| |
“Thiên
Chúa yêu đến ban Con Một Mình”
Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi Nơi Phụng Vụ
Mở
đầu cho Mùa Thường Niên Hậu Phục Sinh bao giờ cũng có ba Lễ Trọng
liên quan đến chủ đề “Chúa Kitô Sự Sống Tái Sinh” của cả thời
đoạn phụng vụ này. Trước hết là Chúa Nhật tuần vừa rồi, Lễ Chúa
Thánh Thần Hiện Xuống, Đấng ban sự sống, như Kinh Tin Kính tuyên
xưng. Chúa nhật hôm nay là Lễ Chúa Ba Ngôi, nguồn mạch phát sinh
sự sống. Chúa Nhật tuần tới là Lễ Mình Thánh Máu Thánh Chúa Kitô,
phương tiện hay bí tích thông ban sự sống. Riêng Chúa Nhật Lễ
Chúa Ba Ngôi tuần này, căn cứ vào việc sắp xếp ba bài Phúc Âm
cho ba chu kỳ phụng vụ A, B và C, chúng ta thấy Giáo Hội muốn
bày tỏ toàn diện Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi là Nguồn Mạch Phát Sinh
Sự Sống, căn cứ đúng theo như thứ tự lời Thánh Phaolô chào chúc
tín hữu Côrintô trong bài đọc hai của Năm A hôm nay: “Nguyện xin
ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, tình yêu của Thiên Chúa và ơn thông
hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh em”.
Thật
vậy, ở chu kỳ Năm A, chu kỳ theo Phúc Âm Thánh Mathêu, Giáo Hội
chọn bài Phúc Âm Thánh Gioan ghi lại lời Chúa Giêsu cho Nicôđêmô
biết về vai trò của Con liên quan đến “ân sủng” sự sống, ở chỗ:
“Thiên Chúa đã yêu thế gian đến ban Con Một mình cho thế gian,
để thế gian tin vào Con mà được sự sống đời đời”.
Ở
chu kỳ Năm B, chu kỳ theo Phúc Âm Thánh Marcô, Giáo Hội chọn bài
Phúc Âm Thánh Mathêu (là bài Phúc Âm đáng lẽ thuộc về Năm A) về
vai trò của Cha liên quan đến “tình yêu”, một vai trò được thể
hiện nơi công thức hay mô thức ban phép rửa tái sinh nhân danh
Ba Ngôi, một công thức trước hết phải “nhân danh Cha”, vì Ngài
là Đấng đã tỏ mình ra nơi Con; bởi thế nhân danh “và Con” tức
là chính tác động tin vào Con, tác động “chấp nhận “ Lời Nhập
Thể (Jn 1:12) bởi Cha mà đến: “Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa
hằng sống” (Mt 16:16); và chính Con là “sự sống hằng ở nơi Cha”
(1Jn 1:2) đây cũng đã tái sinh Giáo Hội bằng “phép rửa trong Thánh
Linh” (Jn 1:33, x. 20:22), nhờ đó Giáo Hội cũng tiếp tục truyền
đạt “Thày là sự sống” cho các linh hồn bằng “quyền lực từ trên
cao” (Lk 24:49; x. Acts 1:4-12), do đó, nhân danh “và Thánh Thần”
đây tức là chấp nhận chứng của Thần Chân Lý mà tin vào Đấng Cha
sai.
Ở
chu kỳ Năm C, chu kỳ theo Phúc Âm Thánh Luca, Giáo Hội lại chọn
Phúc Âm Thánh Gioan, đoạn nhấn mạnh đến vai trò “hiệp thông” của
Chúa Thánh Thần: “Tất cả mọi sự Cha có đều ở nơi Thày. Nên Thày
mới nói những gì Ngài (Thần Chân Lý) thông đạt cho các con Ngài
đều lấy từ Thày”.
Theo
phụng niên, Giáo Hội cử hành Lễ về Chúa Giêsu Kitô, tiêu biểu
nhất là hai Đại Lễ Giáng Sinh và Đại Lễ Phục Sinh, cũng như cử
hành Lễ về Chúa Thánh Thần, như Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống
tuần vừa rồi, nhưng tuyệt nhiên không cử hành một Lễ nào về Chúa
Cha. Thật ra, trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi Một Chúa hay Một Chúa Ba
Ngôi thì cử hành Lễ về Ngôi nào cũng là tôn kính cả Ba Ngôi, hay
cũng là tôn thờ Một Chúa (Cha). Vì việc cử hành Lễ về Chúa Kitô
chẳng những là việc trực tiếp tưởng niệm Đấng Cha Sai Đến, mà
gián tiếp còn là việc tôn kính chính Đấng đã Sai Con đến, Đấng
“đã yêu thương thế gian đã ban Con Một mình…”. Và việc cử hành
Lễ về Chúa Thánh Thần chẳng những là việc trực tiếp tưởng niệm
Đấng Con Hứa Ban (x Jn 14:16) mà gián tiếp còn là việc tôn kính
“Cha sai Ngài đến nhân danh Thày” (Jn 14:26). Có thể nói, nếu
Ba Ngôi chỉ là “một Thiên Chúa chân thật duy nhất” (Jn 17:3),
mà nói đến Thiên Chúa là nói đến Ngôi Cha (như từ ngữ “Thiên Chúa”
ám chỉ về Cha trong bài đọc hai và bài Phúc Âm hôm nay), thì Lễ
Chúa Ba Ngôi là Lễ về Chúa Cha, Đấng mọi sự phải qui về nơi Lời
Nhập Thể (Lễ Giáng Sinh), nhờ Chúa Kitô Vượt Qua (Lễ Phục Sinh),
và bởi Quyền Lực Từ Trên Cao (Thánh Thần Hiện Xuống). Phải chăng
đó là lý do Lễ Chúa Ba Ngôi (hay Lễ về Chúa Cha, Đấng là cùng
đích của tất cả mọi sự), mà theo thứ tự của lịch trình phụng niên,
lễ này được Giáo Hội cử hành sau các Lễ Giáng Sinh, Phục Sinh
và Hiện Xuống?
Mầu
Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi Nơi Kinh Lạy Cha
Ý
nghĩa phụng vụ về Lễ Chúa Ba Ngôi cũng có thể gọi là Lễ về Chúa
Cha đây còn được phản ảnh nơi nội dung của Kinh Lạy Cha, một Kinh
Nguyện trực tiếp với Ngôi Cha, nhưng thật ra bao gồm cả Ngôi Con
và Thánh Thần. Thật vậy, “Lạy Cha chúng con ở trên trời” đây nghĩa
là gì, nếu không phải chúng ta tuyên xưng Đấng chúng ta gọi “Cha”
đây là “Thiên Chúa”, vì “ở trên trời” đây là ở nơi chính Thần
Tính của Ngài.
“Danh
Cha” ở câu nguyện ước thứ nhất đây không liên quan đến chính Ngôi
Cha hay sao, Đấng đã liên lỉ tỏ danh Ngài ra cho dân Do Thái trong
suốt giòng lịch sử cứu độ của họ, như Thánh Kinh của họ đã cho
thấy, nhất là trong đoạn Ngài tỏ danh Ngài “Là Hiện Hữu” cho Moisen
(x. Ex 3:14), hay ngay trong chính Lời Nguyện Hiến Tế của Chúa
Giêsu được Phúc Âm Thánh Gioan ghi nhận (x Jn 17:6): “Con đã tỏ
danh Cha cho những kẻ Cha đã trao cho Con nơi thế gian…”?
Nếu
“Danh Cha” trực tiếp với Ngôi Cha, thì “Nước Cha” liên quan tới
Lời Nhập Thể, tới Chúa Giêsu Kitô, Đấng đến để thiết lập vương
quốc mà Người được Cha sai đến hầu làm vua cai trị, bằng việc
Người tỏ mình thực là Đấng Thiên Sai. Đến nỗi, có thể nói, Chúa
Giêsu Kitô chính là vương quốc của Thiên Chúa trên trần gian này,
và sự kiện “trị đến” của “Nước Cha” đây là sự kiện đã được bắt
đầu từ khi Chúa Kitô Phục Sinh, cũng như sẽ được kết thúc vào
lúc Người đến trong vinh quang (x Mt 26:64; 25:31). Bởi thế, sự
kiện “trị đến” của “Nước Cha” đây còn có thể hiểu là tất cả Mạc
Khải Thần Linh là Chúa Giêsu Kitô được đạt đến mức độ hoàn toàn
sáng tỏ trên thế gian.
Nếu
“Danh Cha” liên quan đến Cha, “Nước Cha” liên quan đến Con, thì
“Ý Cha” liên quan đến Thánh Thần. Vì nếu không ai biết được bản
thân mình bằng chính tâm linh của mình thế nào, cũng chỉ có Thần
Linh mới biết được Thiên Chúa như vậy mà thôi. Do đó, không ai
biết được bản tính Thần Linh của Thiên Chúa, biết được nội tâm
vô cùng viên mãn của Ngài, cũng như biết được ý muốn vô cùng sâu
nhiệm của Ngài để có thể làm theo, nếu không có chính Thần Linh
của Ngài ở nơi họ. Đó là lý do “tất cả những ai được Thiên Chúa
dẫn dắt đều là con cái Thiên Chúa” (Rm 8:14). Hơn nữa, nếu bản
chất của ý muốn là tự do, mà càng tự do càng quyền năng, mà tự
do nơi Thiên Chúa là một tự do tuyệt đối, nên ý muốn của Thiên
Chúa là một quyền năng tối cao, là một quyền năng vô cùng, muốn
làm gì cũng được. Nếu Thánh Thần là “quyền lực từ trên cao” (Lk
24:49; x Acts 1:8), thì “Nước Cha” được đồng hóa với Lời Nhập
Thể thế nào, “Ý Cha” cũng được đồng hóa với Thánh Thần Hiện Xuống
như thế. Vậy ước nguyện thứ ba “Ý Cha thể hiện dưới đất (tức nơi
mỗi người nói riêng nhất là nơi thế gian nói chung) cũng như trên
trời (tức đúng như những gì Thiên Chúa mong muốn xứng với Thần
Tính của Ngài)” đây tức là ước nguyện để cho Thánh Thần, cho “Quyền
Lực từ trên cao”, cho “gió muốn thổi đâu thì thổi” (Jn 3:8), “theo
ý muốn của Thiên Chúa” (Rm 8:27).
Mầu
Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi Trong Giòng Lịch Sử
Mầu
Nhiệm Ba Ngôi được diễn đạt thứ tự trong Kinh Lạy Cha thế nào,
Mầu Nhiệm này cũng được thể hiện nơi lịch sử của nhân loại như
vậy. Trước hết, Thiên Chúa (hay Chúa Cha) đã tỏ mình qua dân Do
Thái, và cốt lõi của việc tỏ mình ra của Ngài là việc Ngài tỏ
cho họ biết danh của Ngài, hay bản tính “chân thật duy nhất” của
Ngài, thực tại Hiện Hữu của Ngài. Trước hết, Ngài đã tự động chọn
họ và ký giao ước với họ qua các vị tổ phụ là Abraham, Isaac và
Giacóp. Sau đó, Ngài tiếp tục trung thành với giao ước và lời
hứa của Ngài, cho dù dân Do Thái có hết sức bất trung. Ở chỗ,
họ đã bỏ Ngài là Đấng tỏ ra cho họ thấy tận mắt Ngài luôn ở với
họ và ra tay cứu độ họ, nhất là qua việc Ngài đã giải thoát họ
khỏi dân Ai Cập, mà đi tôn thờ ngẫu tượng. Điển hình nhất là việc
họ thờ con bò vàng đúc trong sa mạc, và ngoại tình với ngẫu tượng
của họ, được tỏ hiện qua việc họ bái lậy và cúng tế cho các thứ
ngẫu tượng này. Các vị tiên tri, bởi đó, mới được sai đến, với
sứ vụ, ngoài việc loan báo Vị Thiên Sai Cứu Tinh (như trong Sách
Tiên Tri Isaia) và Thần Linh Sự Sống (như trong Sách Tiên Tri
Êzêkiên), trước hết là để các vị nhắc nhở họ về Giao Ước Thần
Linh, và từ đó cảnh tỉnh họ về hai tội căn bản chính yếu này,
tội ngẫu tượng và ngoại tình.
Mạc
Khải Thần Linh của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ của dân Do
Thái nói riêng cũng như trong lịch sử thế giới nói chung, (vì
lịch sử dân Do Thái có liên hệ với các dân tộc thuộc khối Hồi
Giáo ở vùng Trung Đông và Tiểu Á bây giờ, nhất là với Ai Cập),
đạt đến tột đỉnh khi Ngài trực tiếp tỏ mình cho nhân loại nơi
Đức Giêsu Kitô, “Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta”
(Jn 1:14) theo huyết tộc Do Thái. Sự kiện dân Do Thái cho tới
nay vẫn còn trông mong Đấng Thiên Sai Cứu Tinh theo ý họ, vì họ
hoàn toàn phủ nhận Đấng Sáng Lập Kitô Giáo là Đức Kitô Thiên Sai,
đã hiển nhiên cho thấy lịch sử thực sự có một nhân vật mang tên
Giêsu, con bà Maria và ông Giuse ở Nazarét, một con người đã được
sinh ra ở Bêlem nơi dân tộc Do Thái, cũng là con người đã bị dân
tộc này cho là “lộng ngôn phạm thượng” (Mt 26:65-66) nên đã dùng
thẩm quyền dân ngoại Rôma bấy giờ đóng đanh vào thập giá. Thế
nhưng, chính trong lúc tối tăm nhất lịch sử loài người này (x.
Lk 22:53), tức chính trong tình trạng hoàn toàn “vô tri” (Acts
3:17; x Lk 23:34) của dân tộc diễm phúc đã được Vị “Thiên Chúa
chân thật duy nhất” tỏ mình ra cho này, mà “ánh sáng thật chiếu
soi mọi người đã đến thế gian” (Jn 1:9) lại càng sáng tỏ: “Khi
các người treo Con Người lên, các người sẽ nhận ra Là Tôi” (Jn
8:28).
Biến
Cố Vượt Qua của Chúa Giêsu, biến cố tử nạn bởi tay loài người
song phục sinh bởi Thần Linh Thiên Chúa (x Rm 8:11), đã cho dân
Do Thái nói riêng thấy rằng Người chính là Đức Kitô Thiên Sai
và Đấng Sai Người thực sự là “Thiên Chúa chân thật duy nhất” của
họ, đúng như thánh danh muôn đời của Ngài là “Thiên Chúa của Abraham,
Isaac và Giacóp” (Ex 3:15). Cũng chính vì thánh danh muôn đời
này của mình, những gì Thiên Chúa đã hứa với Abraham ngay từ ban
đầu, là cho giòng dõi ông đông như sao trời cát biển, và các dân
tộc trên thế giới sẽ được phúc lành nơi giòng tộc của ông (x Gen
12:2-3, 22:17-18), mà Ngài tiếp tục tỏ mình trong lịch sử loài
người, khi Ngài nhân danh Con sai Thánh Thần xuống với Giáo Hội
của Con (x Jn 14:26). Bởi thế, sau khi Đấng Ngài Sai đã thiết
lập “Nước Cha” tại Giêrusalem bằng Cuộc Vượt Qua của Người, một
vương quốc sẽ “trị đến” vào ngày giờ ấn định của Ngài (x Acts
1:7), theo “Ý Cha” dự định, như Ngài cũng đã báo trước qua miệng
tiên tri Joel (3:1): “Ta sẽ đổ thần linh của Ta trên toàn thể
nhân loại”, mà Thánh Thần đã hiện xuống trong Ngày Lễ Ngũ Tuần
của dân Do Thái, và, qua Giáo Hội như Bí Tích Cứu Độ, như phương
tiện hiệp thông với Thiên Chúa và hiệp nhất toàn thể nhân loại
(x Hiến Chế Lumen Gentium 1), Vị “Thánh Thần là Đấng ban sự sống”
này đã liên lỉ hoạt động “cho tới tận cùng trái đất” (Acts 1:8),
để “canh tân bộ mặt trái đất” (Ps 104:30), cho “Ý Cha thể hiện
dưới đất cũng như trên trời”: “Thiên Chúa là tất cả trong mọi
sự” (1Cor 15:28).
Vấn
đề thực hành sống đạo:
Chúng
ta đã nói tới Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi nơi phụng niên, nơi
Kinh Lạy Cha và trong giòng lịch sử, giờ đây, trong phần thực
hành sống đạo, chúng ta nói tới vấn đề Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba
Ngôi nơi đời sống đạo. Nếu Mẹ Maria là tạo vật đệ nhất về ân sủng
đã phản ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi thế nào, Kitô hữu chúng ta, muốn
phản ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi, tức muốn Sự Sống Nội Tại của Thiên
Chúa Ba Ngôi dồi dào trong chúng ta, chúng ta cũng phải giống
như Mẹ mới được. Ở chỗ, đối với Chúa Cha, chúng ta phải là những
đứa con ngoan ngoãn mau mắn “xin vâng” (Lk 1:38) như Mẹ, nhờ đó,
chúng ta mới xứng đáng làm mẹ cưu mang và hạ sinh Con Thiên Chúa
Nhập Thể, vì Thánh Thần sẽ bao phủ chúng ta là bạn tình trinh
khiết (x Lk 1:34) của Ngài. Như thế, Sống Mầu Nhiệm Thiên Chúa
Ba Ngôi, hay Sống Sự Sống Thiên Chúa Ba Ngôi, tức là Kitô hữu
chúng ta sống thế nào cho xứng đáng với thân phận làm con với
Cha, với sứ vụ làm mẹ với Con, và với vai trò làm bạn với Thánh
Thần vậy.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
|
|