dongcong.net
 
 

Hai đoản khúc suy tư 2011

Suy niệm Chúa Nhật thứ 29 thường niên năm A 16.10.2011

“Ta xót thương, ta căm giận hung cuồng,”

“Ta gầm thét, rung mấy trời thế sự.”

(dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Mt 21: 15-21

Hung cuồng giận căm, là cung cách của người thường, rất ở đời. Rung trời thế sự, cả khi con người dám vấn nạn Đấng Nhân Hiền về việc đóng thuế cho Xê-Da, như được diễn tả ở trình thuật.

Trình thuật, nay thánh Mát-thêu diễn tả về tình thế trong đó những người “hung cuồng” dám gài Chúa vào bẫy cạm của thế sự bằng vấn nạn:“Nên chăng trả thuế cho Xê-da?” Thế sự hôm ấy, đám Pharisêu ngạo mạn và nhóm giáo gian nịnh hót vua quan Hêrôđê ở Do thái, những muốn đặt Ngài vào tình huống nóng bỏng về phục vụ ngoại bang. Họ cứ nghĩ: Ngài có trả lời thế nào đi nữa cũng sẽ làm mất lòng dân. Nếu Ngài nói khác, cũng vẫn rơi vào tròng. Nói cho cùng, họ muốn đặt Ngài vào tình trạng phải đối đầu với phe thân thực dân, để rồi chịu mọi hậu quả. Thế nên, thánh Mátthêu gọi họ là “giả hình”. Nhưng kỳ thực, phải gọi họ là “đám sùng đạo gian giảo”, mới đúng.

Ngược giòng lịch sử, ta thấy đất nước Palestine của người Do thái lúc bấy giờ nằm dưới quyền kiểm soát của La Mã. Tức, những người chuyên bổ thuế nặng nề lên đầu đám dân đen hèn mọn rất thấp cổ bé họng. Vượt biên giới cũng đóng thuế. Mua bán/đổi chác bất cứ thứ gì, cũng chịu thuế. Thậm chí dân con người người còn phải đóng cả thuế đinh, tính trên đầu người nữa.

Thực tế khi ấy, Xê-Da là Tibêrius, con trai của Thượng tế Augustus được dân coi như ông Trời con, rất đáng gờm. Cả Augustus lẫn Tibêrius, vẫn coi mình thuộc giới thần linh, cần được kính nể. Các ông còn tự ban cho mình tước vị cao vời vợi như: lãnh chúa, đấng cứu độ chuộc tội cả thế gian. Và, cho mình có trọng trách quản cai cả và thiên hạ. Nên, việc trước tiên của họ là phải chiến thắng về binh bị, và an bình là đoạn kết rất dĩ nhiên. Rốt cục, người thua cuộc phải chịu mất đi sự an bình, đành phủ phục dưới đất mà ngợi khen kẻ chiến thắng.

Trong giao dịch hằng ngày, người Do thái vẫn sử dụng nhiều tiền kẽm của La Mã. Thế nhưng, khi sử dụng đồng tiền ấy để trả thuế, họ lại coi đây như công việc về tôn giáo – như sùng bái hoàng đế và coi đó là lối sống theo kiểu La Mã. Có thể nói, đóng thuế là một trong các vấn đề đưa đến cuộc nổi dậy kết thúc bằng việc thành Giêrusalem bị phá huỷ năm 70. Thành thử, với người Do thái, đóng thuế là việc tựa hồ như thờ bái ngẫu thần vậy.             

Trong cuộc đời công khai của Ngài, Đức Giêsu tỏ cho mọi người thấy lối sống khác kiểu của La Mã. Và, đây là lối sống tỏ bày sự chống đối đám thực dân này. Với Ngài, cuộc sống phải đặt nền tảng trên công bình chính trực với hết mọi người. Công bình và chính trực, khiến Cha Ngài và là Chúa của người Do thái luôn tôn trọng con người. Thiên Chúa là Đấng thiết lập giao ước với con người, bởi thế nên giữa họ sẽ không còn người nghèo, hoặc kẻ hèn nào hết.

Khi Đức Giêsu nói Nước của Thiên Chúa đã đến, thì người La Mã hiểu ngay điều Ngài muốn nói. Ngài nói thế, tức: vương quyền của Xê-Da đã đến hồi kết cuộc. Người La Mã nghe vậy đều coi đó như một bội phản rất trời long đất lở. Và, họ giết Ngài là vì thế. Nhưng Đức Giêsu tin là Thiên Chúa vẫn ở với người thua cuộc. Và Chúa đã bắt tay vào việc giùm giúp hỗ trợ kẻ đau khổ về sự bất công do người La Mã và các kẻ nịnh bợ họ đem lại. Thiên Chúa dọn sạch thế giới. Ngài làm bật gốc mọi bạo động và nhờ đó, đem lại cho con dân Ngài cuộc sống an bình, dễ chịu. Ngài có chương trình khác hẳn vua quan La Mã. Không nhất thiết phải chiến thắng về binh bị, mới có thể tạo được an bình. Nhưng, tiên vàn phải tạo công bằng trước đã và từ đó an bình sẽ đến sau.

Về việc đóng thuế cho vua quan La Mã, đó không là trọng trách của dân con người Do thái. Mà là, vấn đề tôn giáo cũng như công bằng chính trực rất đậm sâu. Đức Giêsu đi thẳng vào trục vấn đề, bằng cách đòi xem hình vẽ trên đồng tiền quan. Tiền này, ai cũng có sẵn ở trong người, còn Ngài thì không. Bởi thế, Ngài mới hỏi họ là: hình của ai khắc trên đó, họ mới nói: quan tiền nào cũng mang hình tượng của Xê-Da. Và, Ngài bảo: “Vậy, các ông hãy đem trả cho Xê-Da, vì chính ông ta sở hữu nó”. Câu trả lời của Ngài mang ý nghĩa của động thái bước ra khỏi cung cách phụng thờ phục vụ để chỉ chấp nhận lý lẽ của thuế má, mà thôi.

Và Ngài tiếp: “Hãy trả lại cho Chúa, những gì thuộc về Ngài.” Điều này xác nhận một chân lý lâu nay vẫn sáng tỏ với mọi người, đó là: hình ảnh Thiên Chúa đã được ghi khắc nơi tâm khảm của mọi người, ngay khi họ được Giavê Thiên Chúa tạo dựng. Nhưng hôm ấy, thật sự Chúa không có ý ám chỉ về việc ấy mà Ngài chỉ muốn nói: Thiên Chúa, theo luật Torah, đã ngăn cấm loài người tạc hình tạc tượng của chính Ngài. Điều này cũng rất đúng, nhưng không phải là ý Chúa muốn biểu tỏ vào hôm đó.

Ý nghĩa của câu Chúa nói không nằm trong bản Kinh thánh 70, tức: Chúa chỉ muốn bảo: thuộc về Ngài, là đám người nghèo hèn, những kẻ bị nhóm quan quyền thân La Mã chèn ép, hạ bệ. Hãy cho họ một cơ hội để có thể tự vươn lên. Hãy trả lại cho họ sự cộng chính, bình an, vốn là quyền của họ, trước mặt Thiên Chúa, cho dù họ có bị chính người La Mã và đám giáo gian nịnh hót luôn thử thách, coi thường. Với Đức Giêsu, đây mới là tôn giáo đích thực. Ngài vẫn nói lên sự thật ấy dù có bị người La Mã bắt giam và xử tệ trên khổ giá.

Đọc trình thuật hôm nay không phải để kể cho nhau nghe về đế quốc La Mã dù hào hùng. Bởi, đế quốc nào mà chẳng chèn ép bắt bớ dân con nghèo hèn, ở bên dưới. Thật buồn thay, khi ta thấy “các nền văn minh hôm nay vẫn tự cho mình là sáng giá” đều quay về với thể chế rất chèn ép, thống trị hệt một phường như lịch sử thường minh chứng.

Tác giả Dominic Crossan dùng cụm từ “về với cảnh tượng rất thường ngày” để tả về trạng thái của người Do thái. Thánh Phaolô lại nghĩ về nền văn minh “tai tiếng” thời đế chế Augustus và bạo chúa Nêrô sẽ cứ thế tràn về, nếu không ai cản ngăn bước chân bạo tàn của đám người ấy. Hôm nay đây, đế quốc phương Tây cũng sắp hàng dài chạy theo cùng một kiểu cách như thế. Đế quốc phương Tây xưa nay gồm từ Hy Lạp, cho chí La Mã, Anh quốc ở thế kỷ 18, 19 và Hoa Kỳ ở thế kỷ thứ 20, và tương lai có thể sẽ là Vaticăng của chúng ta cũng chưa biết chừng, nếu ta không đề cao cảnh giác!

Hệ thống đế chế luôn hứa hẹn hoà bình đến với con dân (như thể loại Pax Romana khi xưa) bằng chiến thắng rất binh bị. Nghĩa là, cũng khởi đầu bằng khổ ải, rồi lại chiến tranh tàn phá, kết cục bằng những động thái dương oai đắc thắng, tức: những động thái rất chễm chệ, ăn trên ngồi chốc của kẻ đắc thắng đi từ hệ cấp dũng mãnh uy lực, thứ hoà bình của kẻ chiến thắng có sự hỗ trợ của Aenaeas Mars Ultor, rồi cả Nữ thần Rôma và thần Sung Mãn, cứ thế mà sinh sản. Qui luật họ đưa ra, được viết trên đá cẩm thạch. Văn minh họ khởi xướng gồm cả chế độ cha chú, chủ trương duy trì nô lệ. Lối sống của họ tuy mang dáng dấp rất tôn giáo, có toà án lẫn bàn thờ, vẫn cứ tôn sùng con người là hoàng đế lẫn vua quan, lãnh chúa.

Chủ trương đế chế, nay được sử dụng như cụm từ để diễn tả một thế giới vẫn kéo dài sự thống trị mãi cho đến thế kỷ 20. Hôm nay, tệ hại hơn lại có chủ nghĩa toàn trị và khủng bố. Và, có thay đổi chăng, thì cũng chỉ thay và đổi cung cách cũng như kỹ năng sử dụng bạo lực bằng kỹ thuật thật tinh xảo hơn thôi. Với khí giới giết người hàng loạt mà chưa một đế quốc nào xưa nay từng nghĩ tới.           

An nhàn và bình yên đã trở thành ngôn từ khó hiểu, rất nhiều nghĩa. Đối với ta, đôi khi còn trở nên trống rỗng. Dominic Crossan gọi đó là: ”Hoà bình trở nên thứ hàng trang trí ta treo lủng lẳng ở trên cây thế giới vào mỗi năm. Ta sẽ chỉ mang nó đi, theo cung cách của lịch sử mà thôi.”

Đức Giêsu khẳng định: “Bình an đến với anh em”. Bình an, Ta gửi đến với anh em là sự an bình Chúa hứa ban. Nhưng, Ta chỉ ban bình an ấy hoặc để lại bình an ấy cho mọi người, trừ phi anh em thực thi công bình của Chúa, đối với nhau. Đặc biệt hơn, là những người lâu nay bị chèn ép, bị khống chế tồi tệ, không ngóc đầu lên nổi vì thể chế thống trị đầy áp bức của cái-gọi-là văn minh, tân tiến ở mọi thời. May thay, Đức Giêsu kịp giải thoát ta khỏi chốn bi ai, trầm thống rất bất công. Để, ta về với nhau sống hài hoà, bình an, thương mến.

Trong nhận thức về sự giải thoát của Đức Chúa, ta lại ngâm lên lời thơ tuy rất khổ:

 

            “Trông thấy ra, cả cõi đời kinh hãi.

            Giòng sông con nép cạnh núi biên thuỳ.

            Đuờng châu thành quằn quại dưới chân đi,

            Xao động hết loài cỏ hoa đồng nội.”

(Đinh Hùng – Bài Ca Man Rợ)

 

Nay hết rồi, một bài ca man rợ ấy. Dù, đã kéo dài nhiều thế kỷ. Bởi, Đức Chúa Nhân Hiền kịp kéo ta về với hoà bình và công chính, Ngài hứa ban. Nhận ra thế, ta sẽ dâng lời cảm kích biết ơn hoài. Sẽ thương hoài ngàn năm, nay là thế.

 

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh.

Mai Tá luợc dịch.  

“Hãy trao cho nhau muôn ngàn yêu dấu”
“Hãy trao cho nhau hạnh phúc lẫn thương đau…”

(Trịnh Công Sơn -  Hãy Yêu Nhau Đi)

(1Cr 13: 2)

            Giả như anh hát: “hãy trao cho nhau, hạnh phúc với sướng vui” thì còn nghe được. Chứ đằng này, ai lại trao cho nhau cả những thương đau, nghe thật cũng rầu. Đời người, đầy những đau thương, sầu buồn, khốn khổ đâu nào thiếu. Có thiếu chăng, chỉ thiếu mỗi niềm phúc hạnh, thương yêu, dạt dào thôi. Bởi thế nên, nếu bảo: “Hãy trao cho nhau dạt dào niềm phúc hạnh”, đó mới là khúc tình ngàn dặm còn lưu luyến. Dù không gian có cách biệt. Dù, thời gian có chìm đắm chốn thiên thu.

            Người tình xưa, vốn chìm đắm nơi bể khổ đầy nhung nhớ, hẳn rồi nay sẽ hát:

 

“Trái tim cho ta, nơi về nương náu,

Được quên rất nhiều ngày tháng tiêu điều.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

 

Vâng. Sự thật là thế. Là thế, tức: một khi con người đã đắm chìm trong nỗi khổ đầy thương đau, dâu bể với âu sầu, cũng chỉ mong sao quên lãng ngày tháng tiêu điều, buồn bã, chán chường thôi. Và khi ấy, người nghệ sĩ lại hát thêm:

 

“Hãy yêu nhau đi, bên đời nguy khốn,

Hãy yêu nhau đi, bù đắp cho trăm năm.

Hãy yêu nhau đi, cho ngày quên tháng,

Dù đêm súng đạn, dù sáng mưa bom.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

 

Sống thời bình, nước đã giàu dân đã mạnh rồi, ai mà để tâm đến lời nỉ non om sòm những súng đạn kéo dài suốt đêm thâu! Làm gì còn cảnh sáng sáng trời đất cứ thế ngập tràn những mưa bom, đại bác với pháo kích, vv. .. Hoạ chăng, chỉ nơi xa tít mù tắp xứ Lybia, Afghanistan, Sri Lanka. Ôi thôi! những là “thương nhau ngày đầu”, rất muốn như sau:

 

“Ngày xưa, trong làng nọ có người nông dân nghèo khổ, không có tiền để trả món nợ lớn cho lão già xấu người, xấu cả tính nết. Nông dân ấy, có cô con gái xinh đẹp khiến chủ nợ cứ là mặc cả với nông dân nghèo để đổi nợ. Mỗi lần gặp con nợ nông dân, lão chủ hứa sẽ xoá hết nợ, nếu bác nông dân chịu gả con gái đẹp cho lão.

Ở vào thế khó xử, hai cho con bác nông dân rất sợ. Nhìn nét mặt sợ hãi của hai cha con nông dân nghèo, lão chủ bèn đề nghị một giải pháp xem ra dễ thực hiện cho cha con nhà nghèo hơn. Đề nghị mà lão ta đưa ra, là: lão sẽ bỏ hai hòn sỏi nhỏ, một trắng một đen, vào túi xách và bảo cô gái bốc ra một trong hai hòn sỏi ấy. Túi xách được cột kỹ, nên khi bốc, cô bé chẳng thể nhìn ra mầu sắc của sỏi để chọn.

Lão ta qui định, là: hễ cô bốc nhằm sỏi đen, thì phải chấp nhận lấy lão làm chồng, và như thế mọi món nợ từ trước đến nay đều được xoá. Nếu gặp may, cô bốc được hòn trắng, thì sẽ không buộc phải ở với lão, và mọi nơ nần của cha cô đều xoá sạch. Còn, nếu cô không chịu bốc, thì cha cô sẽ bị lão đem bỏ tù đến khi nào trả hết nợ mới thôi.

Vì chuyện quan trọng cho đời mình, nên cô gái quan sát kỹ thấy hai hòn sỏi được lão già nhặt bỏ vào túi xách, đều có mầu đen. Biết thế, nhưng cô vẫn im lặng như không có gì xảy ra, chẳng thốt lên lời nào, e lão già biết được sẽ lật lọng. Xong đâu đấy, lão già yêu cầu cô gái cho tay vào túi xách bốc một trong hai hòn sỏi nhỏ, cho bá quan thiên hạ biết sỏi đó mầu gì.  

Trong tình thế rất căng, cô gái chợt nghĩ ra một kế: cô thọc tay vào túi sỏi, rồi làm như sơ xuất để nó rơi xuống đất, lẩn khuất trong đám sỏi đủ mầu. Cô buột miệng la lên: “Trời! Làm sao tôi lại vụng về đến độ để rơi mất hòn sỏi kia chứ!” Không sao, tôi sẽ bốc hòn sỏi còn lại trong túi. Ai cũng thấy hòn sỏi đầu mầu gì rồi phải không? Bây giờ tôi bốc hòn sỏi còn lại trong túi nếu mầu đen thì hòn sỏi đầu là màu trắng, phải không ạ?”

Cô gái làm thế vừa để cho lão già quỷ quyệt không nhận ra là ông đã gian dối bỏ vào túi xách hai hòn sỏi mầu đen; vừa để biện luận cho mọi người hiểu là cô làm đúng, và kết cuộc đem lại lợi thế cho cô. Làm thế, vừa giải quyết chuyện nợ nần cho cha mình, như chủ nợ đã hứa, lại cứu vãn cho lão chủ nợ khỏi bị mất mặt vì gian lận.”

Lời bàn của người kể hôm nay, là: truyện này nói lên một bài học luân lý rất giản đơn sau đây: trong cuộc sống, mỗi sự việc mang nhiều khía cạnh, ít là hai. Hai đây, không chỉ là mầu trắng/đen của hòn sỏi. Trắng/đen cuộc đời, buộc mọi người chấp nhận sống, dù rằng không ưa hoặc chẳng thích.

Lời bàn là thế, nhưng người nghe còn nhận ra được ý nghĩa khác không kém phần thực tế về yêu thương ở đó có tình tiết về hệ quả không thể lường trước. Thế nên, nghệ sĩ xưa lại viết lên lời bàn rất nhủ khuyên và rất thực, như sau:    

                        “Hãy yêu nhau đi khi rừng thay lá.

Hãy yêu nhau đi, giòng nước đã trôi xa.

Nước trôi qua tim rong đầy trí nhớ.

Ngày mãi mong chờ, ngày sẽ thiên thu.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

 

            Bởi thế nên, “Hãy yêu nhau đi”, khi “rừng đang thay lá”, cả vào lúc “giòng nước đã trôi xa”, vẫn yêu. Yêu rất nhiều, dù đời u tối. Bởi một khi đã yêu, thì mình sẽ quên đi những ngày u tối, trong đời. Hãy yêu, cả vào lúc biết mình sẽ xa lìa thế giới, như ca từ người nghệ sĩ còn muốn hát, như sau:

 

                                    “Hãy yêu nhau đi quên ngày u tối

Dù vẫn biết mai đây xa lìa thế giới

Mặt đất đã cho ta những ngày vui với

Hãy nhìn vào mặt người lần cuối trong đời!”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

 

            Hãy yêu đi. Yêu, hết lý trí cùng tâm can. Yêu, không chỉ con người. Hoặc, loài thú thôi. Nhưng, yêu cả vạn vật. Yêu thiên nhiên. Vũ trụ. Yêu, bằng con tim chân chính không cân nhắc. Yêu, với tất cả tâm trí không cần lý luận. Yêu hăng say. Yêu miệt mài, như thánh nhân nhà Đạo từng ca ngợi tình yêu nhiệm mầu, rằng:

 

                                    “Giả như tôi được tất cả lòng tin,

khiến chuyển được đồi núi,

mà tôi lại không có lòng mến,

thì tôi vẫn là không.”

(1Cr 13: 2)

Nói thế, thì: cuộc sống con người chính là để yêu. Yêu mọi nơi mọi lúc. Lúc nào người người cũng đưa lòng người đang yêu về với Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu, như được căn dặn rằng: hãy bày tỏ tình yêu với Chúa. Và, với mọi người. Bày tỏ tình yêu không cdhỉ bằng ngôn ngữ của xác thân. Hoặc, trí tuệ. Tinh thần. Mà bằng cả cử chỉ lẫn nghi tiết phụng vụ tình yêu. Bất cứ nơi đâu, lúc nào cũng bày và cũng tỏ

            Ngôn ngữ diễn tả Tình-Yêu-ta-có với Chúa, được Hội thánh lâu nay sử dụng trong phụng vụ. Cả khi nghe và đọc Lời Chúa. Cả lúc khởi đầu câu tụng niệm khi dâng lễ, bẻ bánh. Ngôn ngữ mà người phàm sử dụng trong nguyện cầu, đôi khi khiến người cầu nguyện cứ tự hỏi: không biết lời kinh mình đọc có xứng hợp với đặc trưng Chúa dạy, hay không.

            Vừa rồi, một phó thường dân nhà Đạo cũng thắc mắc đôi điều như thế, nên có thư về hỏi han đấng bậc phụ trách mục hỏi/đáp bằng lời lẽ rất sau đây:

 

“Dự lễ, tôi và một số bạn như bị hụt hẫng về lời kinh ta đọc trong các lễ. Đặc biệt những câu được cha chủ tế cất cao giọng đọc trước khi đọc kinh Tiền Tụng, dâng Chúa những lời như: “Hãy nâng lòng lên”, để rồi giáo dân lại sẽ thưa: “Thật là chính đáng và phải lẽ.” Thắc mắc của tôi là: đằng sau kinh này, chắc có điều gì hàm ẩn bên dưới mà tôi chưa hiểu rõ. Vậy xin linh mục vui lòng giải thích. Thành thật biết ơn.” (Một người đi nhà thờ rất thường nhưng chưa am tường nhiều kinh kệ).

Am tường sao bằng đấng bậc vị vọng ở nhà Đạo được! Các ngài từng học cao hiểu rộng cả về thần học, tín lý, lẫn phụng vụ. Thế nên, dân con nhà Đạo nay thấy hay nhất là gửi câu hỏi nào “hơi bị” chuyên nghiệp về đấng bậc học cao hiểu rộng, bằng cấp đầy mình, chính là đức thày Lm John Flader của tờ The Catholic Weekly Sydney, vẫn chịu giảng giải trên báo, rất như sau:   

 

“Có thể nói: lời kinh cô vừa trích dẫn, có nguồn gốc cũng rất xưa trong các Sách Lễ. Tra cứu kỹ, có vị tìm được câu ấy trong tài liệu tham khảo của thánh Hippolytus gọi là “Truyền Thống Tông Đồ xuất hiện vào năm 215, khi ấy được dùng làm kinh cầu buổi chầu Thánh Thể. Bởi thế nên, đọc lời kinh ấy ta thấy mình được kết hợp với người anh, người chị trong Đạo vào thế kỷ thứ ba cũng như với tất cả mọi người từ đó đến nay.

 

Ngôn từ bản văn cổ có nói: “Hãy để phó tế đưa của lễ cho giám mục chủ sự. Khi ngài đặt tay lên lễ vật cùng với đoàn linh mục đồng tế, cứ để ngài nói lên lời cảm tạ: ‘Chúa ở cùng anh em’. ‘Và ở cùng thần khí ngài’. ‘Hãy nâng lòng lên’. ‘Tất cả hướng về Chúa’.’Hãy cảm tạ Thiên Chúa, là Chúa chúng ta’. ‘Thật là chính đáng và phải lẽ’.

 

Xem thế thì, lời xướng đáp đây gồm những câu được thấy trong bản dịch mới của thánh lễ bằng tiếng Anh, tức toàn bộ được rút từ bản tiếng La tinh của thánh Hippolytus. Nhưng các câu ấy có nghĩa gì?

Khi đọc lời chúc: “Chúa ở cùng anh chị em” xong, chủ tế xướng kinh bằng tiếng Latinh ‘Sursum corda’, tức: “Hồn ta ở bên trên” hoặc: “Tâm can ở trên cao”. Ý nghĩa này rút từ sách Cựu ước, trong đó nói: “Hãy nâng lòng và bàn tay với Thiên Chúa trên trời.” (Ai Ca 3: 41)

Thánh Âu Tinh có lần từng giảng: “Hãy nâng lòng ta lên để nó không bị rữa nát nơi mặt đất. Lời ngài cốt cầu mong cho chúng không bị rữa nát, nhưng đuợc cứu vớt.”” (Bài giảng 60, #7)

Trong thư gửi giáo dân ở Côlôsê, thánh Phaolô cũng viết: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.” (Cô 3: 1-2)

Lời kinh vang vọng lời Chúa ở Bài Giảng Trên Núi khi Ngài phán: “Hãy tích trữ cho mình kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi. Vì kho tàng anh ở đâu, thì lòng anh ở đó.” (Mt 6: 20-21)

Chính vì thế, khi bước vào phần chính của thánh lễ, tức phần truyền phép Thánh Thể, người tham dự được mời gọi bỏ lại đằng sau tất cả những gì là thế gian để nâng lòng trí và tâm can lên cùng Chúa.

Cũng thế, ngôn từ của bài dạy trong sách lễ Rôma cũng nói: “Giờ đây ta bước vào trọng tâm và đỉnh cao của thánh lễ, tức lời truyền Thánh Thể, là lời cảm tạ và thánh hoá. Linh mục mời gọi người tham dự hãy nâng lòng mình lên cùng Chúa trong nguyện cầu cảm tạ.” (sđd 78)

Thánh Cyril thành Giêrusalem (315-386) có nói về nghi tiết này trong cuốn “Sách Phần để Khai Tâm” do ngài viết gửi cho tân tòng ở Giệrusalem năm 352, có dặn rằng: “Vị chủ tế cất cao lời cầu ‘Hãy nâng lòng lên!’, là vì: đây là thời khắc long trọng nhất để ta nâng lòng trí lên cùng Chúa, chứ không phải để ta đặt nó thấp ở dưới đất cùng với phẩm vật phàm trần, là để dạy ta bỏ lại dưới đất mọi ưu tư cùng lo lắn thể xác để nâng lòng mình lên chốn trời cao cùng Thiên Chúa là Đấng vô cùng rộng lượng. Khi ấy, ta sẽ thưa cùng ngài rằng: “Chúng con đang hướng về Chúa.” Nói cách khác, làm thế là ta đồng ý những gì vị linh mục nguyện cầu bằng cách công nhận việc ta đang làm. Vậy thì, ai đến dự lể để thưa cùng vị chủ tế bằng câu “Chúng con đang hướng về Chúa”, mà lòng trí lại vướng bận chuyện xác phàm là chuyện không phải.” (trích Sách Phần Khai Tâm #848d)         

 

Tóm lại, điều này có nghĩa: quả là phải lẽ và chính đáng để ta cảm tạ lòng lành của Chúa đã vượt quá sự công bằng chính trực mà cứu vớt ta và đem ta về kết hợp cùng Ngài, để được làm con Ngài. Tức, những gì Chúa làm cho ta đều do lòng xót thương mẫn cán cho nên việc ta tạ ơn Ngài thật là phải lẽ.

Khi xướng câu này, ta tìm ra được lý lẽ để ca tụng ngợi khen và cảm tạ Chúa về việc Ngài dựng nên ta, và Ngài nhập thể làm người mà cứu chuộc ta nhờ Hội thánh, và ngang qua các phép bí tích. Ta cảm tạ Chúa ban cho ta có được lòng tin, sự sống, sức khoẻ, tài trí và gia đình rất yêu thương…

Tựu trung, ta có thể nói rằng: những gì tóm gọn trong lời xướng/đáp giản đơn xưa cổ ở thánh lễ quả là dồi dào, súc tích thật không kể.” (x. Lm John Flader, The Catholic Weekly, 17/7/2011 Question time tr. 11)

 

            Như vẫn nói, mỗi lần có ai hỏi đấng bậc vị vọng phụ trách mục giải đáp thắc mắc mọi mặt trong Đạo, người nào cũng nắm phần chắc như “đinh đóng cột” và mãn nguyện. Mãn tâm nguyện, vì đấng bậc nhà mình thuộc giống giòng hào kiệt ở trời Tây. Rất nhiều năm kinh nghiệm. Bởi thế nên, lời giải mã của đức thày bao giờ mà chả chính mạch, đáng tin cậy.

            Duy có điều, là: khi nghe lời giải của đức thày rồi, người đọc chắc chắn sẽ gật gù mà công nhận để rồi sẽ đi thẳng vào giấc mộng thiên thu, có Chúa có Mẹ đón chờ mình. Phần bần đạo, vẫn nghe quen những lời giải đáp như thế từ nhỏ, nay nhớ lại cũng vẫn gật gật gù gù không chỉ để đi vào giấc thiên thu mộng mị, đầy gật gật thôi, mà còn tìm ra được lời vui nơi câu hát ở bên dưới, rằng:

 

                                    “Hãy ru nhau trên những lời gió mới,

                                    Hãy yêu nhau cho gạch đá có tin vui.

                                    Hãy kệu tên nhau trên gềnh dưới bãi

                                    dù mai nơi này người có xa người.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

 

            Hát lời này, bần đạo thấy: lời ca trên đã không đem mình vào chốn miền nhiều gật gù, cho bằng vẫn dẫn đưa ta về với lời vàng hôm xưa có thánh nhân vẫn khẳng định: “Thiên Chúa là Tình Yêu”, và “nâng lòng trí lên cùng Chúa” chính là nâng tâm hồn cùng với lời dặn dò vàng ngọc từ các thánh vẫn cứ bảo:

 

                                    “Anh em hãy gớm ghét điều dữ,

tha thiết với điều lành;

thương mến nhau với tình huynh đệ,

coi người khác trọng hơn mình;

nhiệt thành, không trễ nải;

lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa.”

(Rm 12: 10-11)

 

            Thể theo lời yêu cầu của thánh nhân mà thực hiện điều lành trong cuộc sống có lời nhủ khuyên: “hãy nâng lòng lên”, bần đạo lại dám thêm một đề nghị vào đoạn cuối buổi phiếm loạn chuyện cao siêu nhiệm mầu bằng truyện kể, rất dễ hiểu để còn nhớ, như sau:

 

                                    “Truyện rằng:

Người con đi Đạo hôm ấy thấy lòng mình dâng cao lên với Chúa, bèn có lời thân thưa cùng Ngài như sau:

-Lạy Chúa Cha Nhân Từ, là Tình Yêu của con và của muôn người, hôm nay con nâng lòng lên với Tình Yêu Chúa để rồi sẽ thưa Chúa chuyện của con. Con thưa với Chúa là: con rất yêu vợ con. Yêu vô cùng tận đến độ nếu cô ấy có đau đầu đau óc, thì con đây xin đau thay. Nếu cô ấy rơi vào chốn buồn sầu lo lắng, thì con xin lắng đọng sầu buồn thay cho cô ấy. Và nếu cô phải chịu cảnh goá bụa nuôi con nhỏ, thì con đây xin chịu thay cho cô cảnh khổ ấy…

Nay con khẩn nài xin Chúa nhậm lời con cầu van, Chúa ơi! Chúa của con ơi!!”

Nâng lòng trí, thì ai mà chẳng nâng được. Nhưng, cũng chớ có nâng hoặc nhấc theo kiểu gật gật gù gù hoàn toàn đồng ý hoặc thất hồn như người trẻ nọ vẫn cầu như trên. Tóm lại, nâng gì thì nâng bạn mình hãy cứ nhớ mà nâng hồn và lòng mình với đấng bậc mình từng yêu dấu hoặc chưa yêu. Để rồi, Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu sẽ đoái hoài mà đỡ nâng hồn mình. Hồn người. Ở muôn nơi.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            vẫn muốn nâng lòng mình lên cao, lên cao mãi

            đến độ gật gù chấp nhận 

            đi vào chốn ngủ vùi nhiều phút,

vào buổi cầu kinh, và giảng giải.

dongcongnet- sưu tầm 11 thang 10-2011

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)