| |
“Tôi
đến cho chiên được sự sống và được một sự sống viên trọn / viên
mãn”
Vấn
Đề của Bài Phúc Âm hôm nay
Như
đã chia sẻ trong các tuần vừa rồi, chủ đề Phụng Vụ Lời Chúa cho
chung Mùa Phục Sinh là những gì thể hiện câu Chúa Giêsu khẳng
định trong biến cố hồi sinh Lazarô: “Thày là sự sống lại và là
sự sống” (Jn 11:25). “Thày là sự sống lại” là chủ đề cho chính
Đại Lễ Phục Sinh cũng như cho Chúa Nhật II và III Mùa Phục Sinh,
và “Thày là sự sống” là chủ đề cho 4 Chúa Nhật Mùa Phục Sinh còn
lại, tức tới Chúa Nhật VII, trước Chúa Nhật Lễ Chúa Thánh Thần
Hiện Xuống là Chúa Nhật mở màn cho Mùa Thường Niên Hậu Phục Sinh,
tiếp theo Mùa Thường Niên Hậu Giáng Sinh đã bị gián đoạn bởi Mùa
Chay và Mùa Phục Sinh. Chính vì “Thày là sự sống” là chủ đề của
4 Chúa Nhật Mùa Phục Sinh còn lại mà trong Chúa Nhật IV Phục Sinh
hôm nay Chúa Giêsu mới nói đến ở câu kết thúc bài Phúc Âm Thánh
Gioan về mục đích Nhập Thể và Vượt Qua của Người: “Tôi đến cho
chiên được sự sống và được sự sống viên trọn (hay) sự sống viên
mãn”.
Thế
nhưng, về chủ đề “Thày là sự sống” cho Mùa Phục Sinh nói chung
và ở bài Phúc Âm hôm nay nói riêng, chúng ta có thể đặt ra những
vấn đề hết sức quan trọng sau đây:
Thứ
nhất, “sự sống viên trọn (hay) sự sống viên mãn” đây là gì? Như
thế “sự sống” chưa viên trọn hay chưa viên mãn đây là sự sống
như thế nào?
Thứ
hai, làm sao một cái chết về phần xác, một cái chết theo thể lý
nơi Chúa Giêsu lại có thể mang lại sự sống thiêng liêng hay sự
sống thần linh cho con người?
Thứ
ba, nếu quả thực việc tử nạn về phần xác của Chúa Giêsu ban cho
con người “sự sống” thần linh thì Người ban bằng cách nào và con
người làm sao để có thể lãnh nhận?
1.
“Sự sống viên trọn (hay) sự sống viên mãn” đây là gì? Như thế
“sự sống” chưa viên trọn hay chưa viên mãn đây là sự sống như
thế nào?
Căn
cứ vào ý nghĩa của toàn bài Phúc Âm hôm nay, “sự sống viên trọn”
Chúa Giêsu cố ý nói đến ở đây là sự sống do chính Người ban cho
con người. Đúng thế, không một con người trần gian, con người
thuần túy nào có thể ban cho con người “sự sống viên trọn” này
được. Phải chăng, đó là lý do Chúa Giêsu đã khẳng định trong bài
Phúc Âm: “Tất cả những ai đến trước Tôi đều là những kẻ trộm cắp
và cướp giật… Kẻ trộm đến chỉ để ăn trộm, sát hại và hủy diệt”?
Nếu
nói chung loài người thì “những kẻ trộm cắp và cướp giật… đến
để sát hại và hủy diệt” đầu tiên đây phải là chính Adong và Evà,
những con người chẳng những đã không truyền lại cho con cái mình
sự sống thần linh của tình trạng công chính nguyên thủy mà còn
truyền lại cho giòng dõi mình sự chết cả hồn lẫn xác nữa!
Nếu
nói riêng dân Do Thái là đối tượng nghe Chúa Giêsu nói những lời
này, thì “những kẻ trộm cắp và cướp giật… đến để sát hại và hủy
diệt” đây phải kể đến những vị vua của họ, ở cả hai miền Nam và
Bắc, điển hình nhất là Solomon, đã dẫn dắt dân Chúa đi đến chỗ
bỏ “Chúa là Thiên Chúa duy nhất” (Deut 6:9; xem 1Kgs 8:23) của
mình mà đi ngoại tình với tà thần, với các thứ thần ngoại bang,
với ngẫu tượng, đến nỗi, cuối cùng, đã làm cho Đất Hứa bị xâm
chiếm, Thành Thánh bị tục hóa và Dân Chúa bị lưu đầy bên Babylon
(xem 2Kgs 24:15, 25:11; 1 Chr 36:20). Thậm chí cả Moisen và Đavít
là hai nhân vật có thể nói nổi tiếng đệ nhất trong dân Do Thái,
cũng không nhiều thì ít thuộc về thành phần của “những kẻ trộm
cắp và cướp giật… đến để sát hại và hủy diệt”. Moisen, dù là vị
cứu tinh dân tộc thoát khỏi làm tôi dân Ai Cập, chính ông cũng
không được vào Đất Hứa, chỉ vì một lần đã không làm cho sự thiện
hảo của Thiên Chúa tỏ hiện trước mặt dân chúng (xem Num 20:12).
Đavít, dù là vị vua tốt lành nhất trong các vua Do Thái, thậm
chí là vương tổ của một Đấng Cứu Thế (xem Lk 1:32), chính vua
cũng đã gian dâm ngoại tình và sát nhân cướp vợ thuộc hạ của mình.
Còn
Abraham và Gioan Tẩy Giả thì sao, hai nhân vật cũng rất quan trọng
này của dân Do Thái có thuộc về thành phần “những kẻ trộm cắp
và cướp giật… đến để sát hại và hủy diệt” hay chăng? Đến đây chúng
ta phải để ý đến một yếu tố nữa. Đó là, Chúa Giêsu không nói đến
“tất cả những ai đến trước Tôi” khi trực tiếp so sánh họ với chính
mình Người mà thôi, Người còn nói đến mối liên hệ giữa họ và chiên
nữa. Ở chỗ, nếu chiên còn nghe tiếng họ thì quả thực họ chính
là thành phần “qua cửa mà vào”, như Chúa Giêsu cũng đã khẳng định
trong bài Phúc Âm hôm nay, tức thành phần thực sự chính hiệu là
“mục tử của chiên”, chứ không phải “những kẻ trộm cắp và cướp
giật”. Vậy, nếu các dân tộc được thừa hưởng phúc lành nơi giòng
dõi của Tổ Phụ Abraham (xem Gen 22:18), và nếu dân Do Thái tuốn
đến cùng Gioan Tẩy Giả ở Sông Dược Đăng (xem Mt 3:5), thì Tổ Phụ
Abraham và Gioan Tẩy Giả là những nhân vật Chúa Giêsu đã nói ở
đầu bài Phúc Âm hôm nay: “ai qua cửa mà vào là mục tử của đoàn
chiên”.
Thế
nhưng, thế nào là “qua cửa mà vào” để thực sự “là mục tử của đoàn
chiên”, nếu không phải “qua” đây tức là theo Chúa Kitô, “cửa của
đoàn chiên”, như Người đã tự xưng trong bài Phúc Âm hôm nay: “Ta
là cửa đoàn chiên”. Đó là lý do, trên bờ biển hồ Tibêria, sau
khi trao cho Tông Đồ Phêrô quyền vụ thay Người chăm sóc đàn chiên
của Người, cũng như sau khi tiên báo cho Phêrô biết trước thân
phận hy sinh vì chiên của ngài, Chúa Kitô Phục Sinh đã kêu gọi
Vị Mục Tử Đệ Nhất này rằng: “Hãy theo Thày” (Jn 21:19). Tổ Phụ
Abraham và Gioan Tẩy Giả, dù sinh ra trước Chúa Giêsu, thực sự
cũng đã theo sát Người. Ở chỗ, Chúa Kitô là “vị mục tử tốt lành
hiến mạng sống mình vì chiên” (Jn 10:11) thế nào, như Người tuyên
bố ngay đầu bài Phúc Âm Thánh Gioan Năm B hôm nay, Tổ Phụ Abraham
cũng đã sẵn sàng bỏ mạng sống mình là chính Isaac cho Thiên Chúa
(xem Gen 22:12) như vậy, và Gioan Tẩy Giả cũng đã bỏ mạng sống
mình để bảo vệ công lý (xem Mt 14:3,4,10) như thế.
Đến
đây chúng ta có thể giải đáp được vấn đề thứ nhất của bài Phúc
Âm hôm nay, vấn đề về “sự sống viên trọn (life in full), hay sự
sống viên mãn (abundant life) ”. “Sự sống viên trọn (hay) sự sống
viên mãn” đây chính là sự sống “ở trong Thày… thì trổ sinh muôn
vàn hoa trái” (Jn 15:5), nghĩa là sự sống được thực sự hiệp nhất
nên một với Chúa Kitô, hoàn toàn phản ảnh Người, đến nỗi, làm
cho chiên của Người có thể thấy họ và qua họ mà nhận biết Người.
2.
Làm sao một cái chết về phần xác, một cái chết theo thể lý nơi
Chúa Giêsu lại có thể mang lại sự sống thiêng liêng hay sự sống
thần linh cho con người?
Nếu
“chết là hết”, và “hết” đây không phải là “hết” tồn tại mà là
“hết” biết hay không còn biết gì nữa, như thực vật không còn biết
sinh hoạt theo định luật thiên nhiên, động vật không còn biết
phản ứng theo bản năng sinh tồn, nhân vật không còn biết tác hành
theo cảm thức tâm linh, thì sống thực sự là biết, biết sinh động
theo bản tính của mình. Còn biết là còn sống. Trên bình diện siêu
linh cũng vậy, sống chính là biết, đúng như Chúa Giêsu đã khẳng
định trong đoạn mở đầu của Lời Nguyện Tiệc Ly: “Sự sống đời đời
là nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha
Sai là Giêsu Kitô” (Jn 17:3).
Vậy,
để làm cho con người đã hư đi theo nguyên tội, đã hư đi nơi hai
nguyên tổ vì không nhận biết Thiên Chúa Hóa Công của mình, qua
việc bất tuân phục lệnh truyền của Ngài, có thể được “sự sống
đời đời”, tức có thể “nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy
nhất và Đấng Cha Sai là Giêsu Kitô”, theo dự án cứu độ của Thiên
Chúa, Lời cần phải Nhập Thể và Vượt Qua. Như thế, đường lối cứu
độ của Thiên Chúa, hay đường lối Thiên Chúa muốn dùng để có thể
ban “sự sống đời đời” cho con người, đó là tỏ mình ra cho họ để
họ có thể “nhận biết” Ngài, như chính Ngài là Đấng hằng sống,
Đấng hằng biết mình, “Đấng Là” (Ex 3:14). Và Ngài đã tỏ mình ra
cho con người hết cỡ ở chỗ, “vào thời cuối cùng” (Heb 1:2), “lúc
thời gian viên trọn” (Gal 4:4), Ngài đã ban chính Con Một mình
cho họ: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con duy nhất của
mình, để ai tin Con thì không phải chết song được sự sống đời
đời” (Jn 3:16).
“Là
phản ảnh vinh quang Cha, là hiện thân đích thực của bản thể Cha”
(Heb 1:3), “Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta” (Jn
1:14) mục đích chính yếu là “để tỏ Cha ra” (Jn 1:18), bằng việc
“làm chứng cho chân lý” (Jn 18:37), một “chân lý” duy nhất lưỡng
diện: “Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha sai là
Giêsu Kitô”. Vì “từ trời xuống không phải để làm theo ý mình mà
là ý Đấng đã sai” (Jn 6:38), tất cả mọi việc Lời Nhập Thể nói
và làm trên trần gian này đều là những việc Người “tỏ Cha ra”,
Đấng đã sai Người, nhờ đó, thế gian cũng nhận biết Người được
Cha sai, tức nhận biết vai trò là Đấng Thiên Sai của Người. Thế
nhưng, tột đỉnh của việc Lời Nhập Thể “đến trong thế gian để làm
chứng cho chân lý” này, tức “làm chứng” cho thực tại Cha ở nơi
Người và Người ở nơi Cha ấy: “Cha ở trong Con và Con ở trong Cha”
(Jn 17:21), chỉ có thể được tỏ hiện sáng ngời nhất qua Cuộc Vượt
Qua nói chung, và nơi Cuộc Tử Giá của Người nói riêng, đúng như
Người đã khẳng định với dân Do Thái: “Khi nào các người treo Con
Người lên, các người mới nhận ra Là Tôi” (Jn 8:28). Phải, chính
khi Chúa Giêsu bị treo trên thập giá là lúc Người làm cho chân
lý sáng tỏ ngay nơi nhân tính của Người, một nhân tính bao gồm
“tất cả mọi người”: “Khi nào Tôi bị treo lên khỏi mặt đất, Tôi
sẽ kéo tất cả mọi người lên cùng Tôi” (Jn 12:32). Nói cách khác,
biến cố Lời Nhập Thể tử giá là việc Người tỏ mình ra nơi nhân
tính của Người thực tại “Người là hiện thân đích thực của bản
thể Cha”. Tử Giá chính là “đường lối” vô cùng khôn ngoan Lời Nhập
Thể đã dùng để tỏ mình ra Người quả “là sự thật và là sự sống”
(Jn 14:6).
Lời
Nhập Thể “là sự thật” ở chỗ “Người là hiện thân đích thực của
bản thể Cha”. Bởi thế, Người đồng thời cũng “là sự sống” nơi Thiên
Chúa, vì Thiên Chúa tự hữu, hằng hữu, hiện hữu là Thiên Chúa tự
biết mình, hằng biết mình và hiện biết mình, và “mình” nơi Thiên
Chúa đây không phải là chính “Lời ở nơi Thiên Chúa” (Jn 1:1),
là “sự sống ở nơi Cha đã trở nên hữu hình cho chúng ta” (1Jn 1:2)
hay sao? Đó là lý do Tông Đồ Gioan đã khẳng định cảm nghiệm thần
linh của mình như sau: “Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống
đời đời và sự sống đời đời này ở nơi Con của Ngài. Ai có Con là
có sự sống; ai không có Con Thiên Chúa thì không có sự sống” (1Jn
5:11-12).
3.
Nếu quả thực việc tử nạn về phần xác của Chúa Giêsu ban cho con
người “sự sống” thần linh thì Người ban bằng cách nào và con người
làm sao để có thể lãnh nhận?
Đúng
thế, nếu “Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống đời đời và sự
sống đời đời này ở nơi Con của Ngài”, thì quả thực “Ai có Con
là có sự sống; ai không có Con Thiên Chúa thì không có sự sống”
(1Jn 5:11-12). “Có” ở đây theo Thánh Ký Gioan, là “nhận biết”
(Jn 1:10), là “chấp nhận” (Jn 1:11) Lời Nhập Thể: “Ai chấp nhận
Người thì Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa” (Jn 1:12).
Và để loài người có thể “nhận biết”, có thể “chấp nhận” Lời Nhập
Thể để được “quyền làm con Thiên Chúa”, Chúa Kitô Phục Sinh đã
phải sai thành phần chứng minh tiên khởi của mình “đi khắp thế
gian loan báo tin mừng cho tất cả mọi tạo vật. Ai tin vào tin
mừng và lãnh nhận phép rửa thì được cứu rỗi, còn ai không tin
thì bị luận phạt” (Mk 16:15-16). Đến đây chúng ta thấy lý do hiện
hữu và vai trò thực sự của thành phần chứng nhân tiên khởi là
Nhóm Tông Đồ Đoàn là ở chỗ, như Tông Đồ Gioan xác nhận: “Những
gì chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho anh em,
để anh em cũng được chia sẻ sự sống với chúng tôi…” (1Jn 1:3).
Như
thế, để có thể “có sự sống”, loài người nói chung, kể cả Tông
Đồ Đoàn, đều phải “nhận biết”, phải “chấp nhận” Lời Nhập Thể.
Thậm chí thành phần chứng nhân tiên khởi có được sai đi rao giảng
và làm phép rửa khắp thế gian đi nữa, ngay bản thân các vị cũng
đã phải lãnh nhận phép rửa bởi chính Chúa Kitô Phục Sinh bằng
“phép rửa trong Thánh Thần” (Jn 1:33), khi “Người thổi hơi trên
các vị mà nói: ‘Các con hãy lãnh nhận Thánh Thần’” (Jn 20:22).
Bởi vì, như Chúa Giêsu đã khẳng định với Nicôđimô: “Tôi bảo thật
cho ông biết, không ai có thể thấy vương quốc của Thiên Chúa,
nếu không được tái sinh từ trên cao… tái sinh bởi nước và Thần
Linh” (Jn 3:3,5). Tuy nhiên, hai vấn đề được đặt ra ở đây là:
Thứ nhất, nếu con người cần phải “chấp nhận” để được “ban quyền
làm con Thiên Chúa”, mà muốn “chấp nhận” con người cần phải có
ý thức, thì một khi con người lãnh nhận bí tích rửa tội lúc mới
sinh hay còn nhỏ, chưa có hay chẳng có ý thức gì, thì phép rửa
có thành hay chăng - tại sao lại phải lãnh nhận phép rửa ngay
từ khi mới sinh? Thứ hai, nếu “chấp nhận” là tác động của lòng
muốn tự nó đã đủ để được “sự sống”, như trường hợp những kẻ được
rửa tội bằng lòng mến không kịp lãnh nhận phép rửa, thì tại sao
còn cần phải lãnh nhận phép rửa nữa – phép rửa được Chúa Giêsu
lập ra để làm gì?
Về
vấn đề thứ nhất, vấn đề lãnh nhận phép rửa khi mới sinh chưa biết
ý thức “chấp nhận”, đây là vấn đề điều kiện thực tế thuộc về phía
loài người. Tuy nhiên, theo nguyên tắc, loài người không sinh
ra con cái khi chúng có ý thức rồi, khi chúng biết những vị sinh
ra chúng là ai, mà là chính lúc chúng chưa có ý thức gì cả. Cũng
thế, về phương diện siêu nhiên, dù ở tuổi tác nào, thậm chí dù
còn trong lòng mẹ, miễn là giống nhau ở chỗ chưa nhận biết Thiên
Chúa, chưa ý thức Ngài là ai, con người cũng có thể hay hội đủ
điều kiện để trở thành con cái Thiên Chúa. Đó là lý do việc sinh
sản là việc của cha mẹ hơn là của con cái. Không phải con cái
hội đủ điều kiện làm người, ở chỗ có ý thức, rồi cha mẹ mới sinh
nó ra, mà vì nó chưa có gì. Có thể nói, chính vì chưa có ý thức,
chưa biết gì mới cần được sinh ra, mới cần có khả năng bẩm sinh
để ý thức. Về phương diện siêu nhiên cũng vậy, tự mình, con người
không thể nào có Ý Thức Thần Linh, tức có thể nhận biết Thiên
Chúa như Ngài Là, nếu không có chính Thần Linh của Ngài, “Vị Thần
Linh thấu suốt mọi sự, kể cả thâm tâm của Thiên Chúa” (1Cor 2:10).
Bởi thế, con người mới cần được Thiên Chúa sinh ra, và cũng bởi
thế Thiên Chúa mới sinh ra con người, mới ban Thần Linh của Ngài
cho họ, để nhờ đó họ có thể “được sự sống” là nhận biết Ngài.
Có thể nói, khi “Thiên Chúa ban Thần Linh của Con Ngài cho lòng
chúng ta” (Gal 4:6) là Ngài đã tái sinh chúng ta, là chúng ta
“được tái sinh từ trên cao” (Jn 3:3), được rửa trong Thánh Thần
rồi vậy, như trường hợp điển hình của gia đình Cornêliô đã lãnh
nhận Thánh Thần trong đang khi nghe Tông Đồ Phêrô giảng dạy, trước
khi chính thức được Vị Tông Đồ này làm phép rửa cho (xem Acts
10:44,46). Thật ra, theo đường lối bình thường, như Thánh Phêrô
đề cập đến trong Bài Giảng Tiên Khởi được Sách Tông Vụ ghi lại
ở bài đọc một hôm nay, phải “lãnh nhận phép rửa” đã rồi mới “được
tặng ân Thánh Thần”. Ở đây, trong trường hợp gia đình Cornêliô
đang lắng nghe Lời Chúa, “tặng ân Thánh Thần” lại được ban cho
con người trước khi họ “lãnh nhận phép rửa”, cho thấy hai điều
hết sức quan trọng: thứ nhất, Thánh Thần được xuất phát từ chính
cửa miệng của Chúa Kitô Phục Sinh (xem Jn 20:22), tức từ mô thể
Lời Chúa vốn có quyền năng thanh tẩy (xem Jn 15:3), chứ không
phải từ nguyên bởi chất thể nước rửa tội; và thứ hai, Thánh Thần
là chính mạch nước vọt lên sự sống đời đời nơi lòng của những
ai tin vào Chúa Kitô, Lời Nhập Thể (xem Jn 7:38-39; 4:14), hơn
là do nguyên điều kiện cần phải có là tác động “chấp nhận” của
con người.
Ngoài
ra, theo bình thường, vì Thiên Chúa tỏ mình ra nơi Lời Nhập Thể,
nghĩa là qua Nhân Tính của Lời, mà Nhân Tính của Lời đã trở thành
phương tiện, nhất là sau biến cố Phục Sinh, “đã trở thành một
thần linh ban sự sống” (1Cor 15:45), thành Bí Tích để thông ban
Thánh Thần (xem Jn 20:22), và con người chúng ta muốn đến với
Chúa Kitô phải đến với Bí Tích, đến qua Bí Tích, một tác động
chứng tỏ chúng ta “chấp nhận” Lời Nhập Thể. Mà đến với Bí Tích
là con người đồng thời cũng đến với Giáo Hội là chính Bí Tích
Hiệp Thông lại vừa là Thừa Tác Viên ban “sự sống”, và qua việc
này con người còn tỏ ra “chấp nhận” Lời Nhập Thể nơi Chứng Từ
Thần Linh của Người là Giáo Hội nữa. Có thể nói, nếu Thiên Chúa
sinh ra con người từ trên cao bằng việc tự động ban Thần Linh
của Ngài cho họ, thường bằng Chứng Từ Giáo Hội, thì việc con người
lãnh nhận phép rửa là việc họ được Thần Linh Thiên Chúa, với tư
cách là “quyền năng Đấng Tối Cao” (Lk 1:35) này tác động, để họ
có thể tỏ ý muốn “chấp nhận” Lời Nhập Thể, qua Giáo Hội Thừa Tác,
nhờ đó, họ được Lời Nhập Thể “ban cho quyền làm con Thiên Chúa”
(Jn 1:12). Ở chỗ, họ được hiệp thông với Lời Nhập Thể, tức được
có cùng một Thần Linh của Lời Nhập Thể, để họ có thể “được sự
sống và được một sự sống viên mãn” của một người con Thiên Chúa
như chính Con Thiên Chúa là Chúa Giêsu Kitô: “đẹp lòng Cha mọi
đàng” (Mt 3:17, 17:5).
Tóm
lại, một khi lãnh nhận Thần Linh của Con, con người sẽ đi đến
chỗ hiệp nhất nên một với Chúa Kitô trong Giáo Hội của Người,
chẳng khác gì “như cành nho dính liền với thân nho” (Jn 15:5).
Và cũng chỉ khi nào con người “ở trong Thày như Thày ở trong các
con” (Jn 15:4), theo khuôn mẫu “Cha ở trong Con và Con ở trong
Cha” (Jn 17:21), con người “mới sinh nhiều hoa trái”. Nghĩa là
con người mới chẳng những “được sự sống mà được sự sống viên mãn
hơn” (Jn 10:10), một Sự Sống Thần Linh Thiên Chúa đã ban cho con
người nơi Lời Nhập Thể và Vượt Qua.
Vấn
đề thực hành sống đạo:
Khi
lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội là Kitô hữu đã “được sự sống và được
sự sống viên mãn”, vì Bí Tích này làm cho họ được hiệp nhất nên
một với Chúa Kitô trong Giáo Hội và được trở nên con cái Thiên
Chúa. Nếu “sự sống viên mãn hơn” là sự sống hiệp nhất nên một
với Chúa Kitô, là sự sống ở trong Thày, thì chỉ bao lâu sống trong
Lời Nhập Thể là Chúa Kitô, Kitô hữu mới thật sống “sự sống viên
mãn”, mới có thể “trổ sinh muôn vàn hoa trái”. Mà muốn sống “sự
sống viên mãn”, tức muốn hiệp nhất nên một với Chúa Kitô, Kitô
hữu cần phải tuân giữ lời của Chúa Kitô, giới răn yêu thương của
Chúa Kitô: “Như Cha đã yêu Thày thế nào, Thày cũng yêu các con
như vậy. Các con hãy sống trong tình yêu của Thày, nếu các con
tuân giữ các giới răn của Thày, như Thày đã giữ các mệnh lệnh
của Cha và đã sống trong tình yêu của Ngài. Thày nói với các con
tất cả những điều này là để niềm vui của Thày trở thành của các
con, cũng như để cho niềm vui của các con được nên trọn” (Jn 15:9-11).
Như thế, “sự sống viên mãn hơn” nơi Kitô hữu còn là “sự sống”
đầy niềm vui của Chúa Kitô và với Chúa Kitô. Mà “niềm vui” đây
là hoa trái của hay biểu hiệu cho Thánh Thần (x Gal 5:22; Lk 10:21),
là dấu chứng tỏ “đầy Thánh Thần” (Lk 1:41-42), bởi đó, “sự sống
viên mãn hơn” nơi Kitô hữu sống trong Chúa Kitô còn là sự sống
tràn đầy Thánh Thần, sinh hoa trái Thánh Thần, Vị Thánh Thần của
Tối Phục Sinh (x Jn 20:22) tỏ hiện quyền lực nơi Ngày Ngũ Tuần
(x Acts 2:1-4)!
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
|
|