dongcong.net
 
 

Hai đoản khúc suy tư 2011, 2014

Suy tư tuần 31 lại thấy có giòng chảy những nguồn thơ, những ngâm rằng:

“Người mới lớn vung tình ra thẳng tắp,”

“Không so đo, cân nhắc phút giây đầu”.

Thơ ngâm rồi, nay người lại hát:

“Này đây, bước chân xin tìm đến người,”
“Này đây, cánh tay xin chào đón người,
Này đây, cỏ cây xanh gợn ý tình,
Này đây, gió mây nghe hồn tái sinh”.

Thành ra, chỉ mới "lớn lên" đã "bước chân xin tìm đến người..." rồi, nay những mong rằng ..."người" ấy được viết rất Hoa, và mãi mãi là như thế.
Thế đó, là ý mọn xin gửi đến bà con anh em ở Nước Trời, khắp mọi nơi

Mai Tá
từ Sydney xin trân trong
www.giadinhanphong

Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ 31 mùa TN-A  02-11-2014

“Người mới lớn vung tình ra thẳng tắp,”

“Không so đo, cân nhắc phút giây đầu”.

(Dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mt 23:1-12

Tình người dù vung thẳng tắp, có so đo hoặc cân nhắc, thì người đời cũng chẳng khi nào cân nhắc những âu lo cho chính mình một đời phúc hạnh, như trình thuật Tin Mừng từng nhắc nhở.     

Trình thuật, nay thánh Mát-thêu lại nhắc-nhở cho thấy có sự khác biệt giữa Đức Giêsu và các nhà lãnh đạo tôn giáo, về phúc hạnh sống ở đời. Sống phục hạnh, lâu nay vẫn có khác biệt giữa hành-xử của giai cấp lãnh đạo cứng đầu so với dân đen thấp hèn, bèn phấn khởi bước đi theo chân Chúa khi nghe Chúa dạy đã quyết làm.

            Bài đọc 1, tiên tri MaLaKi cũng quả quyết: “Các ngươi đã đi trệch đường; đã làm cho nhiều người lảo đảo trên đường Luật dạy. Còn Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi đáng khinh rẻ, hèn mạt trước mặt dân, vì các ngươi không tuân giữ đường lối của Ta; hay nể vì, khi áp dụng Luật.”(Ma 2: 8)

            Trình thuật, nay thánh-sử còn kể về việc Đức Giêsu không đả kích nhóm Pharisêu/Kinh sư hoặc Biệt phái, nào hết. Bởi, nhiều người trong nhóm hội do họ dựng, lại là thủ-lĩnh được kính trọng, nể vì. Ở trình-thuật hôm nay, Đức Giêsu chỉ lên án, thái độ kiêu căng ngạo mạn khi giới lãnh-đạo trong ngoài Đạo, vẫn suy tư/hành xử theo kiểu cách khiến kẻ thấp hèn quyết là họ đáng bị chê trách.

            Điều dễ chê trách, không là sự thật về niềm tin mà Biệt Phái/Kinh Sư đưa ra cho mọi người. Nhưng, là chê-trách lối hành-xử bêu xấu, báng-bổ lời của Chúa, thôi. Nói cách khác, họ nói năng/khuyên răn một đàng, nhưng lại sinh-hoạt/hành-xử theo nẻo khác. Vẫn cứ “tiền hậu bất nhất”, chẳng sống như người tốt lành/hạnh-đạo để làm gương.

Đằng khác, điều đáng trách ở nơi các nhà lãnh-đạo tôn-giáo, chính trị lẫn gia đình, là: cứ áp-đặt, ràng buộc thật nặng nề lên đầu lên cổ của người khác. Trong khi chính mình, chẳng ra tay phụ-giúp mọi người chu-toàn, thi-hành luật-pháp, theo chính-danh.

            Điều đáng chê hơn cả, lại là: động-thái muốn hưởng lợi, vẫn “ăn trên ngồi chốc” cứ tưởng rằng: thành quả mọi người đạt được, là do công lênh mình bỏ ra. Bởi thế nên, họ nghĩ mình đáng hưởng công, đáng được mọi người thuần-phục, kính-nể. Chí ít, cần được hưởng vinh hoa phú quý, cơm áo gạo tiền bất kể những thứ đó do công-phúc của một ai.

            Do có thái-độ chỉ biết hưởng-thụ, nên lớp “trưởng giả” ở bên trên, lại suy nghĩ: mình đáng được thần-dân bên dưới tặng-ban mọi tước-hiệu, cũng xứng đáng. Họ nghĩ suy: mình vốn dĩ là vua quan/lãnh chúa, những “đức ngài” là thầy, là “cha già dân tộc” nên càng đáng được hưởng phúc đức do cha ông để lại. Họ mua chuộc mọi danh-chức/tước-hiệu, bằng tiền bạc, trong khi đó, lại phản-chống hoặc quên lãng lời Chúa dạy, nên mới thế.

            Điều, Chúa dạy hôm nay: chính Ngài mới là cội nguồn của sự sống. Chỉ mình Ngài, mới thích đáng với thẩm-quyền và danh xưng là “Ngài” hoặc “Đức Chúa”, thôi. Còn riêng ta, ta cũng sẽ là người đáng nể-trọng nếu ta biết phục-vụ người anh em thấp hèn, ở dưới cho phải phép.

            Quả thật, “áo dòng không làm nên thày tu”. Bởi lẽ: đâu phải cứ có người cầm vương trượng/gậy gộc đi phía trước mình, mới biểu tỏ mình là đấng bậc người lớn, rất chính danh, đâu. Cũng chẳng phải, cứ có người nào khác nhường bước, tránh chỗ cho mình đi, tức có nghĩa: mình là đấng quyền cao chức trọng, đáng nể vì! Có là đấng bậc vị vọng, lên xe xuống ngựa đủng đỉnh, đuợc kẻ đưa người đón, có đầy tớ quân sai; hoặc, thường xuyên xuất-hiện trên “đài”, tức là mình đã lên ngôi, rồi đâu nữa.

            Chỉ là người cao-trọng, nếu ta biết sử dụng tài ba/năng khiếu Chúa tặng-ban, quyết làm lợi cho dân lành chung quanh, mới đúng. Làm theo lời Chúa dạy, vẫn chưa đủ để chứng tỏ mình là người cao trọng, hợp lẽ. Hơn thế nữa, điểm chính mà trình thuật hôm nay đưa ra, là: khi xưa hàng ngũ giáo-sĩ Do Thái chỉ mỗi biết “chỉ tay năm ngón” sai khiến mọi người rồi cứ tưởng: Lời Chúa dạy là dạy ai khác, chứ đâu dạy chính họ. Nên, họ chẳng lý gì đến tự kiểm, chẳng bàn gì đến sám hối, đổi thay.

            Bài đọc 2, thánh Phaolô đề-cập đến kinh-nghiệm bản thân của thánh-nhân. Nói về các lãnh tụ tôn giáo, thánh nhân thường bảo: “Không khác gì người mẹ nuôi con dại ấp ủ con mình, chúng tôi thật lòng quý mên anh chị em. không chỉ qua Tin Mừng  -bởi điều đó không khó-  nhưng bằng cả mạng sống của chúng tôi”. (1Th 2: 7).

Không như nhóm Pharisêu/Biệt phái, thánh Phaolô chẳng muốn trở-thành gánh nặng cho bất cứ một ai, nhưng thánh-nhân chỉ muốn sao cho Tin Mừng trở nên “quyền uy sống động”, với các kẻ tin được ngài hướng-dẫn cách sinh sống. Bởi, Tin Mừng giải phóng mọi người. Giải toả gánh nặng cho muôn dân theo cung-cách khiêm-nhu hiền-lành, mà thôi.

            Thánh-nhân vẫn xác định: “Bởi, anh chị em đã chịu lấy Lời của Thiên Chúa từ chúng tôi; anh chị em đã đón nhận, không phải như lời người phàm, nhưng như lời của Thiên Chúa.” (1Th 2: 13)

Với bậc phụ huynh, linh mục và giáo chức, cũng đều phải như thế. Thật ra, ta chỉ là kênh/lạch thông-chuyển và đón-nhận Lời Sự Thật. Ta vẫn chưa nắm vững được Lời, mới chỉ là người quản lý, giữ gìn Lời của Chúa, thôi. Quyền-uy đích-thực, chính là quyền của Lời. Quyền của Sự Thật. Của Tình Thương vẫn rất mực.

            Những người được ta phục-vụ, phải nắm vững rằng: những gì ta thong-chuyển, không xuất tự chúng ta, mà theo ngôn từ thánh Phaolô vẫn sử-dụng, thì: ta chỉ là chiếc máng thông, rất dễ bể. Vì thế nên, ta cũng đừng tỏ ra ngạo-mạn cho rằng mình nắm vững chân lý đích-thực, của Đức Chúa.

Ngược lại, ta chỉ là người sẻ-san mọi điều tốt-lành cho các người anh người chị ở đời, mỗi thế thôi. Nơi đấng bậc vị vọng hoặc giáo chức lẫn phụ huynh con em, luôn có khía-cạnh yếu mềm, dễ thương tổn. Thế nên, vẫn luôn phải đề cao cảnh giác, hết mọi sự, để rồi mình sẽ không bị “hố”.

            Trong chiều hướng ấy, tự thân Hội-thánh dư biết mình chẳng kỳ-vọng gì nơi dân con/đấng bậc sống hoàn-thiện. Trong quá khứ, các vị ấy từng sống xa cách/tách rời dân con bình thường của mình. Các “ngài” chuyên sống ở trên cao, chốn “tháp ngà” xa hoa, lẩn tránh mọi người ở chốn thấp hèn, rất bên dưới. Trong khi thực-chất của sự việc, người người vẫn cứ bắt gặp toàn những va-chạm, gương mù gương xấu, rất vỡ đổ cũng từ các “ngài” mà ra.

Gương xấu và tai tiếng, cỏn xảy đến với cả,phụ huynh, lẫn nhà giáo. Đó, là chưa kể các chính-trị-gia, giới hành-nghề lành-thánh “chuyên ăn trên ngồi chốc” đám dân đen. Vị nào cũng muốn hào-quang thánh-hoá toả chiếu trên đầu mình; nhưng trên thực tế lại rất tồi-tệ. Và, điều Chúa thực sự chê-trách, lại chính là thái-độ giả-hình ta thường vướng mắc.

            Thực tế là, càng nghĩ đến chuyện “ăn trên ngồi chốc”, ta càng dễ bị khuynh đảo, hạ gục. Chỉ khi nào, ta biết hạ mình mà phục vụ người anh người chị ở đời mình như người nhà, lúc ấy ta mới được cảm thông, hỗ trợ và hợp tác, hầu dẫn-dắt mọi người đến gần Chúa. Những người như thế, ta chẳng còn lo sợ gì chuyện cô đơn/lạnh lẽo, sống một mình ở trên cao tít chốn hạnh đạo, nữa.

            Là dân con trong Đạo, ta hiểu được tâm-trạng yếu mềm của bậc cha mẹ, hoặc người lớn. Là thần dân, ta cũng cảm-thông với nhược-điểm của các nhà lãnh-đạo, ở đây đó. Chính vì có nhược-điểm, nên các “ngài” càng dễ biểu-lộ tính nóng-nảy/bực bõ, qua nhiều hình-thức. Chí ít, là chủ-trương khắt-khe với mọi người, nhưng lại dễ dãi với chính mình.

            Là thành-viên của cộng-đoàn tình-thương, ta vẫn có nhiều trách-nhiệm để chu-toàn. Trách-nhiệm rất khác-biệt. Có thứ đòi hỏi rất nhiều điều. Có loại cần nhiều năng-khiếu, cũng như biệt tài để phục-vụ nhu-cầu của người anh em mình trong cộng-đoàn. Có thể, vì chức-vụ đòi hỏi, đôi khi ta cũng cần tài xế, cần “lên xe xuống ngựa”, nhưng không để vênh-vang, thụ-hưởng, mà cần-thiết để hoàn-thành chức-năng, cùng sứ-vụ cho nhiều người.

            Trình thuật hôm nay, gửi đến mọi người lời kêu gọi tất cả hãy sống xứng-đáng với phẩm-cách, cùng chức-năng của mình. Không nên lấy đó làm điều vênh vang, trổi bật cho riêng mình đổi lại, cứ khắt khe với người khác. Chẳng nên đòi người khác kính-nể vì mình làm lớn sống trên cao. Nhưng, hãy kính-trọng nhau, coi nhau như người có quyền-lợi đồng đều, dù phẩm trật khác-biệt. Trong mọi tình-huống, hãy mong phục-vụ thật nhiều người, san-sẻ mọi thứ để mọi người có quyền-lợi đồng đều, và ngang nhau.

            Trong cảm-nghiệm những điều bậc thánh-hiền khuyến-khích, cũng nên ngâm lại lời thơ dân-gian những hát rằng: 

            “Người mới lớn vung tình ra thẳng tắp,”

             Không so đo, cân nhắc phút giây đầu.

             Như tên bay chưa kịp nhắm bia nào,

             Khi kiệt sức cam đành…ghim xuống đất”.

             (Nguyễn Tất Nhiên – Lần Cuối)

            Đời hạnh-đạo con người nay cũng thế. Khi kiệt sức, cũng cam chịu nhiều thất bại, chí ít là thất-bại cả vào khi người người chẳng còn biết lắng nghe lời thánh-hiền từng khuyên nhủ, ở đâu đó.    

            Lm Richard Leonard sj          

            Mai Tá lược dịch.

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 31 mùa Thường niên năm A 03-11-2014

“Này đây, bước chân xin tìm đến người,”


“Này đây, cánh tay xin chào đón người,
Này đây, cỏ cây xanh gợn ý tình,
Này đây, gió mây nghe hồn tái sinh”.
(Nhạc ngoại quốc – Lời Việt: Nguyễn Trung Cang)

(2Cor 1: 3-5)

            “Tìm đến người”, bằng bước chân hôm trước vẫn như thế. Thế còn, bước chân hôm nay thì sao? Có ai còn hát câu: Này đây, cỏ cây xanh gợn ý-tình”, “Gió mây nghe hồn tái sinh” nữa hay không”?

            Ngày nay mà lại hát những lời như thế, kể ra thì cũng khó. Khó, không chỉ ở mỗi câu trả lời mà thôi. Nhưng, còn ở cả ca-từ những nào “này đây” rồi lại “này hỡi” rất sau đây:

 

            “Này đây, cánh hoa xin dâng đến người,

Đời như, nở hoa trong vạn tiếng cười.

Ầm vang suối reo như dậy núi rừng,

Bầy chim hót ca theo từng bước chân.

Này hỡi, trái chín thơm ngọt quá,
Này hỡi, những đóa hoa rực lá.
Này hỡi, suối mát chim rừng ca.
Hãy lắng nghe tình ta yêu nhau không rời xa!”

(Lời Việt: Nguyễn Trung Cang – bđd)

 

Có hát hay có chào, thì bao giờ mà chả như thế! Như thế, là bảo: hát hò gì, mà sao toàn hát những tình-tự rất hay ho, có thi-ca và âm-nhạc rất thực tế. Thế nhưng, thực tế ở đời, ít khi nào lại thấy xảy ra cuộc đời những “sống thực” nơi bạn và tôi, có khi chỉ thấy những truyện kể khá hi-hữu, vốn tức cười, mà thôi. Và đôi khi, vừa tức lại vừa cười như truyện tiếu lâm ngắn ở bên dưới: 

“Truyện rằng:

Ngày xưa, có hai vợ chồng rất yêu-đương, hẹn hò nên họ bảo nhau lên chiếc tàu có tên là “Titanic” mà thưởng ngoạn cuộc du-lịch có một không hai trên đời. Tàu đi chưa đuợc bao xa, đã bị đắm. Cũng may là phần số của người vợ hôm ấy vẫn còn hên, nên bà được người ta đem xuồng cứu-hộ đưa vào một hoang đảo nhỏ ở cực Bắc. Liền khi ấy, ông chồng bà cũng vớ được tấm ván nhỏ, đã vật lộn với sóng biển suốt ngày trời, cuối cùng rồi cũng đến được bờ đại dương, ngay ngày hôm sau. Thoạt trông thấy mặt mũi ông chồng mình, bà vợ nọ bèn rít lên những âm thanh nghe qua ai cũng sợ, huống chi là ông chồng đang còn chết khiếp vì nhiều thứ:

-Suốt từ hôm qua đến nay, anh ở nơi nào mà chẳng thấy mặt mũi tăm hơi gì hết thế? Tàu đắm hôm qua, chứ có đắm hôm nay đâu mà lúc nào cũng trễ tràng? Anh mà không thật lòng khai báo, thì cứ biết đấy!...”

Vâng đúng thế. Anh mà không kể ra, thì có ma nào biết đâu, giời ạ. Thôi thì, giời hay đất ở hoàn cảnh này, cũng đều sợ vía “bà” hết mà thôi! Hình như câu của mấy ông chồng thuộc hội “sơ vơ nặng vợ” cũng đành nghe quen, thì phải?  

Vâng, đúng là như vậy. Nhưng ai từng sống đời vợ/chồng ở trời Tây hay bên Tàu, đều ít nhiều trải-nghiệm từng lai rai từa tựa như thế. Như thế, tức: cũng hệt như ở quê nhà khá là “nhà quê”, thì… bần đạo đây xin giơ 2 tay lên trời mà chào thua, thôi. Bởi, đã hơn hai thập-niên rồi, bần đạo đây vẫn là “người xa quê chưa một lần trở về”, nên chẳng biết gì về tình-hình vợ/chồng, chồng/vợ sống bên nhau ở quê nhà, ra sao hết.

Ở bên này, bần đạo chỉ biết có mỗi điều, là: nhà Đạo mình vẫn còn đó những chuyện và những lời khuyên để đời, hầu giúp mọi người sống “tốt Đạo/đẹp đời” cho phải lẽ. Nghĩ thế rồi, bần đạo xin vào ngay đề-tài chính-yếu, theo kiểu “miếng trầu là đầu câu chuyện”. Mà, “miếng trầu đây hôm nay, là truyện kể để dẫn nhập cho bài phiếm lòng thòng khá cũng khô, ngõ hầu có dịp thanh minh với bạn mình, như sau:  

“Vào thế kỷ đầu của Đạo Chúa, nhiều người có quan-niệm là: một khi đã đi tu rồi, thì ai cũng phải sống lánh xa các sinh-hoạt ở thế-gian, hoặc vào chốn sa-mạc mà hãm mình và chịu mọi khắc khổ, để nên thánh.

Nhân dịp Tuần Thánh năm ấy, cha Bề Trên Dòng khổ-tu dẫn các thày dòng của mình vào chốn sa-mạc, hoang-dã để ăn chay, hãm mình mà chuộc tội (?). Nhằm giúp các thày cầu nguyện cho dễ, nên mỗi thày ở một chòi riêng biệt, không ai tiếp xúc với ai hết. Vào khoảng giữa tuần, một vài thày ở tu-viện khác ghé vào chòi riêng của Cha Bề Trên để thăm ngài. Thấy các thày này đói bụng, cha Bề Trên nấu cho họ chút đồ ăn và cũng vì lịch sự, ngài cũng dùng đôi chút với họ. Các thày khác thấy khói bốc lên từ chòi của cha Bề Trên, nên đoán được là Bề trên của mình đã “phá chay”, bèn đến chất vấn. Thấy các thày đến, cha Bề Trên bước ra hỏi:

-Tôi đã sơ xuất phạm phải lỗi lầm gì mà các thày nhìn tôi bằng cái nhìn có vẻ xét-đoán thế?” Các vị bèn trả lời:

-Thưa cha, hôm nay cha đã vi-phạm luật chay kiêng mà tất cả chúng ta đã tình-nguyện tuân-giữ vì yêu mến Đức Kitô, Đấng đã chịu muôn vàn đau khổ vì lỗi phạm của chúng ta…

Cha Bề Trên từ tốn nhìn các thày bằng ánh nhìn thông-cảm rồi ôn-tồn bảo:

-Đúng thế. Cha đã phạm luật giữ chay, hôm nay. Duy có điều, là: hôm nay, Cha chỉ mỗi không giữ luật do con người đặt ra khi san sẻ thức ăn với mấy thày ở nhà khác đến thăm mình. Nhưng, cha vẫn nhận ra là mình đã sống luật của Chúa dạy. Thế, các thày không nghĩ là Đức Giêsu cũng từng làm như vậy sao? Thật ra thì, các thày lại đã xé Tin Mừng Chúa dạy thành hai mảnh riêng biệt. Các thày có nhớ Lời Chúa dạy là: trong 10 giới lệnh, chỉ có hai điều quan-trọng, chứ không chỉ một mà thôi, sao? Đúng là ta phải yêu mến Chúa hết lòng hết trí khôn, và yêu tha-nhân như chính mình. Chúng ta không vào sa-mạc để trốn-tránh lời thị-phi hoặc để sống một mình với Chúa; nhưng, để tìm kiếm tha-nhân và yêu-thương họ trong Chúa…” (truyện tích do Lm Mai Văn Thịnh CSsR kể trong bài: Nối Kết Lề-Luật, www.giadinhanphong.blogspot.com 21/8/2010)  

Xem thế thì, sống đạo trong đời dù sống cùng/sống chung với người đồng Đạo hay đồng môn/đồng thuyền, người người vẫn luôn gặp nhiều cảnh-tình có những phê-bình hoặc phản-đối. Hệt như câu truyện để minh-hoạ, rất ở trên.

Sống đúng vai-trò người đi Đạo và giữ Đạo của Chúa, lắm lúc thấy đôi điều cũng khó khăn, căng thẳng, nhiều chỉ-trích. Hệt như nhận-định của vị thức-giả nọ ở Úc có tên là Ts Kevin Donnelly, từng viết trên tuần báo Đạo, hôm đó, như sau: 

“Thời buổi hôm nay, không là thời-khắc tốt để ta chứng-tỏ mình là người đi Đạo, chí ít là Công-giáo. Bạn cứ mở nhật-báo ở Úc ra mà xem sẽ thấy các tờ: The Age, The Sydney Morning Herald hoặc mở đài ABC của Úc ra mà nghe, sẽ thấy nhiều tác-giả trong đó có Irfan Yusuf cứ viết dài dài những đoản-khúc phê-bình người đi Đạo, thấy rất rõ.

Thêm vào đó, có cô nọ tên là Wendy Squires lại cứ tung lên nhật-báo The Age ở Melbourne, các bài chua cay/châm-chích cốt vận-động quần-chúng làm phai mờ tinh-thần của Đạo-giáo và xói mòn dần niềm tin của 61% người Úc vẫn tự coi mình là Kitô-hữu.

Những người như tác-giả Wendy Squires lại quên bẵng đi rằng: một trong các hòn đá tảng làm cơ-sở cho nền văn-hoá và xã-hội Úc…

Ngay cả khi tác-giả đây phê-bình về phẩm-chất đạo-đức của hàng ngũ linh-mục trong các vụ xâm-phạm tình-dục trẻ thơ không có nghĩa bảo rằng: Đạo Chúa không có giá-trị tốt-đẹp, hoặc cứ lên án chúng ta là đã quay lưng mà kình-chống Chúa.

Bản thân tôi, từng lớn lên từ giai-cấp lao-động, sống tại khu gia-cư chính-phủ cấp ở vùng Broadmeadows, Sydney; có cha là đảng-viên Cộng-sản Úc và mẹ là người Công giáo, tôi vẫn cùng mẹ đều đều tham-dự thánh-lễ ngày Chúa nhật và vẫn thường tham-gia phong-trào Giới trẻ gọi là Eureka vào các  ngày Thứ Ba trong tuần. Cha mẹ tôi vẫn dạy dỗ con cái ngay từ buổi đầu về ký-giả chống Cộng B.A Santamaria cũng như lực-lượng rất có uy-tín và từng tạo nhiều ảnh-hưởng trong xã-hội suốt thể-kỷ 20 vừa qua, ở đây.

Cha tôi dạy cho con mình biết đôi chút về lập-trường xã-hội chuyên phân-phát lợi-nhuận tùy nhu-cầu của mỗi người. Còn mẹ tôi, lại dạy cho con mình biết lần hạt Mân Côi và đi đàng Thánh giá. Là người Công-giáo, tôi còn được dạy cho biết mình có lương-tâm chân-chính và ý-chí tự-do được Chúa ban cho để biết rằng: đời người gồm thiện/ác hai mặt rất phân-minh và cuộc sống ở thế-trần chưa hẳn đã là trọn-hảo rằng: phần tâm-linh cùng việc thăng-tiến bản-chất con người đều có tầm quan-trọng ngang bằng nhau vượt lên trên phần thể-lý/xác-phàm; bởi thế nên, cũng vẫn cần đến thế-giới và công cuộc vận-động thăng-tiến con người.

Hồi còn nhỏ, tôi vẫn được nghe kể về các dụ-ngôn đọc ở Tin Mừng và Lời Chúa nói ở KInh-thánh. Và, cho đến nay, những điều như thế vẫn còn vang vọng nói lên việc thiết-yếu đáng kể về bản-chất con người. Và, các câu truyện khác tôi còn được giảng giải rất kỹ từ thời ấu-thơ, đến nay vẫn tác-động lên tuổi đời của tôi nên khác với nhiều người, trái lại, chỉ đeo đuổi chuyện vật-chất, bạc tiền.

Lên bậc đại-học, tôi lại đeo đuổi chuyên-ngành văn-chương/chữ-nghĩa ở phương Tây, cùng với âm-nhạc nghệ-thuật. Các tác-phẩm về âm-nhạc cổ-điển nghe từ nhạc-sĩ phong-hồ-cầm tài danh là John Sebastian Bach như bản Thánh Lễ Cung Mi Thứ được trình-tấu nhiều lần tại trung-tâm thính-nhạc Melbourne vừa qua đã nhấn mạnh nhiều lên sự thể là Đạo Chúa của ta cũng đã gây ảnh-huởng đậm-sâu lên nền âm-nhạc đến độ nó đã là thành-phần nền-tảng của nền văn-hoá Tây Phương.

Nói một cách thực-tế hơn, nền luân-lý đạo-đức và niềm tin Kitô-giáo còn là động-lực chính-yếu từng gây ảnh-hưởng lên các sinh-hoạt bác-ái/từ-thiện qua các tổ-chức nổi danh như Salvation Army, The Brotherhood of St Lawrence và cơ-quan Caritas Úc Châu, vv… 

Ngoài ra, ngày nay, chẳng còn ai nghi ngờ gì nữa, khi nghĩ là: hệ-thống bệnh-viện và giáo-dục có lẽ sẽ sụp đổ, ít ra là đối với người Công-giáo ở Úc, nơi có đến 20% học sinh, sinh viên nguời Úc cũng như những người từng đóng thuế cho chính-phủ đã tiết-kiệm cả tỷ đô cho đất nước này, vì đám học-trò tư-thục ấy đã giúp chính-phủ bớt đi được mối lo phải tài trợ khoản tiền này, nếu nền giáo dục Kitô-giáo không tồn-tại như trước.

Vốn là một người cha từng bị mất đi đứa con trai yêu quí trong vụ việc tài xế nào đó chạy xe đụng chết rồi bỏ chạy, nhiều lần tôi cũng trải-nghiệm nỗi đớn đau, sầu khổ về sự mất mát này khác và cũng ưu-tư lo ngại cho Đạo mình. Nhưng tôi vẫn tin rằng Đạo của chúng ta luôn được ban tặng sự an-bình cùng mọi hiểu-biết, vẫn tạo cho ta có dịp giúp-đỡ người buồn phiền và khổ đau mang hy vọng nhiều vào mai ngày.                  

Như tác-giả Julian Norwich từng đoan-quyết: “Vào những lúc cảm thấy tối-mù đầy tuyệt-vọng, ta vẫn còn cơ-hội tìm lại được sự ủi-an, yên lòng để thắng vượt.” Đúng thế tuy cuộc chiến phấn đấu chưa toàn-thắng và hành-trình cuộc đời chưa hoàn-tất, nhưng ta vẫn biết rằng ánh sáng ở cuối đường hầm cuộc vẫn còn loé sáng. Ánh sáng của hy-vọng vẫn là nguồn gốc cho cuộc đời mình, chí ít là cuộc đời của người đi Đạo. Thế nên, hãy vững lòng mà sống đúng vị-thế của Kitô-hữu, bởi dù có thế nào ta cũng không tránh được mọi khổ đau/buồn sầu dồn đến với mình. Đời người vẫn có những mặt đen tối và theo chủ-thuyết hiện-thực, thì ta vẫn bị thúc-bách giáp mặt với thực-tại. Và cũng một chủ-thuyết như thế lại vẫn luôn vực đỡ để ta tin tưởng vào ánh sáng, vào cả cuộc sống và tình thương-yêu trong đó ta luôn đuợc ôm ấp,  đùm bọc và bảo quản trước mọi phê-bình, chỉ trích bất kể nó từ đâu tuôn đến.” (xem Kevin Donnelly, Ignore the critics. Be a Christian, The Catholic Weekly 14/9/2014 tr. 19)

Thế đó, là: quyết tâm trong nhận-định có từ người nhà Đạo. Còn đây, lại là ca-từ của bạn bè từ muôn nơi gửi đến thêm câu hát, nhưng rằng:

“Từ đây có nhau trên vạn nẻo đời
Cầm tay dắt nhau đi trọn kiếp người
Và ta sẽ chia yêu thương khắp trời
Tình yêu chúng ta lan rộng khắp nơi!”

(Nguyễn Trung Cang – bđd

“Có nhau trên vạn nẻo đời”, và “Ta sẽ chia yêu thương khắp trời”, để rồi: “Tình yêu chúng ta lan rộng khắp nơi!” Quả thật cũng giống như ý-tưởng của phần lớn các bài giảng ta nghe mãi ở nhà thờ. Nhưng, hỏi rằng: ta có áp-dụng tinh-thần và đuờng-lối giáo-dục có từ Đạo Chúa hay không? Đó mới là vấn đề.

Vấn-đề ở đây, hôm nay còn là hỏi rằng: để thực hiện những điều mình từng nghe giảng giải và học-hỏi từ trường/lớp rất Đạo Chúa, tự nơi ta phải có được đặc-tính nào hầu làm được như thế?

Trong tinh-thần “học thày không tày học bạn” về sự đời, bần đạo đây cũng từng được nghe người anh em linh mục cùng Dòng, đã san sẻ các ý-tưởng có được từ các bậc thày, nay trích thêm để bà con mình suy nghĩ: 

“Những năm tháng trở về trước, hệ thống truyền-hình-giây-cáp-có-tính-tiền ở Úc đã cho trình-chiếu một đoạn phim tài-liệu rất có nghĩa. Đoạn phim này, quay lại cảnh một chiếc xe tải chở đầy tiền bị đâm vào cột điện, ở bên đường. Do chạm mạnh, cánh cửa xe bên trái bị bật tung và người ta thấy rất nhiều đồng đô-la tiền giấy rớt xuống, vãi tung toé ngay cạnh đường. Lập tức lúc đó, có người đàn ông nọ đang tàn tàn đi dạo mát, hay chạy bộ thấy thế bèn đứng lại. Nhưng, thay vì chạy về phía ca-bin xem bác tài bị nạn nguy-cơ đến độ nào, thì ông ta chỉ lo vơ vét số tiền vãi tung, nhét đầy bụng và túi rồi thản-nhiên đi tiếp quãng đường còn lại, làm như không nhận biết chuyện gì xảy ra, lúc ấy. Dĩ nhiên, vì là phim tuởng tượng, nên trên đoạn đường hôm ấy chẳng thấy ai khác, ngoài người quay phim mà thôi…

Chương-trình truyền-hình nói trên là đoạn phim mang tính-chất giáo-dục người xem. Số đô-la tiền mặt mà khách bộ-hành kia vơ-vét/nhặt nhạnh chỉ là tiền giả do nhà sản-xuất cốt đề ra để người xem truyền-hình tự đặt cho mình câu hỏi về đạo-đức, như vẫn bảo: “Trong tình-huống đánh động như thế, người trong cuộc sẽ hành-xử ra sao cho phải lẽ? Có thể người xem, mỗi người một ý. Có người đồng ý với khách bộ-hành bàng quan cứ lý-sự: “Tiền rơi rớt bên đường là tiền vô chủ, ta không nhặt nhạnh thì người khác cũng nhặt thôi.” Có thể có khán-giả khôn-ngoan hơn, lại sẽ cho rằng: ở vào tình-huống như thế, thái-độ phải lẽ và thích-hợp nhất của người nhìn thấy tai-nạn, là: chạy đến xem người tài-xế có bị sứt mẻ gì không; nếu có, lại sẽ gọi điện cho cảnh-sát và/hoặc xe cứu-thương để kịp cứu-chữa.” (x. Lm Mai Văn Thịnh, Sống Khôn là Sống thật, www.giadinhanphong.blogspot.com ngày 24/8/2010) 

Như Ts Kevin Donnelly ở trên bình-luận về ảnh-hưởng của văn-hoá/giáo-dục từ Đạo Chúa, người đi Đạo như bạn và tôi, không chừng chính chúng ta cũng từng trải-nghiệm nhiều tình-huống giống như thế. Vấn-đề lại đặt ra, là: ta có hành-xử đúng tinh-thần Tin Mừng không? Hoặc, vẫn “giữ đạo như máy” giống nhiều thập-niên trước: chỉ biết đọc kinh, đi nhà thờ, hoặc cũng chay kiêng, xưng tội, đền tội mà chẳng lý gì đến người khác đang sống ra sao, hết?

Chủ-đề phiếm hôm nay, không để hỏi: ta có sợ bị người khác phê-bình/chỉ trích về lối sống Đạo của mình, không? Mà là, ta quan-tâm cỡ nào, về lời dạy từ Tin Mừng của Chúa. Hỏi đây, tức: cũng tự trả lời phần nào rồi.

Vấn-đề còn lại, là: cứ rút tỉa lời vàng từ đấng bậc hiền từ ở nhà Đạo, để suy-tư như sau: 

“Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô,

Chúa chúng ta.

Ngài là Cha giàu lòng từ-bi lân-ái,

và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an.

Ngài luôn nâng-đỡ ủi-an chúng ta

trong mọi cơn gian nan thử thách,

để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ,

chính chúng ta cũng biết an ủi

những ai lâm cảnh gian nan khốn khó.

Vì cũng như chúng ta chia sẻ muôn vàn nỗi khổ đau của Đức Kitô,

thì nhờ Ngài,

chúng ta cũng được chứa chan niềm an ủi”.

(2Cor 1: 3-5) 

Suy-tư thế rồi, có lẽ cũng nên làm nhẹ câu chuyện phiếm ở đây, hôm nay, bằng một truyện kể ghi-chú đầy trên trang mạng. Hôm nay đây, cũng nên trích dẫn thêm một truyện dân-gian thường nghe ở đâu đó, có ký tên như sau: 

“Cuối tháng này là sinh nhật cháu tôi. Đứa cháu trai duy nhất trong gia đình. Đứa cháu nội mà tôi thương nhất. Chẳng phải tôi thiên vị vì nó là con trai hay là vì nó là cháu nội. Mà vì nó ở quá xa. Nó lớn lên từng ngày không có tôi bên cạnh. Nhiều khi nhớ quá muốn ôm nó vào lòng mà hai tay trống rỗng. Muốn đi thăm nó thì ông chồng già chẳng biết bỏ cho ai. Thằng con trai cứ năn nỉ, “Má ơi! Qua đây một chuyến. Con sẽ đem má đi khắp Âu Châu cho biết với người ta.” Tôi cười cầu tài nói cho con yên lòng. Nhìn ông chồng đau yếu mà thương. Thôi đành thúc thủ.

Tôi đã có viết một bài về “Hai Ông Cháu” khi cháu tôi mới vài tháng tuổi. Bây giờ còn một tuần nữa cháu tôi sinh nhật lần thứ hai.

Tôi nhìn chồng mình càng ngày càng yếu để thấy sự đào thải của thời gian và thân phận của kiếp con người.

Ngày xưa, lúc cháu được vài tháng tuổi, mỗi lần đi đâu con dâu đem một giỏ tã, sữa cho con, còn bà nội cũng lè kè một túi cho chồng. Mỗi khi cần vào phòng vệ sinh thay tã, bà nội lại nhờ con dâu xem chừng phòng nữ có vắng hay không rồi đem chồng vào làm vệ sinh. Xong xuôi cháu cũng sạch mà ông cũng sạch.

Bây giờ cháu đã bỏ tã, nó mặc quần lót đàng hoàng. Lần đầu tiên bỏ tã, trên

webcam con trai bảo nó kéo quần xuống cho nội xem. Nó mừng rỡ chỉ cái quần lót hình Superman bí bô khoe. Bà nội chẳng hiểu cháu nói gì, chỉ cười cười. Thương quá đổi!

Còn ông nội, ngày xưa chỉ mang tã lúc đi đâu hay những lúc cần. Bây giờ ông phải mang tã cả ngày vì ông cũng không biết lúc nào mình cần giải quyết. Những ngày quan trọng cần thiết, bà nội mang khẩu trang, đeo găng tay làm y tá giải quyết những cục nợ đời hôi tanh mà ông không có sức rặn ra. Những ngày đó tã thay không biết bao nhiêu cái.

Bây giờ cháu đã biết đâu là phòng vệ sinh để vào, còn ông thì phòng vệ sinh ngay trước mặt cũng không biết mà vô, bà nội nắm tay ông lôi vào và làm từ A tới Z.

Cháu bây giờ đã biết bắt ghế đứng lên tự đánh răng. Còn ông nội thì bà nội phải đưa ly vào miệng cho ông từng ngụm nước. Bỏ kem vào bàn chải và giúp ông đánh răng. Xong lau mặt, lau tay đưa ông ra khỏi phòng.

Kết luận bây giờ, hai năm sau cháu đã vượt qua mặt ông cái vù về phương diện vệ sinh cá nhân.

Vấn đề ăn thì sao? Cháu bây giờ đã biết ngồi ăn chững chạc dù mẹ phải đút, bởi không đút là cháu ham chơi ăn không no. Cháu tự múc ăn khi nào đó là ăn chơi hay cháu thật đói. Còn ông thì bây giờ hoàn toàn không chủ động. Đút gì ông ăn đó, ăn xong thỉnh thoảng càm ràm bà nội, “Sao từ qua tới nay không cho tui ăn.”

Cháu bây giờ rất gọn gàng không cần khăn, còn ông nội thì phải một cái khăn lót ở dưới để hứng thức ăn rơi. Một cái khăn nhỏ ở trên để lau miệng.

Do đó về phương diện ăn uống cháu tiến bộ hơn ông. Ngày xưa cháu đi tắm phải có cái thau riêng, cháu nằm trong đó cho mẹ kỳ cọ. Bây giờ cháu có thể đứng trong bathtub cho cha, mẹ thoa xà bông và xịt nước ấm. Còn ông nội giờ này cũng tệ như xưa. Càng tệ hơn sau khi xong xuôi, bà nội bảo giơ chân lên để mặc tã, ông cũng đứng im. Những giọt nước miếng cứ nhểu lòng thòng rơi trên đầu bà nội. Khi bà vỗ vỗ vào chân ông, nói, “Chân này nè ông, giơ chân lên!” thì ông mới giơ chân lên. Có hôm ông giật mình kéo mạnh chân tống vào càm bà nội bầm một cục.

Ờ mà còn cái vụ nhểu nữa chứ. Cháu bi giờ ngon lành hơn ông nhiều. Cháu hết nhểu, đẹp trai ra, biết nhận diện đâu là mắt, mũi, miệng. Còn ông nội thì càng ngày tốc độ nhểu càng trầm trọng. Không có thuốc men hay phương pháp gì chận lại. Bà nội dùng kim gút gài một cái khăn bên áo để bà nội chùi cho ông để khỏi chạy đi tìm. Ông không thích cái khăn lòng thòng nên giựt tét cả áo, đứt kim băng. Bà nội phải mặc ngoài một cái áo che lại. Khi cần bà lôi khăn ra lau, xong nhét lại. Thế nhưng nước miếng ông vẫn nhểu dài theo nền nhà theo mỗi bước chân đi. Bà nội lúc nào cũng chuẩn bị khăn lau nhà. Thỉnh thoảng bà lại đạp khăn dưới chân xóa đi dấu vết cho đỡ trơn trợt và cũng để mấy đứa cháu ngoại khỏi gớm.

Cháu nội hôm nay đã có bạn, biết các trò chơi và tung tăng như chim sáo. Còn ông thì càng ngày càng quên, càng lẩm cẩm. Mỗi khi đi đâu bà nội nắm tay ông tình tứ như một cặp tình nhân. Nhưng thực ra là giữ ông cho khỏi đi lạc. Ông rất thích tự do. Ờ mà tự do ai không thích. Nhưng tự do trong trật tự. Thế nhưng ông nội nào biết trật tự là gì. Buông tay ông ra là ông đi, không cần biết điểm đến và đi đâu. Bà nội lạc ông mấy lần nên sợ lắm. Bà giữ tay ông trong bàn tay già yếu nhăn nheo. Thế nhưng đôi khi ông gặp một người không quen, ông vẫn nhào tới nói không ra lời hay lôi bà nội chạy theo họ. Ông la, “Bạn tui, bạn tui.” Bà nội biết tẩy của ông nên ngọt ngào dụ dỗ, ''Biết rồi! Họ ra xe đợi mình đó. Đi chợ xong mình sẽ gặp,” có vậy ông mới chịu nghe lời và đi theo bà.

Cháu nội bây giờ đã biết nghe lời cha mẹ. Mỗi khi làm điều gì sai, mẹ cháu bắt xin lỗi, nhận được gì cháu biết cám ơn. Cháu đã bắt đầu học để nhận biết đúng, sai. Còn ông nội tháng ngày trôi qua ông nội càng mù mịt đúng sai. Cái gì ông muốn là ông làm, ông không muốn thì đừng hòng ép. Khi cần ông đứng lại thì ông đi. Khi muốn ông đi thì ông đứng yên một chỗ. Kéo ghì không nhúc nhích. Năn nỉ một hồi ông mới chịu cho kéo đi. Khi cần ông nói thì ông làm thinh hoặc tiếng không thoát ra ngoài , chỉ lầu bầu, lịch phịch theo nước miếng. Nhưng khi ông nói chuyện với những gì ông thích hay bạn bè ảo tưởng của ông thì ông nói ra tiếng, mạnh mẽ và đầy sức sống.

Cho nên hai ông cháu đã đi ngược chiều với nhau không còn giống nhau như xưa.

Mỗi khi vào Webcam nói chuyện, cháu chỉ trên màn ảnh “Bà nọi, bà nọi. My bà nọi.” Còn ông chỉ nhìn cháu như nhìn một cái gì lờ mờ không quen biết. Cặp mắt lơ đảng, ánh nhìn tỉnh khô, môi xệ xuống, nước miếng lòng thòng chảy ra.

Tuy nhiên hai ông cháu cũng có điểm na ná giống nhau là dỗi hờn.

Khi cháu dỗi cháu lăn xuống đất nằm đạp lòng còng. Cha, mẹ cháu kêu đứng dậy và bảo xin lỗi, nếu không sẽ phạt “time out”.

Còn ông nội, ông hay hờn mát. Mỗi khi như vậy ông bỏ đi nằm và bỏ ăn.

Cả nhà năn nỉ, dụ ngọt cả buổi trời ông mới ngồi dậy ăn uống.

Chỉ hai năm thôi, hai năm trôi qua cho tôi thấy một lực hút cuốn mọi người xoay chóng mặt. Đứa cháu ngày nào mới biết lật giờ đã là một cậu bé dễ thương tinh nghịch, ngây thơ. Cháu đang học mọi thứ để tập sự những ngày bước vào trường mầm non.

Còn ông thì mòn hết mọi thứ để đi vào con số không của cuộc đời. Ông như một cây đã cạn hết nhựa. Sống trong một trạng thái mơ hồ và làm theo quán tính của mình.

Người lính của tôi giờ đây già thật rồi. Giả sử chàng không bệnh như hiện nay thì theo thời đại Internet, chàng của tui cũng quậy chẳng thua ai. Chàng sẽ có biết bao nhiêu bạn bè, đồng đội thật để mà hẹn nhau tán gẫu, bàn chuyện cà phê cà pháo, chuyện trên trời dưới đất, chuyện nước nhà, chuyện thế giới, chuyện chân dài, chân ngắn, chuyện cơm, chuyện phở. Lúc đó tôi chỉ là bóng mờ bên cuộc đời đầy màu sắc của chàng.

Ông trời đã cho chàng sống sót sau bao nhiêu năm tù tội gian lao. Đã cho chàng cùng tôi sang đây để xây lại một mái gia đình hạnh phúc. Và bây giờ đã cho chàng ở bên tôi hàng ngày, hàng giờ như tôi đã từng ước mơ, cầu nguyện.

Ông trời đã đùa với tôi. Ổng háy một bên mắt và cười, “Con ạ! Con xin gì ta đã cho con điều đó. Con ước nguyện có chồng một bên không rời xa dù cực khổ bao nhiêu con cũng chịu. Cảm thương con ta cho con toại nguyện. Ta cho nó bên con không rời xa nửa bước. Chúc con hạnh phúc.” Và thế, tôi ôm lấy niềm hạnh phúc ơn trên ban cho tôi và giữ lấy nó bằng cả trái tim. Trái tim của một người phụ nữ Việt Nam yêu chồng. (Bài này được trích đăng từ trang mạng của hội cựu học sinh Ngô Quyền (http://www.ngo-quyen.org/), mang tựa đề “Ông và Cháu” của tác giả Nguyễn Thị Thêm).

            Trích ở đâu thì trích, vẫn cứ là truyện kể, để phiếm. Phiếm nhẹ nhàng, cả chuyện Đạo lẫn truyện kể ở đời, cho vui. Dù, có ai ở đâu đó đang thấy cay cay nơi con mắt

            Thế đó, một vài tư-tuởng nhỏ, vẫn do bầy tôi bần đạo đây, chỉ muốn phiếm nhè nhẹ để hôm nay vui, mà thôi. 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Có những ngày ngồi phiếm

            chẳng biết có đạt hay không, vẫn cứ làm. 

 

Suy niệm Chúa Nhật thứ 31 TN-A 30.10.2011

“Hồn khẳng khiu khát chờ trăng mở hội,

“Ngỡ ngàng đêm mộng điệp thốt lời ca.”

(dẫn từ thơ Vương Ngọc Long)

Mt 23: 1-12

Chờ trăng mở hội, hồn nào mà chẳng chờ. Mở hội rồi, hồn cứ ngỡ mộng điệp, nên mới thốt lời ca. Lời ca hay lời hát, đâu chỉ có từ những người từng hát ca, cả một đời. Hát hay ca, cả ở hội đường. Nhưng, sống khác hẳn điều mình giảng và hát như trình thuật nói hôm nay

Trình thuật hôm nay, thánh sử Mát-thêu dùng lời lẽ khá cứng cỏi để lên án đấng bậc nào chủ trương giữ luật, nhưng không sống điều mình chủ trương. Người xưa gọi họ là đấng bậc rất Pharisêu. Ngày nay ta gọi họ là gì? Là ai? Phải chăng là bậc thày có ngai cao bục giảng, chẳng có lòng?

Là, dân dã tầm thường ở đời, cùng với Giáo hội, ít khi ta đứng lên mà chống trả/phản bác các đấng bậc chuyên giảng thuyết có lời khuyên. Bởi làm thế, ta sẽ bị người đồng đạo trách móc cho mình thuộc thành phần bất mãn với quyền lực, ở trên. Với thánh Mát-thêu, chẳng ai dám trách ngài là người như thế, dù thánh nhân dám viết về Biệt Phái/Kinh sư không gì tệ hơn.

Xét cho cùng, ta thấy thánh sử cũng có lý. Bởi, vào thời trước, Kinh sư/Biệt Phái vẫn có thiện cảm với Chúa. Chỉ sau này, khi Giêrusalem bị tàn phá, hồi niên biểu 70 sau Công nguyên, nhóm này mới trở thành đoàn ngũ độc tài thống trị mọi người ở Do thái. Họ tụ tập nhau ở Yebneh (Jamnia) lập ra triết thuyết mà ngày nay ta gọi là thuyết Giuđa tư tế phẩm trật, vẫn tồn tại. Các nhóm chuyên kình chống tín hữu tiên khởi như cộng đoàn Mátthêu ngõ hầu duy trì chỉ nhóm mình, thôi.

Thánh Mátthêu vốn người hiền lành, chân phương, tử tế. Nhưng khi gặp chuyện chướng tai gai mắt, ngòi bút nhẹ êm lại biến thành ngòi châm chích quyết tấn kích loài độc ác, để bảo vể Tin Mừng của Chúa. Các đấng bậc sẽ vung tay tấn kích loài lang sói và quyết liệt lên tiếng chống cự.

Thông điệp thánh Mátthêu gửi đến mọi người, là: ta chỉ chấp nhận quyền uy ở bên trên, chứ không hề chấp thuận lối sống bê tha, bệ rạc của mấy người. Các vị ngồi trên ngai bệ Môsê, nhưng không biết hành xử và sống như vị tổ phụ. Khi thánh sử Mátthêu viết “Những điều họ nói, các ngươi hãy làm và giữ lấy”. Đây chỉ là dẫn nhập. Điều, mà thánh nhân muốn nói, là: hãy nhìn cách họ sống, chứ đừng bắt chước. Bởi kiểu cách thì nhiều, nhưng sống thực lại ít. Họ còn tệ hơn cả gái làng chơi, không xứng với Nước Trời. Tức, nào khác người mù dẫn dắt kẻ mù, cả hai đều sẽ lăn cù xuống hố.

Về đường lối họ sống, đây là ba điều để chống lại:

1)     Họ không thực hiện điều mình giảng;

2)     Họ trao gánh nặng lên vai người khác;

3)     Họ làm mọi sự chỉ để phô trương và muốn được khen ngợi.

Điều ấy chứng minh: họ chỉ là:

1)     Người giả hình;        

2)     Những người nặng nề, lê thê không muốn tiến;

3)     Và chỉ là người vênh vang hãnh tiến, phô trương đánh bóng chính mình thôi.

Dùng ngôn ngữ thời đại, phải gọi họ là kẻ “đâm sau lưng chiến sĩ” ở cấp trên.

Nói chi tiết, điểm cuối cùng cho thấy các đấng bậc nói ở trên làm mọi chuyện chỉ để phô trương với mọi người. Chỉ muốn tìm chỗ cao trên ngai bệ thờ phụng, để mọi người thấy. Ăn, thì chỉ ăn trên ngồi chốc, hết phần người. Mặc, thì súng sính những lụa là, đai mão rặ màu vàng đỏ. Đi đâu cũng võng lọng, gậy, mão, quyết tháp tùng. Nếu họ còn sống đến ngày nay, chắc chẳng ai dám chối từ mão, đai, giải lụa hoặc mũ chụp, nhiều sắc tiá. Danh xưng thưa gửi, cứ muốn mọi người một điều “trọng kính” hai điều: “Đức thánh”, hoặc “thưa Ngài”, nghe oang oang.

Đọc trình thuật, có người sẽ bảo: nếu vậy ta chẳng nên nhận áo mão, chức vụ ở trên cao, hay sao? Nhận thế, có gì tệ? Nghe hỏi thế, có thể thánh Mátthêu sẽ trả lời: tuỳ lý do hoặc động lực thúc đẩy ta tìm kiếm, thế thôi. Chỉ thành vấn đề, khi người nhận chức cao quyền trọng chỉ để đề cao, thăng tiến chính mình. Chỉ thành vấn đề, khi người bị trị hoặc sống chung quanh nhận định thế nào, về quyền chức. Nếu trả lời: ‘mọi người đều thế, tôi cũng thế’ thì câu này chưa hẳn là đúng, dù rất thực. Thế, những người không thể hoặc không làm thế, thì sao? Sao ta không cúi xuống nhập bọn, ở cùng hàng?

Quả là vấn đề như vừa kể. Vẫn nóng bỏng thời hiện tại có xã hội và Giáo hội như xưa và cả đến hôm nay. Xưa và nay, nhiều mục tử và thừa tác viên trong Đạo hẳn vẫn muốn thứ gì đó rất riêng tư? Đặc biệt? Đặc biệt, nơi vai trò. Đặc biệt, ở thế lực. Lịch sử trải dài nhiều thế kỷ vẫn cho thấy: các đấng bậc vẫn dính dự với lối sống này khác mà thực ra công việc thừa tác của mình đâu đòi thế. Thế nên, có vị cứ súng sính áo chùng rủng rỉnh để mọi người quan tâm, ngắm và nhìn. Có vị còn đeo mang trang phục rất đặc biệt để tỏ cho mọi người biết mình cũng có đặc quyền/đặc lợi, tỉ như các “vị cảnh sát” nơi phố chợ/huyện nhà! Có vị, chỉ muốn sử dụng danh xưng rất đặc biệt tuy không hợp chức năng/nghề nghiệp, của ai hết.

Nếu thánh Mátthêu nay bắt gặp những người như thế trong lòng Hội thánh, ngài có gay gắt như xưa không?

Để trả lời, câu dễ nghe nhất, có lẽ là: thánh nhân sẽ cân nhắc bề dày lịch sử, để rồi sẽ bảo rằng: mọi việc không thể đổi thay nội một ngày. Dù, ngài hy vọng về lâu về dài, mọi chuyện sẽ thay và đổi theo chiều hướng tốt đẹp. Và, thánh nhân có lẽ sẽ hỏi đích thân các vị ấy, như từng hỏi và yêu cầu mọi người hãy sống thực tế. Cả vào khi mọi người làm vì sinh kế. Hoặc, để bảo vệ nồi cơm, manh áo, dù đâu muốn. Và khi ấy, chắc hẳn thánh nhân chỉ muốn bảo: hãy biến nơi làm việc của mình thành nơi chốn giúp mình sống đời tín hữu rất đích thực. Tức, chỉ làm những điều lành thánh đúng vai trò. Không se sua. Bè phái. Cũng chẳng cần “bùa phép”, lãng phí điều chi.     

Có lẽ, thánh nhân sẽ có thêm nhiều ý tưởng để viết về chức năng/vai trò của người thừa tác công việc Hội thánh hoạch định, như linh mục. Có người phỏng đoán: có lẽ thánh nhân cũng muốn linh mục và thừa tác viên trong Đạo chỉ chấp nhận thực thi công tác mục vụ/rao giảng nào được đề ra cho mình thôi, chăng? Thời buổi này mà nói thế, e hơi lạc điệu. Lạc, cả cung giọng trầm bổng rất hăng say/nhiệt nồng hơn thời cổ, ở cộng đoàn Mát-thêu tiên khởi?

Kể cũng khó định vị trình thuật sao cho hợp với thời buổi hiện tại có nền văn hoá của sự chết, như ngày nay. Thế nhưng, thánh Phaolô khi xưa vẫn nghĩ và sống như thế suốt đời mình. Phaolô thánh nhân luôn chỉ sống như người thợ may âm thầm chế biến lều/bạt để kiếm sống. Thánh Mátthêu cũng nghĩ thế và sống như thế. Ngài chỉ là người thày viết lách và dạy học để kiếm sống, thế thôi.

Đức Giêsu cũng thế. Chúa cũng chỉ sống giản đơn hiền từ như thế. Chúa là bác thợ đơn thần nghề mộc cốt sinh sống. Nếu còn hiện diện đến ngày nay, hẳn thánh Mátthêu sẽ ngạc nhiên không ít khi nhận ra rằng Hội thánh mình đã phải trải qua bao thăng trầm để hội nhập, trải dàn như một thể chế, để ta hưởng. Nhìn ra thế, chắc hẳn thánh nhân lại sẽ viết thêm một trình thuật khác khá gay gắt để đòi ta từ bỏ lợi lộc hoặc áo sống khá đặc biệt, hoặc chức vị đặc trưng nào đó để trở thành dân dã đơn thuần như Đức Giêsu từng sống thế và muốn ta nên như thế.

Viết lên trình thuật, thánh Mát-thêu không chỉ muốn gửi cho vua quan/lãnh chúa thời hôm trước. Mà, cho dân con đồ đệ người của Chúa, ở mọi thời. Những thời và buổi còn đó, những người sống bên ngoài và bên dưới võng lọng cùng ngai bệ của vua, quan, giới chức. Để, mọi người suy ra mà khởi sự thực hiện chuyện phải lẽ, ngay từ nhà. Nhà mình. Nhà Chung, là thánh hội rất đáng thương. Đáng mến.

Trong tâm tình gửi gắm rất như thế, ta cũng nên ngâm lên lời thơ còn đó cũng khá buồn, rằng:

                   “Em còn đó, xoã lòng đêm tóc rối.

                   Tôi đứng đây, bụi lốc mịt mù xa.

Nghìn mắt lá, đang nhìn tôi ái ngại.

                   Đêm nguyệt quỳnh hoá nở kiếp phù hoa…”

(Vương Ngọc Long – Đêm Nguyệt Quỳnh)

Nguyệt quỳnh hay nguyệt vọng, là đêm ngày ta đứng đó mà ngó nhìn. Nhìn, cảnh trời mây nước có trăng giăng đầy tình tự. Có cả những vị chẳng cần biết chuyện phải chăng. Lưu tâm gì đến điều mà Đấng bậc nhân hiền lành thánh vẫn khuyên răn vào mọi thời, gửi đến muôn người, rất hôm nay.

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh

Mai Tá lược dịch.

“Đêm nay, đêm cuối cùng”

“lệ buồn rưng rưng, lời hát thương đau.”

(Phạm Đình Chương – Đêm Cuối Cùng)

(Co 1: 3)

            Đêm cuối cùng! Chao ôi đêm nào mà chả thế. Đêm nào, cũng buồn rưng rưng, lệ sầu. Thương đau. Thương và đau, cả khi hai người đều đã biết chuyện xảy đến với mình, nên đành hát:

                        “Nhịp bước bâng khuâng, ngoài phố lạnh,

                        giọt sầu rơi rớt hồn phiêu linh.

                        Nắm tay không rời.

                        Cố hé run run môi cười.

Lúc chia tay, bên trời. Tiếc thương.”

(Phạm Đình Chương – bđd)

            Chính vì lạnh lòng, nên vẫn “hé run môi cười”. Chính vì tiếc thương, nên cứ phải “chia tay bên trời”. Thế mới chết!. Buồn chết một điều, là: em và tôi, hai đứa xưa nay yêu nhau tha thiết là thế. Nay thì, tất cả chỉ còn mỗi kỷ niệm, rất nhớ nhung. Sầu buồn. Đáng tiếc.

            Vì đã chia tay, nay nào thương tiếc! Vì có giọt sầu, nên hồn phách vẫn cứ “phiêu linh”. Và, người em yêu lại hát lên nỗi niềm rất nhung nhớ, như ca từ ở bài hát:

                        “Hãy tin một niềm,

                        Nỗi nhớ nhung xưa, vẹn tuyền.

                        Sẽ cho ngày về thắm duyên.

                        Em ơi, đêm cuối cùng gần nhau.

                        Sợ rằng một ngày mai, giấc mộng không thành.”

(Phạm Đình Chương – bđd)

            À thì ra. Vì nhớ nhung, thương tiếc rất hận sầu, nên người người mới bảo nhau: hãy “tin một niềm”. Và, niềm tin ấy. Nhớ nhung này, “sẽ cho ngày về thắm duyên”. Kẻo, ngày mai “giấc mộng không thành” cũng đành ly tan.

            Thế mới biết, thi ca/văn học vẫn có những giòng chảy nói lên tình tự nhung nhớ. Nhớ, “đêm cuối cùng” không bao giờ chấm dứt. Vẫn lẩn quẩn trong tâm tưởng của nhiều người. Chí ít, là những người đã và đang yêu. Hoặc, những người sẽ còn yêu mãi. Rất “thương hoài ngàn năm”.

            “Đêm cuối cùng” đầy tràn mối “thương hoài ngàn năm”, vẫn là chuyện dài ở huyện. Huyện dân gian. Huyện nhà Đạo. Vẫn cứ thương hoài ngàn năm, khi duyên tình của hai người đã vỡ đổ. “Đêm cuối cùng” cũng thương hoài ngàn năm, là cảnh tình của người anh/người chị ở trong Đạo, vẫn cứ tiếc cái “đêm cuối cùng” ngồi đó, ngó nhau. Để rồi, sẽ hẹn hò thương hoài ngàn năm, rất suốt đời. 

            Thương hoài ngàn năm, vì vỡ đổ, lại đã kéo theo nhiều khổ đau, xáo trộn. Xáo trộn, không chỉ mỗi tình tự thân thương giữa hai người thôi, mà cả vật chất tính theo trị giá tiền bạc nữa.

Theo Washington Times trích dẫn số thống kê chính thức của chính phủ Hoa Kỳ cho biết nội trong năm 2008 đã có trên một triệu trường hợp ly dị đổ vỡ xảy ra ở nước này. Đổ vỡ do ly dị, lại đã kéo theo nhiều thiệt hại đáng kể, tính thành tiền. Trên thực tế, các phí tổn mà chính phủ Hoa kỳ đã phải xuất chi trong năm 2008 đã gia tăng từ $20,000 đến $30,000/một năm cho một gia đình của người mẹ đơn chiếc ở Mỹ. Kéo theo đó, là tổn phí tạo cho ngân sách quốc gia đang từ 33 tỷ đô lên đến 112 tỷ đô đánh vào các dịch vụ bao cấp phúc lợi (x. Carolyn Moynihan, MercatorNet 23/8/2011).

Xáo trộn có từ những đổ vỡ do ly dị, còn kéo theo nhiều đổi thay trong đời sống thực tế của gia đình. Thực tế cho thấy: chính con trẻ mới là kẻ gánh chịu hậu quả nghiêm trọng của ly dị, cả về chuyện kinh tế lẫn tài chánh.

W. Bradford Wilcox, một chuyên gia nghiên cứu có nhắc đến công cuộc khảo sát do Cơ quan từ thiện Pew Charitable Trust thực hiện vào năm 2010 cho biết tình trạng sống của con em gia đình vỡ đổ do ly dị, rằng: “Con em gia đình gặp cảnh ly dị đổ vỡ thường hay yếu kém về mặt kinh tế nên khó có thể mon men vào các chức vụ có mức lương cao hơn. Giả như Hoa kỳ muốn thấy sự ổn định của các gia đình chịu cùng một cảnh ngộ như hồi thập niên ’60, thì sẽ thấy mỗi năm có chừng 750,000 em ở lại lớp ít hơn trước, và có ít nhất 1 triệu 2 trăm ngàn em thôi học và khoảng 500,000 vụ phá phách do trẻ vị thành niên phạm pháp gây ra. Đồng thời cũng có ít là 600,000 em được trị liệu và 70,000 em tìm cách chấm dứt cuộc sống (x. Carolyn Moynihan, bđd).

Xáo trộn vốn có từ các vỡ đổ do ly dị tạo ra, còn kéo theo hậu quả về tuổi thọ của con em các gia đình có đổ vỡ như thế nữa. Một khảo sát do Howard Friedman và Leslie Martin thực hiện cho biết: “Con em các gia đình nào có đổ vỡ do ly dị tạo ra, sẽ không sống thọ  --trung bình là 5 năm ít hơn—so với con em các cha mẹ thuộc các gia đình vẹn toàn không ly dị hoặc chẳng đổ vỡ.”

Ông Gersten, một viên chức Bộ Y Tế và Nhân Dụng thuộc chính phủ George W. Bush, Hoa Kỳ cũng có nói: “Các dữ kiện về tuổi thọ vừa được đưa ra, là “một trong những bản phân tách tồi tệ nhất xưa nay chưa từng thấy về tầm mức tệ hại mà việc ly dị của cha mẹ đã gây ra cho con cái. Con em các gia đình chịu cảnh này, khó có thể vượt qua được các khó khăn, trở ngại ấy.”

Và cô Carolyn Moynihan, một tay viết thường xuyên của báo điện MercatorNet cũng đi đến luận ngắn gọn, nhưng chắc nịch khi cố bảo: “Ly dị đổ vỡ không là vẫn đề riêng tư của ai hết. Nó ảnh hưởng lên hết mọi người. Chí ít, là nó từng tác hại lên sự tin tưởng của quần chúng nơi ảnh hình về hôn nhân.” (x. Carolyn Moynihan, bđd

Nói gì thì nói. “thương hoài ngàn năm” với những ly dị đổ vỡ, còn là thương cho cảnh tượng đau thương/sầu buồn chợt xảy ra ở đâu đó, ngay cả chốn nát đổ thương tâm nhưng rất đáng phục. Thương, là thương cho tình mẫu tử vẫn còn đó ngàn năm, như ở Nhật. Nơi vừa có phát hiện về “thương hoài ngàn năm” tình mẫu tử, ở bên dưới:  

                        “Phát hiện rằng:

Trong trận động đất ở Nhật vừa qua, các nhân viên cứu hộ tìm đến tàn tích ở nơi nhà một phụ nữ trẻ, họ nhìn thấy thi thể của cô qua khe gạch nát vụn. Nhìn thi thể của cô có cái gì đó rất lạ, tựa như người đang quỳ gối nguyện cầu, cơ thể cô nghiêng về phía trước. Và, hai tay của cô như đang ôm ghì vật gì đó. Ngôi nhà đã đổ ập lên lưng và đầu cô, nhưng vẫn không xoá nhoà hình ảnh lạ kỳ đó.

Người đội trưởng đội cứu hộ đã phải khó khăn lắm mới luồn tay qua khoảng cách chật hẹp bên bờ tường để sờ chạm được cơ thể của người nữ phụ xấu số mà tìm xem có vật gì đang được cô ôm ghì đến như thế.  Anh hy vọng nữ phụ trẻ này có thể vẫn còn sống. Nhưng, thi thể của cô đã lạnh cứng như muốn nói với anh rằng chắc chắn cô đã qua đời.

Đội cứu hộ rời khỏi ngôi nhà và tiếp tục xục xạo các toà nhà đổ khác. Nhưng không hiểu sao, người đội trưởng như bị một lực hút nào đó kéo anh trở lại căn nhà sụp đổ có người nữ phụ đã chết cứng ở bên kia. Một lần nữa, anh quỳ xuống, lần mò sờ chạm len qua các khe nứt chật hẹp bên dưới thi thể của người đã chết. Đột nhiên, anh hét lên một tiếng kêu nhiều phấn chấn: "Một em bé!! Em bé còn sống!"

Cả đội cứu hộ cùng nhau cẩn thận rỡ từng cái cọc trong đống gạch vữa nát quanh thân xác người nữ phụ vừa chết. Một bé trai trạc 3 tháng tuổi được bọc cẩn thận trong tấm chăn hoa ngay dưới xác mẹ mình. Rõ ràng, nữ phụ này cố thực hiện động tác hy sinh cuối cùng để cứu con mình. Khi căn nhà của cô đổ sụp, cô dùng cơ thể yếu mềm của mình làm tấm chắn bảo vệ đứa con. Cậu bé vẫn ngủ mê yên bình khi anh đội trưởng đội cứu hộ nhấc em lên.

Bác sĩ nhanh chóng kiểm tra sức khoẻ của cậu bé. Khi mở tấm chăn hoa bọc quấn bé, ông thấy chiếc điện thoại di động còn nằm bên trong hiện rõ một lời nhắn, nói rằng: "Nếu con còn sống, con hãy nhớ rằng: mẹ rất yêu con" ...

Chiếc điện thoại di động đuợc chuyển từ bàn tay này đến bàn tay khác, cho nhiều người đọc. Tất cả mọi người đều khóc khi người đọc giòng nhắn: "Nếu con còn sống sót, con hãy nhớ rằng: mẹ rất yêu con”.. (trích truyện kể từ điện thư hôm 26/9/2011)

Lời nhắn trên điện thoại di động, làm người đọc nhớ về một nhắn nhủ khác, cũng dễ thương:

                                    “Chúng tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa,

là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta,

khi cầu nguyện cho anh em.

Thật vậy, chúng tôi đã được nghe nói

về lòng tin của anh em vào Đức Kitô Giêsu,

và về lòng mến của anh em đối với toàn thể dân thánh;

lòng tin và lòng mến đó phát xuất từ niềm trông cậy dành cho anh em trên trời,

niềm trông cậy anh em đã được nghe loan báo

khi lời chân lý là Tin Mừng đến với anh em.”

(Cô 1: 3-6)

Xem thế thì, vào hoàn cảnh tồi tệ như thiên tai động đất hoặc vỡ đổ do ly dị, người người vẫn còn gặp khắp nơi và đây đó những lời khuyên và nhủ được gửi đến dân con mọi người. Nhà Đạo mình, cũng có những lời nhắn rất nhủ khuyên mà nhiều người ít quan tâm hoặc ít biết, như đã hỏi:

“Xin cha giải đáp cho thắc mắc của một người bạn từng hỏi: giả như ai đó từng ly dị với một người và nay lại tái giá sống với người khác, hoặc: một người từ lâu vẫn chung sống cảnh hôn nhân chòng chéo, nay muốn quay về với niềm tin đi Đạo. Trường hợp như thế, có được Hội thánh chuẩn thuận mà đón nhận cho họ về với Đạo mình không?” (Một nữ giáo dân hỏi để mọi người biết mà sống đạo cho phải phép).

Mục đích của nữ giáo dân ở trên muốn đưa ra câu hỏi, là để “mọi người biết mà sống đạo cho phải phép”. Cứ như, nếu không hỏi và không nhận được câu trả lời, chắc chị và nhiều người hẳn sẽ không còn sống đạo cho đúng phép, hay sao?

Thôi thì, chị có đưa ra câu hỏi vì mục đích gì đi nữa, cũng đâu có sao. Miễn, có người để hỏi, thì chắc chắn sẽ có chức sắc trong Đạo rồi cũng đưa ra câu trả lời theo khuôn phép rất đúng lẽ Đạo. Như lời đáp từ đức thày linh mục John Flader ở Úc, rất như sau:

“Cũng may là, cách mà cô diễn tả ở câu hỏi là thắc mắc thông thường của nhiều người. Nhất là, vào thời buổi ta thấy quá nhiều trường hợp ly dị vẫn xảy ra ở xã hội hiện thời.

Trước nhất, tôi xin nói ngay điều này, là: Hội thánh vẫn công nhận hôn nhân giữa người không Công giáo lấy người không Công giáo đều thành sự, miễn là hôn nhân này không chống lại luật lệ Giáo hội và hôn nhân ấy được cử hành theo cung cách dân sự, trước mặt thừa tác viên trong Đạo hoặc trước mặt người chứng hôn nhân bên dân sự.

Theo lẽ đạo, nếu đám cưới đầu gãy đổ mà một trong hai người lại tính chuyện tái giá, Giáo hội vẫn coi là họ đã cưới người phối ngẫu trước đó mà thôi. Bởi Hội thánh không công nhận ly dị lại có thể gây ảnh hưởng lên bí tích hôn phối.         

Xem như thế, giả như một người đã ly dị rồi, nay tái giá với người không Công giáo mà lại muốn về với Hội thánh Công giáo, thì cũng chẳng có khó khăn gì. Muốn gia nhập cộng đoàn Hội thánh thì nhất thiết phải được công nhận hiệp thông trọn vẹn, đủ tư cách để nhận lãnh mọi bí tích, kể cả bí tích Mình Máu Chúa. Tuy nhiên, những ai đang sống đời hôn nhân với người nào đó mà hôn nhân của họ không được Giáo hội Công giáo công nhận là thành sự, thì vẫn bị coi như đang ở trong tìng trạng rối tội, vì thế sẽ không được phép rước Chúa vào lòng. Vì lý do đó, cũng không là chuyện phải lẽ để đón nhận họ vào với cộng đoàn Hội thánh.

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo nói rõ về vấn đề này, như sau: “Nhằm mục đích trung thành với Lời của Chúa Giêsu –‘những ai từng rẫy bỏ vợ hay chồng mình và đi lấy người khác, như thế là phạm lỗi ngoại tình; và nếu người vợ cũng ly dị chồng và đi lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình hệt như vậy.” (Mc 10: 11-12) – và Hội thánh chủ trương rằng sự kết hiệp mới không được coi là thành sự, chỉ hôn nhân đầu mới thành sự mà thôi. Giả như người nào từng ly dị vợ hoặc chồng nay làm đám cưới theo tính cách dân sự, thì những người ấy phải biết là mình đang ở vào tình trạng đối nghịch lại luật của Thiên Chúa. Cụ thể là, họ sẽ không được rước Mình Máu Chúa vào lòng bao lâu mà tình trạng này cứ tiếp diễn.” (GLHTCG #1650)

Dù điều luật về chuyện này là dành cho hôn nhân và ly dị giữ người Công giáo với nhau, nhưng cùng một tiêu chuẩn tương tự cũng được áp dụng cho người không Công giáo nay muốn vào Đạo. Thành thử, bao lâu tình trạng ấy còn kéo dài, thì những người như thế không thể được chấp nhận gia nhập Đạo.

Tuy nhiên, cũng có nhiều giải pháp khả thi. Trường hợp đầu, những người như thế yêu cầu đưa vụ việc về hôn nhân đầu tiên của họ theo đúng qui cách người Công giáo ra toà án giáo luật để xem trên thực tế, hôn nhân đầu tiên ấy có thể được huỷ bỏ ngay từ đầu hay không. Toà án Công giáo sẽ xem xét giá trị hiệu lực của hôn nhân giữa các người không Công giáo giống như thế. Nếu Toà án có khuynh hướng huỷ bỏ giá trị hôn nhân đầu, thì hai người nam nữ trong kết hợp hôn nhân lần thứ nhì có thể được miễn chuẩn mà tiến hành hôn phối có giá trị hiệu lực theo nhãn giới của Hội thánh.

Một khả thi thứ hai nữa, là: giả như hai người nam nữ đều già đi, mà họ chỉ muốn sống với nhau không có quan hệ vợ chồng, tức chỉ như “người anh người chị”, thì trong trường hợp này, người ấy vẫn có thể được phép gia nhập cộng đoàn Hội thánh Chúa.

Và dĩ nhiên, giả như người phối ngẫu của hôn nhân đầu nay quá vãng, và người kia muốn lấy người khác thì, người này vẫn được phép gia nhập Hội thánh Chúa.

Tuy nhiên mọi giải pháp khả thi nói ở trên có thể sẽ phải trải qua một thời gian chờ Hội thánh giải quyết. Trong khi chờ đợi, người muốn hồi hướng về với Hội thánh cũng đừng nên quay mặt mà bỏ đi. Vẫn nên khuyến khích những người như thế đến dự Tiệc Thánh, tham gia các buổi giảng dạy về niềm tin, vv.. và đặc biệt cũng nên cầu nguyện để có được giải pháp cho tình trạng mình đang sống, miễn là trong khi đó, họ làm mọi cách cho hợp lẽ ngõ hầu giải quyết vấn đề này.” (x. Lm John Flader, Question Time, Connorcourt 2008, tr. 190-191)

Nói như đấng bậc vị vọng có thẩm quyền trong Đạo, là nói như thế. Không có gì đổi thay. Nhưng hỏi rằng, ngày nay được bao nhiêu người chịu quay về với guồng máy Đạo rất ư là ”Vũ Như Cẫn” (tức: vẫn như cũ) của Hội thánh chưa từng đổi thay là mấy,cũng vẫn vậy.

            Hỏi ở đây, không có nghĩa là thắc mắc/vấn nạn về guồng máy có khuôn vàng thước ngọc rất chặt chẽ, vững chắc. Khó làm siêu lòng được mọi người. Hỏi ở đây, còn có ý để bảo: với giới chức bên ngoài nhà Đạo --hoặc Công giáo, hoặc Thệ Phản-- lâu nay rày ra sao?   

Đã hỏi một cách nghiêm chỉnh, thì cũng nên tìm câu trả lời cũng rất chỉnh và rất nghiêm, để còn an nhàn mà vui sống. Cuối cùng, thì những câu hỏi và/hoặc nhủ khuyên như thế, cũng chỉ nên để chức sắc/đấng bậc có trọng trách cứ khư khư mà giữ lấy mà sống cho hết cuộc đời quý vị, hoặc cho những vị chẳng màng đến thực tế.  Hôm nay, bản thân bần đạo chẳng thể tìm ra giới chức nào khả dĩ đáp trả những câu hỏi nghiêm, chỉnh và chính mạch, đến như thế.

            Thôi thúc cho lắm, thì bần đạo như mọi lần cũng chỉ dám thưa với bạn đạo cùng bạn đọc bằng một truyện kể rất nhẹ, để bạn và tôi, ta được thư giãn sau những giây phút “rất căng”, mà rằng:

“Người mẹ nọ thấy anh con trai của mình cứ rắp ranh hỏi ý mẹ xem có nên ly dị người vợ đang sống với mình tuy đẹp nhưng không sang, tuy làng nhàng nhưng không hạp, bèn nhận được lời dạy vững chắc của mẹ như sau:

-Con ạ. Đến giờ này, mà con vẫn không nhận ra bí kíp cuộc sống vợ chồng gồm 10 điểm như thế này ư:

1. Kẻ thù lớn nhất của con, là: vợ con;

2. Ngu dốt lớn nhất đời con, là: không hiểu được nó;

3. Thất bại lớn nhất của đời con, là: không bỏ được nó;

4. Bi ai lớn nhất của đời con, là: phải sống với nó;

5. Sai lầm lớn nhất đời con, là: đã quyết định lấy nó làm vợ;

6. Tội lớn nhất trong đời con, là: nghe lời của nó;

7. Nỗi niềm đáng thương nhất đời con, là: bị nó sai khiến;

8. Điều đáng khâm phục nhất ở nơi con, là: con vẫn chịu đựng được nó;

9. Tài sản lớn nhất trong đời của con, là: những thứ nó đang giữ; và

10. Khiếm khuyết lớn nhất trong đời đi Đạo của con, là: không được phép lấy 2 vợ.

Nghe xong, cậu con quý tử của bà mẹ hiền ở trên bèn hu hu khóc rống. Mẹ hiền lấy làm ngạc nhiên, bèn hỏi:

-Ủa! Sao con lại khóc? Khóc là động thái rất hèn, đó con!

-Sở dĩ con khóc là vì bây giờ con mới thấy tội nghiệp cho bố. Có lẽ chính vì thế mà bố của con mới mất sớm, phải không mẹ?

Cũng là câu hỏi, tuy không “gay” như những câu được gửi đến nhà Đạo, cách chính thức như trên, vì gay như thế, thì bố ai dám trả lời. Thôi thì, ta hãy về tắm ao ta, rồi cũng biết. Hỏi hay không, thắc mắc hoặc bình chân như vại, hạ hồi sẽ rõ. Có rõ hay không, cũng đừng hỏi. Chí ít, là hỏi những câu mà nhà Đạo ít người dám trả lời/trả vốn, bởi nếu hợp tình đời thì sợ nghịch ngạo với lý lẽ của nhà Đạo, mà thôi.

            Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn chưa mở mắt cho tròn

            để còn nhìn đời.

            Theo nhãn giới,

rộng hơn thế.

dongcongnet- sưu tầm 26 thang 10-2011

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)