dongcong.net
 
 

Hai đoản khúc suy tư 2011 + 2014

Suy niệm Chúa Nhật thứ 33 thường niên năm A 13.11.2011

“Ta ngỡ mất, mà chưa đành đánh mất,”

“Bởi mùi hương ngự trị, cánh hoa tàn.”

(dẫn từ thơ VươngNgọc Long)

Mt 25: 14-30

Mất tình/mất tiền, nào mấy sợ. Bởi, tình/tiền xưa nay còn đó vẫn rất hiền. Cái dễ mất nhất, là niềm tin Chúa gửi nơi lòng dạ con người từ xưa đến nay. Lòng dạ ấy nay đà thấy ở trình thuật, ngày Chúa nhật.

Trình thuật Chúa nhật về niềm tin để luột mất, là ý tứ và ý từ được thánh Mat-thêu đề cập đến qua dụ ngôn kể lại hôm nay. Dụ ngôn, nay kể về “yến bạc” giao cho các người đầy tớ để sinh lời. Dụ ngôn, nay mang nặng tình tiết nối tiếp truyện kể đọc tuần trước, cũng đề cập việc sử dụng và đầu tư của cải vào mọi chuyện.

Thời xưa, “yến bạc” là đơn vị đo lường trọng lượng. Đó, là đồng cân nặng nhất trong hệ thống cần lường. Yến bạc, được dùng để cân đo vàng/bạc, kim loại, và đồ đồng. Mãi về sau, con người mới dùng nó làm đơn vị tiền tệ. Với người Do thái, một yến bạc tương đương với 3,000 shekels, tương tự định mức cân lượng mà người thường mang vác được. Lịch sử sau thời của Chúa và vào thời thánh Mát-thêu, thì một yến bạc tương đương với 6, 000 quan tiền người La Mã. 6,000 quan tiền, tương đương với lợi tức mà công nhân bình thường ở huyện có khả năng kiếm được trong vòng 15 đến 20 năm. Đó, cũng là lối nói thông thường về “một tấn tiền quan” người La Mã.

Người chủ được nói đến ở dụ ngôn, là người bận rộn, phải đi xa một thời gian không biết trước được hạn định. Ông trao cho 3 người tớ của ông 3 lượng tiền khác nhau. Một người, những 5 yến bạc. Kẻ kia chỉ hai yến. Còn người chót, chỉ mỗi yến một. Tất cả đều tuỳ khả năng của mỗi người. Nhưng, ông lại không cho họ biết phải làm gì với số bạc ấy. Ông coi mọi người như kẻ chín chắn. Chững chạc. Ông rất tôn trọng tự do và sức sáng tạo, của mỗi người. Và, ông cũng chẳng hề nghĩ là ông đã trao phần ít ỏi cho người đầy tớ thứ nhì và thứ ba. Bởi, mỗi yến bạc khi ấy nặng cả tấn tiền.      

Về cốt truyện thì ai cũng đều đã tỏ. Hai người tớ đầu, đều biết mình phải làm gì với số lượng yến bào do chủ ũy thác. Tức, sử dụng nó một cách mẫn cán. Hiệu quả. Cả hai người này đều làm lợi cho chủ nhiều điều thấy rất rõ. Trong khi đó, người đầy tớ cuối lại không hành xử hệt như thế. Y đào đất chôn tiền quan xuống đó, tưởng rằng làm thế tức tạo sự an toàn, đúng đắn như bỏ vào két sắt/quỹ tiết kiệm, mà chẳng biết đầu tư cũng chẳng sinh lời sinh lãi.

Đó là biện pháp an toàn tối thiểu mà người mà người tệ bạc nhất cũng nghĩ ra. Tức, không sinh lợi nhưng cũng chẳng làm hại, chẳng thua lỗ điều gì. Tức, không tạo tăng trưởng, nhưng cũng chẳng làm ai thiệt thòi. Mất mát. Y ta đem về cho chủ đúng số lượng buổi ban đầu do chủ giao, chẳng dùng vào việc chi hết. Cất như thế, có bỏ công tìm kỹ cũng chẳng thấy được dấu tay, hoặc vết tích.Thật ra, y ta chẳng làm điều gì sai trái cả. Vì có làm gì đâu mà có sai sót.

Dụ ngôn cũng cho thấy: hai người đầy tớ đầu được chủ tặng thưởng rất hậu hỹ. Lại được chủ gọi đích danh “tôi tớ lương hảo và trung trực”. Tức, nhận nhiều trách nhiệm sẽ gặt hái được nhiều niềm vui. Trong khi đó, người tớ chót bị chủ cho là thành phần “bất hảo, lươi biếng”, đáng chê trách. Nói đúng ra, phải gọi anh ta là kẻ vô tích sự, chẳng làm được gì nên chuyện. Một thứ “ăn hại đái nát”, chẳng giống ai. Tức, những loại người ăn không ngồi rỗi, rất đáng buồn. Thế nên, họ mới bị lên án, dù chẳng lỡ lầm. Hoặc, sai trái.

Có lẽ khi viết lên dụ ngôn này, thánh sử Mat-thêu đã mang trong đầu ý tưởng về hai nhóm người Do thái khá quan trọng, vào thời ấy, nếu đem so với nhóm thứ ba. Hai nhóm đầu, là những người đại diện cho cộng đoàn Qumran . Nhóm thứ ba tượng trưng cho đám Biệt Phái, rất Pharisêu.

Qumran là nơi ta tìm ra Cảo Bản Biển Chết. Ở nơi đó, thấy có cộng đoàn sống chia cách/tách rời xã hội mình đang sống. Tách và rời, khỏi đền Giêrusalem để rồi đi vào chốn sa mạc lặng lẽ, trong hang động. Hang động họ sống, quanh Qumran , bị người La Mã phá huỷ vào thời chinh chiến suốt từ năm 68 đến 70 sau Công nguyên. Nên, cũng chẳng tồn tại khi thánh Matthêu viết lên Tin Mừng của thánh nhân vào niên biểu thứ 85. Và, thánh nhân cũng thừa biết là nhóm người này từng chôn giấu yến bạc đạo đức ở đâu đó, trong hầm tối của chính mnình.

Pharisêu là nhóm người có mặt nhiều hồi thánh Mat-thêu còn sống. Họ là những đối tác chuyên kình chống lại thánh nhân. Vào dạo trước, Đức Giêsu cũng có cảm tình với những người này. Và ngược lại, họ cũng biết điều với Ngài trong nhiều chuyện. Nhưng 40, 50 năm về sau, thế giới của họ đã biến đổi một cách khác hẳn. Sau ngày đền thờ Giêrusalem bị phá huỷ, đám Pharisêu lại trổi lên thành nhóm lãnh đạo dân Do Thái quyết tập hợp lại với cuộc sống ở ngoài đời. Trước thời thánh Mat-thêu sống, đám Pharisêu đã củng cố chỗ đứng của họ và phô trương cho mọi người thấy cung cách chỉ biết sống theo luật và luật. Và, cũng từ đó, họ tìm cách rút khỏi tầm ảnh hưởng của người La Mã để còn áp đặt mọi chuyện lên dân con của chính mình. Nói theo ngôn từ đạo đức, thì thời đó, đám Pharisêu là nhóm hướng dẫn việc đạo hạnh quyết đưa mọi người rời thế giới thực tại thời bấy giờ. Họ chính là những người cột chặt tinh thần câu nệ lề luật sau hàng rào bảo vệ của Torah.

Thánh Mat-thêu chẳng ưa gì nhóm người này. Thánh nhân chỉ muốn sống theo tinh thần của Đức Giêsu chủ trương bằng vào tương quan cởi mở, gọn gàng và nhẹ nhàng hơn. Thánh nhân chủ trương tinh thần biết sử dụng các “nén bạc” do Đức Giêsu và Thần Khí Ngài tặng ban. “Nén bạc” nói ở dụ ngôn hôm nay, không chỉ mang nghĩa kim tiền/của cải thôi; nhưng, còn biểu trưng quà tặng về năng khiếu như khi ta đề cập đến kỹ năng âm nhạc, ngôn ngữ, toán học hoặc những thứ khác.

Thông điệp thánh Mát-thêu gửi mọi người bằng dụ ngôn hôm nay, luôn mang tính giản đơn. Thẳng thắn. Trực tiếp. Ý thánh sử muốn nói, là: ân huệ Chúa ban cho mọi người vẫn thừa thãi, tràn đầy, không cạn tiệt. Nếu ta lại đem chôn ân huệ Ngài ban xuống đất, khác nào người đầy tớ vô tích sự,kể ở trên.     

Truyện dụ ngôn hôm nay còn làm người đọc liên tưởng đến chuyện “Trân Châu Cảng”. Ở cảng này, tầu thuyền neo đậu đâu nào có nghĩa mình sẽ an toàn thoải mái mãi suốt đời? Chỉ hiện diện sống ở đó thôi, đâu có nghĩa mình sẽ được an toàn cả phần linh thánh lẫn mặt đời.

Tình tự chuyên lo sống an toàn, được ghi rõ ở nhiều thông điệp được Đức đương kim Giáo Hoàng Bênêđíchtô XVI tỏ cho giới trẻ biết trên báo đài lẫn Đại Hội Giới Trẻ ở Cologne , Sydney lẫn Madrid . Đức Giáo Hoàng đề cập đến Đạo Chúa như tình yêu cao cả, và mặc khải quý hiếm. Đối với ngài, làm tín hữu Đức Kitô là nhận lãnh ân huệ cao cả và quý hiếm Chúa vẫn ban. Ân huệ Ngài ban cho mọi người, sẽ là đôi cánh tiên để ta bay cao vút, lên cõi tiên. Ân huệ Chúa ban, còn là sứ mạng gửi đến mọi tín hữu. Sứ mạng ấy, là dự án để ta thực hiện vào mai ngày. Là, đem chân, thiện, mỹ vào cuộc sống rất thực để rồi ta tập trung đời mình vào những gì quan yếu, thiết thực thôi.

Đức Giáo Hoàng từng bảo: giả như Hội thánh mình biết sống thực như thế, ắt hẳn cuộc sống của mình sẽ mãi mãi trẻ trung, suốt mọi thời. Có sống như thế, thánh hội của Chúa sẽ không bao giờ trở nên chai lì, cằn cỗi. Bởi, Hội thánh là hội của các thánh biết kết hiệp với Chúa, tức cội nguồn tuổi trẻ, rất sống động.

Nay, điều cần là mỗi người và mọi người nên để cho qua đi tâm tư mỏi mệt và tâm tình nhiều huỷ hoại. Để rồi, sẽ hướng nhìn về phía về nơi có sự cao cả đích thực là di sản của Đạo Chúa. Đó, còn là “nén bạc” mà Chủ Tể vũ trụ đã trao cho mỗi một người, trong cuộc đời. Đó, là sứ mệnh khiến ta chọn lựa. Chấp nhận. Sứ mệnh, là: sử dụng nén bạc Ngài trao hầu xây dựng tương lai mai ngày cho thế giới mình chung sống. Thế nên, hãy dấn bước thâm trầm mà tiến tới. Tiến về phía trước mặt, dù đời người muôn mặt, để còn sinh lợi “nén bạc’ hiếm quý Chúa trao ban, cho ta. Cho mỗi người.

Trong tâm tình cảm kích chấp nhận nén bạc Ngài ban, ta lại sẽ ngâm nga lời ca, còn đậm nét:  

                        “Xa tít tắp từ rừng xưa cổ tích,

                        Cỏ xanh mềm ảo hoá giấc phù vân.

                        Mùa thu ấy đôi mắt buồn man mác

                        Ngong ngóng chờ hoài niệm hoá rêu xanh.”

(Vương Ngọc Long – Đêm Nguyệt Quỳnh)  

Nguyệt Quỳnh đây, có thể không là “nén bạc” quý hiếm Chúa gửi gắm. Nhưng, vẫn là huệ ân/ân huệ mọi người trông ngóng biến thành những gì có lợi cho mình. Cho mọi người. Ở đời.    

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh.

Mai Tá lược dịch. 

 

“Em ngại ngùng dạo phố mùa Xuân,”
“Bên nguời yêu tật nguyền chai đá.”

(Phạm Duy – Kỷ Vật Cho Em)

(Ga 9: 3)

            Kể ra thì cũng lạ. Lạ, ở chỗ: có mỗi “viên đạn đồng” làm kỷ vật, mà sao người cứ hát đi rồi thì hát lại mãi một câu “em hỏi anh, em hỏi anh, bao giờ trở lại”! Hỏi rồi, người lại “xin trả lời, xin trả lời…mai mốt anh về!”. “Mai mốt anh về”, phải chăng là lời hứa sẽ về để sống “bên người yêu, tật nguyền chai đá”? “Ngại ngùng tật nguyền chai đá”, hay ngại ngùng vì anh mang về viên đạn đồng đen, làm kỷ niệm?

Tuy nhiên, đôi lúc “trở về …sống bên người yêu tật nguyền chai đá”, không như ước mở được diễn tả bằng câu ca nghe ở bên dưới:

 

“Anh trở về nhìn nhau xa lạ.
Anh trở về dang dở đời em
Ta nhìn nhau ánh mắt chưa quen
Cố quên đi một lần trăn trối... Em ơi!

(Phạm Duy – bđd)

            Rất nhiều lần, bần đạo được bạn bè chuyển cho đọc những đoạn thư gồm các câu hỏi về câu hỏi về nỗi cuộc đời mà người người ở đời thường gặp phải. Như câu hỏi gửi bần đạo nhờ giải đáp hoặc chuyển cho ai có thẩm quyền để giúp đỡ, rất như sau:  

Tôi có ông cậu bên họ mẹ vừa ly dị bà vợ về quê kiếm người khác trẻ trung hơn để sống nốt cõi đời còn lại. Điều đáng nói, là: kể từ ngày đó ông cậu tôi gặp toàn chuyện rắc rối đến độ cứ nghĩ quẩn hỏi rằng phải chăng Chúa phạt ông về những sai quấy ông đã làm. Vậy, xin hỏi bác vốn là người có kinh nghiệm viết lách về chuyện đạo, là: Chúa lòng lành vô cùng, Ngài có xử phạt con người giống thế không? Xin Bác cho biết để bọn này còn giữ vững lòng tin vào Chúa.” (Một độc giả trung thành luôn đọc báo)  

            Độc giả trung thành? Vâng. Có thể là như thế. Nhưng điều quan trọng ở đây, không phải là chuyện này. Mà là chuyện: con dân nhà Đạo nghĩ sao về thắc mắc tương tự? Và nhiều câu khác cắc cớ cũng không kém?

            Là tay viết chỉ biết phiếm loạn chuyện cà kê bên lề nền thần học, mà buộc phải trả lời câu hỏi này, thì cũng ngại. Ngại lắm lắm, là bởi: nghĩ mình làm gì có đủ tư cách để trả lời lẫn trả cả vốn. Nên chi, hãy cứ bán cái cho đấng bậc vị vọng, là hay nhất.    

            Vậy thì, xin mời bạn mời cả tôi, ta nghe lời huấn giáo của đấng bậc rất thân quen là đức ngài linh mục John Flader chuyên trách mục giải đáp thắc mắc ở trên tờ tuần báo Công giáo ở Sydney , như sau:  

“Đây là một trong những thắc mắc được rất nhiều người viết thư về toà soạn để hỏi. Xin nói ngay ở đây rằng: chắc chắn không thể nào có câu trả lời cho thoả đáng cho từng “nố” được. Dầu sao, thì ta cũng có thể tìm ra được một vài chỉ dẫn trong Thánh Kinh khả dĩ giúp ta đi thẳng vào vấn đề mà trả lời một cách chung chung, cũng được.     

Chẳng hạn như sách Lêvi có đoạn Yavê Thiên Chúa nói với dân Người rằng Ngài sẽ tưởng thưởng cho những ai tuân thủ luật Ngài ban ra. Nhưng, Ngài cũng trừng phạt họ nếu bất tuân.(x. Ds 26: 1-45) Xem như thế, ta thấy rằng, đặc biệt trong Cựu Ước, nhiều lúc Đức Chúa cũng luận phạt con dân Ngài vì tội bễ trễ, không tuân lệnh.

Ngài làm thế, với toàn dân như một tổng thể. Lại có ví dụ khác cho thấy khi ấy dân Israel lưu lạc nơi sa mạc sau khi được đưa thoát khỏi chốn nô lệ đoạ đày xứ Ai Cập, thì tổ phụ Môsê sai phái một số chức sắc đi xem xét Đất Chúa hứa ở Canaan có nên vào đó hay không.

Trên đường về, Jôshua và Caleb bèn báo cáo là các ông có thể dùng đất hứa đó làm cơ nghiệp; nhưng những người đồng hành với hai ông đều phản đối không chịu theo vào đất ấy do bởi chiều kích của phần đất và quyền uy của dân làng ở nơi đó. Vì thế nên, chúng dân người Do thái lại khóc lóc vãn than suốt đêm trường.

Yavê Thiên Chúa bèn phán với Môsê và Aaron rằng: Ngài sẽ trừng phạt dân con cứng đầu này bằng cách để họ lưu lại nơi sa mạc đến 40 năm; và thanh niên trai tráng nào tuổi đời trên hai mươi vẫn thầm trách Ngài sẽ chết bất đắc kỳ tử trên đoạn đường lưu lạc, ở cõi đày, rằng: “Ta Yavê, Ta đã phán ! Ta lại sẽ không xử như thế sao với tất cả cộng đồng xấu xa này, những kẻ đã đoàn tụ với nhau chống lại Ta? Trong sa mạc này chúng sẽ biến dần tận tuyệt; chúng sẽ chết ở đó.” (Ds 14: 35-38)

Cùng lúc đó, Yavê Thiên Chúa còn xử phạt cá nhân hai tổ phụ là Môsê và Aaron vì thiếu niềm tin. Khi dân Israel than phiền về chuyện thiếu nước uống ở Mêribah, thì Môsê và Aaron lại dám bào chữa khấn với Chúa, được Chúa chỉ cách dùng gậy chống mà gõ vào vách đá, tức thì nước uống chảy ra từ nơi đó. Ông gõ gậy vào đó những hai lần, lập tức nước vỡ ào như suối chảy. Nhưng Chúa lại bảo với Môsê và Aaron: “Bởi vì các ngươi đã không tin vào Ta để làm Ta được hiển thánh nơi cái Israel, cho nên các ngươi sẽ không đem đoàn hội này vào Đất ta định ban cho chúng.” (Ds 20: 12). Không lâu sau đó, Aaron chết tức tưởi và cả Môsê cũng chết theo trước khi dân con Israel bước vào đất Chúa hứa qua sự dẫn dắt của Jôshua. (x. Ds 20: 28; DNL 34: 1-6)

Trong số các khuôn mặt khác nói ở Cựu Ước từng khôn khổ về tội lỗi của mình, còn thấy có Giacob là người từng lừa gạt cha mình là Isaac bằng cách giả làm người em Esau, nên chịu hậu quả cảnh xa cách khốn khổ vì mất con trai mình là, Giuse khi ông bị các người anh của mình bán qua Ai Cập, làm nô lệ. (x. Kn 27: 1-40; 37: 12-36)

Một hình phạt lớn lao khác đến với toàn thể con dân Do thái là vào thời tiên tri Giêrêmia, khi ấy Yavê Thiên Chúa phá hủy đất đai và sai dân Ngài chọn đến vùng đấy Giuđa và Giêrusalem dưới trướng Babylôn suốt 70 trường vì tội dám thờ ngẫu thần. (Gê 25: 11)

Dù có nhiều trường hợp cho thấy Thiên Chúa từng xử phạt con dân Ngài và một số người vì tội lỗi của họ, chính Đức Giêsu cũng cho ta biết rằng mọi khổ đau không nhất thiết là hậu quả của tội lỗi đặc biệt. Khi các môn đồ hỏi Ngài về trường hợp người mù từ thuở bình sinh, hai làm người làm nên tội, thì Ngài phán: “Chẳng phải tội nó hay cha mẹ nó phạm song để nơi nó, công việc Thiên Chúa được hiện tỏ.” (Ga 9: 3)

Thành thử, ta cũng chẳng bao giờ nên bảo rằng các đại hoạ xảy đến với con người là hậu quả Chúa phạt do tội lỗi mà con người mắc phải, bởi Chúa chẳng khi nào lại hiện thực chuyện phúc/hoạ theo đường lối như thế.

Cũng vậy, không thể kết luận rằng vì ta không trải nghiệm một khổ đau nào, là do Chúa hài lòng với cuộc sống của ta. Chúa không xử phạt cũng chẳng tưởng thưởng hành xử của ta, ngay tức thì, dù việc ấy lành hay dữ. Cùng lúc ấy, ta hẳn biết mình sẽ phải chịu đựng hình phạt tạm bợ là do lỗi phạm ta mắc phải, dù đó là tội trọng hay nhẹ. Giả như ta không bị xử phạt theo hình thức này hay kiểu khác, thì vẫn có thể làm chuyện ấy ở nơi nào, cung cách nào đó, mà Giáo hội gọi là chốn luyện hình.

Theo tinh thần đó, ta hiểu rằng Thiên Chúa là Đấng Lòng lành vô cùng Ngài cũng bị đánh động do tình yêu và lòng xót thương của Ngài, đôi lúc cũng gửi để cho ta chịu một vài cảnh ốm đau hoặc rủi ro/bất hạnh nào đó trong đời mình để rồi đỡ phải chịu cảnh ấy ở chốn luyện hình.

Và khi ta thấy được tình thương yêu của Đức Chúa ngang qua nỗi niềm khổ đau/cực hình trong đời, thì đó cũng là dịp để ta cảm thông với nỗi niềm thương khó mà Con Chúa phải chịu ngang qua thập giá, như thánh Phaolô từng nhận định trong thư riêng của thánh nhân gửi bà con đồng Đạo ở Do thái rằng: “Vì Chúa thương ai, Người mới sửa dạy, con nào người nhận, Người mới ra đòn.” (Dt 12: 6) (x. Lm John Flader, Question Time, The Catholic Weekly 25/09/2011 tr. 12)  

            Mượn lời và tiếng của đấng bậc vị vọng để cà kê một lời kể, chỉ để nói rằng: thời xưa người người thường nghĩ thế. Chứ ở thời nay, ai mà chú trọng đến cái-gọi-là hình phạt dính dự vào với tai ương, tật bệnh hoặc thân phận miệt mài, nhiều khổ ải đâu.

Thời buổi này, dù nghệ sĩ có vị vẫn viết và hát lời bi ai, khổ ải về kỷ vật “đồng đen viên đạn”, cũng là hát những lời âu sầu rầu rĩ rất lê thê rằng:

“Em hỏi anh. Em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở lại với kỷ vật viên đạn đồng đen
Em sang sông anh cho làm kỷ niệm
Anh trở về anh trở về trên đôi nạng gỗ
Anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân.
Em ngại ngùng dạo phố mùa Xuân,
Bên nguời yêu tật nguyền chai đá.”

(Phạm Duy – bđd)  

Nhưng trước đó, người nghệ sĩ lại vẫn ca:  

“Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime,
Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã,
Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngả
Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa,
Anh trở về trên chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng.”
(Phạm Duy – bđd)

Hát cho nhiều, cũng chỉ để diễn tả hậu quả của chiến tranh, tranh giành một ý thức hệ:  

“Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Anh trở về bờ tóc em xanh
Chít khăn sô lên đầu vội vã.. Em ơi!”
 

Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về
  Em hỏi anh em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.....”

(Phạm Duy – bđd)  

Về đây hay về nơi đâu, cũng vẫn là về. Về chốn đọa đày mà Hội thánh xưa/nay gọi là “chốn luyện hình” ở đâu đó. Có thể là, ở ngay đây, chốn đời tạm hay đời thường, vẫn cứ là về. Về với con người chưa từng canh tân đời sống, nên vẫn sầu buồn, khổ đau, ai oán. Chỉ khi nào, bạn và tôi, ta về với tình thương dân dã chốn miền nhiều niềm vui, thì khi ấy sẽ không còn người ca sĩ chuyên hát lời hỏi han về sự trở về mang theo một kỷ vật. Kỷ vật ấy, chắc sẽ không còn là viên đạn đồng đen hay đồng đỏ, nhưng sẽ là kỷ niệm của tình yêu thương giùm giúp, rất tươi vui. Tươi và vui, như câu truyện kể dân gian nhiều hư cấu, ở bên dưới: 

“Truyện rằng:

Người bạn thắc mắc:
- Mà nàng bỏ cậu hay cậu bỏ nàng?

Người chồng nhún vai:
- Chẳng ai bỏ ai. Tôi không ở nổi tôi đi, nàng không giữ nổi nàng thả.

Người bạn có vẻ tiếc:
- Thật không ngờ. Bạn bè ai cũng cho vợ chồng cậu là cặp xứng đôi, hạnh phúc nhất thành phố.

- Thiên hạ chỉ nhìn đàng trước, có những chuyện phải nhìn đàng sau mới thấy.

Người bạn lại thắc mắc:
- Có một đệ tam nhân chen ở giữa?

- Tôi nghĩ là không hay ít ra tôi chưa nghi ngờ và tôi tin phía nàng cũng vậy.

- Chuyện tiền bạc?

- Cũng không. Tôi chẳng bao giờ thắc mắc chuyện tiền bạc mặc dù người quản trị tài chánh trong nhà là nàng.

- Xung khắc tính tình?

Người chồng im lặng vài giây rồi mới nói:
- Có thể cho là như vậy.

Người bạn thở phào:
- Tưởng gì chứ chuyện xung khắc tính tình đâu có gì to lớn, mỗi bên nhịn một chút là xong.

Người chồng hỏi vặn lại:
- Nếu nhịn mãi vẫn không xong thì tính sao?

- Cậu phải đan cử cho tôi vài thí dụ tôi mới có ý kiến được.

- Thí dụ cửa trước nhà tôi, tôi nhớ mỗi lần vào nhà tôi đều khóa cửa lại cẩn thận. Thế mà nhiều lần nàng tri hô lên tôi chưa già đã lẩm cẩm, cửa không khóa mà cứ cãi là khóa rồi. Tôi nghi nàng lén mở khóa rồi mới tri hô lên.

- Biết đâu có lần cậu quên khóa thật?

- Ban đầu tôi cũng nghĩ như thế nên làm thinh. Nhưng về sau tôi biết chắc là nàng có chủ ý.

- Cậu có bằng chứng?

- Tôi lén thuê gắn caméra trên trần nhà.

Người bạn mặt ngẩn ra:
- Vì sao nàng làm vậy?

- Đó là điều tôi cũng tự hỏi. Chẳng lẽ nàng muốn gieo vào đầu tôi rằng tôi thật sự bắt đầu quên trước quên sau để phụ thuộc vào nàng hơn?

- Thế cậu có cho nàng xem hình quay lén không?

- Không. Tôi sợ nàng lại tri hô lên tôi do thám nàng. Cùng lắm nàng sẽ tự bào chữa nàng cũng có thể vô tình đóng mà quên khóa cửa như tôi thôi.

Người bạn hỏi thêm:
- Còn chuyện xung khắc nào khác?

Người chồng giọng lưỡng lự:
- Điều này tôi không biết có nên cho là tính xấu của nàng không? Nhưng xấu hay không xấu tôi cũng không ưa. Đó là tính ích kỷ. Nàng chỉ rộng rãi với mình, còn hẹp hòi với người khác, người khác đó có khi là chính cả tôi nữa.

- Nhưng cậu chịu đựng nổi tính ích kỷ của nàng chứ?

- Chịu đựng được nhưng lắm khi bực mình, đôi khi còn ngượng với người ngòai.

Người bạn hỏi tiếp:
- Có phải chỉ vì hai nguyên nhân đó mà cậu bỏ đi?

- Tôi bỏ đi vì nguyên nhân thứ ba. Nàng lấy chuyện chăn gối như một phương tiện để thưởng phạt tôi. Cậu là đàn ông chắc cậu cũng hiểu nhu cầu sinh lý của một thằng đàn ông như thế nào rồi. Đối với tôi đó là một nhu cầu cần được cảm thông chứ không thể bị ràng buộc, không thể bị điều kiện hóa. Tôi không thể chấp nhận treo chuyện gối chăn lên làm giải thưởng.

Người bạn không hỏi thêm chỉ tỏ ý ái ngại:
- Cậu tính giận bỏ đi vài hôm, nguôi giận lại về, hay nhất quyết đi luôn?

- Tôi đã muốn đi nhiều lần, nhưng lần này tôi phải biến ý muốn thành hành động.

- Cậu tính tạm thời ở đâu?

- Tạm ở nhà ông anh chừng vài tháng. Sau đó nếu quyết định đi luôn tôi sẽ đi thuê ấp ở riêng và bắt đầu lại cuộc đời.

Hai ngày sau khi người chồng bỏ nhà ra đi, một buổi tối người bạn gọi điện thoại cho người vợ:
- Anh nhà có ghé tôi, tôi cố hết sức khuyên giải nhưng anh ấy nhất quyết không chịu về.

Người bạn kể cho người vợ nghe đầy đủ chi tiết ba lý do khiến người chồng bỏ nhà ra đi. Kể xong người bạn nói, giọng rào đón:

- Có một người đàn ông khác, không coi ba điều anh nhà trách chị là quan trọng. Chừng nào chị muốn tìm hiểu người đàn ông đó tôi sẽ xin cho chị biết tên.

Nghe xong người vợ lạnh lùng trả lời: "Tôi vẫn nói với chồng tôi: ‘Anh không có bạn tốt. Nếu không tin anh cứ thử dàn dựng một cảnh vợ chồng mình bỏ nhau anh sẽ thấy đàng sau lòng dạ của bạn anh’." 

Truyện kể, cũng có thể là hư cấu, hoặc có thật như cuộc đời con người thật muôn mặt. Những mặt của phúc/hoạ, sướng/khổ tuỳ cung cách và vị thế của người kể và người nghe kể. Quan trọng hay không, vẫn là động thái và chọn lựa cách sống của mỗi người. Cũng giống như lập trường của nhà thơ từng chọn lựa, như bên dưới:  

                        “Còn gặp nhau thì hãy cứ vui,

                        chuyện đời như nước chảy hoa trôi.

                        Lợi danh như bóng mây chìm nổi,

                        Chỉ có tình thương để lại đời.

                        Còn gặp nhau thì hãy cứ thương,

                        Tình người muôn thuở vẫn cón vương.

                        Chắt chiu một chút tình thương ấy,

                        Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường.”

(Thơ Tôn Nữ Hỷ Khương)  

Tất cả là như thế. Như thế, không có nghĩa: chỉ sầu bi, khổ ải, chiến tranh, hận thù… mới là đời. Đời người, đời mình vẫn cứ khác, nếu người người cũng như mình mặc lấy cho mình cặp kính hồng, để nhìn đời. Bởi, vui buồn một đời người, còn tuỳ người người đang đeo cặp kính mầu gì. Cả vào khi mọi người nhận định cuộc đời, khác mình tôi. Hay, chỉ mình bạn. Vẫn cứ là, cái “mình” của chúng ta.  

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn cứ mong bạn và mong tôi

ta nhìn cuộc đời

luôn bằng cặp kính

rất mầu hồng.     

dongcongnet- sưu tầm 26 thang 10-2011

 

Đi dần vào tuần cuối thứ 33 thường niên A lại xin gửi bà con 2 bài suy tư
 
Suy tư tuần cuối của mùa thường niên năm A, lại thấy có giòng thơ lơ lửng những ngâm rằng:

“Tôi cảm thương, vì hai chúng ta,”

Tuổi đang xuân, mà bỗng sang già”.

Thi-ca là như thế, thế nhưng âm nhạc lại hơi khác. Khác một điều, ở người viết những hát rằng:

“Buồn mà chi, dù sống trong đời là đau khổ!”

“Buồn mà chi, dù sống trong đời là căm hờn”.

Thì ra là, có ngâm thơ hay hát nhạc những câu thơ thương cảm hoặc ý nhạc "buồn mà chi, dù đau khổ!" vẫn cứ là lời nhắn nay xin được gửi đến người anh, người chị ở khắp nơi vào cuối mùa phụng vụ, rất năm A.   

Mai Tá 

từ Sydney xin trân trọng

www.giadinhanphong.com

 

Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ 33 mùa Thường niên năm A  16-11-2014 

“Tôi cảm thương, vì hai chúng ta,”

Tuổi đang xuân, mà bỗng sang già”.

 (Dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Mt 25: 14-30

Cảm thương tuổi đang xuân hay vào lúc đã sang già, vẫn là tình-tự của nhiều người trong Đạo Chúa. Tình-tự ấy, nay thánh-sử Mát-thêu cùng sách Cách Ngôn diễn-tả bằng giòng văn thân thương, truyền cảm,  rất dụ-ngôn.

Bài đọc 1 hôm nay, Sách Cách Ngôn ngợi ca người vợ hiền, là đoạn sách đứng riêng với hai bài đọc kia, chứa đựng chủ đề nói từ tuần trước, đó là: việc sử dụng thời gian trước ngày Đức Chúa lại đến.

Việc “ca ngợi người vợ hiền”, cần được quan tâm một cách cẩn thận. Dù việc ca tụng mang nhiều đặc-thù tôn-kính, lời khen-ngợi ấy khó mà tránh khỏi tính-cách nệ-cổ của sách Cựu Ước, là sách vẫn coi người vợ thuộc quyền sở-hữu của chồng mình. Vai-trò người vợ, đã ở thế lâm-nguy, cả khi bà ấy nói hay làm bất cứ điều gì.

Thời xưa, các cụ nhấn mạnh nhiều đến tính cần-cù, cần-mẫn. Trong khí đó, lại ít nói đến vẻ diễm-kiều; và thiếu vắng tính tích-cực về giới-tính theo cách-thức mà người đời sau vẫn đề-cao, nơi bí tích hôn phối. Nhiều cộng-đoàn giáo xứ, phải tạo thế quân bình khi đặt đọc bài này ở thế song-song với các bài nói về “người chồng gương-mẫu”, phối-kết với vợ mình.

Có lẽ, hay hơn cả, nên hiểu đoạn sách trên qua nhãn-giới –theo một chừng mực nào đó- có phản-tỉnh, và suy-tư rộng-rãi hơn, về mối tương-quan giới-tính, trong bối-cảnh niềm tin.

Trình thuật thánh Mát-thêu, qui chiếu đến phần hai của loạt truyện dụ-ngôn nói về thời-gian đợi chờ, bắt đầu vào tuần tới. Dù đặt dưới bất cứ điều gì xuất từ miệng của Đức Chúa, dụ-ngôn về sử-dụng tài-năng, như thấy rõ trong Tin Mừng Mat-thêu (và, Lc 9: 12-27), rõ ràng có liên-quan đến việc: làm sao để sống cho xứng-hợp, trong khi ta đợi chờ ngày Chúa đến lại.

Thế-hệ tín-hữu Đức Kitô thuở đầu đời của Hội-thánh, vẫn mong ngóng Chúa trở lại rất sớm. Vì thế nên, Tin Mừng thánh Mat-thêu đã phản-ánh mức-độ thời-gian trong ngóng đợi đã mòn mỏi và được thay thế bằng sự nghiêm-ngặt mà mỗi kẻ tin sẽ phải tính đến. Nghiêm-ngặt, trong sử-dụng quà tặng ân-sủng mà họ nhận được, từ Đức Chúa.

Dụ-ngôn Chúa kể hôm nay, mang dáng vẻ rất “tư bản” –mặc dù ở đây Chúa không hỗ-trợ cho một hệ-thống tài-chánh nào hết- như có người tưởng đoán. Ở một số dụ-ngôn khác, (như Lc 16: 1-8) Đức Chúa chỉ muốn cho thấy đường-lối giản-đơn mà dân chúng thường hành-xử trong cuộc sống hằng ngày.

Chúa kể như thế, là để minh-hoạ phong-cách mà người người phải hành-xử, trong Vương Quốc Nước Trời. Kể về người chủ phải đi xa, là kể rằng doanh-gia nọ không muốn cho tài-sản của mình bị ứ-đọng, chẳng gây lời, trong lúc mình trẩy đi xa.

Vì thế nên, ông đã uỷ-thác việc quản-lý tài-sản của mình cho 3 người đầy tớ. Ông chỉ-định cho mỗi người một công việc tuỳ vào sự mẫn-cảm, của chính họ. Tức là, mỗi người tôi tớ được trao phó người thì 5 quan tiền, kẻ 2, kẻ kia lại chỉ 1 quan tiền, mà thôi.

Ở đây nữa, chỉ 1 quan thôi cũng đã tượng trưng cho một lượng tiền khá lớn. Ban đầu, một quan tiền có ý chỉ cân-lượng của con người. Về sau, qua quá-trình sử-dụng, mới nói đến phẩm-chất hoặc kỹ-năng bên trong của người nào đó. Tất cả ý nghĩa, là do từ dụ-ngôn này.

Do người chủ có việc phải đi xa trong một thời-gian, nên chỉ-sỗ lãi-xuất đã nâng cấp doanh-thương của hai đầy tớ đầu lên đến 100%, gia-tăng dựa trên mức-độ tin-tưởng đặt để nơi họ.

Thế nên, phần thưởng dành cho hai người được tiếp “đi vào niềm vui của chủ”, theo tính biểu-tượng mà thánh Mat-thêu từng viết trong các dụ-ngôn đầu, có nghĩa là họ được đón chào để đi vào bàn tiệc với Đấng Mê-sia, nơi Nuớc Trời.

Thất bại của người tớ thứ ba, là người chỉ biết đem chôn giấu quan tiền lẻ nơi lòng đất, mang ý-nghĩa, là: anh chẳng thiết-tha những gì mà chủ anh kỳ-vọng. Tức là: kinh-doanh với số tiền đã trao-phó, ngõ hầu làm lợi. Anh cũng chẳng bận tâm đem nó bỏ vào ngân-hàng, để sinh lợi.

Làm như thế, anh tưởng rằng chủ của anh vốn có tính so đo/hơn thiệt sẽ hãi sợ, hoặc khủng-hoảng. Thế nên, anh nghĩ: tốt hơn cả, là đem trả cho chủ y nguyên lượng tiền, đã giao khoán. Dù anh không tỏ vẻ gì là tròng tréo, bất lương; nhưng, vẫn kéo theo một phạt vạ, là bởi anh chỉ để ý đến mối an-toàn tư riêng, hơn là tạo nên những gì người chủ của anh, vẫn đòi-hỏi.

Chia sẻ Lời Chúa qua dụ-ngôn, các vị giảng-thuyết cũng nên thận-trọng đừng áp-dụng quá gắt-gao vai-trò người chủ với Đức Chúa. Bởi, thật sự, dụ-ngôn chỉ đưa ra loại-hình rất đặc-thù về tôn-giáo. Đặc thù, mà người thời xưa vẫn mang theo, khi họ tạo nên hình-ảnh rất khiếp sợ, về Thiên Chúa.

Khiếp sợ, khi họ chỉ mỗi ưu-tư về chuyện không làm gì sai quấy để Chúa khỏi ra án phạt. Thái-độ ấy, làm ta chểnh-mảng quên đi những gì mà Chúa thực sự muốn tín-hữu thời buổi hôm nay, những người đang kinh-doanh, hoặc đánh liều trong nhiều việc, đang thực hiện “các động-thái nặng cân hơn về những gì có liên-quan đến luật-pháp, như: “công-lý, lòng xót thương và tin tưởng” (x. Mt 23: 23).

Các quà tặng ân-sủng mà Chúa trao-phó cho ta, như quan-năng đầu óc, lẫn tứ chi, cần được thực-thi một cách sinh-động, nếu không muốn chúng trở nên héo quắt, hao mòn.

Bài đọc 2, rút từ thư thánh Phao-lô gửi giáo đoàn Thessalônikê 5: 1-6, rất ăn khớp với đề-tài nói ở đây, theo nghĩa: các kẻ tin –với cung-cách của “người thời nay”- vẫn phải luôn tỉnh-táo suy tư.

Phải năng-động và cảnh-giác, hơn là “ngủ quên”, trong đêm tối, mới hiểu được điều Chúa muốn nói.

Cùng cảm-nghiệm nỗi niềm yêu thương tương-quan giữa vợ-chồng hoặc chủ-tớ, diễn rộng ở dụ-ngôn có công-bằng chính-trực, cũng nên ngâm tiếp lời ca thi tứ ở bài thơ, những hát rằng:  

“Tôi cảm thương, vì hai chúng ta,”

Tuổi đang xuân, mà bỗng sang già.

Đêm nào tôi mộng buồn riêng gối,

Anh đã nằm yên dưới mộ hoa.”

(Đinh Hùng – Cặp Mắt Ngày Xưa) 

Niềm cảm thương kia, không còn lộ rõ nơi “cặp mắt ngày xưa” nữa, nhưng được diễn-tả cả ơn thi-ca, văn-học lẫn tình-trường ở đời. Ở nơi đó, người người vẫn cảm-kích hoặc bất-mãn nơi “mộng buồn”, dưới “mộ hoa” cuộc đời, của nhiều người rất hôm nay. 

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá lược dịch

            

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 33 mùa Thường niên năm A 16-11-2014

“Buồn mà chi, dù sống trong đời là đau khổ!”

“Buồn mà chi, dù sống trong đời là căm hờn”.

(Nguyễn Trung Cang – Buồn Mà Chi)

(Rm 12: 14-16)

Giả như bần đạo đây, cứ hát mãi những ca-từ da diết như trên dù tác giả đã hát “buồn mà chi”, hẳn người đọc và người nghe sẽ “xếp re”, cứ là “bỏ của chạy lấy người” mất thôi. Bởi, hát gì mà cả người hát lẫn người nghe vẫn cứ buồn chết đi được. Bạn không tin ư? Thì, đây xin mời bạn nghe tiếp những lời đúc kết rất như sau: 

            “Ta thương xót những ai cười trong mê cuồng.

Ta yêu mến những ai cười trong khổ đau.

Ta thương xót những linh hồn đang lưu đày.

đang lo lắng sớm hôm lợi danh miệt mài.” 

            Buồn mà chi dù chết vẫn vui vì được chết.

Buồn mà chi dù trắng tay nhưng còn linh hồn.

đời buồn vui tuỳ ở tim ta nhìn cuộc sống.

đời buồn vui mình cứ trao nhau cành hoa hồng.”

(Nguyễn Trung Cang – bđd

Vâng. Thế đó, là lời ca buồn của nghệ sĩ xưa còn rất trẻ nên mới được gọi ca sĩ “nhạc trẻ”, nhưng nay nghe mới thấy sợ.

Vâng. Thế vậy, là những lời buồn đến phát sợ, ở ngoài đời. Nơi nhà Đạo, lại có câu nói nghe rồi cũng “khiếp sợ”, vốn dĩ theo lời đồn thì câu nói ấy xuất phát từ đấng-bậc chốn trời cao được gọi là Giám-mục-thành-La-Mã” lại đã bảo: “Đức Giêsu không phải là người Công Giáo!”

Quả, cũng khiếp sợ nếu chỉ nghe qua mà không ngẫm nghĩ. Cứ ngẫm rồi nghĩ lại, mới thấy Đức thánh (là) cha nói khá đúng. Đúng, còn hơn cả sự thật rất thực nữa, chứ chẳng sai.

Quả là, Đức Giêsu sinh ra từ người mẹ trẻ rất “Palestin” và từ một người cha đời rất ư là Do-thái. Vào lúc Ngài đã ở tuổi lên tư, người đời coi thời gian này khởi đầu cho Công nguyên, tức kỷ-nguyên rất mới đối với người Công giáo, nói chung. Thế nhưng, Ngài vẫn tuyệt nhiên không là người Công giáo “chăm phần chăm”. Chí ít, là Công giáo rất La Mã, thế mới chết!

Thật ra thì, người người vẫn gọi tên của Đạo Chúa là “Công giáo La Mã” tức: muốn nói đến hiện-thân của thứ đạo-giáo rất “công bằng”, “công chính” hay “của công” vốn dĩ do Hoàng đế Constantin lập ra tên gọi này, thôi. Vị hoàng này, lại sinh ra tại thủ-phủ Naisuss nay là Serbia vào cuối thế-kỷ thứ ba, hoặc đầu thế kỷ thứ tư, thôi. Ông là vị hoàng-đế có công-đầu chấm-dứt cuộc bách-hại Đạo Chúa Kitô và cũng chính ông là người đã giải-thể ngẫu-thần Mithra ở nước này, từ khi ấy.

Thật ra thì, danh-xưng “Công-giáo La Mã” còn là tên gọi được gán cho những người theo Đạo Chúa, tức: tên gọi ban đầu do thánh Y-Nhã thành Antiôkia, đã sử-dụng khi viết thư gửi cộng-đoàn tín-hữu sống ở Smyrna, nước Thổ Nhĩ Kỳ. Tựu-chung thì, Công-giáo lại là danh-xưng chính-thức để nói về tín-hữu theo Đạo rất “của chung” được truyền-tụng từ các đồ-đệ thân thương vào thời đó. 

Nói chung thì, ta có gọi các đạo-hữu Đức Kitô bằng danh xưng Công-giáo cũng còn được, chứ giả như ta áp-dụng danh-xưng này cho mọi kẻ tin vào Đức Kitô ở khắp nơi trên thế-giới hôm nay, thì e rằng các giáo-phái khác sẽ không đồng thuận với ta, một chút nào.

Thế nhưng, vấn-đề đặt ra để luận-phiếm hôm nay, dứt khoát không để kể mỗi chuyện này, cho bằng để hỏi rằng: ta có đồng ý với người viết nhạc họ Nguyễn tên tục là Trung Cang ở trên, sao lại cứ hát những câu ca trì-chiết như sau:           

            “Ta thương xót những ai cười trong mê cuồng.

ta yêu mến những ai cười trong khổ đau.

ta thương xót những linh hồn đang lưu đày.

đang lo lắng sớm hôm lợi danh miệt mài.”

            Buồn mà chi vì đã yêu nhau bằng trong trắng.

Buồn mà chi vì đã no cơm bằng nhọc nhằn.”           

(Nguyễn Trung Cang – bđd

            Vâng. Tất cả là như thế. Như thế, tức là: bạn và tôi, ta có xót thương “những ai cười trong mê cuồng”, hoặc “yêu mến những ai cười trong khổ đau” hay không mà thôi.

            Trả lời cho câu hỏi này, tưởng cũng không dễ. Cũng tựa hồ như thể bảo: Đức Thánh là Cha nói thế có đúng không? Và ngài nói thế là có ý gì? Phải chăng ngài có ý tách-bạch những câu chuyện huyền-thoại ra khỏi thực-tại rất đích-thực, không?

            Trả lời cho các câu hỏi này/khác cũng tựa như các câu hỏi/đáp giữa ông/cháu ở truyện kể như sau: 

            “Cháu hỏi ông:

- Vì sao gà lại để trứng hở ông?
- Vì trứng sẽ trở thành những con gà
- Vì sao những cặp tình-nhân lại hôn nhau?
- Để những chú bồ câu cất tiếng gù gù
- Vì sao những bông hoa sẽ tàn lụi?
- Vì đó là một phần của sự quyến-rũ đó cháu
- Vì sao lại vừa có quỷ dữ vừa có cả Đức Chúa Trời?
- Để con người tạo ra những chuyện tò mò cháu ạ.
- Ông ơi, tại sao lửa lại đốt gỗ?...
- Để sưởi ấm trái tim ta.
- Tại sao thủy-triều lại rút ra xa?
- Để con người có thể gọi chúng quay trở lại
- Vì sao mặt trời lại biến mất thế kia?
- Để những vật khác có thể được trang-trí.

(trích-thuật cuộc chuyện trò thú vị giữa 2 ông cháu Julien và Elsa, cũng là lời bài hát trong bộ phim Pháp LE PAPILLON đã ra mắt khán giả vào năm 2002).

Ở đoạn sau, 2 ông cháu lại đổi vai cho nhau, để ông hỏi và cháu trả lời:

-Tại sao trái tim ta lại cứ đập tíc tắc thế nhỉ?
- Đó là vì mưa rơi tí-tách ông ạ.
-Thế tại sao thời-gian lại trôi nhanh đến thế ?
- Bởi vì gió cuốn nó đi, đó ông!

Chao ôi, nghe sao mà thổn-thức, dù chỉ là câu hỏi/đáp trích ở trên. Thổn-thức xong, lại đã có bạn hiền chạy đến nhờ trao cho đàn em bé nhỏ ở đâu đó, bài viết khác cũng khá thổn-thức, nhưng bài này lại do linh-mục tên là John Corrigan, viết từ xứ đạo ở miền quê lê-thê với đề-tài liên-quan đến vị-thế của Đức Phanxicô, bằng những câu do ngài nói: 

“Đức Phanxicô lâu nay từng tạo ra những sự-kiện rất “cách mạng” trên đời sống của người Công-giáo, ở khắp nơi. Theo tôi, nếu ta so sánh ngài với vị tiền-nhiệm là Đức Bênêđíchtô 16, ta hẳn sẽ thấy có sự khác-biệt rất đáng kể, giữa hai đấng. Thế nhưng, cũng theo tôi, truyền-thông đại-chúng lại đã nói cũng khá nhiều về sự khác biệt này, và coi đó như sự nghịch-ngạo, tương-phản.

Tỉ dụ như: Đức Phanxicô thường hay đi giày màu đen, là màu mà một số nhà báo coi đó như động-thái khiêm-nhu/từ-tốn hơn cả vị Giáo-hoàng từ-nhiệm là Đức Bênêđíchtô 16 chuyên đi giày màu đỏ dành cho Giáo-hoàng, trong khi Đức Gioan Phaolô đệ Nhị lại hay đi giày màu nâu. Xem thế thì, các câu chuyện ngoài lề tương-tự, nhiều lúc cũng làm người đọc phải lúng túng, cũng không ít.

Lúng túng hơn cả, là lúc mà các báo/đài ở nhiều nơi thường có thói quen tường-trình về chuyến công-du ra nước ngoài đầu tiên của Đức Phanxicô, còn thêm thắt cứ bảo rằng: “Giáo hội Công-giáo nên hành-xử theo cách khiêm-nhu/từ tốn như lãnh-tụ đạo mình. Nhất thứ, là khi ngài cứ luôn cầm ví/xách màu đen bên tay trái, để còn dùng tay phải mà bắt tay chào hỏi các đấng bậc vị vọng chạy đến chúc mừng ngài. Hoặc nhiều lần, ngài cũng dùng tay phải để níu cầu thang bước lên máy bay cho dễ.      

Nếu người đọc theo dõi truyền-thông cho kỹ hơn, sẽ thấy mình cũng cảm-thông/đồng-thuận với ngài khi ngài thanh-minh về chuyện cầm ví/xách mỗi khi di chuyển, và còn bảo: “Tôi có thói quen là: đi đâu cũng đều cầm ví xách hết. Tôi nghĩ, đó là chuyện bình thường, thôi. Tôi lại cũng nghĩ, là: mọi người chúng ta cũng nên trở-thành người bình thường, thế mới phải… Tôi không biết nên nói thế nào với quý vị đây… về những điều, mà quý vị từng nhận-xét, đối với riêng tôi, xem ra cũng hơi lạ, nhất thứ là khi bảo rằng: tôi phải làm sao chứ nếu không thì các nhiếp-ảnh-gia sẽ tung các tấm hình ấy đi khắp nơi trên thế giới! Tôi lại nghĩ, chúng ta phải làm sao quen dần với những chuyện bình thường, mới được. Những sự/việc cũng bình-thường như cuộc sống bình-thường của mình, mới phải…”

Và, Đức Phanxicô còn nói thêm: “Chẳng hạn như: căn-phòng dành cho các Giáo-hoàng sống ở cung-điện gọi là “điện-cung các thánh tông-đồ” chẳng có gì là xa hoa, hào-nhoáng mà thật ra, nó được trang-hoàng hơi cổ-kính và lớn lao một chút, nhưng tuyệt nhiên, nó không có gì là xa-hoa, hào nhoáng hết. Nói cho cùng, nó cũng chỉ như chiếc phễu/chiếc quặng lật ngược, xây theo cấu-trúc khá lớn lao; nhưng có điều là: cửa vào phòng này, lại rất chật. Ai vào, cũng phải đi chầm chậm, từ-tốn mới vào được. Còn, một điều khác nữa, là: tôi không thể sống mà lại không có mọi người sống chung quanh, gần gũi tôi. Tôi cần sống cuộc sống có mọi người đến gần để sống vui và sống khoẻ. (x. Diary of a Country Priest with Fr John Corrigan, The ‘Francis effect’ – separating the myth from the reality, The Catholic Weekly 14/9/14 tr. 13)

Thế đó, là cung-cách của vị Giáo-hoàng Công-giáo hiện nay. Nếu so sánh Đức Phanxicô với các vị tiền-nhiệm của ngài về cuộc sống rất Công-giáo, thì ai cũng thấy ý-nghĩa của tên gọi Công-giáo không gồm những chuyện lớn lao, hoành tráng. Nhưng, danh xưng “Công giáo”, lại mang ý-nghĩa của một đạo-giáo cũng rất “chung” vẫn thấy nơi Kitô-hữu là sự khiêm-nhu/từ tốn rất yêu thương mà Đức Giêsu từng khuyên dạy, trong Kinh Sách.

Tính-chất Công-giáo, được thể-hiện ở nhiều nơi/nhiều chốn rất thực-tế. Cả ngoài đời, chứ không chỉ trên giấy tờ ở truyền-thống trong Đạo, mà người đi Đạo gọi đó là thánh-truyền, mà thôi.    

Về tính-chất rất “Công” và rất “giáo” của người đi Đạo và giữ Đạo, không chỉ là tính-chất Công-giáo mà đấng bậc nọ từng lên tiếng như sau:

“Nhìn vào quá trình diễn-tiến cả một đời, người người đều có những giây phút hết ngồi lê đôi mách, rồi còn tham lam, cạy cục. Hết đớn đau/tủi hổ, lại cứ âu sầu/giận dữ; hết ái ân/dục tình, rồi lại căm thù/vỡ đổ. Cũng có thể, vào những trạng-huống trong đó ta cảm thấy chán ngán, nản lòng vì tình người trong Đạo, đầy những rẽ chia, phân cách hoặc mất đoàn kết, mới thế.

Ta cố gắng rất nhiều, để lướt thắng các mặt xấu, đáng bỏ đi, thì mình mới hy-vọng rằng: trạng-huống ấy, sẽ đem lại nhiều kết quả tốt đẹp, hơn. Nếu quả có như thế, tưởng cũng nên nghe lại đoạn Tin Mừng được nhắc đến hôm nay: “Viên đá người thợ xây liệng bỏ, giờ đây đã trở thành đá tảng góc tường”. Và, đây mới chính là công-trình tuyệt-vời của Chúa. Một kỳ-quan hiếm có, dưới đôi mắt người phàm.

Có nhiều khía-cạnh khác trong cá-tính con người, mà bản thân ta vẫn cứ coi thường, nhưng có thể trở-thành các viên “đá góc tường”. Những khoảnh-khắc phi-thường ta nhận được như ân-huệ tuyệt-vời từ Đức Chúa và với Chúa, thì chẳng có gì là “không thể” xảy ra. Chẳng có gì, là “đi quá xa, rồi!” Hoặc, nó “trở thành cứng ngắc, cổ hủ”. (x. Lm Richard Leonard, Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ 28 mùa thường niên năm A, www.chuacuuthe.com 01/10/14) 

Lại có bậc thày thần-học nọ, từng suy-tư nhiều về chỗ đứng và tâm-tính của người theo Đạo Chúa vẫn cứ nhìn người khác bằng thị-kiến rất khác như sau: 

“Tại Đại-học Công giáo ở Paris, giáo-sư Claude Geffre cũng đã mở các khoá học về các đạo nơi trần-thế. Ông luôn coi đó như một thứ “kinh-điển” có liên-quan đến Lời Chúa theo kinh-nghiệm rất khác về văn-hoá và lịch-sử. Ông lại cũng nhận ra rằng: thần-học truyền-thống tôn-giáo như thế đã là chương/đoạn cần viết thêm cho trọn hảo. Ông còn xác-tín nhiều hơn nữa khi nghĩ rằng: ở địa hạt tôn-giáo, ta cần nhận-thức về sự có mặt của các sự thật rất có thật.  

Bằng cách này, ông đã chuyển mọi ý-thức tập-trung ta có từ lúc trước cả vào thời-khắc trước khi có Công Đồng Vaticăng II, tức là: thời ta chỉ mỗi nhấn mạnh vào sự việc cứu-chuộc người không tin Chúa theo cung-cách và chủ-thuyết như đấng bậc từ trên nhìn xuống, tức cung-cách độc-thoại hoặc toàn-trị. Đồng thời ta còn buộc người ngoài Đạo phải từ-bỏ đạo cũ của họ mà quay về với Đạo của ta thôi và cứ coi đạo mình là đạo duy-nhất rất chính-thống. Bằng tư-thế độc-thoại và độc-đoán như thế, Giáo-hội ta lại đã nếm mùi thất-bại cũng khá nhiều, nếu không muốn nói là ta đã không mấy thành-công, hoặc chưa toại-nguyện cho lắm. Và tác-giả Claude Geffre khi ấy mới khởi-sự đem đạo-giáo thế-giới đưa vào với mình theo nghĩa tích-cực của lịch-sử. Trong giòng lịch-sử lớn rộng của nhân-loại, lịch-sử cứu-độ là danh-xưng được sử-dụng vào một lúc nào đó, ở thời trước, nhưng chỉ có chỗ đứng khá nhỏ hẹp trong giòng chảy này, thôi. Nên, tác-giả Claude Geffre bèn đề-nghị một tên gọi mới cho môn học này là: “Thần-học tôn-giáo đa-nguyên”.    

Cùng với tác-giả Dupuis, Schillebeeckx và một số các tác-giả khác, chính Claude Geffre từng chấp-nhận thuyết đa-nguyên tôn-giáo không chỉ như một sự-kiện có thật trên thực-tế, nhưng cả trên nguyên-tắc nữa. Ông vẫn từng bảo rằng: điều này không nhất-thiết dẫn đến thuyết tương-đối cách dữ dội. Và, ông cũng đề ra chiều-hướng đối-lập, trên nguyên-tắc, không chấp-nhận thuyết tôn-giáo đa-nguyên một cách quá dễ dàng, bởi như thế cũng dễ đi đến nguy-cơ mới khiến nhiều người lại phải tôn-thờ ngẫu-tượng, tức: tôn-thờ không chỉ mỗi Thiên-Chúa đích-thực mà thôi, nhưng cả thứ đạo đã được chọn-lựa cách thực-thụ.

Ông cũng nhận ra đường ranh phân-cách do Giáo-hội của Chúa vẽ ra nên bảo rằng: vào độ trước, ta có nhiệm-tích mang tính hoàn-vũ về Đức Kitô là Đấng Trung-gian giùm giúp “cứu-chuộc”. Và tính hoàn-vũ của Ngài lại lớn hơn cả tính toàn-cầu nơi tôn-giáo đa-nguyên, dù rất Đạo. Ông cũng đã tìm gặp Đức Giêsu-là-Bậc-Thày-Dạy từng bị ám-ảnh bởi tính-chất tuyệt-đối này, nên nhất nhất mọi chuyện đều thấy giống nhau, và không hoàn-toàn đồng ý với Sứ vụ Cứu-chuộc trần-gian, như ta biết. Ngài chỉ có thể nói về tính huyền-nhiệm và sự bảo-mật đối với truyền-thống tôn-giáo bí-nhiệm về sự hiện-diện của Đức Kitô vẫn chưa được diễn-tả cách rõ ràng cho lắm.” (x. Lm Kevin O’Shea CSsR, Cứu-chuộc thế-gian qua các đạo trên thế trần, www.giadinhanphong.blogspot.com ngày 03/10/2014) 

Xem như thế, có lẽ tôi và bạn cũng nên tự hỏi lòng mình xem: lâu nay mình có tự hào quá mức về danh xưng “Công giáo” lắm không?  Hỏi thế, để tôi và bạn nhớ về một bài viết của một bạn trẻ khác, cũng sống ở Úc có tên là Emma Quinn đã viết trên tờ The Australian Catholics số Mùa Xuân năm 2014, như sau: 

“Phải chăng tôi vẫn sống như người Công giáo, rất đúng nghĩa?

Phải chăng mọi người vẫn trông đợi tôi phải sống đúng chức-năng người Công giáo trẻ?

Phải chăng là cùng-đích buộc tôi phải sống có thăng có trầm mà ca-tụng Chúa?

Hoặc, phải chăng cũng cứ được, nếu tôi chỉ chọn giữ niềm tin cho riêng mình, thôi?

Lúc ấy, chỉ mới 6 giờ chiều vào một ngày Thứ Sáu trong tuần, mà sao người trẻ ở đâu về đây đông thế? Ôi, lạy Chúa! Đây đó, chỗ nào cũng rộn ràng, vang vang tiếng ồn ào náo nhiệt, lại có cả tiếng cười/nói oang oang, và mùi thịt nướng ở đâu đây nữa. Chuyện gì xảy ra thế? Chao ôi! Một sự kiện! Ôi chà chà, sao mọi người đều cười vui, không chấm dứt? Tôi cứ lầm bầm nói trong miệng những câu tương-tự như thế mãi. Và rồi, trong một thoáng rất nhanh, tôi quyết định kéo cổ áo choàng cao lên một chút rồi cứ thế húc đầu, len-lỏi những người là người, quyết tìm nơi nào đó không ai thấy mình đến dự. Tôi cứ luôn miệng nói lời “Xin lỗi!” với hết mọi người.

Hôm ấy, một ngày có sự-kiện khá lạ, là: đám người trẻ ở Sydney đã quyết tập họp nhau lại vào buổi mà họ đặt cho cái tên cũng rất kêu, là: “Kết-đoàn cho vui, trẻ và khoẻ hơn”. Tìm được chỗ dừng chân rồi, tôi mới thấy là đám người trẻ Công giáo ở đây sao đông thế. Đứng phía nào cũng thấy họ. Thì ra, họ đến tụ tập ở đây là để nghe linh mục Rob Galea và ban nhạc “rock” của ông cùng ca hát, có cả máy phun khói, lẫn ánh sáng màu đủ kiểu và âm-thanh ôi thôi là tuyệt vời. Linh mục Rob Galea cứ vừa hát vừa cười vui với đám người trẻ. Tôi chợt thấy một bé trai thuộc tuổi “teen” vừa hát vừa nhún nhảy, rất là vui.

Mặt tôi cứ thế mở rộng và đầu tôi cứ thế lắc lư hoà theo ca từ và nhịp điệu của bài hát đến độ dấy lên bầu khí vui nhộn cả bầu trời vừa sụp tối. Bài ca lúc đã chuyển sang nhịp điệu có hơi giựt giựt nhưng mọi người bỗng dưng hoà mình vào lời ca tiếng hát, rất tự nhiên. Ca từ bài hát ra như diễn tả bằng ngôn ngữ nào đó chứ không phải tiếng Anh như tôi nghĩ. Lúc ấy tôi lại thấy mọi người cứ vung tay lên trời theo điệu bộ lạ lùng mà tôi chưa từng thử bao giờ. Rồi cứ thế, tôi như bị cuốn hút vào vòng quay trẻ tuổi đầy sức sống ấy.

Đến một lúc, tôi đã lui vào một góc khuất để giấu mình trong đó một phút chốc. Bỗng, nghe thấy mấy cô bé đứng bên cạnh vui vẻ nói một cách cởi mở đầy thích-thú về Chúa rồi còn hỏi nhau: đêm nay đoàn thuyết-trình sẽ thảo-luận về đề-tài gì đây. Tôi hơi khựng với cụm từ “Đoàn thuyết-trình”, nhưng sau đó đã có câu trả lời, ngay tức thì. Ngay lúc ấy, bà con đã chọn ra một số vị trong đó có linh mục Rob Galea phụ-trách vai-trò ngay trên dàn ghế đối diện với cử-toạ. Lúc ấy, mọi người đã đưa ra đề-tài liên-quan đến mọi nối kết và kinh-nghiệm từng-trải về Chúa và cảm-xúc về sự hiện-diện của Chúa vào những lúc phải đối đầu/giáp mặt với khó khăn, đủ mọi mặt. Mắt tôi, một lần nữa, lại mở to và rộng hơn vào đêm đó, đầy những câu truyện và lời kể rất khác nhau….

Tôi thực sự ra khỏi khu vực êm ấm và thoải mái, đẩy lùi mọi đường ranh hầu tìm được sự can đảm tận trong lòng để đến với buổi tụ-tập của giới trẻ, như thế. Cũng là người trẻ Công-giáo từng có bạn bè/người thân vây quanh, rồi cũng đi nhà thờ thường xuyên nhiều tuần, tôi vẫn tự coi mình tương đối cũng tốt lành/hạnh đạo đâu có thua gì ai. Nhưng, khi đã ở quanh những người trẻ như hôm ấy, tôi mới bắt đầu tự nhủ lòng mình rằng: có lẽ lâu nay mình là người Công-giáo vẫn chưa đúng theo nghĩa “Công giáo” đích-thực như mình tưởng.                                  

 

Phải can-đảm lắm tôi mới giáp mặt với các câu tự nhủ như thế. Lâu nay, tôi vẫn chưa có dịp nối kết tâm linh với nhiều vị/nhiều người, nên đôi lúc cũng thấy ngại. Và, tôi đã bắt đầu nghĩ đến chuyện đặt cho chính mình một câu hỏi cứ lẩn vẩn mãi ở trong đầu, là: đối với tôi, là người Công giáo đích-thực có nghĩa gì? Nên, sau những lần tiếp xúc/chuyện trò với người khác, tôi đã nhận ra rằng: do bởi mình chưa từng đổi-thay cuộc sống đối đầu với chuyện tâm-linh. Như thế không có nghĩa là tôi đã bớt đi chất tinh-hoa/tinh-túy của người mang danh là Công giáo. Niềm tin của tôi, có thể, sẽ cũng khác với những người sống bên cạnh, hoặc trước mặt tôi, và tôi thấy như thế cũng được.

Cung cách để tôi diễn-tả niềm tin của mình không phải do việc mình đi lễ nhà thờ mỗi Chúa nhật hoặc hát cho to, cho nhiều hoặc lúc nào cũng nói về Chúa/Mẹ hết. Đúng ra, tôi vẫn là kẻ tin thầm lặng, cũng nhút nhát không ít. Cùng lúc, tôi thấy nơi mình cũng chẳng có gì là sai trái so với những người năng-nổ, cởi mở nhiều hơn nữa về đạo-giáo của họ. Theo tôi, mỗi người và mọi người vẫn có cách-thức tư-riêng của họ để tiếp-cận niềm tin-thương yêu mà họ nhận lãnh, theo cách nào đó.

Dù khi trước, tôi vẫn gặp nhiều trường-hợp đem đến cho tôi một số kinh-nghiệm để đời, nhưng buổi tụ-tập vừa qua lại đã giúp tôi khám phá ra giá-trị riêng-tư để sống thực điều Tin Mừng dạy bảo tôi. Đặc biệt là cung-cách đối xử tử tế hơn với người khác cũng như can dự nhiều hơn vào sự công bằng xã-hội. Cũng như, để nhiều thì giờ để ra khỏi cuộc sống thường nhật mà chuyên-chú với chuyện nguyện-cầu cùng rút tỉa nhiều nguồn hứng từ cách sống và hành-xử của Đức Phanxicô.

Đó mới là niềm tin của tôi và là những gì đối với tôi, mang ý-nghĩa của người Công-giáo chân chính, đích-thực. Cũng có thể, nhờ vào sự can-đảm viết ra những giòng chữ này mà tôi có được khoảnh khắc đổi-thay cuộc sống để đến với Chúa, với mọi người.” (x. Emma Quinn, Am I Catholic enough?, The Australian Catholics Spring 2014, tr. 10) 

Cùng với người trẻ ở trên, thiết tưởng cũng nên quyết-tâm sống thực đời hạnh-đạo của người Công giáo, chớ nên tự cao/tự đại cho rằng Đạo mình luôn ở vị-thế “hơn hẳn” đạo khác; nhưng tốt hơn, biết “sống hoà thuận với mọi người”, dù khác đạo, như thánh Phaolô từng xác-quyết:

Hãy đồng tâm nhất trí với nhau,

đừng tự cao tự đại,

nhưng ham thích những gì hèn mọn.

Anh em đừng cho mình là khôn ngoan,

đừng lấy ác báo ác,

hãy chú tâm vào những điều mọi người cho là tốt.

Hãy làm tất cả những gì anh em có thể làm được,

để sống hoà thuận với mọi người”.

(Rm 12: 16-18) 

Quyết thế rồi, bạn và tôi, ta hãy cứ thế hát lên những gì mình thích thú và tâm niệm cho đời mình, giống như thế. Thích thú mà hát lên dù lời ca có hơi buồn bã, chán chường như tâm-tình của nghệ sĩ trẻ xưa vẫn cứ hát, những lời “buồn mà chi, vì đã yêu nhau bằng trong trắng, để rồi lại hát tiếp những câu vui hơn: 

“Ta thương xót những ai cười trong mê cuồng.

ta yêu mến những ai cười trong khổ đau.

ta thương xót những linh hồn đang lưu đày.

đang lo lắng sớm hôm lợi danh miệt mài.”

(Nguyễn Trung Cang – bđd)

Nói cho cùng, nghệ sĩ ngoài đời, dù gì, cũng kinh-nghiệm không ít về đời người vẫn bon chen, giành giựt cả tiếng tăm cùng lập-trường sống, rất riêng-tư. Nhưng, nếu nghĩ cho sát, thì đời mình đâu chỉ có thế. Đâu vì “đã yêu nhau bằng trong trắng”, hoặc “no cơm bằng nhọc nhằn” nên cứ vui.

Vì cứ vui, nên vẫn hát: “Ta thương xót những ai cười trong mê cuồng”, “Ta yêu mến những ai cười trong khổ đau”. Và cứ vui, nên tôi và bạn, ta cứ tự nhủ lòng mình bằng những điều mà bậc thánh-hiền khi trước từng nhắn nhủ, như: 

“Hãy làm tất cả những gì anh em có thể làm được,

để sống hoà-thuận với mọi người”.

Đó, mới là ý-nghĩa cuộc sống rất hôm nay và sau này. Ở cõi thế, một đời người. Và, cũng chẳng nên hát mãi những câu “buồn mà chi” suốt đời mình. Mãi khôn nguôi.  

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn cứ nhắn mình

và nhắn người người   

những điều tương-tự, rất như thế.

November 7, 2014


 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)