dongcong.net
 
 

Hai đoản khúc suy tư 2011,2014

Suy tư tuần 27 này, lại nghe thấy có tiếng ngâm nga, những là:

“Tôi mất trời xanh của ấu thơ,”

Nên yêu em cũng bởi tình cờ.”

Ngâm thế rồi, người lại hát những câu như:

“Khi em nhìn anh,”
Từ đôi mắt đen dịu dàng
Như trăng hồ thu
Đợi thuyền tình anh ghé thăm".

Thế mới biết, khi đã mất trời xanh của thời ấu thơ rồi, người lại sẽ "nhìn anh và nhìn em, "từ đôi mắt đen dịu dàng như trăng hồ thu..." Thế nghĩa là, có nhìn ai đi nữa, thì người người cũng thấy đẹp. Những nét đẹp của trăng thanh hồ thu, rất năm nào.

Thế đó, còn là tâm-tình ngày của Chúa tuần thứ 27 mùa thường niên này, để gửi đến các thánh-nhân ở Nước Trời rất hôm nay.

Mai Tá

từ Sydney xin trân trọng

www.giadinhanphong.com

Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ 27 mùa Thường niên năm A  05-10-2014

“Tôi mất trời xanh của ấu thơ,”

Nên yêu em cũng bởi tình cờ.”

 (Dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Mt 21: 33-43 

Mất mát trời xanh ở mọi thời, đâu chỉ một thời tuổi ấu thơ. Nên nhà thơ mới yêu em mãi, yêu mãi yêu hoài nên thành thơ. Nhà thơ hay nhà đạo, nay đều thế. Mất mát nhiều, nên mới đổi thay trong cuộc sống, rất hiện thực.

Từ ngày xuất hiện sống trong đời hiện-thực, con người cũng đã khám phá ra nhiều biến đổi, ở khắp nơi. Biến chuyển, về thể chất. Thay đổi, về tâm thần. Đến lúc nhập cuộc nhà Đạo, các kẻ tin nay đã nhận biết có một can thiệp.

Can thiệp để cứu rỗi. Can thiệp vì thương yêu. Và, mỗi khi nhận ra sự can thiệp ấy, người nhà Đạo vẫn có những khoảnh khắc buột miệng kêu lên: “À, ra thế!”. Kêu được tiếng này, người đời càng tiến sâu vào hành trình suy tư tìm kiếm Chúa. Hành trình đi vào cuộc đời. Về với chính mình. Với, chính con người mình. Và, những khoảnh khắc ấy, trước đây là những thắc mắc khó quên. Nay thành chuyện có lý, rất dễ hiểu.

            Tin mừng thánh Mát-thêu, cũng thấy tràn ngập những thoáng chốc nhận định giúp ta nhận ra những gật gù, chấp nhận: “Ừ nhỉ! À ra thế!”. Viết Tin mừng cho người Do thái bình thường bậc trung, thánh Mat-thêu muốn phản ảnh về con người của Đức Kitô, dựa theo ánh sáng lịch sử, của cả một dân tộc. Dân tộc Do thái thời ban sơ. Thánh nhân không bỏ qua những qui chiếu phản ảnh Kinh thư thần thánh có từ bản Híp-ri. Là thành viên cộng đoàn thời tiên khởi, thánh sử còn chiếu dọi các kỳ vọng đón chào Đấng MêSia Cứu Thế. 

            Đối với cộng đoàn tiên khởi thời thánh Mat-thêu khi trước, và với chúng ta hôm nay, bản thân Đức Kitô chính là yếu tố “Ừ nhỉ! À, thì ra Ngài là như thế!” cho lịch sử thế giới. Bởi, những gì khi trước thánh sử coi như ưu tư phản ảnh cuộc sống, cái chết và sự sống lại của Đức Chúa, thì nay, ở thời buổi này, đã nên hiện thực.

            Cụm từ “viên đá bị thợ xây liệng bỏ”, ngay từ đầu, đã ám chỉ dân Israel rồi. Ở thánh  vịnh 118, và trong toàn bộ các Thánh vịnh - tụng ca, các thử thách và chiến bại của dân Is-ra-el vẫn được coi như xét nghiệm về sức mạnh, tình yêu và sức chịu đựng của con người. Dù, bao phen có khốn khó đi nữa, cả một dân tộc đã từng trải, thì người dân lành vẫn tiếp tục ngợi ca sự thủy chung mà Ya-vê Đức Chúa đã đối xử với họ.

Dù, có phải chịu đựng mọi khổ đau, dân lành của Chúa vẫn ngợi khen ca tụng những điều kỳ diệu, Ngài ban cho. Vẫn cứ ca tụng và không ngừng thán phục các kỳ công Ngài làm, ngõ hầu gìn giữ họ. Duy trì họ, thành đám dân được chọn tràn đầy tin tưởng, vào sức mạnh thần thánh của Ngài.

            Với thánh Mát-thêu, mọi ngỡ ngàng và thán phục, còn được phản ảnh lên mình Đức Kitô trong tình huống đối đầu, phản ứng đối với các Thượng Tế, Ký Lục và dân thành La-Mã, nữa. Trong khoảnh khắc rất “sung”, khiến thánh nhân có thể kêu thất thanh, như mọi người: “Ừ nhỉ, À ra thế!”, thánh sử thấy được rằng chính Đức Yêsu Kitô, chứ không phải toàn dân Is-ra-el, mới là viên đá bị bọn thợ xây liệng bỏ, nay trở thành đá tảng góc tường. Chính Ngài là công trình chính yếu của tòa nhà mới, được dựng xây.

            Hành xử hệt như thánh Mát-thêu trong trình-thuật, ta có thể áp-dụng cũng một nhận-định/phản-ảnh ấy vào chính cuộc sống của mình, ngay lúc này. Như, trong nhân-cách, hoặc cá-tính của ta, cũng thường mang nhiều sắc-thái khiến cho ta lấy làm hổ thẹn hoặc chán chường, tuyệt vọng.

Nhìn vào quá trình diễn-tiến cả cuộc đời, người người đều có những giây phút hết ngồi lê đôi mách, rồi lại tham lam, cạy cục. Hết đớn đau/tủi hổ, lại đến âu sầu/giận dữ; hết ái ân/dục tình, rồi lại căm thù/vỡ đổ. Cũng có thể, là: vào những trạng huống ta thấy chán ngán, nản lòng vì tình người trong Đạo, những chia rẽ. Phân cách. Mất đoàn kết.

            Dù, ta đã cố gắng rất nhiều, để lướt thắng các mặt xấu, đáng liệng bỏ, thì mình vẫn hy-vọng rằng: trạng-huống ấy, sẽ đem lại nhiều kết quả tốt đẹp, hơn. Nếu quả là như thế, tưởng cũng nên nghe lại đoạn Tin Mừng nhắc đến hôm nay: “Viên đá người thợ xây liệng bỏ, giờ đây đã trở thành đá tảng góc tường”. Và, đây mới chính là công-trình tuyệt-vời, của Đức Chúa. Một kỳ-quan hiếm có, dưới đôi mắt của người phàm.  

            Còn nhiều khía-cạnh khác trong cá-tính bản thân, mà ta vẫn coi thường, lại có thể trở-thành những viên đá tảng. Những khoảnh-khắc phi-thường, ta nhận được như ân-huệ tuyệt-vời, từ Đức Chúa. Với Chúa, chẳng có gì là “không thể”. Chẳng có gì, là “đi quá xa, rồi đó!” hoặc “trở thành cứng ngắc, cổ hủ”.

Với các tín hữu sống đúng Đạo Chúa, không còn chỗ cho tủi hổ. Mà, chỉ có chỗ cho sự sám hối. Đổi thay. Bắt đầu, ta làm lại cuộc đời. Bắt đầu, ta nhìn vào những gì ta nghĩ có thể nghĩ là cơ hội để có thể kêu lên: “Ừ nhỉ! À ra thế!” Và, chắc chắn rằng: tình thương yêu độ lượng, và lòng từ nhân cứu vớt của Đức Kitô, sẽ giúp ta xoay chuyển, làm lại cuộc đời.

            Từ đó ta liệng bỏ, mọi tính chất tiêu cực, cũng như các mặc cảm chiến bại đi, để rồi sẽ hăng say tái tạo cuộc đời, với Đức Kitô. Với, Vị Thợ Xây đáng Bậc Thầy.

            Khi đã hành-xử quen như thế, ta sẽ thấy rất nhiều tình huống giúp mình kêu lên được: “Ừ nhỉ! À ra thế!” mà qua đó, lịch sử thôi không còn là vấn đề ưu tư cần lướt thắng nữa; nhưng, đã trở thành một thử thách giúp ta trang bị việc dựng xây Nước Trời, ở trần gian.

            Đó mới là chuyển-biến. Đó chính là Can-thiệp. Can-thiệp tốt. Trong chiều-hướng rất tích-cực. Rất an-lành.

            Trong tinh-thần cảm-nghiệm điều đó, cũng nên ngâm lại lời thơ trên rằng: 

            “Tôi mất trời xanh của tuổi thơ,

Nên yêu em cũng bởi tình-cờ.

Gặp mùa hoa cũ trên đôi má,

Trong mắt em nhìn gặp bóng xưa”.

(Đinh Hùng – Duyên Phương Hoa

Nhà thơ mất mát nhiều, nên đã đổi thay. Đổi thay cuộc đời, nên tình-cờ mới biết yêu. Nhà thơ những đổi thay, còn vì chưa biết liệng bỏ tính-chất tiêu-cực ở đời nên mới chiến-bại ở nhiều nơi.

Giả như nhà thơ biết xoay chuyển cuộc đời mình như nhà Đạo, thì rồi người người cũng biết yêu-thương là tất cả của đời người. Một đời vẫn sống vì thương yêu không chỉ mỗi mình mình hoặc người em yêu, nhưng là tất cả mọi người ở đời thường. Rất nhiều thời.   

Lm Richead Leonard sj

Mai Tá lược dịch.

 

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 27 mùa Thường niên năm A 05-10-2014

“Khi em nhìn anh,”


Từ đôi mắt đen dịu dàng.
Như trăng hồ thu,
Đợi thuyền tình anh ghé thăm”.

(Y Vân – Khi Anh Nhìn Em)

(Lc 9: 62)

            Nhìn Em bằng đôi mắt nào đi nữa, cũng vẫn là nhìn, là ngó hay ngắm nghía và ngưỡng mộ, rất chân tình. Câu này cũng nghe quen từ hồi đó. Thời, mà các bậc chân-tu như thánh-nữ Têrêxa Hài Đồng thành Lisieux từng ngắm nhìn Chúa qua Thánh Thể hoặc qua người mẹ, người chị cùng một Dòng.

Câu hỏi hôm nay được gửi đến bạn và đến tôi, không chỉ là câu vẫn hỏi: anh/chị có còn nhìn thế nữa không, mà là câu hát rất thân-tình, còn hát tiếp:

“Ánh mắt em u buồn,

mái tóc anh ươm sầu
Đã thấy trong thiên hạ
Ai buồn, ai buồn bằng...
Đôi lứa.. chúng ta ?!
(Y Vân – bđd) 

Thế mới biết: người đời nhìn nhau vẫn thấy buồn, giống như thế những chuyện buồn trăm năm. Một thứ buồn rười rượi, u hoài về chuyện “đôi lứa chúng ta”.

Thế mới lạ. Bởi cũng lạ nên cứ hỏi: chuyện nhà Đạo mình có chăng những tình-tự thế?

Thế nhưng, trước khi trả lời cho câu hỏi hơi kho khó này, hỡi bạn và tôi, ta lại xin nghe tiếp một câu khác, để xem sao. Câu hát ấy, như thế này: 

“Em là chim yến nhỏ,

anh khoác áo vân du
Đường xa em có ngại,

áo mây anh ấp ủ
Ta tìm lên núi tình,

ta đến suối yêu đương
Rồi đi thăm bến Mộng,

sẽ qua đồi ái ân.

Khi em nhìn anh
Sầu đong mấy Đông cho vừa
Như trăng vừa lên
Đầu ghềnh mờ pha tuyết sương.”
(Y Vân – bđd) 

            Nhìn em hay nhìn anh, thì ai cũng đều nhìn/đều ngắm ít là một lần trong đời. Thế nhưng, trong đời người hỏi rằng: có chăng một lần nhìn nào đó vẫn cứ hỏi: “Có phải em đó không em, hay ai khác?” hệt như truyện kể để cười vui trước khi ta đi vào chuyện đứng-đắn rất thần-học sau này. Truyện kể về cái nhìn của người chồng, sau khi “nhìn em” mãi một hồi, rồi thì chuyện xảy ra mà bần đạo đoán là ở xứ Hàn, như sau: 

            “Vừa nhìn thấy vợ hiền đang từ từ bước vào nhà, ông bố bèn hét bảo với đứa con còn nhỏ:

            -Này con, chạy ra mà xích con chó nhà mình lại.

Cậu con rất đỗi ngạc-nhiên bèn hỏi lại:

-Bộ, nhà mình có khách từ xa tới hay sao, hả bố?

Không chần chừ, người bố đáp ngay:

-Không đâu! Mẹ mày đang từ mỹ-viện đi về kià…”

(trích truyện kể lền khên, không ký tên!) 

            Thế đó, một cái nhìn, rất chưa quen, từ bố con. Thế còn, cái nhìn từ nhà Đạo có gì khác không thế? Câu trả lời, cũng khó đoán. Bởi lẽ, nhà Đạo mình có người nhìn, có người không, nhất thứ là khi đi lễ về, nhiều người chẳng còn muốn nhìn nhau, dù vừa mới chào bình an cho nhau.

            Thêm nữa, nhà Đạo mình, lại cũng thấy rất nhiều người cũng đã nhìn và còn nhìn mãi, rất khôn nguôi. Nhưng, có khi là nhìn ai, nhìn cái gì cũng không chắc lắm. Bởi cứ chừng chừng nhìn mãi, làm sao biết. Cũng lắm khi, bạn đạo mình cứ mải nhìn chính mình hoặc nhìn người khác, rồi lại hỏi: “Tôi đây là người Công giáo, đấy chứ nhỉ?”

Hỏi như thế, tức có nhìn cho lắm cũng khó mà biết người biết mình, trăm phần trăm. Chi bằng, ta cứ nhờ bạn/nhờ tôi, nhờ mọi người xem thử ra sao, việc khó nói ấy. Khó hay không, bần đạo đây cũng chẳng biết. Chỉ biết có lần nọ, Đức Giáo Tông Phanxicô cũng từng có lời phán bảo rất gay go/gay cấn, và cũng lấn cấn như sau: 

“Những ai cứ muốn người khác nguyện cầu và tin chắc là mình có thể đưa ra những điều thay thế cho giáo-huấn của Hội-thánh và những ân-nhân từng sử-dụng hội-thánh như tấm phủ bọc nối-kết cho thương-vụ của họ cũng có thể tự gọi mình là Công-giáo, nhưng những người như thế vẫn chỉ là người chân trong chân ngoài ngưỡng cửa mà thôi. Với những người như thế, Hội-thánh không là mái-ấm cơ-ngơi của họ, mà chỉ là chốn được họ dùng như tài-sản thuê mướn để tá-túc mà thôi!” Lời Đức Phanxicô giảng ở nhà nguyện nơi ngài trú ngụ phản-ánh Tin Mừng theo thánh Gioan đoạn 17 câu 20-28.  

Đức Giáo Hoàng Phanxicô còn giảng tiếp: Có ba nhóm người vẫn tự gọi là Công giáo, nhưng thật ra không phải thế. Đó là: những người chủ-trương thuần-nhất rất đồng dạng, thứ đến là những người thích sống khác lạ và những người chỉ biết đến doanh thương mà thôi.  

Và Đức Phanxicô đã giải-thích về ba nhóm người ấy như sau: “Nhóm người thứ nhất tin rằng mọi người trong Hội-thánh phải giống như họ. Họ là những người cứng-ngắc, không có được sự tư-do mà Thánh Thần Chúa phú ban cho họ. Những người này lẫn lộn những gì Đức Giêsu rao giảng với chủ-thuyết đồng-dạng riêng của họ. Thật sự thì Đức Giêsu chẳng bao giờ muốn Hội-thánh của Ngài trở nên cứng-ngắc hết. Những người thuộc nhóm này vẫn tự gọi mình là Công giáo, nhưng thái-độ cứng-ngắc của họ làm họ xa cách Hội-thánh Chúa. 

Nhóm thứ hai, là những người cho rằng có thể thay thế cho giáo-huấn và tín-lý của Hội-thánh, nên họ chỉ tùy thuộc một phần vào Hội-thánh mà thôi. Những người này nữa, lại cũng chân trong chân ngoài đối với Hội-thánh. Họ thuê mướn Hội-thánh và không công-nhận giáo huấn của Hội-thánh mình được dựa căn-bản trên lời rao giảng của Đức Giêsu và truyền-thống của các tông-đồ. 

Nhóm người thứ ba cũng tự gọi mình là Công-giáo nhưng họ không đi vào tâm-can của Hội-thánh. Họ sử-dụng Hội-thánh vì lợi-ích riêng-tư của họ, thôi. Ta vẫn gặp những người này trong cộng-đoàn giáo-xứ, giáo-phận hoặc các dòng tu. Một số người trong nhóm họ là ân-nhân của Hội-thánh nên nhiều lúc cứ nghênh-ngang tự-cao tự-đại và tự-hào vì là ân-nhân, nhưng cuối cùng vẫn móc ngoặc/đi đêm tìm lợi nhuận cho riêng mình, thôi. 

Hội-thánh gồm dân con mọi người có khác-biệt về nhiều thứ và nhiều quà tặng, nên những ai muốn thuộc về Hội-thánh, đều phải có động-lực là tình-yêu thúc đẩy và phải đi vào lòng Hội-thánh bằng tất cả tấm lòng mến thương của mình. Hãy mở lòng mình với Thánh Thần Chúa là Đấng bảo-dưỡng tính hài-hoà trong khác-biệt, Ngài sẽ đem đến tính hiền-hoà dễ dạy chính là đặc-tính cứu vớt ta ra khỏi cảnh-huống “chân trong chân ngoài với Hội-thánh” (x. Cindy Wooden, Pope: Half-hearted Catholics aren’t really Catholics at all, Catholic News Service 05/6/2014) 

Về những ngó và nhìn cũng có nhiều nhận-định và/hoặc câu nói rất để đời, đã nghĩ tới. Chẳng hạn như, câu nói mà thánh-sử Luca từng đặt nơi miệng Đức Giêsu như sau: 

            “Đức Giê-su bảo:

Ai đã tra tay cầm cày

mà còn ngoái lại đàng sau,

thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa."

(Lc 9: 62) 

Như Chúa nói, đã ra đi làm gì đi nữa, cũng đừng “ngoái” lại đằng sau mà nhìn mà ngó, cũng không nên. Trong đời người đi Đạo, cũng có nhiều sự-kiện qua đó nhiều người vẫn cứ ngó, cứ nhìn vào nhiều thứ. Ngó và nhìn, cả những sự và những việc không liên-quan đến việc sống Đạo và giữ Đạo, cho phải phép.

Ngó và nhìn, ở ngoài đời, còn được thi-ca/văn-học diễn tả bằng nhiều cách. Có những lúc, ngó và nhìn cho kỹ để còn thấy được tình-hình rất đích-thực mà người bàng-quan chỉ nhìn loáng thoáng không thể thấy. Tự như ý/lời của truyện kể ở bên dưới. 

“Truyện ở đây, có khi chỉ là “CHUYỆN ĐỜI...” như người kể, từng muốn nói, như sau:               

Con tàu du lịch nọ gặp nạn trên biển, trên thuyền có một đôi vợ chồng rất khó khăn mới lên đến trước mũi thuyền cấp cứu, trên thuyền  chỉ còn... thừa duy nhất 1 chỗ ngồi. Lúc này, người đàn ông để vợ mình ở lại, còn bản thân nhảy lên thuyền cấp cứu.

Người phụ nữ đứng trên con thuyền sắp chìm, hét lên với người đàn ông một câu…………..

Kể đến đây, thầy giáo hỏi học sinh: “Các em đoán xem, người phụ nữ sẽ hét lên câu gì?”

Tất cả học sinh phẫn nộ, nói rằng: “Em hận anh, em đã lấy nhầm người rồi.”

Lúc này thầy giáo chú ý đến một cậu học sinh mãi vẫn không trả lời, liền hỏi cậu bé.

Cậu học sinh nói:

-Thầy ơi, em nghĩ người phụ nữ sẽ nói: Chăm sóc tốt con của chúng ta anh nhé!”
Thầy giáo ngạc nhiên hỏi:

-Em nghe qua câu chuyện này rồi ư?”

Học sinh lắc đầu:

-Chưa ạ, nhưng mà mẹ em trước khi mất cũng nói với bố em như vậy.

Thầy giáo xúc động:

-Trả lời rất đúng.”

Người đàn ông được cứu sống trở về quê hương, một mình nuôi con gái trưởng thành. Nhiều năm sau, anh ta mắc bệnh qua đời, người con gái lúc sắp xếp kỷ vật, phát hiện quyển nhật ký của bố. Hóa ra, lúc mẹ và bố ngồi trên chiếc tàu ấy, người mẹ đã mắc bệnh nan y, trong giây phút quyết định, người chồng đã dành lấy cơ hội sống duy nhất về phần mình. Trong nhật ký viết rằng: “Anh ước gì anh và em có thể cùng nhau chìm xuống đáy biển, nhưng anh không thể. Vì con gái chúng ta, anh chỉ có thể để em một mình ngủ giấc ngủ dài dưới đáy đại dương sâu thẳm. Anh xin lỗi.”

Kể xong câu chuyện, phòng học trở nên im ắng, các em học sinh đã hiểu được ý nghĩa câu chuyện này: Thiện và ác trên thế gian, có lúc lắm mối rối bời, khó lòng phân biệt, bởi vậy đừng nên dễ dàng nhận định người khác. 

Nghe kể truyện, người kể bèn có lời bàn như sau:

* Người thích chủ động thanh toán tiền, không phải bởi vì người ta dư dả, mà là người ta xem trọng tình bạn hơn tiền bạc.

* Trong công việc, người tình nguyện nhận nhiều việc về mình, không phải bởi vì người ta ngốc, mà là người ta hiểu được ý nghĩa trách nhiệm.

* Sau khi cãi nhau người xin lỗi trước, không phải bởi vì người ta sai, mà là người ta hiểu được trân trọng người bên cạnh mình.

* Người tình nguyện giúp đỡ người khác, không phải vì nợ người đó cái gì, mà là vì người ta xem người đó là bạn. (Một bạn vừa sưu tầm trên mạng, thấy có truyện này bèn kể cho nhau nghe). 

            Nghe kể xong, người nghe lại sẽ hát theo giọng người nghệ sĩ những câu rằng: 

            “Ánh mắt bao la tình

Với ý thơ thưa rằng:

Chí lớn trong thiên hạ

Không đầy, không đựng đầy...

Đôi mắt.. mỹ nhân!!”

(Y Vân – bđd

Thế mới hay. Khi nhìn em với “ánh mắt bao la tình”, lại mới thấy em là tất cả. Tất cả, không chỉ mỗi ánh mắt, làn môi đẹp nhất mà thôi, nhưng còn cả tấm lòng, đẹp đến như thế.

“Nhìn em với anh mắt bao la tình” có khi chỉ là nhìn mà không thấy. Chẳng thấy được thứ “tình mình bây giờ” như bài hát nọ để diễn-tả chuỗi ngày hai người ở bên nhau, vẫn quen biết nhau, thương nhau như hồi nào.

Có những “Ánh mắt nhìn nhau” như hồi nào, nhưng lại không thấy được những ý, những tình của nhau trong nhiều lúc. “Ánh mắt nhìn nhau” như hồi nào hay mọi hồi/mọi lúc vẫn cứ nhìn, mà chỉ thấy được những cái hay/cái đẹp ở người và vật được nhìn, cả trong đời đi Đạo và sống Đạo, cho phải lẽ.

Lại cũng có những “Ánh mắt nhìn nhau” rất “bao la tình” lại vẫn không thấy “Chí lớn trong thiên hạ, không đong đầy trong đôi mắt”, tựa như ca-từ mà nghệ-sĩ vừa mới hát. Kể cũng lạ, nhìn nhau thì cũng nhìn, nhưng làm sao thấy được “chí lớn” trong thiên-hạ đựng đầy trong cặp mắt? Có chăng, đôi lúc chỉ thấy cái  “chí nhỏ nhoi” của nhiều người, không đáng thấy.

Kể cũng lạ một điều, là người đời cứ nhìn và chỉ nhìn thấy “cái chí nhỏ nhặt” nơi người khác, không bằng mình. Thế mới thành chuyện. Thế mới là chuyện lạ ở đời. Chí ít, là trong Đạo. Có lẽ, cũng nên nhắn nhủ cả những người trong Đạo hay ngoài đời rằng: hãy cứ nhìn nhau cho lâu, rồi cũng sẽ hát những câu như người nghệ sĩ vẫn còn hát như sau:

“Ta tìm lên núi Tình,

ta đến suối yêu đương
Rồi đi thăm bến Mộng,

sẽ qua đồi ái ân.

Khi em nhìn anh
Sầu đong mấy Đông cho vừa
Như trăng vừa lên
Đầu ghềnh mờ pha tuyết sương.”
(Y Vân – bđd

Nói chung và nói cho cùng, thì: có nhìn nhau thật nhiều, cũng nên như người viết nhạc, những bảo rằng: “Sầu đong mấy Đông cho vừa”. Nhìn như thế, tức: nhìn rất nên thơ . Thế nên, đừng nhìn, đừng ngó và ngoái lại về cõi trời Đông những sầu muộn, như đấng thánh hiền-lành từng cảnh-giác.

Cuối cùng thì: có nhìn anh/nhìn em cách nào đi nữa, xin bạn và xin tôi ta hãy nhìn theo kiểu nhà Đạo hoặc người đời từng có lời nhắn nhủ ở Kinh Sách rất như sau:  

“Sao anh nhìn thấy cái rác trong con mắt của người anh em,

mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không thấy?

Sao anh lại nói với người anh em:

Hãy để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt bạn,

trong khi có cả một cái xà trong con mắt anh?

Hỡi kẻ đạo đức giả!

Lấy cái xà ra khỏi mắt anh trước đã,

rồi anh sẽ thấy rõ,

để lấy cái rác ra khỏi mắt người anh em.”

(Mt 7: 3-5) 

Và ở đoạn khác, thánh-sử nhân hiền còn ghi rõ về “tầm nhìn” mà con người đừng nên có:  

“Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã,

thì hãy móc mà ném đi;

thà chột mắt mà được vào cõi sống,

còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào lửa hoả ngục.”

(Mt 18: 9) 

Và nhất là câu nói đần dặn dò như sau: 

"Anh em hãy coi chừng,

chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này;

quả thật, Thầy nói cho anh em biết:

các thiên thần của họ ở trên trời

không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy,

Đấng ngự trên trời.

Vì Con Người đến để cứu cái gì đã hư mất.

(Mt 18: 10-11) 

Xem thế thì, bạn và tôi hay ai khác, ta vẫn cứ hiên ngang ngước mắt lên mà nhìn. Nhìn lên chứ đừng nhìn xuống, kẻo lại coi thường người khác, chí ít là những kẻ bé mọn ở Hội thánh hay ngoài đời, rất con người. 

Trần Ngọc Mười Hai

Xưa rày có mắt thật đấy

Nhưng vẫn chưa biết nhìn đời

Cho đúng cách

Của người đi Đạo

Sống ở đời.  

 

Suy niệm Chúa Nhật thứ 27 thường niên năm A 2.10.2011

 

“Chao ôi! Ghê quá! Chao ghê quá!”

“Cảm thấy hồn tôi ớn lạnh rồi.”

(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

            Mt 21: 33-43

            Hồn tôi ớn lạnh rồi, chẳng phải vì “một vũng cô liêu cũ vạn đời”. Chao ơi ghê quá! Ghê ghê quá!” phải chăng vì thợ vườn nho giết cả con của chủ vườn, thật đáng trách. Đáng chê trách, như dụ ngôn truyện kể ở trình thuật hôm nay.

            Trình thuật, nay thánh sử ghi về dụ ngôn vườn nho, có người chủ gửi cả con mình đến với tá điền để hỏi chuyện. Chuyện Nước Trời. Chuyện, Chúa phú ban cho dân con Do Thái mọi ơn lành để sinh lợi. Ngài còn sai phái cả ngôn sứ đến chăm nom vườn nho để không bị ai phá. Nhưng, họ lại giết hại cả Người Con được sai phái, lẫn vườn nho Nước Trời, để rồi phải chịu hậu quả đắng cay là người La Mã đến xâm chiếm. Trên thực tế, vườn nho Nước Trời không bi phá, nhưng lại đã trao cho dân con đi Đạo, nay là tá điền mới.     

            Trình thuật tả sự thay đổi đến với nho vườn hiền hoà. Rồi từ đó, có so sánh dân con đi Đạo với tá điền Do thái, để xem ai thực hiện điều Ngài uỷ thác? Dân con đi Đạo hay tá điền được chọn, ai là người đáng được khuyến khích? Dân con Nước Trời có khá hơn tá điền Do thái được chọn không? Là tá điền mới, dân con đi Đạo có hứng chịu cùng một cảnh huống như tá điền được chọn không? Mọi việc sẽ ra sao, nếu như công việc Vườn Nho không còn đuợc trao cho tá điền mới là dân con đi Đạo nữa?

            Kinh thánh có nhiều đoạn ghi rõ những chuyện như thế. Những chuyện kể, để người đọc nhận ra rằng dân con đi Đạo ở Palestine cũng là người thuộc sắc tộc Do thái, đã hồi hướng trở về để lo việc Chúa. Họ là những tá điền vườn nho Do thái từng chỉ trích người cận thân và cận lân ở cộng đoàn, bằng ngôn từ khá nặng, cốt để diễn tả tình huống gay go ấy.

            Lâu nay, nhiều người vẫn quan niệm là: chúng ta nhờ biết được cung cách rất khác biệt về nguồn gốc người Do thái ở “vườn nho”, nên ta có được lập trường thật đúng cách khi quan hệ với nguời Do thái trong/ngoài nước. Trong quan hệ với họ, ta luôn có trong đầu hai loại người Do thái rất khác biệt. Cả hai đều tốt lành. Tốt, cả về mặt thiêng liêng tinh thần cũng như thực tế. Và, ta còn nhận ra được rằng: quà tặng Chúa ban, ta nhận được là ngang qua người Do thái được Chúa chọn để chuyển trao. Và, khi ta cảm kích biết ơn Chúa, ta cũng cảm tạ cả người Do thái về vai trò chuyển tải này nữa.

            So sánh thái độ của dân con đi Đạo với đám tá điền Do thái, là để nói về người Do thái xưa sống ở thời mà mọi thứ từ tôn giáo đến chính trị, xã hội đều đan kết nhau thành đặc trưng đặc sủng, rất Do thái. Có so sánh, mới thấy là thế giới của người xưa đi Đạo vẫn ôm đồm nhiều thứ như cung cách của xã hội ngàn năm văn hiến. Và so sánh, để thấy rằng: tôn giáo của người xưa không mang tính chất đa nguyên/đa dạng hoặc dân chủ phóng/khoáng như một số tôn giáo khác.

Tuy nhiên, cung cách giữ đạo của người xưa dính dấp nhiều vào xã hội đều mang lại khó khăn cho riêng mình. Loại hình ấy, là loại hình trọng nam khinh nữ. Loại hình chủ trương thứ luật lệ cứng ngắc, khắc nghiệt. Cả những chuyện như tiền bạc, tài chánh, chính trị, nhất nhất đều không coi trọng thể chế nào khác ngoài Israel ra.

            Bởi thế nên, khi Đạo Chúa lan rộng qua khắp mọi miền đất nước ở trời Âu để rồi bén rễ sâu ở phương Tây lâu ngày, lại trở thành tôn giáo rất khác biệt. Khác, ở chỗ: người thời đó vẫn so sánh Đạo Chúa với đạo của người Do thái như soi tấm gương hai mặt của cùng một thực trạng con người. Đạo Chúa ở trời Tây khi ấy, đã trở thành thứ tôn giáo đi sâu vào lòng dân tộc, ở nhiều nước. Đi sâu và lan rộng, bằng nền tảng chính trị, kinh tế cũng như luật lệ, rất riêng biệt. Đạo Chúa ở nơi đó, không còn là thể chế bao gồm nhiều thứ, nhưng vẫn tạo được ảnh hưởng rất mạnh lên thế giới xung quanh mình. Thế giới, mang đến cho Đạo những ân huệ khả dĩ gây tác dụng ngược lên Đạo. Nói cách khác, Đạo Chúa không còn là đạo của người Do thái khi xưa và chẳng còn ôm đồm nhiều thứ, như trước nữa.

            Điều lạ kỳ, là: người Do thái nay lại muốn có lại những lợi lộc rút từ thế giới trần tục, ở trời Tây. Họ không còn suy nghĩ như người Tây phương khi trước hoặc nghĩ mình buộc phải thích nghi với cung cách giữ Đạo mà người đi Đạo ở trời Tây, vẫn hay làm. Nghĩa là, họ chẳng khi nào cho mình là phó thường dân đi Đạo (như những người Công giáo hay Thệ phản thường làm thế). Hoặc, cho rằng mình chỉ là giáo dân hạng thứ, dù vẫn ở trong Đạo. Vẫn giữ Đạo. Họ nghĩ mình vẫn là người Do thái đích thật. Và Chúa vẫn thương yêu họ, như mọi người.

            Nhìn vào Hội thánh 50 năm về trước, người giữ Đạo ở trời Tây cũng sống cùng kiểu như người Do thái. Cũng tin vào Đức Chúa. Cũng đi nhà thờ nhà thánh và lãnh đủ mọi bí tích. Nhưng, lại xây dựng một thế giới theo hình thức đạo giáo, kiểu Tây. Tựa như các làng mạc miền quê nước Úc, hoặc vài thị trấn ở Hoa Kỳ, cuộc sống Đạo/đời là thế. Cũng có nhà thờ riêng. Nhà thờ, là trung tâm tạo cuộc sống hăng say, năng nổ cho mọi người. Cũng có trường Đạo. Có hội từ thiện. Có người mở tiệm vẫn rập theo cung cách người có Đạo, rất lương thiện. Có nơi, còn thiết lập cả nhà thương để thương người bệnh. Có đời sống kinh kệ, đạo hạnh. Có câu lạc bộ thể thao, giải trí theo cách con nhà có Đạo, nữa. Tức, sống như người Công giáo vẫn sống. Sống giữa đời có cuộc sống tuy hai mà một.

            Ngày hôm nay, cuộc sống của người đi Đạo không còn thế nữa. Người người được giáo dục theo khuôn khổ thế giới rộng lớn. Người người được đào tạo để có cuộc sống doanh thương chức nghiệp rộng lớn đến độ Hội thánh không còn chen chân ở đó nữa. Người Công giáo trở thành nhà giáo, chuyên gia hoặc doanh thương với ngành nghề khác nhau. Hội thánh chỉ có vai trò hướng dẫn để sống Đạo chứ không là người thiết lập ra thể chế. Và, người sống ở đây đã có lý lịch riêng của thế giới này, trước khi là thành viên của Hội thánh.

            Có người quan niệm: hai lối sống ấy đều đáng quan ngại. Bởi, do chạy theo lối sống giống như thế Hội thánh đã để mất căn tính riêng của mình. Bởi thế nên, nhiều người mới có tinh thần nệ cổ, là vì muốn trở về với thời xưa, khá cổ lỗ. Muốn trở lại thời có đủ mọi thứ. Thời, mà thế giới nay gặp khủng hoảng nặng nề về luân lý, chuyên chú vào văn hoá của sự chết. Và thế giới nay chẳng giúp giải quyết được sự phân cách giàu/nghèo. Theo quan niệm của họ, thế giới hôm nay không còn chất xúc tác khích lệ nền luân lý đích thực được nữa. Và, Hội thánh ở trời Tây nay cũng thế. Hội thánh cứ phải nhượng bộ và xuống cấp. Hội thánh, không còn là “tôn giáo” đích thực, nhưng chỉ còn mang nhãn hiệu đẹp có được từ cuộc sống hiện đại, thôi.

            Trong khi đó, phần đông người Công giáo lại nghĩ khác. Theo họ, lối sống Đạo của người ở trời Tây chẳng có gì khiến ta xấu hổ, nhưng vẫn là một thách đố, cho mọi người. Thách và đố, ta tìm ra Thiên Chúa ở xã hội mình sống. Thách và đố mình học hỏi làm người của Chúa ở thế giới tục phàm này.

            Điều đáng buồn, là: nhiều năm qua, phương Tây từng phát triển/nở rộ rất nhiều thứ. Và, Hội thánh mình đã tìm ra được chỗ đứng trong đó. Trong khi người Do thái lại không làm được điều gì tốt lành theo nghĩa đùm bọc về văn hoá, chính trị, kỹ nghệ và quân sự. Họ ra như chỉ thuộc hàng thứ yếu trong một thế giới quá lớn rộng. Ngày nay, người Công giáo lại vẫn nghĩ Đạo của mình tốt lành hơn đạo của người Do thái. Thật ra, thì Đạo Chúa ở trời Tây đang trên đà suy sụp. Trong khi đó, người Do thái lại tìm đuợc đất lành năm xưa. Tìm được tâm hồn mình. Và họ đang minh chứng cho thế giới thấy được chuyện này.

            Chuyện này, áp dụng cả cho người Hồi giáo lẫn người Do thái, ở các nơi. Người Hồi giáo tuy cũng có nguồn gốc từ thế giới cổ xưa vốn thừa hưởng giáo huấn của vị “ngôn sứ” lấy kinh Koran làm kim chỉ nam dẫn đường. Có luật Sha’aria hướng dẫn để sống đúng tinh thần của Kinh Sách. Họ là người tự coi mình như một kết hợp giữa xã hội và tôn giáo.

            Buốn một chuyện, là: người Đạo Chúa và đạo Hồi vẫn chơi trò tranh chấp khích bác nhau. Cả hai lại không chấp nhận rằng mình khác nhau; và chẳng nhận chân ra rằng chính Chúa đã làm cho ta ra khác biệt. Khác biệt, theo hướng tích cực khiến ta nhớ lại chuyện kể về một bé em Do thái dám hỏi vị thượng tế câu động trời rằng:“Làm sao các ngài chứng minh được con người là hình ảnh của Thiên Chúa nếu như mọi người có khác biệt?” Vị thượng tế nghe hỏi bèn trả lời rất khôn khéo: “Sở dĩ ta là hình ảnh của Thiên Chúa là vì ta có khác biệt, đấy bé ạ!”       

            Vế với dụ ngôn hôm nay, mọi người đều thấy: Thiên Chúa là chủ vườn nho rộng lớn. Và, Ngài vẫn muốn có hoa trái vườn nho tạo ra. Và Ngài còn muốn cả rượu ngon từ hoa quả chín mộng ấy nữa. Rượu ngon Ngài uống, là do thợ vườn khác biệt làm ra. Khác, cả tính tình lẫn cách trồng trọt và biến hoa trái thành rượu, từ những khác biệt đó.     

            Trong tâm tình nhận ra ý Chúa tìm rượu ngon từ khác biệt, cũng nên ngâm câu thơ còn để dở:

           “Chao ôi! Ghê quá trong tư tưởng,

            Một vũng cô liêu, cũ vạn đời!”

            (Hàn Mặc Tử - Cô Liêu)

            Bởi cô liêu, nên mới không nhận ra khác biệt. Bởi khác biệt, nên đôi lúc cũng tạo cô liêu. Đời sẽ thế, nếu người người cứ như thế. Như thợ vườn nho ở dụ ngôn xưa và hôm rày ta vẫn thấy. Dài dài.

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh  - Mai Tá lược dịch.  

 

“Có phải em, mùa Thu Hà Nội?”

“Tuổi phong sương, ta cũng gắng đi tìm.

Có phải em, mùa Thu xưa?

Có bong mùa Thu, thức ta lòng son muộn?”

(Trần Quang Lộc – Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội)

(Mt 22: 18, 29-30)

            Âu cũng là chuyện bình thường. Ở đời. Khi, người người vẫn cứ vấp phải đôi ba lỗi lầm lớn/nhỏ, trong quan hệ với người đời. Để rồi, cũng có lúc ta sẽ hối tiếc, mà thốt lên câu: “Thật không có cái dại nào như dại nào.”

Bần đạo đây, đôi lúc cũng rơi vào tình huống khá “lấn cấn”, gần như thế. Gần nhất, là như trong chuyến Mỹ du tháng 6/2011 vừa qua, bần đạo đã khám phá ra được sự thật rất chết người. Sự thật, ấy là: hơn 3 năm về hưu nằm nhà, mà sao bần đạo nào thấy dài! Bởi, có ra đi mà kết thân với người ngoài  -ngoài Đạo/ngoài đời- thì người người mới thấy mình đôi khi cũng lung túng không ít với các chức sắc hoặc đấng bậc, ở cơ quan.

            Thấy họ làm việc tất bật, vật vã đã không thương thì thôi, lại cứ hỏi những câu dư thừa, như: “Busy, busy?” (tức, bận nhỉ?) Để rồi, người đối tác, đã không trả lời/trả vốn thôi, còn hỏi lại: “Phải ông ở Sydney không? Qua đây lâu chưa? Mới có 2 chục năm tức hơn hai thập niên mà không biết là: phi trường Ascot Sydney này cũng bận rộn không kém gì nơi khác như New York, Paris, London hay sao mà còn hỏi? Đúng là câu hỏi thuộc loại vớ vẩn. Không hay lắm!...”

Hú vía! Đó là bần đạo chỉ máy miệng, hỏi có bốn chữ thôi, cũng đã được lời gấp trăm, liên tu hồ điệp tràng pháo tung trời, nổ lốp đốp. Và, lộp độp. Bất chợt nhìn lại sắc da mầu áo của chức sắc ở cơ quan di trú phi trường mới biết: ngài không phải người Tây, mà là “thầy người”, tức bậc thầy Án Độ, rất “fakir”! Thế mới biết, sống ở đời mà cứ lân la chuyện vãn với người “ngoài luồng”, cũng nên nhìn trước nhìn sau mà đoán chừng, đừng tính toán qua loa. Sơ xài. E sẽ hớ!

            Chẳng thế mà, nghệ sĩ họ Trần ở trên vẫn hỏi và hát, những câu ngớ ngẩn, mà đâu sao:

            “Có phải em là mùa thu Hà Nội

Ngày sang thu anh lót lá em nằm

Bên trời xa sương tóc bay.

Thôi thì có em đời ta hy vọng

Thôi thì có em sương khói môi mềm.”

(Trần Quang Lộc – bđd

            Về hỏi han, dù chỉ sơ qua dăm ba câu chuyện hỏi làm quà, nhiều lúc cũng làm ta rối rắm, rất không ít. Có khi, cũng phức tạp cho người hỏi lẫn người trả lời như cuộc hỏi/đáp dưới đây: 

“-Đúng thế không? Cuộc tình của anh chị kéo dài những 15 năm sau đó mới đi đến hôn nhân?

-Điều này không sai. Nhưng, trước khi đi đến hôn nhân, bọn tôi vẫn có một cuộc tình với nhau kéo dài những 15 năm 2 tháng và 1 ngày.

-Thế, anh chị làm gì trong thời gian chờ đợi dài như thế?

-Đơn giản là: trong thời gian đó, chúng tôi đều có gia đình riêng...”  

            Về đáp trả, đôi lúc dù chẳng giản đơn như hỏi đáp ghi trên; chí ít, là hỏi và đáp về hôn nhân, tức: được hôn (người có lòng) nhân, lại có nhân (duyên cũng dễ) hôn. Hôn nhân/nhân hôn ở đời, toàn những thế. Những chuyện rất ư là rắc rối. Có ở đời.

            Nơi nhà Đạo, cũng không tránh khỏi cảnh rối rắm thường dẫn đến nhiều chuyện khá phức tạp khác. Tức những chuyện rắc rối, tối nằm không. Chí ít là khi: cả hai bên đã yêu nhau thật tình, quyết thể hiện tình yêu ấy suốt đời; mà vẫn gặp nhiều vụ việc khá phiền phức về giáo luật, đáng kể như sau:

            Đáng kể, là đáng để kể lể và hỏi han có mỗi chuyện như thế này:

“Tụi con yêu nhau và chịu cưới nhau đã là điều tốt rồi, nhưng sao lại cứ phải đưa nhau vào nhà thờ mới được phép làm lễ cưới theo đúng qui cách của Đạo Công giáo. Như thế nghĩa là sao? Các cặp vợ chồng cưới nhau “ngoài nhà thờ” còn có ý nghĩa gì? Xin giải thích cho biết. (Ký tên một người Công giáo hay thắc mắc).

Giả như người hỏi gửi các câu thắc mắc đến đấng bậc phụ trách mục gỡ rối tơ lòng về Đạo hạnh, thì chẳng có gì đáng gọi là “một người Công giáo hay thắc mắc” hết. Bởi, cha cố ở nhà Đạo luôn cần những người cứ thắc mắc những chuyện đại loại như thế, để có cơ mà giải thích. Chứ, bằng không, chẳng lẽ lại treo văn bằng cử nhân thần học lên tường gạch cho con trẻ nó ngắm nghía sao? Bởi thế nên, đấng bậc ở Sydney luôn sốt sắng trả lời/thời trả cả vốn, như sau:

“Câu hỏi của cô (xin phép được gọi bằng “cô” cho thân mật), là điều rất hệ trọng. Ngày nay, nhiều bạn vẫn đi nhà thờ giữ Đạo, nhưng lại không mấy am tường qui định của Hội thánh liên quan chuyện cưới hỏi. Thậm chí có vị từng làm đám cưới “ngoài nhà thờ” mà không hay biết hậu quả có thể xảy ra, nữa.

Trước hết, xin bắt đầu bằng một giải thích xem thế nào là “đám cưới ngoài nhà thờ”. Cụm từ này, dù gì đi nữa, cũng không là danh từ chuyên môn gì cho cam, mà chỉ muốn nói đến cung cách tổ chức đám cưới đã được Hội thánh chuẩn nhận, cho làm “trong nhà thờ”, vậy thôi.

Điều 1108 nơi Giáo luật đòi rằng: đám cưới giữa người theo Đạo Công giáo chỉ hiệu lực nếu thuận theo qui định của Hội thánh, tức: phải có sự hiện diện của ít là một linh mục, hoặc vị phó tế; và thêm vào đó, là hai người chứng, như thế mới thành. Trong lễ cưới như thế, vị linh mục hoặc phó tế phải yêu cầu cả hai cô dâu chú rể phải bày tỏ sự đồng thuận, rất rõ ràng.

Có làm như thế, thì hai vợ chồng mới được coi là đã làm đám cưới “trong nhà thờ”, theo phép Đạo. Và, đám cưới của hai người mới hợp lệ được. Về đòi hỏi phải có sự chứng giám của một linh mục hoặc phó tế và hai người chứng được gọi là “đám cưới theo khuôn phép rất đúng” như luật định.

Trong một số trường hợp, Hội thánh có thể châm chước chuẩn miễn để hai người không buộc phải theo khuôn khổ như luật định. Chẳng hạn như: nếu một bên là người Công giáo đi cưới một người không phải Công giáo nhưng đã được rửa tội (theo Đạo Chúa như bên Tin Lành) thì hai người có thể yêu cầu được phép làm đám cưới “trong nhà thờ” của người bên Đạo Chúa Kitô mà không phải là Công giáo. Làm như thế, là để trân trọng quan hệ đặc biệt hai người vẫn có với chức sắc của Giáo hội ấy. Hoặc, để khỏi bị gia đình ly cách. Trường hợp này, hai người vẫn có thể hoàn tất chuẩn bị đám cưới thông thường theo Công giáo; và, chỉ có vị linh mục mới có thể xin Đức Giám Mục chủ quản của ngài miễn cho việc rập theo khuôn phép ở giáo luật (x. Giáo luật 1127, #2)

Ở vào tình huống này, bởi hai người đã được Hội thánh Công giáo cho phép, nên mới có thể làm đám cưới tại nhà thờ thuộc giáo phái. Và, đám cưới của hai người khi đó mới được coi là hợp lẽ Đạo. Và mới thành.

Nếu người Công giáo cưới một người theo đạo Chính Thống làm phép tại nhà thờ Đạo Chính Thống trước sự hiện diện của vị chức sắc thuộc giáo phái ấy, mà không có sự chuẩn chước của vị Giám mục chủ quản Công giáo, thì đám cưới ấy vẫn không thành. Đó là nhìn sự kiện theo cung cách hiểu rằng cả người Công giáo và người theo Chính Thống giáo lâu nay san sẻ cùng một cảm thông chung về hôn phối. (x. Giáo luật điều 1127, #1)

Sao phải làm đám cưới “trong nhà thờ” như thế? Có gì quan trọng đến vậy?

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo đã liệt kê những điều hay, lẽ phải của đám cưới có sự hiện diện của linh mục và hai người chứng, như sau:

-Bí tích hôn phối là việc làm có tính cách phụng vụ. Vì thế nên, cần phải cử hành theo qui cách phụng tự của Hội thánh.

-Hôn nhân đưa dắt con người đi vào khuôn khổ có trật tự như Giáo luật dạy. Như thế mới đem lại quyền lợi cũng như bổn phận trong Hội thánh giữa hai người phối ngẫu, để rồi hai người cùng nhau hướng về con cái của mình.

-Hôn nhân là sức sống của Hội thánh, đó là điều hệ trọng. Và, cũng là lý do bắt buộc phải có sự chứng kiến của hai người chứng.

-Tính công khai nơi việc chứng giám/đồng thuận là để bảo vệ lời thề và quyết tâm của hai người giữa nhà thờ, có Chúa hiện diện. Có thế, cả hai mới thực hiện được sự chung thủy cần có. (GLHTCG #1631)

Để tóm tắt, khi cử hành đám cưới có sự chứng giám của Hội thánh như thế thì nhiệm tích hôn phối mới giúp hai người trung thành với điều mình quyết thề hứa mà tiến đến hôn nhân. Việc này cũng giúp hai người chuẩn bị hôn nhân cho phải phép; có như thế, mới tạo sự bền đỗ của hôn phối cũng như củng cố được hôn nhân giữa hai người, qua sự đồng thuận được tuyên bố trang trọng trước mặt Chúa và cộng đoàn Hội thánh.            

Giả như hai người cưới nhau “ngoài nhà thờ” trước mặt người chứng hoặc trước mặt mục sư mà không có phép chuẩn của Hội thánh, thì đám cưới của họ không được coi là thành, trong nhà Chúa, dù vẫn hiệu lực với luật đời. Với luật Đạo, thì hai người có sống với nhau vẫn ở trong tình trạng gọi là “rối”, cũng giống như hai người sống đời đôi lứa ở với nhau không phép cưới. Và như thế, cả hai đều không được phép rước Chúa vào lòng.

Dù sao đi nữa, cũng nên biết: cả hai người đều có tư cách để lấy nhau -nghĩa là trước đó chưa bên nào từng làm đám cưới hoặc đã từng ly dị-  trường hợp này, cả hai đều có thể tương đối dễ dàng xin Hội thánh hợp thức hoá sự kết hợp sống chung của mình theo một trong hai cách: hoặc trao nhau lời thề nguyền có sự hiện diện của một linh mục và hai người chứng, dù chỉ bằng buổi lễ riêng tư thầm lặng, nếu họ muốn. Hoặc, cả hai cùng xin Đức Giám Mục chủ quản cho phép hợp thức hoá hồi tố, nghĩa là được ngài tuyên bố rằng: hôn nhân của hai người được coi như hợp lệ kể từ ngày tháng hôm trước trong đó họ có trao nhau lời thề nguyền không hợp lệ. (x. Giáo luật điều 1160-1161). Nếu họ làm thế, cả hai đều có thể quay về với Hội thánh, mà rước Chúa. (x. Lm John Flader, Question Time, Connorcourt publishing 2008, tr. 180-182)

Theo bài bản, ở luật Đạo, thì như thế. Thế nhưng, vấn đề là: người thời nay, ở nước ngoài, có làm thế nữa hay không? Đó là vấn đề. Và luật lệ có nên du di, luật trừ một chút chăng? Và hôm nay, người trẻ ở đời lại những muốn đôi điều lạ, là: làm đám cưới ở bãi biển, công viên, chứ không phải “trong nhà thờ” như trước, thì sao? Đại để, như người nghệ sĩ ở đời vẫn có giòng nhạc hỏi rằng:

 

           “Tháng tám mùa thu lá rơi vàng chưa nhỉ?

Từ độ người đi thương nhớ âm thầm

Có phải em là mùa thu Hà Nội

Tuổi phong sương ta cũng gắng đi tìm

Có phải em mùa thu xưa?”

(Trần Quang Lộc – bđd)

 Nơi thi ca hay trong cuộc đời, có người vẫn cứ hỏi. Bạn và tôi, có trả lời hay không, thì người người vẫn cứ sống. Sống cuộc đời người. Với người đời có thi ca, âm nhạc, như còn hát:

 

          “Thôi thì có em đời ta hy vọng

Thôi thì có em sương khói môi mềm

Có phải em là mùa thu Hà Nội

Nghe đâu đây lá úa và mi xanh

Nghe đâu đây hồn Trưng Vương sông Hát.”

(Trần Quang Lộc – bđd)

Trả một lời như thế, phải chăng nhà thơ đã trả lời trả vốn, cho mọi người. Bằng nhiều cách? Còn nhà Đạo, cũng có người đến hỏi những câu rất tương tự, để người người lại học được một chân lý, rất tự nhiên:

 

     “Vậy, trong ngày sống lại,

bà ấy sẽ là vợ ai trong số bảy người,

vì tất cả đều đã lấy bà?"

(Mt 22: 18)

 

            Và câu trả lời đích đáng hơn cả, vẫn là:

 

            “Đức Giê-su trả lời họ:

"Các ông lầm, vì không biết Kinh Thánh,

cũng chẳng biết quyền năng Thiên Chúa.

Quả thế, trong ngày sống lại,

người ta chẳng lấy vợ lấy chồng,

nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời.”

(Mt 22: 29-30) 

            Sống lại với Nước Trời, người người sống với nhau không bằng luật lệ, của Môsê hay ai đó, mà là sống có tình với nhau. Luật hay lệ, vẫn chỉ là chữ viết, vẫn o ép. Bức bách. Bức bách hay o ép, đến chỗ chết, hãy như người nữ phụ trong truyện kể ở dưới, cứ thấy vui mà kể lể: 

        “Truyện kể rằng:

        Sau khi chẩn đoàn rất kỹ lưỡng, vị bác sĩ bèn nói với bệnh nhân rằng:

-Dù là tin buồn, nhưng tôi vẫn phải nói để bà còn thu xếp mọi chuyện cho chu đáo. Bà bị ung thư gan, giai đoạn cuối. Thế nên, tôi đề nghị khi về nhà, bà sắp xếp mọi chuyện với chồng con, sao cho phải lẽ. Có như thế, khi ra đi, bà mới cảm thấy thanh thoát. Nhẹ nhàng.

Tuy sững sờ, nhưng bà bệnh nhân kịp lấy lại sự bình tĩnh, rồi ra ngoài nói với người con gái đang chờ, ở phòng đợi:

-Con à, là phụ nữ, mẹ con mình vẫn có thói quen là sự thể dù có thế nào đi nữa, vẫn bình tĩnh. Cứ ăn mừng. Cả khi có tin dữ lẫn tin vui. Và tin hôm nay là tin không được vui cho lắm: mẹ được bác sĩ cho biết, đã ung thư. Bởi thế nên, nay mẹ con mình ra câu lạc bạ uống đôi ba ly, cho đỡ buồn.

Uống xong hai ba ly martini, cả hai mẹ con đã bớt buồn. Người mẹ còn cười cười nói nói, rất liên hồi. Cuối cùng có vài người bạn đến gần hỏi:

-Này cho mình hỏi lý do sao mà bà cứ là vui như Tết chẳng lo gì hết vậy?

-Tôi nói thật với các bà điều này: Bác sĩ vừa bảo tôi bị bệnh Siđa, đấy!

Ai nghe thế, đều hú vía bịt mồm bịt miệng chạy cho mau về nhà, kẻo lây. Khi mọi người đi hết, người con gái bèn hỏi mẹ:

-Mẹ này. Sao lúc nãy mẹ bảo với con rằng bác sĩ nói mẹ bị ung thư, giờ thì mẹ lại nói Siđa, là sao con chẳng hiểu gì cả?

-Ngốc ơi là ngốc. Nếu mẹ không nói thế, thì sau khi mẹ chết đi, mấy mụ này sẽ lại tằng tịu lăng nhăng với bố mày, thôi.      

-À ra thế. Nay con mới hiểu lời bác sĩ nói: để bà còn thu xếp mọi chuyện cho chu đáo! Đúng là cuộc đời. Giời ơi là giời…”

Truyện kể chỉ là truyện hư cấu, ở trời Tây. Giữa người đời. Nhưng nếu người người vẫn cứ ưu tư thắc mắc chuyện người đời những muốn “thu xếp mọi chuyện cho chu đáo” cả lúc sống cũng như khi chết, thì truyện kể ở bên trên có xảy ra ở đâu đi chăng nữa, vẫn là chuyện dài ở huyện. Cả huyện nhà Đạo, cũng không chừng.

            Thế nên, lời cuối phiếm loạn hôm nay, lại là câu hát có ý tứ cũng rất lạ như sau:

 

             “Có chắc mùa Thu, lá rơi vàng tiếng gọi

         Lệ mừng gặp nhau, xôn xao phím dương cầm.

         Có phải em là mùa Thu Hà Nội?

        Nghìn năm sau, ta níu bóng quay về?

       Ôi mùa thu của ước mơ…”

(Trần Quang Lộc – bđd)

Thế thì, mùa Thu Hà Nội, hay mùa Xuân của Sàigòn vẫn cứ nên gọi đó, mùa của hy vọng. Có những tình tự rất thân thương. Ưu ái, một kiếp người. Ở muôn nơi. 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Hỏi thì vẫn hỏi

            nhưng đâu nào có gọi

            người em mình

là mùa Thu Hà Nội hay Sàigòn.

Mà: Xuân nhà Đạo

có nở rộ khắp nơi nơi?


 

dongcongnet- sưu tầm September 29, 2014

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)