không chịu cười nhiều hoặc để mất nụ cười tươi-tắn, cũng đã lâu?

            Để trả lời câu hỏi khá “hóc búa” này, lại cũng mời bạn và mời tôi, ta đi vào vườn “thượng-uyển” có giòng chảy tư-tưởng của đấng bậc, rất nhiều vị, để minh-chứng hoặc xác-minh một khẳng-định rất hợp lẽ. Nhưng –(lại chữ “nhưng” cũng hơi kỳ)- là: trước khi tìm đến câu trả lời thật thoả đáng, thiết tưởng ta cũng nên xem thử Kinh Sách từng nói gì về “nụ cười” rất cần-thiết cho nhà Đạo, qua lời khuyên. Lùng tìm cho lung, chỉ thấy mỗi đôi giòng: 

            “Phúc cho anh em

            là những kẻ bây giờ đang phải khóc,

            vì anh em sẽ được vui cười.”

            (Lc 6: 21) 

Nghe thế, chắc hẳn người nghe những tưởng rằng: nụ cười rộn rã chỉ mỗi đến sau khi nhà Đạo mình đã khóc ròng, nhiều ngày. Sự thật thì, không phải thế. Bởi, đời người có khổ đau nhiều như thánh Gióp ở Cựu-ước, vẫn diễn-tả: 

“Nếu con nói:

con sẽ quên đi lời than thở,

đổi nét mặt mà hớn hở vui tươi.”

(Gióp 9: 27)

 

Hoặc, đoạn khác: 

“Họ chẳng dám tin,

dù tôi có mỉm cười với họ,

nét mặt tôi thay đổi thế nào,

họ chẳng bỏ qua.”

(Gióp 29: 24) 

Vâng. Đạo mình, vẫn chỉ như thế. Như thế, tức bảo rằng: trong nỗi buồn cuộc đời dài, người đời cũng sẽ thấy đời mình kết thúc bằng niềm vui tươi, rất muốn cười.

Vâng. Người nhà Đạo mọi thời, vẫn cứ cầu và cứ xin rất nhiều thứ, nhưng lại chẳng bao giờ nguyện và ngắm để mình nhớ mãi việc cần-thiết nhất với người nhà Đạo, là “cho đi”. Cho, những gì mình đã có nhưng người khác vẫn chưa có. Cho, là không nghĩ đến riêng mình mà nhớ nguời khác dù điều cần thiết đó có là niềm vui nho nhỏ, trong đời mình.

Nói theo kiểu nhà Đạo, thì: “cho đi” là bí-kíp sống giúp mọi người vui-tươi, sống tốt-lành/hạnh-đạo trong đời người đi Đạo rất Kitô thôi. Nói theo kiểu người đời rất buồn rười rượi, chắc cũng chỉ nói bằng lời ca/tiếng hát, rất như sau:  

“Tình như nắng vội tắt chiều hôm

Tình không xa nhưng không thật gần

Tình như đá hoài nỗi chờ mong

Tình vu vơ cho ta muộn phiền

Tiếng thì thầm từng đêm nhớ lại

Tưởng chỉ là cơn say

Đóa hoa vàng mỏng manh cuối trời

Như một lời chia tay...”

(Trịnh Công Sơn – bđd

Giả như nghệ-sĩ ngoài đời cứ say sưa hát nhạc đời, rồi còn gọi đó là cơn say “đoá hoa vàng mỏng manh cuối trời” những muốn cười, suốt một đời, thì: chắc hẳn đời nghệ-sĩ sẽ rất vui, không còn tả oán/vãn than, điều gì nữa.

Giả như người đi Đạo lại cũng mê-say sống đời hạnh-đạo mà “cho đi” rất nhiều điều, chẳng kiếm tìm lợi-lộc gì cho riêng mình, thì đời người và đời mình cũng sẽ khác?

Giả như người ngoài Đạo, vẫn cứ hỏi: người Đạo Chúa cứ mê-say sống đời tìm-kiếm vui-tươi hạnh-phúc, thì sao nhà Đạo mình lại ôm-ấp truyện buồn thập-giá, đấu-tranh, khắc-kỷ, khổ-hạnh và tử-đạo như thế, há nào Đạo Chúa cũng buồn phiền, ít vui tươi?

Và, giả như có người nào đó muốn tìm-hiểu chuyện đời đi Đạo với đấng bậc vị-vọng chuyên suy-tư rao-giảng toàn những chuyện buồn-sầu, chán-ngán hoặc cấm-kỵ, thì nhà Đạo mình nghĩ sao về mục-tiêu của Đạo? Và, trả lời làm sao, khi có người vẫn cứ vấn-nạn về cuộc sống và lời dạy của “Đức Giêsu lịch-sử” bằng đôi giòng vắn gọn, mà thôi không?

Bần đạo bày tôi, thấy mình không có tư-cách trả lời cho vấn-nạn nói trên, như thế, bèn vời đến đấng bậc thày dạy Kinh thánh/thần-học, có được câu trả lời, như sau: 

“Theo tôi, mình nên kể về: Đức Giêsu là Đấng từng sống ở đất miền bị ngoại-bang chiếm đóng rất nhiều năm. Ngài sống chung đụng với giới nông-gia lao-động tới mức chỉ đủ sống và Ngài cũng thuộc vào thành-phần dân lành bị ức-hiếp ngày càng tệ. Xứ sở Ngài sống, là thế-giới có qui-chế không công-bằng và chẳng đồng đều. Với thế-giới như thế, Ngài đề ra lối sống thực-thụ mang thị-kiến thật rất khác.

Ngài mời mọi người hãy cùng Ngài chung sống cuộc đời như thế trong cộng-đoàn tự-do có  biết chữa-lành và sẻ-san cho nhau mọi của ăn/thức uống, ngang đồng và giống hệt nhau. Cộng-đoàn Ngài đề-xướng, có quyền-lợi ngang bằng nhau trước mặt Thiên-Chúa cũng như mọi người. Với đám con trẻ cùng nam phụ lão ấu, những người bị phong cùi cả những người cùng-cực, sầu-khổ vì nhiều thứ, Ngài vẫn mời họ cùng một kiểu: hãy đến ngồi cùng bàn ăn uống với Ngài, để được cứu-chữa và lĩnh-nhận những gì mình từng đem cho người khác. Cộng-đoàn Ngài thiết-lập, cũng tương-tự như Vương Quốc Nước Trời của Thiên-Chúa. Và, toàn dân gian cùng thế-giới cũng đều thế. Giả như Chúa, chứ không phải vua quan người phàm, đều trực-tiếp chịu trách-nhiệm. Đó, chính là ý Thiên-Chúa muốn thực-hiện ở dưới đất cũng như nơi Vương Quốc của Ngài.

Vương-quốc của Ngài được định-hình rất đúng cách, nên thế-gian phàm-trần mới là vấn-đề. Chính vì thế, Đức Giêsu không chỉ nói đến mỗi Vương Quốc, nhưng là thực-tại từng-trải cho mọi người. Ngài cắm chặng thị-kiến Vương Quốc vào đất miền của xã-hội do Ngài thiết-lập. Chính vì thế, thiên-hạ mới coi Ngài là nhân-vật lập ra cuộc cách-mạng không theo nghĩa quân-đội nhưng là xã-hội. Và, Ngài đã chết vì thị-kiến Vương Quốc ấy. Dù Ngài thách-thức rất mực sự sắp-xếp thông-thường về thế giới Ngài thiết-dựng cũng đã làm Ngài bị bắt giam bất cứ khi nào. Chỉ mỗi biểu-tượng Ngài đưa ra về việc phá-hủy đền thờ thôi, cũng đủ tạo cớ cho người Do-thái và quan quân La Mã đã xúi-giục dân-quân mọi người chống lại Ngài. Thật cũng khó tưởng tượng trường-hợp một nông-gia không tên tuổi như Đức Giêsu lại bị chà đạp đến nát bẹp ở đền Giêrusalem dưới thời Caipha và Philatô trị vì.

Những chuyện không ngờ như thế vẫn xảy ra vào cuối đời của bậc nông-dân chân-chính người Do-thái là Đức Giêsu vẫn không là đoạn-kết của mọi sự. Những người từng có kinh-nghiệm về quyền-uy của Thiên-Chúa qua cuộc sống với Đức Giêsu, vẫn tiếp tục trải-nghiệm như thế cả sau khi Ngài chết đi, nữa. Nay thì, quyền-uy ấy không bị giới-hạn bởi thời-gian và không-gian, nhưng vẫn được áp-dụng ở bất cứ nơi đâu với những người nhận ra Thiên Chúa sống-động nơi Đức Giêsu. Đó, là lý-do cho thấy: tại sao sử-gia ngoài đời khôn-khéo và trung-lập như Josephus lại đã chép sử vào cuối thế-kỷ thứ nhất, rằng: “Những người từng đến với Ngài đã yêu thương Ngài ngay từ đầu, vẫn không từ-bỏ tâm tình yêu thương Ngài và dân con của Ngài mãi đến hôm nay, không biến dạng”. (x. Richard G. Watts & John Dominic Crossan, Who is Jesus, w.w.w.wjkbooks.com)

Phối hợp đời đi Đạo vui tươi/cười nhiều với cuộc sống của Đức Giêsu lịch-sử, không là chuyện dễ làm. Không dễ, là bởi hai vấn-đề lâu nay chưa được các đấng bậc “bật đèn xanh“ cho phép, nên cũng khó. Khó hơn cả, là chuyện thuyết-phục mọi người trong/ngoài nhà Đạo vẫn vui tươi sống đời đạo-hạnh cách tươi vui/hấp-dẫn, vẫn là chuyện cần-thiết, rất nên làm.  

Rất nên làm, không có nghĩa có thể làm được và được làm ngay trong lúc này. Tất cả vẫn phải chờ mình có quyết-tâm chọn lựa cuộc sống giống như thế, hay không. Chọn và lựa, rồi sau đó sẽ cộng thêm vào mình sức mạnh của Thần-khí vẫn yểm-trợ mỗi người và mọi người, trong đời. Nghĩ thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta cứ hiên-ngang đứng dậy mà hát lời tâm-huyết, những ca rằng: 

“Cười lên đi em ơi!
Dù nước mắt rớt trên vành môi.
Hãy ngước mặt nhìn đời.
Nhìn tha-nhân ta buông tiếng cười.
Ta không cần cuộc đời.
Toàn những chê bai và ganh ghét.
Ta không cần cuộc đời.
Toàn những khoe khoang và thấp hèn.

Cười lên đi em ơi!
Cười để giấu những dòng lệ rơi.
Hãy ngước mặt nhìn đời.
Nhìn đổi thay ta vang tiếng cười.
Ta không thèm làm người.
Thà làm chim trên rừng hoang vắng.
Ta không thèm làm người.
Thà làm mây bay khắp phương trời.”

(Lê Hựu Hà – Cười Lên Đi Em Ơi

Vâng. Hỡi bạn và hỡi tôi, dù ta không là người “Em” của nghệ-sĩ, hãy cứ cười. Cười, không phải để “che giấu những giọt lệ rơi”, dù không có. Nhưng, là tỏ cho mọi người thấy: mình “không cần cuộc đời, toàn những chê-bai và ganh ghét”, mà chỉ cần nụ cười trong mọi buổi vui. Vui, với mọi người, dù phút chốc có nụ cười góp giọng, trong chuyện đời nhiều lúc cũng đáng cười và rất vui. Vui, như truyện kể ở bên dưới, như sau: 

“Hai vợ chồng Giám đốc nọ đang kể với nhau về đủ thứ chuyện trên đời, vui buồn lẫn lộn, bỗng dưng có tiếng chuông điện-thoại reo trên bàn giấy của Giám đốc. Ông bèn chậm rãi lấy tư-thế của một vị Giám đốc, dõng dạc hỏi:

-Ai đó, Giám đốc nghe đây.

Đầu giây bên kia, có tiếng rất trong lại lanh lảnh, hỏi nhỏ chỉ mỗi câu:

-Anh yêu của em đó hả?

Giám-đốc nhà ta thoáng chốc thấy tâm can mình rối bời, nhưng đã tự-chủ mà hỏi lại:         

-Alô! Ai đó? Danh-sách khen thưởng công-nhân-viên hả? Có rồi đây!

-Sao anh cứ đùa với em hoài mãi thế, Anh còn thương em nữa không, em hỏi thiệt đó?

-Thứ nhất: Nguyễn Hoài Thương, nhé!

-Em đến với Anh ngay bây giờ được không?

-Thứ hai: Lê Văn Kẹt.

-Hay là, Anh qua đây với em lập tức có được hôông?

-Thứ ba, là: Đỗ Thị Bận.

-Thế thì, khi nào Anh mới đến được với em cứ nói đi!

-Thứ tư: Mai Tấn Tới.

-Thế cũng được, mấy giờ Anh tới được hả Anh?

-Cuối cùng, là: Nguyễn Văn Mười Hai.

Tay này, khi xưa là Giám-đốc hãng nước hoa Thanh-Hương, làm ăn lỗ lã nay về làm với hãng mình đấy. Được cái, hắn cũng chịu khó chịu cực.

Nói đến đó, ông Giám-Đốc quay sang người vợ hiền vừa cười vừa nói: Nhân viên văn-phòng, lúc này làm việc bê bối quá, căn dặn đủ điều là thế mà bọn họ cứ ngồi đùa giỡn nói nói cười cười, suốt cả ngày. Bận như thế mà còn cười được, kể cũng lạ, Anh đành chịu!”

Thế đấy! Quan-niệm của quan-chức ở cấp cao vẫn cứ bảo như thế. Như thế, tức như thể khi đã bận rộn, thì dù có siên năng làm việc hoặc vui chơi/ca hát, cũng cấm cười.

Thế mới biết, trong cuộc đời bận rộn suốt quanh năm, nhiều người dù có muốn cũng chẳng dám cười. Chí ít, là người đi Đạo và giữ Đạo ở nhà thờ. 

Trần Ngọc Mười Hai   

Vẫn chủ-trương

đi Đạo phải thoải-mái, vui tươi

Vẫn cứ cười.

Thế mới vui. 

 

 

Suy Niệm Chúa Nhật thứ 17 Thường Niên Năm A 24.07.2011

“Khóc là ủy mị, chết là điên”


“Gây cho hoàn cảnh thêm tươi đẹp”
“Lọc mãi cho hồn trong sáng lên”

(dẫn từ thơ Nguyễn Bính)

Mt 13: 44-52

            Khóc đâu chỉ là uỷ mị. Nhưng còn là, tâm trạng nhà thơ viết về người tình, mình cay đắng. Chết đâu chỉ là khùng điên. Mà còn là, quyết tâm chết cho người tình, mình vẫn yêu. Uỷ mị hay điên khùng, phải chăng là đặc trưng của người nhà Đạo, vào lúc này?

            Trình thuật thánh Mátthêu, nay kể về dụ ngôn, là để nói lên những điều từa tựa như thế. Từa tựa, về ý nghĩa và đích điểm của Nước Trời, ở trần gian. Nuớc Trời trần gian, như thánh Mátthêu từng khám phá, là: tình huống có Đức Giêsu và dân con Ngài, cùng sống. Sống giống Chúa. Và với Chúa. Như thánh nhân đây, cũng từng học hỏi sống khác thường, theo đúng nghĩa sống. Và, thánh nhân thấy mình như người quản gia, cho qua đi những gì thuộc về quá khứ, chỉ giữ lại những gì mới mẻ, vừa khám phá.

Khám phá/tìm ra, như tác giả vừa tìm thấy châu báu nơi ngọc quý, bèn bán đi mọi sự để mua lấy, dù cao giá. Châu báu đây, là những đồ xưa cổ làm nền cho mọi sự việc rất mới. Và, châu báu ở viên ngọc mà thánh nhân nói đến, chính là sự mới mẻ ở mọi sự. Rất quí. Và, càng có giá hơn, khi đó lại là khám phá mới về chính con người, của mình. 

Thánh nhân đây, tuy không còn trẻ, vẫn là người Do thái rất tốt lành. Biết dấn thân theo chân Chúa đến cùng, như mọi người lành thánh, tốt đẹp. Như, đồ đệ đáng tuyên dương của Chúa, mà mọi người vẫn đợi trông.

Thánh nhân đây, đã trở thành tín hữu của Đức Chúa, nhưng vẫn không ngừng là người Do thái chính cống. Rất minh bạch. Bởi thế nên, thánh nhân nghĩ mình cũng là ngôi nhà có giá trị. Để rồi từ đó, thực hiện được cả những điều cũ/mới, vẫn đổi thay. Đổi thay và tháp ghép vào những điều đã cũ ngõ hầu để tạo sự mới mẻ cho những gì mình viết ra. Mỗi lần gặp người mới, thánh nhân đều thấy thế. Và khi gặp người khác nữa, ông cũng trở nên chính mình hơn. Tức, tìm lại được chính mình.

Phần đông trong chúng ta, mỗi khi nhìn vào cuộc sống của chính mình trong quá khứ, đều thấy có những chuyện tương tự. Trong suốt chuỗi ngày dài cuộc sống, ta cũng từng đổi thay. Đổi và thay, để trở thành người tín hữu không như cũ. Vẫn cố thay đổi trong Hội thánh. Thay đổi, thái độ sống. Thay đổi, ý nghĩa của con người mình. Có lẽ ta thay đổi nhiều hơn nhiều người trong quá trình năm trăm năm qua.

Về đổi thay, có người cho rằng như thế cũng là đủ. Và, ta đâu còn sức để đối đầu với thay đổi nữa. Có vị lại thấy mình chưa thay hoặc đổi gì nhiều cho lắm. Cần làm nhiều hơn nữa. Bởi, quá khứ của mình dầu sao cũng chưa khá. Chính vì thế, thánh Mátthêu nay yêu cầu ta ngồi lại với nhau, theo cách ít khi thấy, để suy nghĩ về một đổi thay thật rất mới. Và đó có là một đòi hỏi khá to tát, đối với ta không?

Nhìn vào Giáo hội quanh ta có thể là Hội thánh của ngày mai, hoặc rất chóng, ta cũng thực sự thấy đã có khác. Ít là mặt ngoài. Đây, không nói về đường lối ta phải theo. Mà, chỉ muốn nói đến dấu hiệu cho ta thấy những gì có thể sẽ diễn ra, mai ngày.

Đó là, cảnh thiếu hụt dần số lượng linh mục hoặc tu sĩ, ở nhiều nơi. Hoặc, cũng ít đi, xuất lễ vào những ngày cuối tuần. Hoặc, thường nhật. Sẽ ít đi, số giờ linh mục ngồi toà cáo giải, vì dân con của Chúa nay ít có nhu cầu. Ít đi dần, trưòng hợp người từ nhà gọi cha đến thực hiện phép bí tích. Càng ít dần, cảnh tượng từng cặp và từng cặp thừa tác viên đến gõ cửa mỗi nhà, mà giảng đạo. Ít có chuyện thăm kẻ liệt, ngoại trừ trường hợp khẩn cấp. Hoặc, nhà quàn tự tổ chức tang lễ không có linh mục. Hoặc, vị phó tế vĩnh viễn đứng ra lo việc rửa tội, dù họ không có chức năng.

Và theo thiển nghĩ, cũng sẽ có nhiều đổi và thay khác, như: đám cưới tổ chức ở nhà thờ được sắp xếp, cách khác hẳn. Khác, giờ giấc. Khác, phụng vụ! Việc dạy giáo lý cũng sẽ khác. Và, vấn đề là: ta làm thế nào để dung hoà và ăn ý với những đổi thay, như thế này? Lâu nay, ta vẫn quen với thánh lễ bằng tiếng Anh (hoặc một số người từng như thế); và, quen với cung cách của vị chủ tế quay mặt về phía bổn đạo. Quen, với chuyện không để các tu sĩ hoặc nữ tu đến trường công lập mà dạy học. Quen, với chuyện trường Công giáo không chỉ dạy về những chuyện có liên quan đến Đạo, mà thôi. Và rồi, ta có quen dần với đổi thay này khác không? Và, có thích thế không?

Không phải ai cũng thích. Có số người chỉ muốn tái tạo lập lại quá khứ buồn. Tức, chỉ muốn quay trở về thời xưa cũ, có lối thờ phụng cung kính, cũng rất cổ. Và rất quen. Quen cầu Chúa phú ban nhiều linh mục hơn để giùm giúp. Có số người lại chỉ cảm tạ Chúa về nhiều thứ. Có người vẫn cứ cầu Chúa ban thêm cho mình nhiều ân huệ. Đồng thời, lại cứ chối bỏ chuyện cũ xưa. Trong khi đó, nhiều người khác vẫn cứ theo kiểu xưa lối cũ mà răm rắp giữ Đạo.

Hôm nay, thánh Mátthêu muốn làm một sự khác thường, với người đọc. Thánh nhân muốn đặt sự mới mẻ lên chuyện cũ. Muốn, đem cơ hội đổi mới những chuyện cũ, đã xa vời. Thánh nhân nhận rằng mình đã tìm ra ý nghĩa mới mẻ về cuộc sống. Về Chúa. Và về con người mình. Qua, kinh nghiệm sống. Thánh nhân cũng muốn kể cho người đọc biết kinh nghiệm lòng tin của mình. Về, những gì mình chưa từng nghĩ đến. Chưa từng thực hiện mà lại không phải qua thủ tục hoặc khuôn phép nào hết. Tựu trung, điều thánh nhân muốn nói đến, là: chính ông cũng là một dụ ngôn…

Cũng nên biết, sở dĩ thánh Mátthêu nói thế là muốn người đọc như ta, cũng đều là một thứ dụ ngôn, nào khác.

Trong mấy tuần qua, thánh Mátthêu từng kể cho ta nghe rất nhiều dụ ngôn/truyện kể về cuộc sống. Thánh nhân kể, cũng là để ta lắng tai nghe âm nhạc của đời mình để thấy được sự dồi dào, sung mãn ở nơi Chúa. Thánh nhân mời gọi ta tham gia sự mới mẻ trong cuộc sống, không phải để ta khiếp sợ những mâu thuẫn sẽ thấy nơi tình huống ta đang dấn bước, đi vào đó.

Vì  thế nên, thánh nhân đã định nghĩa lại để ta thấy được căn tính của mình. Làm như thế, có nghĩa: ta là lớp người tuyệt vời hơn mình tưởng. Và, mỗi câu truyện đời của ta, cũng sẽ là những câu truyện lớn rất nên kể. Phải chăng đó cũng là câu truyện dụ ngôn, của mỗi người?

Trong tâm tình đầy cảm kích như thế, cũng nên ngâm thêm lời thơ ta từng ngâm khi trước:

 

                        “Nàng hãy vui đi dẫu một ngày,

                        dẫu phần ba phút, góc tư giây.

                        Dẫu trong thoáng mắt nhìn như chớp,

                        cũng đủ cho nàng quên đắng cay.”

(Nguyễn Bính – Cầu Nguyện)                       

 

Hãy vui đi, dù xảy đến những đổi thay, hay rất mới, ở đời mình. Hãy cứ vui, dù trong thoáng chớp, nhìn như chớp. Vui, để biết rằng Hội thành Chúa vẫn đổi thay. Rất hằng ngày. Ở mọi nơi.

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh

Mai Tá lược dịch.

 

Chuyện Phiếm Chúa Nhật thứ 17 Thường Niên Năm A 24.07.2011 

“Có lứa đôi yêu nhau rồi,”

hẹn rằng còn mãi khôn nguôi.”

(Johann Strauss Jr/Phạm Duy: Khúc Hát Thanh Xuân

(2Cr 13: 11 )

          “Yêu nhau rồi”, thì lứa đôi chắc chắn là sẽ “hẹn mãi khôn nguôi”, như lời dịch của lão gia ngành nhạc, rất họ Phạm. Thật tình mà nói, khi sáng tác nhạc bản này, danh tài Johann Strauss Jr co chọn đầu đề bên tiếng Em (ấy chết, bên tiếng Anh chứ!) là: “When We Were Young” (tức: “Khi ta còn trẻ”) hay không?

Trong khi bên tiếng mẹ đẻ ra bần đạo, thì bậc lão thành nghệ sĩ họ Phạm lại dịch, là: Khúc Hát Thanh Xuân”. Làm như thể, tuổi thanh xuân mới có khúc hát, rất như thế. Chỉ người trẻ mới nói được “nhớ tới câu thương yêu người”, mà thôi.

Bần đạo đây, xin nhân danh các vị cao niên hoặc đứng tuổi, và xin mạn phép bạn Ngọc Trần là người viết lên câu truyện ngăn ngắn ở bên dưới đây, để có lời phản đối, một tí chút. Phản để đối đáp, đối đầu cùng đối chiếu với bạn và với tôi, bằng câu truyện kể rất dễ nể, ở bên dưới mà rằng:

“Ngày đẹp trời nọ, cặp vợ chồng khoảng trên 60, đến văn phòng luật sư làm thủ tục ly hôn. Lúc đầu vị luật sư rất lấy làm ngạc nhiên. Nhưng sau khi nói chuyện với hai vợ chồng, ông cũng hiểu được lý do tại sao, lại có chuyện này…

Hơn 40 năm chung sống, hai vợ chồng luôn cãi nhau, suốt đời. Và, dường như họ chẳng bao giờ đi đến được quyết định đứng đắn nào cả. Họ vẫn chịu đựng nhau như vậy, mãi đến hôm nay là vì con cái. Con cái họ giờ đây đã khôn lớn, có gia đình. Nên, hai vợ chồng già không còn lo điều gì. Họ muốn được tự do sau những năm chung sống, không hạnh phúc. Cả hai đều đồng ý tiến đến ly hôn.

Hoàn tất thủ tục ly hôn cho vợ chồng này, đối với vị luật sư, không phải là chuyện dễ. Ông thực sự không hiểu vì sao, sau 40 năm chung sống, cả hai đã đến tuổi 60 rồi, mà vợ chồng vẫn muốn ly hôn. Đặt tay ký giấy tờ, người vợ bèn nói với chồng:

-Tôi thực sự yêu ông, nhưng không thể sống chung thêm được nữa. Tôi xin lỗi.

-Không sao. Tôi hiểu mà!

Nhìn cảnh này, vị luật sư bèn đề nghị là hai vợ chồng nên cùng nhau đi ăn tối một lần cuối, có luật sư mời. Người vợ nghĩ bụng: “Sao lại không? Ly hôn rồi, mình vẫn là bạn cơ mà…” Bên bàn ăn, là không khí im lặng đến ngộp thở. Món ăn đầu mang ra, là gà quay. Lập tức, người chồng cầm đũa gắp ngay miếng đùi gà trao cho vợ rồi nói:

-Bà ăn đi. Đây là món bà vẫn thích đấy

Nhìn cảnh hai vợ chồng tiếp thức ăn cho nhau, vị luật sư nghĩ bụng: “vẫn còn cơ hội!” Nhưng ngay sau đó, người vợ cau có nói:

-Vấn đề là ở đấy đấy. Ông luôn tự đề cao mình một cách quá đáng. Giờ này mà ông vẫn không hiểu được tâm tư của tôi. Ông không biết là tôi ghét đùi gà đến thế nào sao?

Có một điều mà người vợ không biết, là: bao năm qua, chồng bà luôn cố gắng để làm bà hài lòng. Bà không biết, đùi gà là món ông thích nhất, cũng như ông không biết là bà chưa bao giờ nghĩ là ông hiểu rõ bà hết. Ông không biết là bà thù ghét đùi gà vì bà không nói ra và ông thì chỉ muốn dành những miếng ngon nhất, những điều tốt nhất cho bà, mà thôi.

Đêm đó, cả hai vợ chồng đều không ngủ được. Sau nhiều giờ trằn trọc, ông chồng không thể chịu đựng được nữa, ông biết rằng ông vẫn còn yêu bà và không thể sống mà lại thiếu bà. Ông muốn bà quay trở lại với ông. Ông muốn nói  tiếng “xin lỗi” và “tôi yêu bà”. Ông nhấc điện thoại lên bắt đầu bấm số của bà. Chuông điện thoại reo liên hồi, ông càng tiếp tục giữ máy. Ở đầu bên kia, người vợ cũng thấy buồn. Bà không hiểu điều gì xảy đến sau bao năm chung sống. Ông ấy vẫn không hiểu mình. Bà vẫn yêu ông nhưng không thể chịu đựng cuộc sống như vậy nữa.

Mặc cho chuông điện thoại reo liên hồi, bà không trả lời vì biết rằng người gọi cho bà chính là ông, chứ chẳng ai khác. Bà nghĩ: “Nói làm gì nữa, khi mọi chuyện đã hết. Chính mình đòi ly hôn mà! Đã lỡ ném lao thì phải theo lao, nếu không sẽ mất mặt lắm.” Chuông điện thoại vẫn reo. Nhưng bà quyết định dứt dây nối ra khỏi điện thoại. Bà đã quên một điều là ông từng bị đau tim.

Hôm sau, bà nhận được tin ông mất. Như người quẫn trí, bà chạy nhanh đến nhà của ông, nhìn xác ông nằm sõng xoài trên chiếc đi-văng, tay vẫn giữ chặt cần điện thoại. Ông bị nghẹt máu cơ tim trong khi cố gọi cho bà. Bà vô cùng đau đớn. Một cảm giác mất mát quá lớn phủ trùm lên cả tâm trí bà. Bà phải mau mau thanh toán tài sản của ông. Khi nhìn vào phía trong ngăn kéo, bất chợt bà thấy tờ hợp đồng bảo hiểm đã được lập từ ngày cưới, do ông làm.

Đính kèm tờ hợp đồng, là mẩu giấy có giòng chữ ghi rõ: “Gửi người vợ thân yêu nhất của tôi. Vào lúc bà đọc tờ này, chắc tôi không còn sống trên cõi đời này nữa. Tôi đã mua bảo hiểm cho bà. Chỉ mất có 100 đô thôi. Nhưng hy vọng nó có thể giúp tôi thực hiện lời hứa của mình khi lấy nhau. Tôi đã không thể ở cạnh bà được nữa. Nhưng tôi muốn số tiền này tiếp tục chăm sóc bà. Đó là cách mà tôi cũng sẽ làm nếu như tôi còn sống. Tôi muốn bà hiểu cho rằng tôi sẽ luôn ở cạnh bà. Yêu bà thật nhiều.”

Nước mắt người vợ già cứ thế tuôn rơi. Bà cảm thấy yêu ông hơn bao giờ hết. Bà muốn nói lời “xin lỗi”, và ba tiếng “tôi yêu ông.” Nhưng trễ rồi. Ông không còn nghe được tiếng bà nữa.” (trích điện thư do một người bạn chưa quen gửi hôm 09/06/2011 ) 

          Thế đấy. Chuyện ở trên, tuy không là bằng chứng cụ thể để nói lên điều mà bần đạo muốn nói. Ý bảo rằng: bậc cao niên hay đứng tuổi vẫn có thể nói tuy không thể hát được những lời này:

                                      Ngày ấy khi Xuân ra đời

Một trời bình minh có lũ chim vui

Có lứa đôi, yêu nhau rồi

Hẹn rằng còn mãi không nguôi.”

(Johann Strauss Jr/Phạm Duy – bđd)

          Đã “Yêu nhau rồi, mà lại hẹn: Còn mãi khôn nguôi!” , tức: sẽ không ngừng yêu nhau mãi mãi, dù đói/no, cay đắng/ngọt bùi, hoạ/phúc như lời thề trước Thượng Đế, ngày hợp hôn khi trước.Chính vì thế, người nghệ sĩ mới hứng thú có câu thơ, thêm vào bài hát. Cứ hát rằng

                   “Nhạc lắng hương xuân bồi hồi

Như vì tình ai tiếng hát lên ngôi

Nói với nhau, yêu nhau rồi

Một ngày còn mới tươi môi.”

(Johann Strauss Jr/Phạm Duy – bđd)

          “Còn mãi tươi môi”, hay tốt tươi cuộc đời người sao đó, cũng chẳng ai biết. Chỉ biết có mỗi điều, là: hễ nói về tình yêu tươi mát, lúc ban đầu, thì người người đều sẽ hiểu. Và dễ nhớ. Tuy nhiên, nói về tình yêu có tươi và mát như ba mươi/bốn mươi năm về trước hay không, vẫn là điều chẳng ai dám quyết đoán. Bởi, sau bấy nhiêu năm chung sống, mà còn hiểu nhau, còn đồng ý với nhau về rất nhiều chuyện, đó mới là vấn đề. Đó mới khó. Khó hiểu và khó nói, như lời phẩm bình của người trẻ nọ, về thơ văn/âm nhạc của người mình, như sau:

“Hôm rồi, tình cờ  tôi được nghe cô ca sĩ ở Sydney hát một bài lại được người điều khiển chương trình giới thiệu rằng: bài hát ấy do nghệ sĩ Vũ Thành An sáng tác, đó là “Bài Không tên số 50”. Nghe cô hát, bản thân tôi, lúc ấy thấy ca từ của bài này cũng rất quen, nhưng không nhớ đuợc xuất xứ cùng tác giả lời tiếng Việt, mà chỉ mang máng nhớ mình có đọc một bản dịch từ tiếng Anh ở đâu đó, có ý nghĩa cũng tương tự.

Nay, tìm đọc trong các sách, tôi mới khám phá ra rằng: đây là bài thơ lừng danh của thi sĩ gốc người thiểu số xứ Armênia, từng sinh sống bên hồ Van thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, có tên là Silva Kaputikyan (1919-2006). Những năm về sau, bà chạy sang Nga xin tỵ nạn chính trị; và rồi có chân trong Hàn Lâm Viện Quốc gia của Nga. Bà cũng được Viện Đại Học Cambridge của Anh bình chọn là người phụ nữ tiêu biểu trong năm 1998. Vì bài thơ này quá hay, nên đã có không ít người ghi sai tên thực của tác giả, hoặc cho đó là bài thơ của thi sĩ người Nga nào khác như Olga Bergols, hay thậm chí như Evgueni Evtushenko, hoặc đại thi hào người Nga là Alexander Pushkin (1799-1837) nữa.

Chưa hết, ở Việt Nam có người còn viết rõ ngay trên báo hẳn hòi, cho rằng tác giả là thi sĩ người Đức tên là Heinrich Heine (1797-1856). Có biết đâu rằng, ông thi sĩ người Đức kia chỉ sáng tác bài thơ có tựa đề là “Anh và Em”  với nội dung thật khác hẳn. Kể ra, thì trí nhớ của phận hèn bọn tôi cũng không đến nỗi tệ. Và để chứng minh điều lầm lẫn này, xin trích nguyên văn dưới đây ca từ của bài không tên số 50, để thấy đuợc rằng ca từ của người nghệ sĩ nổi tiếng thời hôm trước có xuất xứ từ đâu ra:

Em bảo : Anh đi đi

Sao anh không đứng lại?

Em bảo : Anh đừng đợi

Sao anh vội về ngay?

Lời nói thoảng gió bay

Ðôi mắt huyền đẫm lệ

Mà sao anh dại thế

Không nhìn vào mắt em

Mà sao anh dại thế

Không nhìn vào mắt em

Không nhìn vào mắt sầu

Không nhìn vào mắt sâu ?

Những chuyện buồn qua đi

Xin anh không nhắc lại

Em ngu khờ vụng dại

Anh mơ mộng viễn vông

Ðời sống nghiệt ngã không

cho chúng mình ấm mộng

Thì thôi xin gửi sóng

Ðưa tình về cuối sông

Thì thôi xin gửi sóng

Ðưa tình về cuối sông

Ðưa tình về với mộng

Ðưa tinh vào cõi không.”

Có thể nói: ca từ của bài hát lần này nghe rất mượt mà, khác hẳn với ca từ ở những “bài không tên khác”, cũng do cùng một nghệ sĩ sáng tác. Có một điều mà nghệ sĩ nói ở đây đã quên sót, là không trích nốt câu thơ chót, vẫn chứa đầy ý tứ hơn. Ý tứ này đã được thi sĩ Xuân Diệu chuyển qua tiếng Việt, thì phải. Ngoài ra, cũng có nhiều bản dịch khác từ bài thơ này, như của Huyền Anh, Trần Đăng Khoa… Tựu trung, chỉ có bản của Xuân Diệu là lột tả được giọng điệu vừa trữ tình vừa nghe như lời thủ thỉ rất can trường, nhưng đầy nữ tính của nhà thơ:

Em bảo : "Anh đi đi"
Sao anh không đứng lại ?
Em bảo : "Anh đừng đợi"
Sao anh vội về ngay ?

Lời nói thoảng gió bay
Đôi mắt huyền đẫm lệ
Mà sao anh dại thế
Không nhìn vào mắt em

Mà sao anh dại thế
Không nhìn vào mắt em
Không nhìn vào mắt sầu
Không nhìn vào mắt sâu ?

Những chuyện buồn qua đi
Xin anh không nhắc lại
Em ngu khờ vụng dại
Anh mơ mộng viễn vông

Đời sống nghiệt ngã không
cho chúng mình ấm mộng
Thì thôi xin gửi sóng
Đưa tình về cuối sông

Thì thôi xin gửi sóng
Đưa tình về cuối sông
Đưa tình về với mộng
Đưa tình vào cõi không.

Em bảo: “Anh đi đi!

Sao anh không ở lại?

Em bảo: “Đợi chờ chi”!

Sao anh xa em mãi?

 

Lời em buông cứng cỏi,

Lệ em trào mắt đen.

Sao anh tin lời nói,

Mà không nhìn mắt em?”

(trích điện thư tâm tình của người trẻ mang tên Anthony Trần, ở Sydney 16.06.2011)

          Trích dẫn nơi đây những tâm tình rất thẳng thắn của người trẻ thích nghiên cứu về lịch sử âm nhạc của Việt Nam , bần đạo chỉ dám trích để phiếm vội đôi hàng về lời thơ và ca từ trong nhạc bản, được chuyển ngữ. Trích và dẫn, để bà con mình có được đôi phút thư giãn và thả lỏng con người, sau những ngày bàn luận cũng khá căng về thần học, với học thần. Tức, học về những gì là thần thiêng, siêng chăm, cũng rất thánh. 

          Trần tình với bạn và với tôi như thế rồi, nay bần đạo xin mạn phép được nói thêm về một thứ trần tình hay tình trần của người phàm trần đã có dịp hát lên cuối của bài hát mang tên “Kúc Hát Thanh Xuân” , có những lời đuợc lập đi lập lại như sau:

Rồi nắm tay cùng nói vui
Những câu êm êm không rời vai.
Rồi lả lơi, hình dáng ai
Khuất xa biến vào nẻo khơi.

Từ đó khi xuân tái hồi
Cho bùi ngùi thương nhớ tới xa xôi.
Nhớ tới câu thương yêu người
Một ngày tuổi mới đôi mươi .”

(Johann Strauss Jr/Phạm Duy – bđd)

          Nói đi thì lại nói lại, là nói những lời như trên, chỉ để kết hợp với lời nói làm bằng về những điều mà tác giả nọ vẫn cứ bảo “Cuối Cùng Cho Một Tình Yêu”, của các thánh ở nhà Đạo. Và, nói đi thì lại nói lại lần nữa, là nói thêm đôi điều của thánh nhân rất “cao cả” của Hội thánh, từng có những lời như sau:

“Anh em hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện.

Hãy khuyến khích nhau,

hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hoà.

Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an,

sẽ ở cùng anh em.

(2Cr 13: 11 ).

          Và, một khi đã nắm chắc được như lời thánh nhân khẳng định, rằng: “Thiên Chúa là nguồn yêu thương, sẽ ở cùng anh chị em” , thì ta cứ tha hồ mà nói và hát. Miễn là lời nói và hát của tôi và của bạn, không làm phiền hà, một ai hết. Cũng không là “Cớ vấp phạm” cho ai hết, đích thật là điều vẫn nên nói, và nên hát. Chí ít, là hát và nói những “Khúc hát (rất) Thanh Xuân”. 

          Trần Ngọc Mười Hai

          Ở tuổi này

          chừng như vẫn còn tập nói và hát

          những lời lẽ rất yêu đương,

          của những người đương yêu

          như bao giờ.

dongcongnet-sưu tầm 19-7-2011

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)