dongcong.net
 
 

Hai đoản khúc suy tư August 22, 2014

Suy tư tuần thứ 22 mùa  thường niên năm A, lại thấy có giòng thơ những ngâm rằng: 

“Mới hay hương vị nhiệm màu,”

                                        Môi chưa nhắp cạn, mạch sầu đã tuôn.”
Thơ ngâm rồi, người lại hát, những lời như:

“Chiều trên phá Tam Giang,”

anh chợt nhớ em”.
Nhớ ôi niềm nhớ, ôi niềm nhớ,
đến bất tận em ơi! Em ơi!”
 
Thế mới biết, Hương nhiệm màu tuy chưa nhắp cạn, mạch sầu nhung nhớ những Phá Tam Giang hay nhớ người Em đến bất tận, vẫn là hương là vị của niềm nhớ, rất thân yêu.
Thế đấy, là tâm tình thân thương xin được gửi đến bà con trong Nước Trời Hội thánh, rất chân thành.
Mai Tá 
 
 

Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ 22 Thường niên năm A  31-8-2014

 

“Mới hay hương vị nhiệm màu,”

Môi chưa nhắp cạn, mạch sầu đã tuôn.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

 

Mt 16: 21-27 

Hương vị nhiệm màu lâu nay, vẫn là vị hương sầu buồn, với người đời. Hương vị nhiệm màu ở nhà Đạo, mai ngày sẽ là vị hương vinh phúc thánh-sử tỏ bày ở trình-thuật vào ngày của Chúa, rất hôm nay

Trình thuật Lời Chúa hôm nay, thánh-sử Mát-thêu lại cũng đề-cập đến vinh/nhục – hoạ/phúc là do con người có biết hiện-thực lời Chúa dạy hay không, mà thôi.

Vinh/Nhục - Họa/Phúc: bốn ý từ, một thực tại. Thứ thực tại lưỡng nguyên, luôn diễn tả hai mặt đối xứng của cuộc đời. Một đời người có thể bắt đầu bằng Họa để rồi khết thúc bằng Phúc. Hoặc ngược lại. Nếp sống người đời vẫn cứ thế diễn tiến bằng những giờ phút thăng trầm, nhục/vinh – vinh/nhục.

            Vào buổi kiểm trại ở Dã Châu, viên cai ngục phát giác ra có đến 6 phạm nhân vượt trại bị bắt và nhốt vào khu biệt giam, chờ ngày lãnh án hành hình. Đào thoát vượt trại, là vi phạm nặng nội quy; nên, hình phạt sẽ sớm được công bố và xử lý bằng những biện pháp tàn bạo.

Người ta bốc thăm tên tuổi nạn nhân, cùng lúc với các tử tù khác, đem đi hành tội. Đã có 12 người bị đưa đi xử lý bằng biện pháp phơi nắng, bắn bỏ. Đứng quan sát 12 bạn đồng cảnh đang hổn hển thở dốc, có tiếng nhỏ nhẹ, nhưng cũng đã lọt tai những người đang sống thân phận hiu hẩm. “Trời đâu, nay có thấu?”

Ai cũng nghe tiếng thở dài, nhưng không một ai có câu đáp trả. Vạn vật rơi vào chốm im ắng, lặng thinh. 12 xác phàm bắt đầu nổi cơn kinh giật, dãy dụa. Tìm khí trời hít thở. Lúc ấy, người bàng quan tiếp tục thị sát. Một lần nữa, lại có tiếng thở dài, lần này gấp hơn: “Trời đâu, nay có thấu?” Và, một câu khác phụ họa: “Ôi Lạy Chúa! Nay Ngài ở đâu?... Rõ ràng Ngài có mặt, ở đây mà!...”

            Tiếng thở dài đây, chính là niềm tin mà Tin Mừng hôm nay đề cập đến. Đạo của Chúa là Đạo duy nhất trên thế giới, mang niềm xác tín tin rằng: Đức Chúa là Đấng mặc xác phàm loài người, có xương có thịt. Ngài chấp nhận khổ đau như người thường. Thậm chí, Ngài còn nối tiếp con Đường Ngài đi, bằng cách chấp nhận cái chết khổ nhục, là để vực dậy cuộc sống.

            Quả là, con người đã thuần hóa mặt xấu của thập giá ngay khi biện luận rằng: hôm nay, tiếng xấu ấy vẫn dai dẳng trên thân xác người phàm. Cũng có lúc con người tự hỏi: giả như Giê-su Đức Chúa phải ngồi ghế điện chịu cuộc hành hình, thì ta có dám đeo mang hình thù ghế điện quanh cổ, hay không?

Nhưng, khi ta tìm cách thuần hóa thực chất của cuộc hành hình, mà Đức Kitô cam chịu tại Giêrusalem, thì bản chất của khổ đau nơi cuộc sống mỗi người, không thể bị thương-mại-hóa một cách trần tục và nhẹ nhàng, như thế được.

            Tín hữu Đức Kitô, không thể đồng một ý nghĩa với các kẻ khổ dâm, mặt mày vẫn mỉm cười trơ trẽn, như thế được. Chúng ta không thể bị coi như đồng nghĩa với kẻ say sưa, yêu thích sự đau khổ. Trái lại, chúng ta là người chấp nhận khổ đau vì lý tưởng cao cả, mà thôi.

            Ta được Đức Chúa mời gọi nhìn nhận các khổ đau của cuộc sống, như cơ hội, để một lòng trung kiên theo gương Ngài, mà đưa vai gánh chịu. Khổ và nhục, còn là cơ hội để ta đồng cảm với những người đang sống đau buồn, cùng một thế giới với ta. Điều này, nói dễ hơn làm.

Khi ta đồng cam chịu cực trong cuộc sống của riêng mình, thì lúc ấy, không dễ gì ta nhớ đến người khác, dù chỉ trong tư tưởng hay trong đầu, thôi. Tuy nhiên, nếu đặt đau khổ và cực hình vào bối cảnh chung của cuộc sống, để biết rằng ta không chỉ đau khổ một mình, thì bấy nhiêu thôi cũng đủ giúp ta nguôi ngoai, an ủi.

            Đã từ lâu, ta được khuyến khích để hiểu rằng mọi đau khổ, cực hình vẫn có thể là cơ hội tốt, giúp ta trưởng thành trong yêu thương, đùm bọc. Nếu hiểu thập giá ta đang gánh vác, như trường lớp dạy ta biết về lòng yêu thương mặn nồng, thì như thế, là ta đã học được nhiều điều bổ ích về chính con người mình; và về Đức Chúa. Có như thế, ta mới có thể giúp kẻ khác gánh vác thập tự, họ đeo mang.

            Tuy thế, gánh vác thập giá cùng khổ đau, không chỉ là mang lấy cho mình những đớn đau thể xác, khổ nhục cá nhân, dục tính hoặc cực hình, tinh thần hoặc cảm xúc, mà thôi. Đó có thể, là tự mình xẻ bớt các quà tặng cũng như tài năng mình vẫn có. San sẻ, cả tình yêu riêng biệt lẫn những xót thương hiền hòa.

Mỗi khi có quà tặng, ta luôn thấy có kèm theo đó, những gánh nặng và trọng trách phải thực hiện. Rập theo khuôn mẫu Đức Kitô đã làm, chúng ta được mời đến, để chia xớt những món quà trời cho, mà mình đang có, hầu san xẻ một cách dũng cảm với những ai đang cần hơn ta; dù cho có phải chia sẻ đến phút cuối, cuộc đời mình.

            Ngày nay, nhiều người vẫn cứ than: hình ảnh về Chúa Mẹ của ta, thường bị bóp méo được đem ra như miếng kẹo dẻo rất ngọt, dễ ăn và dễ nuốt. Nhưng, Tin Mừng hôm nay cho thấy: mọi việc đều không phải như thế.

Bước theo vết chân mòn làm đồ đệ của Đức Chúa, không có nghĩa là chuyện ngon ăn, nhưng vẫn là “lưỡi dao” sắc cạnh, gây khổ đau, không ít.

Thế giới hôm nay, hẳn không có ơn gọi nào mang tính mời mọc khẩn thiết hơn, là lời mời chấp nhận khổ đau trong hành trình tin tưởng, trung kiên yêu thương và từ bỏ chính con người mình.

            Trong lúc ta đón nhận vác khổ giá và theo chân Đức Chúa, ta không làm việc ấy một mình. Nếu để ý, sẽ thấy ngay việc đó và sẽ khiêm tốn đủ, để chấp nhận một cách đúng đắn rằng, Đức Kitô đang quanh quẩn bên ta. Ngài sẽ cùng với ta bước từng bước chân dù đi vào đường mòn khổ đau như ta. Có như thế, ta mới cảm thấy dễ chấp nhận khổ giá của mình.

            Trong cảm-nghiệm những điều như thế, ta lại sẽ ngâm lên lời thơ đã ngâm dở, mà rằng:

 

            “Mới hay phong-vị nhiềm-màu,

Môi chưa nhấp cạn, mạch sầu đã tuôn.

Ớ Địch ơi, lệ có nguồn,

Hãy chia bớt nửa nỗi buồn sang tôi.”

(Hàn Mặc Tử - Bến Hàn Giang)

 

Nhà thơ những muốn san sẻ nỗi buồn của người đời sang với mình. Sầu buồn sẻ san như thế, đã chắc gì làm vơi đi nỗi buồn sầu của người khác. Có sẻ san chăng, cũng nên san sẻ không chỉ nỗi buồn, mà cả niềm vui có Chúa dẫn dắt, có bạn đạo thân thương cùng trải-nghiệm đỡ nâng, mới thật đúng.

Mong rằng Vinh/nhục – Hoạ/Phúc ở đời, sẽ là cơ-duyên để mọi người sẻ san mãi khôn nguôi, suốt đời người. Thế mới đúng.

 Lm Richard Leonard sj

Mai Tá lược dịch.

 

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 22 mùa Thường niên năm A 31-8-2014

“Chiều trên phá Tam Giang,”  

anh chợt nhớ em”.
Nhớ ôi niềm nhớ, ôi niềm nhớ,
đến bất tận em ơi! Em ơi!”

                (Trần Thiện Thanh/Tô Thùy Yên – Chiều Trên Phá Tam Giang)

(Ga 13: 33)

“Niềm nhớ” nói ở đây, có thể anh đang nói về người nghệ sĩ mà anh chợt nghĩ đến vào chiều hôm đó, ở Tam Giang? Tuy, anh nhớ nhiều đến như thế, cũng chỉ là nỗi niềm nhung nhớ của tuổi trẻ đương yêu về chuyện yêu đương khi còn ở nhà, mà anh giữ mãi như sau: 

            “Giờ này, thương xá sắp đóng cửa,

người lao công quét dọn hành lang.

Giờ này, thành phố chợt bùng lên,

để rồi tắt nghỉ sớm.

Ôi Sàigòn, Sàigòn giờ giới nghiêm!

Ôi Sàigòn, Sàigòn mười một giờ vắng yên!

Ôi em tôi, Sàigòn không buổi tối!”

(Trần Thiện Thanh/Tô Thùy Yên – bđd

Ôi thôi là nỗi nhớ! Nỗi niềm thương nhớ ở tuổi vẫn còn yêu chỉ mỗi thế thôi, sao? Hay, anh còn nhớ rất nhiều thứ mà người em của anh từng diễn-tả hôm trước, cũng rất thơ: 

“Giờ này, có thể trời đang nắng,

em rời thư viện đi rong chơi.

Hàng cây, viền ngọc thạch len trôi,

nghĩ đến ngày thi tương-lai thúc-hối.

Căn phòng nhỏ, cao ốc vô-danh

rồi nghĩ tới anh, rồi nghĩ tới anh,

nghĩ tới anh.”

(Trần Thiện Thanh/Tô Thùy Yên – bđd

Nỗi nhớ đến là thế, mà sao anh cứ hát điệu bi-ai, tiếc nuối đến bồi-hồi, như thế? Người đời nay rày cũng nhớ, nhưng chỉ nhớ những gì xảy ra vào thời cũ/xưa, khi đời người lại đổi thay cũng rất chóng, như nguời viết còn ghi mãi, những điều sau đây: 

“Chủ đề tôi đặt ra ở đây, đi thẳng vào chuyện dạy dỗ con cái, như vẫn thấy ở ngoài đời. Tất cả chúng ta đều biết, nó như một chiến-trường, ở đó có bậc làm mẹ nọ quyết chiến-đấu chống vị chủ-trường để bảo-vệ con em mình. Điều đáng nói ở đây, là cung-cách giảng-dạy về sinh-lý/tính-dục và giáo-án này lại đính kèm dụng-cụ giáo-dục buộc phải đưa vào nơi giảng dạy bằng tiếng Anh, đã gây “sốc” cho nhiều người, trong đó có tôi.

Ngay đến sách giáo-khoa về khoa-học viết cho con trai tôi học, đã được chuẩn-thuận dùng ở các trường tư-thục giỏi vào bậc nhất tỉnh-lỵ, lại cũng thấy một số chương đoạn đã sai-sót khi nói về chuyện sinh-đẻ của người mình.

Phản-ứng đầu-tiên của các bậc cha mẹ biết đề-cao cảnh-giác với cách dạy sinh-lý ở học-đường, quyết phản-chống lối giảng-dạy do trường đề ra, rồi quyết-định tự đưa con mình ra khỏi môi-truờng ấy đem chúng về dạy tại nhà hoặc ở đâu đó, tương-tự thế. Rõ ràng là, các bậc cha mẹ có ý-thức vẫn là nhà giáo có thiên-chức tự-nhiên biết dạy những điều cần dạy, cho con em mình về các đề-tài khá tế-nhị. Ngay đến chính-quyền có tư-cách, như ở Anh quốc, cùng đều thấy như thế, mới là chuyện phải làm.

Thật ra thì, đường lối chính-đáng dẫn-đưa ta, mang tính phản-chống hơn là dễ bảo, vẫn dạy rằng: làm cha/làm mẹ tức mới là nhà giáo chính-đáng, chứ nhà trường chỉ có trọng-trách thứ-yếu đứng ở hậu-trường, giúp họ thêm thắt đôi chút mà thôi”. (xem thêm Louise Kirk, Teaching children the facts of life, MercatorNet 24/6/2014) 

Kể cũng lạ. Vai-trò của nhà trường và thày/cô nay khác thời cha ông ta khi xưa vẫn có quan-niệm rằng nhà trường cà thày cô có trọng-trách dạy dỗ con mình nên người. Thành thử, nhà trường và thày cô, được học trò và gia-đình kính nể, nên vẫn nói: “Nhất tự vi sư bán tự vi sư”, tức: một chữ cũng là thày, nửa chữ cũng là thày.

Kể cũng lạ. Đây không là nhận-định tư-riêng của ai đó, mà điều lạ bắt gặp được lại là ý-tưởng phản-bác/đối-kháng đường-hướng giáo-dục ở đâu đó, bên Tây/Tầu. Có điều lạ nữa là: ở trời Tây, hôm nay, mọi nguời sống ở đây có quyền nói lên ý-nghĩ riêng của mình, dù ý-nghĩ ấy không cùng khuôn-phép với chính-phủ, tôn-giáo hoặc cơ-quan giáo-dục nào đó ở các nơi khiến người sống vào mọi thời nhớ mãi đường-hướng/ý-tưởng được đưa ra, ở thời trước.    

Trong chiều-hướng nhớ về “thời buổi trước” khác hẳn bây giờ, có tác-giả lại đưa ra ý-kiến về việc giáo-dục giới trẻ thời hôm nay vốn chịu nhiều thiệt-thòi từ nhiều phía, như sau: 

“Ngày nay, tại xứ sở mang tên Úc Đại Lợi này, vẫn thấy thứ “im lặng dễ sợ” xuất từ các nhà lãnh-đạo của ta, cả về chính-trị, xã-hội, tôn giáo lẫn pháp-luật. Đó là thứ im-lặng đang gia tăng về cung cách tạm-bợ có liên-quan đến các quan-hệ nam-nữ có con cái dính-dự.

Nếu có dịp nói chuyện với các vị phụ-trách trông nom những người bị thiệt thòi về nhiều thứ, ta sẽ biết nhiều câu chuyện khác nhau, như chuyện họ từng chứng-kiến các hệ-quả đem đến cho con trẻ được nuôi dưỡng từ bậc mẹ cha có quan-hệ bất thường hoặc bất ổn. Các hệ-quả như thế đều ghi chú bằng các nhu-liệu đích đáng, ở Úc này…

Một số các nhà nghiên-cứu kháo-sát ở Úc như Lixia Qu và Ruth Weston thuộc Cơ-quan có tên là The Australian Institute of Family Studies đã nhận ra rằng: các gia-đình trẻ có cha mẹ chung sống không hôn thú xem ra có khả-năng tăng gấp ba về gẫy đổ so với các gia đình có cưới hỏi đàng hoàng. Các nhà nghiên-cứu nói trên cũng đề-cập đến trường-hợp con trẻ ở với bậc mẹ cha chung sống không hôn thú đã bị lọt lại đằng sau, so với những đứa sống với cha mẹ có hôn thú đàng hoàng. Tụt lại phiá sau, cả về cảm-xúc xã-hội lẫn phát-triển chung chung, như: trình-độ học-vấn nghèo nàn, chậm lụt; có vấn-đề về hạnh-kiểm cũng như kinh-nghiệm được dạy dỗ, kém hơn các em khác…

Tóm lại, qua báo-cáo của các nhà nghiên-cứu nói trên, thì: hiện nay, đang có sự chia-cách rõ nét giữa người được giáo-dục tốt có khuynh-hướng chịu lập gia-đình chịu sinh con sau đó; trong khi đó những người thuộc tầng-lớp xã hội có kinh-tế thấp hơn, dường như xuất-thân từ quan-hệ vợ-chồng chung sống không hôn-thú….” (xem thêm Bettina Arndt, The Unspoken Truth About Marriage and Kids, The Majellan Family July-September 2014, tr. 15-17)

Nói về sự-kiện xã-hội có liên-quan đến giáo-dục con trẻ, như trên, chỉ cốt để nói rằng: nhiều lúc bậc cha mẹ ngoài đời lại đã quên mất chức-năng nuôi-dưỡng/giáo dục con em mình. Về niềm nhớ như thế, là nhớ và nói khác kiểu của người nghệ-sĩ chỉ muốn hát câu tình tứ rất ư tình-tự như: 

“Giờ này có thể trời đang mưa,

Em đi dưới hàng cây sướt mướt

nhìn bong bóng nước chạy trên hè

như đóa hoa nở vội.

Giờ này em vào quán nước quen,

nơi chúng ta thường hẹn

rồi bập bềnh buông tâm trí

trên từng đợt tiếng lao xao.

Giờ này thành phố chợt bùng lên

Em giòng lệ bất giác chảy tuôn

nghĩ đến một điều em không rõ,

nghĩ đến một điều em sợ không dám nghĩ

đến một người đi giữa chiến tranh

lại nghĩ tới anh,

lại nghĩ tới anh,

nghĩ tới anh...”

(Trần Thiện Thanh/Tô Thùy Yên – bđd

Chừng như nghệ sĩ ở đời, thường nghĩ nhiều và nhớ nhiều những điều như thế. Như thế, tức nhớ về người anh và người em mà mình đang yêu da diết, rất khó quên.

Chừng như nhà Đạo mình lại đã không như thế. Nhà Đạo mình, vẫn nhớ nhiều và suy nhiều về những điều được ghi trong Kinh Sách, rất như sau: 

“Hỡi anh em là

những người con bé nhỏ của Thầy.

Anh em đừng xao xuyến.  

Hãy tin vào Thiên Chúa

Và tin vào Thày.”

(Ga 13: 33) 

Điều quan yếu, được đấng bậc thánh-hiền trong Đạo ghi chú để mọi người nhớ, là như thế. “Tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”, mỗi khi làm việc gì, đều phải thế. Và những điều, mà tín-hữu Đức Kitô “tin vào Thiên-Chúa” và “tin vào Thày” là phải sống đời giản-đơn như con trẻ. Sống thế rồi, để rồi sẽ học được cung-cách sống thích-hợp với đời đi Đạo.

Sống giản-đơn đời đi Đạo, là dám dấn thân vào chốn nguy-nan, để gặp người/gặp mình, trong tình-huống gian-nan khốn khó như vẫn gặp. Sống giản-đơn/chân-phương, còn là sống trong thinh-lặng có nguyện cầu, qua nền văn-hoá sống-động, không sợ hãi.

Sống giản-đơn/chân phương, còn là và nhất là sống như con trẻ, không hãi sợ, nhưng vẫn tươi vui, dù các hiểm-nguy/đe doạ đang trờ đến, ở trước mắt.

Sống giản-đơn/chân phương là sống vui vẻ với người yếu thế, thấp kém, nghèo hèn, nhưng vẫn vui. Vui, vì biết rằng có Đấng Nhân Lành ở trên cao, hằng nhớ đến mình và mọi người, trong mọi trường hợp.

Sống giản-đơn/chân phương là sống như mọi người ở mọi hoàn-cảnh, dù gặp khó khăn, khốn khó. Khó khăn và khốn khó, cả trong việc hoà hợp, hội-nhập vào với nền văn-hoá, đạo giáo, rất khác mình.

Sống giản-đơn/chân phương cả vào khi mình khám-phá ra tính-chất rất “Đạo” cũng hài-hoà, nhẹ nhõm như Tin Mừng hiền hoà mình gặp ở Lời Chúa.

Và, sống giản-đơn/chân phương như mọi người vẫn sống theo cách thương yêu hoà hoãn ta bắt gặp, như truyện kể để minh hoạ, như bên dưới: 

“Truyện rằng:

Một cậu bé xuất hiện trước cửa hàng bán chó và hỏi người chủ cửa hàng: “Giá mỗi con chó là bao nhiêu vậy bác?

Người chủ tiệm trả lời:

-Khoảng từ 30 tới 50 đô la một con!”

Cậu bé rụt rè nói:

-Cháu có thể xem chúng được không ạ?”

Người chủ tiệm mỉm cười rồi huýt sáo ra hiệu. Từ trong chiếc cũi, năm chú chó con bé xíu như năm cuộn len chạy ra, duy có một chú bị tụt lại sau khá xa. Ngay lập tức, cậu bé chú ý tới chú chó chậm chạp, hơi khập khiễng đó. Cậu liền hỏi:

-Con chó này bị sao vậy bác?

Ông chủ tiệm giải thích rằng nó bị tật ở khớp hông và nó sẽ bị khập khiễng suốt đời. Nghe thế, cậu bé tỏ ra xúc động:

-Đó chính là con chó cháu muốn mua.

Chủ tiệm nói:

-Nếu cháu thực sự thích con chó đó, ta sẽ tặng cho cháu. Nhưng ta biết cháu sẽ không muốn mua nó đâu.

Gương mặt cậu bé thoáng buồn, cậu nhìn thẳng vào mắt ông chủ cửa hàng và nói:

-Cháu không muốn bác tặng nó cho cháu đâu. Con chó đó cũng có giá trị như những con chó khác mà. Cháu sẽ trả bác đúng giá. Thực ra, ngay bây giờ cháu chỉ có thể trả bác 2 đôla 37 xu thôi. Sau đó, mỗi tháng cháu sẽ trả dần 50 xu được không ạ?

-Bác bảo thật nhé, cháu không nên mua con chó đó”, người chủ cửa hàng khuyên. “Nó không bao giờ có thể chạy nhảy và chơi đùa như những con chó khác được đâu.

Ông vừa dứt lời, cậu bé liền cúi xuống vén ống quần lên, để lộ ra cái chân trái tật nguyền, cong vẹo được đỡ bằng một thanh kim loại. Cậu ngước nhìn ông chủ cửa hàng và khẽ bảo:

-Chính cháu cũng chẳng chạy nhảy được mà, và chú chó con này sẽ cần một ai đó hiểu và chơi với nó.


Cậu bé, với chiếc chân trái phải mang khung thép trong suốt bốn tháng qua, về đến nhà, trên tay ôm một chú cún con. Chú cún này bị tật ở xương hông, nên chỉ có thể đi được những bước khập khiễng.

Việc cậu bé chọn mua một chú cún bị tật khiến bố mẹ cậu vừa ngạc nhiên, vừa xót xa vì thương cảm. Nhưng điều khiến họ ngạc nhiên hơn nữa, đó là từ ngày có người bạn mới, cậu bé như trở thành một con người khác, lúc nào cũng tươi vui, tràn đầy hy vọng.

Ngay từ ngày đầu tiên đón chú cún về nhà, cậu bé đã cùng mẹ đến gặp bác sĩ thú y để tìm ra cách chữa trị tốt nhất cho cún con. Bác sĩ khuyên rằng, nếu cậu bé chịu khó xoa bóp, kéo căng chân cún đều đặn mỗi sáng và dắt chú đi dạo ít nhất một dặm mỗi ngày thì các cơ xung quanh chiếc hông bị vẹo của cún con sẽ dần trở nên mạnh khỏe. Cơ may trở lại bình thường của cún con là hoàn toàn có thể và tùy thuộc rất nhiều ở cậu bé.

Mặc dù chú cún cứ rên rỉ khó chịu mỗi lần cậu bé xoa bóp chân cho chú, và dù cậu luôn cảm thấy chân trái đau nhức mỗi khi dẫn cún đi dạo, nhưng trong suốt hai tháng trời, cả hai đã nghiêm túc tập luyện theo chế độ phục hồi dành riêng cho họ. Vào tháng thứ ba, cả hai đã có thể đi được ba dặm mỗi sáng trước khi cậu bé đến trường mà không hề cảm thấy đau chân tí nào.

Vào một sáng thứ bảy, khi cả hai đang trên đường trở về sau buổi tập như thường lệ, thì bất thình lình, một chú mèo nhảy ra khỏi bụi cây bên đường khiến cún con hết sức hoảng hốt, chú nhảy chồm lên, giật tung dây xích ra khỏi cổ rồi phóng như tên bắn ra giữa dòng xe cộ. Cún con va phải một chiếc ô tô, bị hất tung lên vệ đường. May mắn thay, chú chó vẫn còn thoi thóp thở. Ghì chặt người bạn nhỏ yêu thương vào lòng, cậu bé đi nhanh về nhà, không để ý thấy khung thép bên chân trái của mình đã bong ra tự lúc nào.

 
Mẹ cậu tất tả đưa chú chó đến viện thú y. Trong khi cậu bé đang lo lắng chờ đợi bên ngoài, mẹ cậu ôm cậu vào lòng, nghẹn ngào nói trong nước mắt:

-Con không để ý thấy điều gì ư? Con đã có thể đi lại bình thường được rồi đấy!

-Sao lại như vậy được hả mẹ? Cậu bé ngạc nhiên.

-Con trai của mẹ, con bị viêm tủy xương. Người mẹ giải thích.

-Căn bệnh này khiến chân con ngày càng yếu, nhưng nó không thực sự là một căn bệnh nan y nếu con quyết tâm vượt qua nỗi đau đớn và tích cực tập luyện hàng ngày. Con biết điều ấy, nhưng con lại không tin vào chính mình. Con luôn chống cự không để bố mẹ giúp con điều trị, cả bố và mẹ cũng thực sự không biết mình nên làm gì nữa. Nhưng chú cún con đã làm thay đổi mọi thứ. Kỳ diệu thay, khi con giúp chú chó, con cũng đang tự giúp chính mình để trở nên mạnh mẽ và trưởng thành hơn.

Ngay lúc đó, cánh cửa phòng mổ hé mở. Bác sĩ thú y bước ra tươi cười thông báo:

- Cháu có thể yên tâm, chú chó của cháu sẽ sớm khỏe lại thôi!

(trích từ http://hon-viet.co.uk/CauBeVaConChoNho.htm

Quả đúng như lời kể nhẹ ở trong truyện, có những sự thật vẫn còn đó trong đời người, như câu nói: Kỳ diệu thay, khi con giúp chú chó, con cũng đang tự giúp chính mình để trở nên mạnh mẽ và trưởng thành hơn”.

Kỳ-diệu hơn nữa, còn là ý-tứ và ý/từ cứ bảo rằng: Khi mình giúp người khác, là mình đang tự giúp mình, cũng rất nhiều.

Bởi thế nên, khi hát những ca từ mang ý-nghĩa về nỗi niềm nhung nhớ chợt loé sáng ở bài “Chiều trên phá Tam Giang”, là người nghe hát lại cũng nhớ nhung/nhung nhớ về ề một nỗi niềm nào đó rất tư-riêng.

Bởi thế nên, hỡi bạn và hỡi tôi, ta cứ hát lên điệu hát của bài này, để rồi tự khắc sẽ nhớ da diết như người nghệ-sĩ đã từng hát câu: 

“Chiều trên phá Tam Giang,

anh chợt nhớ em.
Nhớ ôi niềm nhớ,

ôi niềm nhớ,

đến bất tận em ơi!

Em ơi!”

(Trần Thiện Thanh/Tô Thùy Yên – bđd

Bởi thế nên, khi chợt nhớ người em nhỏ ở nhà vẫn cứ bận rộn với “thương xá” với “thành phố đã giới nghiêm”  là nhớ rất nhiều thứ. Nhưng có một thứ, một điều mà người hát cũng như người nghe ít nhớ đến hơn cả, là những điều được bạn bè thu thập từ nhiều nguồn, nay ghi lại để bạn nhớ mà giữ, mà thương cho nỗi nhớ chóng quên của mình. Điều đó, vẫn có những điểm giản-đơn, chân-phương mà người ghi gọi là “Toa thuốc tuyệt vời” cho mọi người, cứ kể rằng:  

“Có một toa thuốc rất hay cả về tinh thần lẫn thể xác. Chúng ta cùng nhau tập dùng thử:

I. Sức khỏe

Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) định nghĩa: “Sức khỏe là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất và hoàn cảnh, chứ không phải là một tình trạng không có bệnh tật hay tàn tật”.

II. Bí quyết trường thọ
1. Chấp nhận với những gì mình đang có
2. Thích nghi với hoàn cảnh của mình 
3. Điều chỉnh để đạt được điều mong muốn.

III. Phòng ngừa bệnh tật
1. Không vui quá hại tim
2. Không buồn quá hại phổi
3. Không tức quá hại gan
4. Không sợ quá hại thần kinh
5. Không suy nghĩ quá hại tỳ
6. Xua tan hoài niệm cay đắng bằng tha thứ và lãng quên 
7. Với người cao tuổi tránh tranh luận hơn thua.

IV. Thức ăn & uống trong ngày:
Một củ hành: chống ung thư
Một quả cà chua: chống tăng huyết áp
Một lát gừng: chống viêm nhiễm
Một củ khoai tây: chống sơ vữa động mạch
Một trái chuối: làm phấn chấn thần kinh, bớt lo âu, chống táo bón, giảm được béo
Một quả trứng hay ít thịt nạc: chống suy dinh dưỡng
Uống 1 đến 2 lít nước mỗi ngày: giải độc cơ thể.

V. Triết lý của người Trung Hoa hiện đại:
1. Một Trung Tâm là sức khỏe
2. Hai Tí: Một tí thoải mái – Một tí nhiệt tình
3. Ba Quên: Quên tuổi tác – Quên bệnh tật – Quên hận thù
4. Bốn Có: Có nhà ở – Có bạn đời – Có bạn tri âm – Có lòng vị tha.
5. Năm Phải: Phải vận động Phải biết cười Phải lịch sự hòa nhã Phải biết nói chuyện và Phải coi mình là người bình thường.

VI. Bảo Sinh Thái Ất Chân Nhân
1. Ít nói năng để dưỡng Nội Khí
2. Kiêng sắc dục để dưỡng Tinh Khí 
3. Bớt ăn hăng mạnh để dưỡng Huyết Khí 
4. Đừng nhổ nước bọt để dưỡng Tạng Khí 
5. Chớ giận hờn để dưỡng Can Khí 
6. Chớ ăn quá độ để dưỡng Vị Khí 
7. Ít lo lắng để dưỡng Tâm Khí 
8. Tránh tà tâm để dưỡng Thần Khí.

VII. Hãy Dành Thì Giờ
Những lời khuyên từ Mẹ Thêrêsa Calcutta:
Hãy dành thì giờ để suy nghĩ. Đó là nguồn sức mạnh.
Hãy dành thì giờ để cầu nguyện. Đó là sức mạnh toàn năng. 
Hãy dành thì giờ cất tiếng cười. Đó là tiếng nhạc của tâm hồn. 
Hãy dành thì giờ chơi đùa. Đó là bí mật trẻ mãi không già. 
Hãy dành thì giờ để yêu và được yêu. Ưu tiên Thiên Chúa ban.
Hãy dành thì giờ để cho đi. Một ngày quá ngắn để sống ích kỷ.
Hãy dành thì giờ đọc sách. Đó là nguồn mạch minh triết. 
Hãy dành thì giờ để thân thiện. Đó là đường dẫn tới hạnh phúc. 
Hãy dành thì giờ để làm việc. Đó là giá của thành công. 
Hãy dành thì giờ cho bác ái. Đó là chìa khóa cửa thiên đàng.”
(trích điện thư trên mạng) 

Nghĩ thế rồi, hỡi tôi và hỡi bạn, ta cứ quyết gì thì quyết, miễn sao đời mình sẽ vui và sẽ tươi suốt chuỗi ngày còn lại của đời mình. Cho đáng sống. Với mọi người.

Trần Ngọc Mười Hai
Rất tạ ơn Người,
tạ ơn đời
vì có được quyết-tâm mới
Rất như thế.

 

 

Tuần thứ 22 thường niên, cùng với giới trẻ khắp nơi trên thế giới, ta cứ hát "Đường đi đã tới, lòng dân đã nối", để rồi lại ngâm những lời thơ có "Cây quế trong rừng", hát "vang lừng tiếng nhạc", "của mùa xuân". Xuân tuổi trẻ, ở Madrid. Xuân miên trường, Ở thánh hội. Những nơi, những buổi cùng các thánh ca vang mừng ngày hội ngộ, có Chúa ở cùng.

Trong tâm tình mừng vui ấy, xin gửi đến bà con anh em ở khắp nơi đôi lời nguyện cầu hiệp thông, rất thân và rất thương, suốt miên trường. Vĩnh cửu.  

MaiTa
www.giadinhanphong.com

 

“Đường đi đã tới! Lòng dân đã nối!” 

“Người tạm dừng bước chân vui, người ơi!”

(Phạm Duy – Con Đường Cái Quan) 

(Mt 28: 19-20/Ga 14: 5-14)

          Đã lâu lắm, bần đạo mới lại có dịp  -nói đúng hơn, mới có thì giờ-  mở băng/dĩa ra nghe lại bản trường ca “Con Đường Cái Quan”, của Phạm Duy.

          Về bản trường ca này, bạn trẻ Anthony Trần đã có đôi lời giới thiệu tác giả và trích đoạn trường ca “Con Đường Cái Quan” trong buổi trình tấu nhạc thính phòng “Hát Cho Nhau Nghe” ở Sydney hôm 4/6/11 như sau:

“Theo em thì, “Con Đường Cái Quan” là bản trường ca đắc ý nhất của nhạc sĩ Phạm Duy, trong đó ông đưa ra ý tưởng về “Tình Mẹ Việt Nam” như một giòng sông bắt nguồn từ miến Bắc, chảy chầm chậm ngang qua vùng đồi núi nhấp nhô miền Thượng du chập chùng, để rồi đến tận miền Trung, dạt dào chảy về sông Cửu Long và ào ạt tuôn ra biển, mang theo tình tự của Con Đường Cái Quan nay đã tới! Lòng dân đã nối...”

          Nói về “Con Đường Cái Quan”, không chỉ là nói và hát về những con đường đất nước “Nối liền lòng dân”, thôi. Nhưng, còn nói và hát về “Con Đường” của dân tộc. Nên, nghệ sĩ họ Phạm đã mời bạn và mời tôi, ta “dừng chân đứng lại”, để nghe người em “xin than đôi lời!” “Đi đâu vội (thế) mấy anh ơi!”

          Hát về “Con Đường Cái Quan”, không chỉ là hát và nói về đường đời của mọi người. Ở quê mẹ. Mọi thời. Mà, người ấy/thời ấy vẫn luôn thấy những lời, nghe như sau:

                             “Người mơ ước tới,

                             Đường tan ranh giới.

                             Để người được mãi

                             Đi trong một duyên tình dài!”

                             (Phạm Duy – bđd)

          Về “Duyên tình dài”, với “Đường Cái Quan”, vẫn là thế. Vậy mà trước đó, bần đạo lại những tưởng: văn chương/ngôn ngữ người đời vẫn nói lên tình tự của đời người. Một đời, có ước mơ của người con đất nước những mong được đi trên “Đường (rất) Cái Quan”, để mà tới. Và, sẽ thấy “đường tan ranh giới”, người người “được mãi đi (và đi mãi) trong một duyên tình dài!” Nay, ngồi nghĩ lại ca từ tràn đầy thi tứ ấy, rày đã hỏi: phải thế không em? Thật thế không anh? Hay, đó chỉ là văn chương thời cổ, vẫn hồi nào? Xưa cổ một thời, như lời người nghệ sĩ rày kết đoạn bài thơ:

                             “Con đường thế giới xa xôi,

                             Trong lòng dân chúng nơi nơi!”

                             (Phạm Duy – bđd)

          Với người đời, thì “con đường” thế giới có xa xôi, vẫn ở “trong lòng dân chúng nơi nơi”. Thế còn, con đường nhà Đạo có hằn in như thế không?

          Như mọi lần, mỗi khi gặp phải câu hỏi “hơi” gay go, bần đạo lại chọn tư thế cũng rất dễ để rồi sẽ bảo:”Hỏi, tức đã trả lời”, rồi. Nay, sau chuyến công du đường dài xuyên qua gần phân nửa địa cầu, từ Sydney đến xứ Mễ-si-tình...(rất nhiều) cô, rồi bay về đất miền U-ét-A, rất ư là Hoa kỳ, bần đạo đã bắt đầu thấy ngại ngần, rất lần thần. Nên, cứ lửng lơ con cá (rất) vàng, đang bơi lội. Chứ, không còn bạo miệng nói nhanh và nói mạnh như ngày nào nữa. Chí ít, là khi gặp phải lời quả quyết cũng khá “căng” của ai đó, cứ bảo:“Không ăn cắp, không phải người Mễ, không đi trễ cũng chẳng phải ...người Dziệc mình!” để rồi dám tỏ bày sự bất đồng nho nhỏ, để bác bỏ.

          Bác và bỏ, là vì bần đạo nay nhận ra rằng: điều này không còn đúng với tình hình thực tế rất chung chung, ở nhiều nơi trên thế giới. Với thời buổi, nơi nào cũng có kẻ cắp ê hề, mà chẳng gặp bà già. Chỗ nào, cũng tràn đầy những người cứ luôn muộn màng, trễ nải cả giờ lễ. Thành thử, bần đạo nay dám mạnh miệng hỏi người/hỏi mình rằng: nên chăng nói lên điều nghịch chống, khi bàn và hát “Con Đường Cái (rất) Quan”, toàn nhà Chúa?

Các “Đường Cái (rất) Quan (lại)” ở nhà Chúa, vẫn thấy khó để có thể hát mãi ca từ được nghệ sĩ già họ Phạm viết ở đoạn cuối, hát rằng: “Đường đi đã tới!”, “Lòng dân đã nối!” Tức,một khi đã quyết dấn bước, thì “Đường Cái Quan (lại)” nhà Đạo mình, có đi hoài và đi mãi, cũng chẳng tới. Và, lòng người đi Đạo, có nối hoài và nối mãi, cũng khó mà “đạt” được điều mình ước nguyện.

          Một trong những điều mà dân con nhà Đạo vẫn cứ ước và nguyện, là: có dư và có đủ mọi đấng bậc chức sắc, hoặc đức thày, ngõ hầu người người có thể tiếp tục phục vụ thánh hội rất kết hợp của Đức Chúa, trong tinh thần hiền hoà. Bình yên. Bình bình và yên vui, theo tinh thần noi theo lời Thầy khuyên nhủ ở đoạn cuối Tin Mừng theo thánh Mát-thêu:

                             “Vậy anh em hãy đi

và làm cho muôn dân trở thành môn đệ,

(Mt 28: 19)

          Lời nhủ khuyên “Anh em hãy đi” được trích ở đây, là bước thăng trầm hãnh tiến trên “Đường” đời cũng rất Đạo, quyết qui tụ muôn dân trong họ ngòai làng, thành đồ đệ. Tức, thành những Kitô khác, rất Nước Trời. “Anh em hãy đi và làm”, là đi mà thực hiện ý định của Cha để dân con nhà Đạo mình ở khắp nơi sẽ trở thành đồ đệ thứ thiệt, như Ngài muốn.

          Kể cũng lạ! Hôm trước ngày chịu nạn, Thầy cứ bảo: “Ai có tai để nghe, hãy nghe!” Thật ra, tai thì ai mà chẳng có. Nhưng, “có tai để nghe” lại thấy rất ít. Rất ít và cũng hiếm, cả những người có được bộ phận “để nghe, hãy nghe”, rất như thế. Trong khi đó, miệng để nói, lại thấy rất nhiều. Và rồi, sau ngày Thầy sống lại về với Cha, Thầy còn nhủ: “Anh em hãy đi và làm...” Kể cũng vui! Ai mà chả có chân để đi. Nhưng, có chân thật đấy, mà sao người người vẫn sử dụng nó chỉ để đi chơi. Dạo phố. Hoặc, đi rất mạnh bạo vào chốn chết người. Nơi, có những thú vui xác phàm, rất tầm thường. Vật chất. Thế nên, đã mấy ai trong đời những “đi và làm”, cốt để bàn dân thiên hạ thành đồ đệ Chúa, rất hăng say?

          Kể cũng hay! Người thời nay, vẫn cứ đi. Nhưng, họ có đi nơi này/chốn khác, cũng chỉ để giúp mình trở thành “Giáo hoàng tự phát”, có quyền sinh quyền sát lên hết mọi người, ở trong làng hoặc dưới huyện. Nào đã mấy ai rất muốn “đi và làm” cho mọi người thành đồ đệ Chúa. Hăng say. Mọi ngày. Hầu, trở thành Đấng đầy tớ của tớ đầy của Chúa. Thực là thế.

          Lại, nhìn vào thực tế nhà Đạo, hẳn người người cũng đều thấy đã có tín hiệu không mấy lạc quan về tình trạng dân con muốn thực thi lời trăn trối của Thầy bằng hành xử, rất quyết tâm. Hành xử, không như lời nghệ sĩ họ Phạm từng khẳng định điểm tới của “Con Đường (rất) Cái Quan” bằng ca từ được hát đi hát lại, nhiều lần:

“Đường đi đã tới! Lòng dân đã nối.

Người tạm dừng bước chân vui, người ơi!

Đường đi đã tới! Lòng dân đã nối.

Người tạm dừng bước chân vui, người ơi!”

                             (Phạm Duy – bđd)

          Quả là thế. Một khi đã dấn bước lên đường để “đi và làm” cho người người trở thành đồ đệ Chúa, thì lúc ấy mọi người đều thấy “đường (hãy đi và làm) đã tới”, “lòng dân đã nối!”. Nối kết, một phấn khởi. Và, người người “tạm dừng bước chân vui”, không biết mỏi. Và, sẽ mãi tươi vui, với “Đường” nhà Đạo, đích thực là Đường Chúa định.

Còn nhớ, về “Con Đường” thực tế ở nhà Đạo, bạn bè thân quen trong giới đấng bậc ở Úc, có lần từng lên tiếng:

“Đường là phương tiện giao thông để ta đến với nhau. Nếu không có “Con đường” thì không ai đến được với ai. Hoặc, nếu con đường nào cũng bị hư hỏng, tắc nghẽn thì việc đến với nhau có thể cũng sẽ gặp gian truân, trắc trở. Tuy nhiên “Con Đường” càng thênh thang rộng mở, thì cạm bẫy càng nhiều. Bạn không tin cứ nhấn hết chân ga trên những con đường siêu tốc, sẽ thấy ngay hiệu quả!

Dĩ nhiên, nói đến “Con đường” thì không phải chỉ là những con đường bằng đất, tráng nhựa, hay xi măng, bê tông cốt sắt. Cũng không chỉ là những con đường ở mặt đất, trên sông biển, hoặc nơi vòm trời, mà phải kể đến những con đường quan trọng hơn như: đường tình, đường thiêng liêng. Và, như anh chị em biết, trên con đường tình ta đi, anh chị và các bạn cũng cần vượt qua mọi gian nan trở ngại để đến với nhau. Và, ta thường nghe: "Yêu nhau, mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua". Trái lại, khi “con đường tình ta đi” bị cách trở, đó là lúc đôi tình nhân lại sẽ ủi an nhau bằng ca từ: ‘tình chỉ đẹp khi còn dở dang’, thôi. 

Đường đời có những chỗ quẹo, khúc quanh rất bất ngờ mà ít ai trong chúng ta lại mong nó xẩy đến. Đó có thể là những thất bại trong công chuyện làm ăn. Con cái tự nhiên nổi chứng: đứa này hư hỏng, đứa kia nghiện ngập, đứa khác bỏ học, v.v.. khiến mình phải đối diện với thực tế những phản bội hay lừa dối người thân. Hoặc, người thân của mình lạị mắc phải các chứng bịnh hiểm nghèo, Hoặc, gặp khó khăn trắc trở đủ loại dù chỉ xẩy ra trong thời gian rất ngắn, nhưng mức tàn phá của nó lại rất dễ sợ. Nó làm ta mất đi niềm tin; và ở vào tình huống tương tự, ta lại phải tìm phương thế khác nhanh gọn để giải quyết: như tìm quên lãng trong men rượu, hoặc, quay về với cờ bạc, ma tuý còn tệ hại hơn thú vui thân xác để giải sầu và trốn chạy mọi khó khăn. Để rồi, cuối cùng tất cả mọi phương thức theo “con đường” tắt đó, đều dẫn họ đến ngõ cụt; và để lại một hậu quả có sức tàn phá đậm sâu, lâu dài lên cuộc sống của ta. (x.Lm Mai Văn Thịnh,CSsR Chúa là Đường cho ai? DIA số 74 ngày 01/06/2011 www.giadinhanphong.com)

Lại nhớ, vào những năm sau 1975, bần đạo được xem cuốn phim mang tên “sám hối” của xã hội chủ nghĩa, trong đó có đoạn chiếu một cụ bà đứng giữa ngã ba đường hỏi người qua lại rằng: “con đường cụ đang đứng, có dẫn đến nhà thờ không?” Và khi cụ nhận được câu trả lời là “Không!”, cụ bèn nói: “Đường mà không dẫn đến “nhà thờ”, thì để làm gì? Và bần đạo cũng nhớ lời phẩm bình của cố Gs Nguyễn Ngọc Lan lúc ấy cũng có lời phê, rằng: “Cả cuốn phim mang tên “Sám hối”, có mỗi câu này là giá trị nhất!”. Cũng nên hiểu chữ “nhà thờ” đây không chỉ theo nghĩa đen, mà còn là cung cách sống đạo. Là, trở thành Kitô-khác.

Nay nghĩ lại, bần đạo thấy rất đúng. Sự thực ở đời thường, mọi sự có là “Con Đường Cái Quan” hay “Con Đường (Bố) Cái (Đại) Quan” đi nữa, mà không dẫn về với Nước Trời/Nhà của Chúa, cũng chỉ là con đường một mai sẽ tuột dốc, không “phanh”. Tức, không bố thắng. Chẳng còn cần thiết cho ai hết. Nói gì đến “lòng dân đã nối” kết, yên vui, người ơi!.

Và ở đây, một lần nữa, lại xin dẫn thêm lời bàn cuối của người anh em đấng bậc nhà mình, rất như sau:

Chúng ta đươc mời gọi cùng đi con đường của Chúa. Đó là bài học Chúa dạy. Ngài là Đường. Là, Sự Thật. Và, là Sự Sống. Ngài là Con Đường Duy Nhất dẫn ta về nhà Cha. Ai muốn đến với Cha phải qua Ngài. Trước thách đố quyết liệt của Tin Mừng như thế, Thánh Philiphê cũng không hơn gì Tôma, dù đã ở với Đức Giêsu, nhưng các thánh vẫn không nhìn ra Chúa là Con Đường Sư Sống dẫn ta vào Cuộc Sống viên mãn của Thiên Chúa. Bởi, như Tin Mừng thánh Gioan vẫn nói: “Ai thấy Đức Giêsu là thấy Cha. (Ga 14: 5-14) (x. Lm Mai Văn Thinh CSsR, bđd)

          Cuối cùng là như thế. Sự thật là như vậy. Những cái thế vậy, của cuộc đời. Đời thực tế rất thật, Như mọi sự thật trong đời. Của mọi người.

          Để minh hoạ cho khám phá khá xưa này, cũng nên về với truyện kể sau đây:

“Ngày nọ, có gia đình bác nông dân kia gồm hai vợ chồng và một con trai, quyết định cùng nhau lên đường về quê thăm dân cho biết sự tình. Họ thuê một chú lừa con để đi đường, cho tiện.

Thoạt vừa đến ngôi làng đầu tiên, đã thấy dân làng bàn tán rất xôn xao:

-Coi kìa! Nhìn gia đình thiếu văn hoá kia, họ để đứa trai trẻ là thế ngồi chễm chệ trên lưng lừa. Trong khi bố mẹ thì già mà cứ là còm cõi kéo lừa nặng. Nghe lời đàm tiếu khó nghe, người vợ bèn nói với chồng mình:

-Tốt hơn, không nên để thiên hạ đàm tiếu về con trai yêu dấu của mình, e rằng con mình sẽ mang tiếng suốt đời.

Thế là, người chồng đỡ con xuống, rồi chính mình ngồi lên lưng lừa cho đỡ miệng tiếng. Kịp đến làng thứ hai, lại nghe thiên hạ dị nghị:

-Kìa xem! Cái tay dẫn lừa bần tiện kia. Ai đời, lại cứ để vợ con mình è cổ kéo lừa cho mình sung sướng, ngồi chễm trệ ngang nhiên như thế chứ!

Nghe vậy, toàn gia quyết định để người vợ ngồi lên lừa đi một quãng khá dài, còn hai cha con chịu khó kéo lừa đi thăm làng khác. Đến nơi, lại nghe thiên hạ phẩm bình:

-Thật tội! Đám này chắc suốt cả ngày làm việc cặm cụi đến quên cả thở nên mới phải cuốc bộ để cho vợ ngồi không, sung sướng! Đúng là kiếp đàn ông tối ngày ở đợ, cũng rất hèn. Sao mà họ lại có thể chịu nổi người đàn bà biếng nhác, đến là thế.

Cuối cùng, họ quyết định cả ba đều ngồi trên lưng lừa, tiếp tục đi. Đến làng kế cận, lại thấy người trong làng cứ thế bàn tán:    

-Trông kìa! Đám người này chắc thuộc loại biếng nhác tệ hơn cả loài thú. Không chừng, chú lừa con này sẽ gãy xương, chỉ vì họ…

Sau hết, cả ba quyết định xuống lừa, cùng đi chung với loài thú, cho đỡ bị nói. Tới làng khác, cũng lại nghe:

-Bà con cô bác lại đây mà xem, đám người ngu si đần độn này, có lừa mà không biết hưởng, cứ là phải cuốc bộ để lừa vinh thân!…

Và, cả nhà đều nghĩ: sao mình làm gì cũng bị người đời chê bai bình phẩm đến thế. Bộ, họ không có việc gì để làm hay sao thế? Sao cứ suốt ngày ngồi bình phẩm lẫn chê bai người khác, không vậy?.”

Nghe hỏi, hẳn bạn và tôi, ta cũng thấy ở đâu đó một lời bàn. Từ người kể. Để rồi, nghĩ lại, mới thấy triết lý dấn bước lên đường vào đời, dù có đi trên “Con đường cái quan” hay “đường đời đi Đạo” hay chăng nữa, cũng chẳng làm sao tránh khỏi thói đời miệng tiếng, rất thị phi.

          Tựu trung thì, sống ở đời, dù đi theo con đường nào đi nữa, chỉ nên theo lập trường mình đã chọn. Cứ hành xử theo lương tâm chỉ dẫn. Hoặc cứ cảm nhận thỏai mái, theo ý mình. Cũng như vậy, ta nên nhường đường, nhịn lối cho người khác được đi. Giúp họ “đi tới” bằng những chọn lựa, chứ không chỉ theo đúng con đường mình đã lỡ chọn.

Bởi, “đường đời” ta đi, cuộc đời ta sống, luôn là bi kịch không cho phép ta lập lại một điều gì. Dù đó có là sơ hở nhỏ. Thế nên, hãy cứ hát cười. Cứ, yêu thương và cứ sống sao cho trọn mọi thời khắc cuộc đời. Sống từng công đoạn của “đường đời”. Dù, đường ấy có là “con đường cái quan”, hay chỉ là đê làng bé nhỏ. Cũng thế.

          Và hạnh phúc trên đường đời đi Đạo, của bạn và của tôi, cũng tuỳ vào chọn lựa của mỗi người. Có thế thôi.

          Trần Ngọc Mười Hai

          Nay học được nhiều điều

          từ “Con Đường Cái Quan”.

          Của đời mình.

Suy Niệm Chúa Nhật thứ 22 Thường niên năm A 28.08.2011

“Hôm nay cây quế trong rừng,

 “bỗng nhủ cùng làn suối bạc,”

“xuân này tôi khoác áo nhung”

“mà hát vang lừng tiếng nhạc.”

(dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Mt 16: 21-27

Có là cây quế trong rừng, cũng chỉ vang lừng tiếng nhạc với suối bạc, thôi. Nếu là cây quế trong Đạo, lại sẽ vang lừng cả tiếng thơm hay tiếng hát về vị thánh cả ở trình thuật hôm nay. Trình thuật, nay nêu rõ câu chuyện và công việc của thánh cả Phêrô để người người suy tư, bàn bạc.

          Suy và bàn, tập trung vào đấng thánh có chỗ đứng quan yếu trong Giáo Hội là Phêrô thánh nhân, rất tông đồ. Thế đó, là vị thánh xuất thân từ ngành nghề có lưới có chài, và cá mắm. Đấng thánh sống ở Caphanaum xứ biển hồ, rất Galilê. Với ánh nhìn của thánh sử Luca, thì thánh Phêrô thuộc loại “chậm lụt” về văn chương, văn hoá với văn nghệ. Chậm và lụt, về khoa ăn nói, thưa gửi lẫn trần tình.

Thánh Mát-thêu nay cho thấy thánh cả Phêrô là lãnh tụ khá bình thường của nhóm hội đồ đệ theo Chúa giảng rao về Nước Trời. Nói khác đi, ngài là người giản dị. Cứng cỏi. Lại chậm hiểu.

          Đức Giêsu từng nói với thánh nhân và đồ đệ đồng hành về kế hoạch do Cha đưa ra mà Chúa phải thực hiện cho bằng được ngang qua sầu buồn. Khổ đau. Và, nỗi chết trên thập tự. Trong khi đó, thánh cả nhà Đạo vẫn nghĩ Thầy mình là Đấng Mêsia Thiên Sai tựa hồ Đavít xưa, tức: ứng viên siêu phàm cho chính trường Do thái. Để rồi, rất thất vọng khi Thầy Chí Ái bộc lộ kế hoạch Chúa Cha đề ra. Tức, Ngài sẽ bị thảm sát chết nhục, vốn vượt quá sức tưởng tượng của đồ đệ bình dân, chân chất.         

          Và rồi, thánh cả Phêrô lại cứ nghĩ rằng Thầy mình chỉ gặp ngày xui tháng hạn, nên mới sử dụng chức năng do Thầy tặng ban cho riêng mình. Đó là lúc thánh nhân tỏ ý phiền hà, và khuyến cáo Thầy. Sai lầm của thánh nhân là ở chỗ: không nhận chân được vị trí của mình. Tức, thay vì chỉ biết theo chân Thầy như các đồ đệ khác, nhưng lại “lanh chanh” “qua mặt” làm “kỳ đà cản mũi” Chúa.

          Rất nhiều lần, Tin Mừng cho thấy chân tướng đích thật của thánh cả nhà mình là đấng thánh không ổn định về quan điểm/lập trường vốn chống đối những gì mình không hiểu hoặc không muốn xảy đến. Thánh nhân từng lẫn lộn nhiều thứ, như: việc đi trên nước. Việc xây 3 lều tạm để Chúa ở, khi thấy Thầy mình biến hình. Rồi, còn chối bỏ Thầy và anh em những ba lần. Sau này, còn để thánh Phaolô phải tái lập trật tự vì thánh cả nhà mình từ chối ngồi cùng bàn với dân ngoại.         

Nay, thấy Thầy mình dùng ngôn từ gắt gao và dữ dằn mà quở mắng, thánh nhân không ngờ sao mình lại dám khuyến dụ Thầy bỏ ý định nghe lời Chúa Cha mà chấp nhận thất bại dẫn đến nỗi chết trên thập tự. Thật sự, thì thánh cả Phêrô chỉ muốn Thầy chọn con đường hoạn lộ, thênh thang mở, thay vì con đường nhỏ chỉ gồm mỗi con lộ tẻ hạn hẹp, là sự chết.

          Nghĩ chuyện của thánh cả Phêrô trong vai trò lãnh đạo Hội thánh khiến ta suy về cung cách hành xử của thánh hội, trong quá khứ và hôm nay, không khác gì lối xử sự rất kẻ cả, kiểu “Đá Tảng” rất Phêrô. Hội thánh lâu nay quản cai dân con mình bằng cung cách phàm trần, như: quảng cáo rầm rộ, quyên góp tối đa, nặng phần trình diễn, theo sát bài bản ngành tâm lý chiến, đặt nặng công tác tiếp cận thị trường, thay vì chấp nhận thập giá đau thương, trầm lặng.

Trên thực tế, Hội thánh ngày nay chỉ muốn thiết dựng loại hình thừa tác rất bán buôn, thay cho công việc thừa tác đặt nặng lên cung cách phục vụ. Vẫn cứ chọn kiểu “mì ăn liền” nhanh gọn kiểu hưởng thụ. Trong khi đó, vẫn đặt gánh nặng trên lưng kẻ khác, thay vì chấp nhận thương đau cho chính mình. Hội thánh những muốn phô trương một giáo hội sùng mộ chuyện hình thức, không đích thực. Những muốn sống thoải mái, ăn trên ngồi chốc, được người người kính trọng, hầu hạ mà thôi.

          Nhìn vào lịch sử, thì thánh cả Phêrô đã muốn thuyết phục Thầy hành xử theo kiểu người phàm, và tưởng rằng với vai trò Thầy trao ban, mình có thể khuyến dụ Thầy mình. Khuyên dụ Thầy bỏ rơi kế hoạch do Cha trao phó. Là, đừng làm nhiều. Chỉ cần làm “dân thường” nhà Đạo, mọi việc rồi cũng xong. Và, thánh cả vẫn muốn khuyên Thầy sống thực tế, để mọi việc rồi cũng qua đi. Cũng đạt kết quả, thôi.     

          Nhưng, Đức Giêsu không đồng quan điểm với thánh cả Phêrô. Ngài tỏ bày cho thánh nhân bằng lời chân tình thời đại, rằng: “Nếu anh chọn quan điểm của các nhà chính trị chuyên lo cho người nghèo luôn bị áp bức, thì các người ở trên chỉ tạm thời theo anh, rồi họ sẽ dùng anh làm quân cờ để giảm hạ phẩm cách của anh và rồi sẽ vắt chanh bỏ vỏ, thôi. Nhưng, nếu anh thực tình lo cho người nghèo, anh không thể phản bội những người ấy, mà phải trung tín với họ. Giới cầm quyền ở trên có ghét bỏ hoặc xoá tên anh. Hãy để mặc Chúa lo, chỉ cần sống trung thực với chính mình và với họ, anh sẽ thành công.

          Thánh Phêrô không nắm bắt được quan điểm của Chúa. Vậy, ai lĩnh hội được đây?

          Đức Giêsu rất kiên trì. Ngài như đang nói với thánh Phêrô một điều tuy không lạ, nhưng vẫn quen: “Anh chưa là đá tảng, nhưng nếu trên đá đó có ai giống hệt như anh, thì cuối cùng ra Ta cũng sẽ và cũng có thể dựng xây thánh hội, do Ta muốn.”  

Cuối cùng ra”, là ngôn từ mang trọn ý nghĩa này, là: khi ta học chấp nhận hậu quả do mình quyết tâm thi hành, thì như thế. Ta có thích làm thế hay không, chẳng vì thập giá là điều tốt hoặc đáng nể sợ. Nhưng, vì tình thương và sự quyết tâm luôn là những điều tốt đẹp nên làm cho kẻ mình thương yêu, muốn giúp. Thế nên, thánh cả phải xử sự theo đúng ý định của Chúa ngõ hầu mới trở thành đá tảng để mọi người dựa dẫm ngang qua con đường cam go của mình.

          Có thể là, các “đá tảng” thánh hội lớn/nhỏ trong Hội thánh vẫn chưa đối xử với người hèn kém trong đời và với những người quyết tâm dấn bước theo mình, như thánh cả là vì chính mình chưa giáp mặt thực trạng thống khổ mà Chúa lĩnh chịu. Các thánh cả trong thánh hội lớn/nhỏ hôm nay đã và đang trở nên như cát vụn hơn là đá tảng cho mọi người dựa dẫm. Thứ cát vụn không thích hợp để làm nền cho bất cứ ai. Bất cứ thứ gì. Khi xưa, đấng-thánh-là-đá-tảng đã tham dự cuộc thống khổ đầy cứu độ của Chúa, đã khóc hết nước mắt cho nhân loại thế nào, thì các “đá tảng” của thánh hội lớn/nhỏ hôm nay, cũng phải làm như thế mới tiếp tay rải tràn ơn ấy đến với người ở dưới được.

          Thánh cả Phêrô đã thực sự học được điều ấy, thấy rất rõ. Sách Công vụ kể rằng thánh nhân rời Giêrusalem vào niên biểu 43, tức 13 năm sau ngày Thầy mình chịu khổ hạnh trên đồi Calvary. Và, sau khi thoát khỏi ngục tù và rồi lưu lạc qua Antiôkia, thánh cả đã gặp nhiều khó khăn trong việc đảm trách các vụ việc mang tính chính trị của người theo Đạo vào thời đó. Cuối cùng ra, thánh nhân cũng về lại Rôma, mà sinh hoạt. Và, truyền thống Hội thánh công nhận rằng thánh Phêrô hiểu rõ ý định của Thầy nên đã chấp nhận tử đạo vào thập niên 60, ở La Mã. Chính ở nơi đây, các sử gia trong Hội thánh đã tìm ra địa điểm thánh cả chịu hành hình, và yên nghỉ. Khi ấy, là thời bạo chúa Nêrô hoành hành, bách hại.

          Kịp đến thế kỷ thứ tư, hoàng đế Constantin mới ra lệnh xây một thánh đường trang trọng để tưởng nhớ thánh cả, ngay tại địa điểm ấy. Đó là Đền thánh Phêrô hiện tại, được xây ngay bên trên mộ phần của thánh nhân. Trong lịch sử, nhiều thánh tích của thánh cả Phêrô từng được cất giấu nơi mộ phần ngài cũng được bốc lên đặt bên trong bức tường của đền thờ. Ngay như bàn thờ kính thánh nhân cũng được đặt phía bên trên mộ phần của ngài. Và ở phía cao bên trên nóc, vẫn còn hàng chữ ghi rõ: “Này Phêrô, con là Đá tảng, trên Đá này Ta sẽ dựng xây thánh hội của Ta”.

          Thánh Phêrô thực sự hiểu được ý nghĩa của lời Thầy phán bảo. Và, thánh hội vẫn đứng vững trên đá tảng của sự học hỏi, hiểu biết như thế. Thế nhưng, giống như thánh cả Phêrô, hội thánh còn phải làm nhiều việc hơn nữa mới đạt được điều mình học hỏi. Thánh hội, cần tìm ra những gì mà tình thương yêu người nghèo đòi mình phải làm. Nhất thứ, đừng bao giờ bỏ qua hoặc đặt nhẹ lập trường/quan điểm về những đòi hỏi dù gắt gao hơn thế nữa.

          Trong tinh thần học hỏi này, cũng nên ngâm thêm lời thơ mang đầy tính những học và hỏi, như:

                             “Hôm nay gió bảo cùng mây:

                             Rời xa những miền tuyết trắng,

                             Tôi từ biển vắng về đây

                             Mừng hội Xuân này đẹp nắng.”

(Đinh Hùng – Âm Hưởng)

          Âm hưởng, mà nhà thơ đời học được từ con người, sẽ là và vẫn là điều mà nhà Đạo cần ghi nhớ, để rồi sẽ không quên. Không quên lời dặn hãy rời xa “miền tuyết trắng” thoải mái, sướng vui. Bệ rạc, ngõ hầu sống thực ý định Cha mang đến. Bởi đó không chỉ là quyền tháo cởi, cột buộc mà là thực trạng “mừng hội Xuân này đẹp nắng”, rất Phêrô. 

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh

Mai Tá lược dịch

 

dongcongnet- sưu tầm 24 thang 8-2011

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)