| |
“Của
Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa”
Vấn
đề lợi dụng mạc khải
Trong
ba bài Phúc Âm ba tuần trước, Chúa Giêsu đã dùng dụ ngôn mà nói
với thành phần lãnh đạo dân Do Thái là các trưởng tế và kỳ lão,
để nói cho họ biết rằng họ là người con nói làm theo ý cha song
thực tế lại không, họ là nhóm tá điền bất lương sát hại con trai
của chủ vườn nho để cướp đoạt gia tài của người con này, và họ
là thành phần được mời đến dự tiệc cưới của vua song chẳng những
đã từ chối không thèm mà còn sát hại cả người được sai đi mời
nữa. Để phản ứng lại những chỉ trích của Chúa Giêsu, thành phần
lãnh đạo hầu như theo phái Pharisiêu này đã làm gì? Bài Phúc Âm
Chúa Nhật tuần này (và tuần sau) đã và sẽ cho thấy rõ điều ấy.
Riêng bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này, Thánh ký Mathêu, ngay sau
câu kết thúc bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần trước, liền cho biết phản
ứng của họ như sau: “Những người Parisiêu bỏ đi và bắt đầu bày
mưu để gài bẫy Chúa Giêsu trong lời nói”. Bằng cách nào? Thánh
Mathêu trình thuật tiếp: “Họ sai các môn đồ của họ, có cả đám
người của quận vương Hêrôđê đi theo, đến với Người mà nói: ‘Thưa
Thày, chúng tôi biết Thày là một con người chân chính và thực
sự dạy sống theo đường lối của Thiên Chúa… Vậy xin Thày cho chúng
tôi biết Thày nghĩ thế nào về trường hợp này. Đó là vấn đề nộp
thuế cho hoàng đế là việc hợp pháp hay chăng?’”
Đây
là một câu hỏi rất thâm độc và nham hiểm có liên quan đến chính
trị, mà nếu trả lời không khéo chắc chắn sẽ dính bẫy. Nếu trả
lời nộp thuế là việc hợp pháp thì sẽ bị tố cáo là phản quốc, không
thể chối cãi được, vì đã có sự chứng kiến của những người thuộc
nhóm quận vương Hêrôđê hiện diện ở đó lúc bấy giờ. Nếu trả lời
là không hợp pháp thì sẽ bị tố cáo là “xui dân làm loạn, chống
lại việc nộp thuế cho Cesar” (Lk 23:2) như họ đã thực sự vu oan
tố cáo Chúa Giêsu sau này trước tổng trấn Philatô để sát hại Người.
Thế nhưng, theo đường lối tỏ mình tuyệt vời của Thiên Chúa vô
cùng khôn ngoan và toàn năng, nơi nào càng tối tăm, ánh sáng càng
cần phải chiếu tới, và nơi nào càng tối tăm thì ánh sáng càng
rạng ngời. Trường hợp của bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này cũng
thế. Chúa Giêsu đã lợi dụng mưu đồ gian trá tối tăm của nhóm người
Pharisiêu để mạc khải cho riêng thành phần chất vấn Người cũng
như cho chung dân chúng và các môn đệ của Người có thể đang ở
đấy bấy giờ một chân lý hết sức quan trọng liên quan đến phần
rỗi đời đời của con người. Đó là vấn đề “hãy trả cho Cêsa những
gì của Cêsa, và hãy trả về cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa”.
Vấn
đề sử dụng tỏ mình
Thật
vậy, câu trả lời vô cùng khôn khéo này của Chúa Giêsu không phải
chỉ để làm cho âm mưu của nhóm Pharisiêu hoàn toàn thảm bại, làm
cho họ bị dân chúng và các môn đệ của Người cười vào mặt, mà chính
là để dạy cho họ cũng như cho tất cả những ai nghe Người bấy giờ
và sau này rằng con người cần phải chu toàn cả nhiệm vụ của một
người công dân trần thế lẫn nhiệm vụ của một người công dân Nước
Thiên Chúa. Vấn đề sâu xa ở đây là dân Do Thái không muốn bị ai
cai trị cả, như Đế Quốc Rôma bấy giờ đang đô hộ họ, nghĩa là họ
không muốn đóng thuế cho Cêsa, họ chỉ muốn đóng thuế cho Đền Thờ,
tức cho Thiên Chúa Giavê của họ mà thôi, như có lần họ đã đặt
vấn đề đóng thuế đền thờ với Chúa Giêsu, Đấng đã sai Phêrô đi
bắt cá ở hồ để lấy đồng tiền trong miệng nó mà đem nộp thuế đền
thờ cho cả hai thày trò (x Mt 17:24-27).
Thế
nhưng, thực tế cho thấy, họ chỉ đóng thuế đền thờ theo thói lệ
bề ngoài, theo lề luật buộc phải giữ vậy thôi, về tinh thần, họ
vẫn không thực sự “trả về cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa”.
Thật vậy, vấn đề Chúa Giêsu trả lời cho vấn nạn có âm mưu của
nhóm người Pharisiêu trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này, nếu
để ý, sẽ thấy có liên hệ đến ba dụ ngôn Người đã nói với thành
phần lãnh đạo dân Do Thái trong Phúc Âm ba tuần trước. Ở chỗ,
thành phần lãnh đạo Do Thái nói chung, trong đó có những người
thuộc nhóm Pharisiêu, như Nicôđêmô chẳng hạn (x Jn 3:1), đã là
người con chỉ làm theo ý mình, “vâng con đi”, mà thực tế không
làm theo ý cha, tức họ đã không “trả về cho Thiên Chúa những gì
của Thiên Chúa”; hay họ đã là bọn tá điền làm vườn nho cho chủ
nhưng không sinh hoa lợi cho chủ như ý chủ muốn, lại còn sát hại
các thừa sai của chủ, kể cả người con trai duy nhất của chủ, tức
họ đã thực sự không “trả về cho Thiên Chúa nhưng gì của Thiên
Chúa”; hoặc họ đã là những người được chính thức mời đến dự tiệc
cưới của vua, song đã từ chối không chịu đến dự, thậm chí còn
ra tay sát hại những đầy tớ của vua sai đi mời họ, tức là họ cũng
đã không chịu “trả về cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa”.
Phải
chăng, chính vì họ đã không “trả về cho Thiên Chúa những gì của
Thiên Chúa”, mà Ngài đã để họ bị đô hộ bởi đế quốc Rôma, như họ
đã nhiều lần chịu những cảnh như vậy trong giòng lịch sử cứu độ
của họ? Thế nhưng, trong chính những lúc như vậy, chính lúc bị
ức hiếp, họ mới nhớ đến Thiên Chúa, Đấng duy nhất có thể cứu thoát
họ, và họ mới thấy lầm lỗi của mình, mới thấy rằng mình đã không
“trả về cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa”. Để rồi, sau khi
họ nhận lỗi và kêu cầu Thiên Chúa, tức “trả về cho Thiên Chúa
những gì của Thiên Chúa”, Ngài mới ra tay cứu thoát họ. Dù sao,
trước mắt dân Do Thái, hay bất cứ một dân tộc nào khác, đế quốc
vẫn là một cái gì bất nhân, bất hợp pháp, nhất định cần phải lật
đổ và loại trừ. Thế nhưng, đối với Thiên Chúa là chủ của lịch
sử loài người, Ngài có thể sử dụng hay lợi dụng tất cả mọi biến
cố lịch sử, mọi con người lịch sử để thực hiện ý định vô cùng
trọn lành và sâu nhiệm của Ngài trong lịch sử và cho lịch sử.
Những lời Chúa phán qua miệng Tiên Tri Isaia trong bài đọc thứ
nhất Chúa Nhật tuần này đã cho thấy rõ điều ấy. “Vậy Chúa phán
cùng vị được Ngài xức dầu là Cyprus, kẻ đã được Ta cầm lấy bàn
tay phải, bắt các dân qui phục hắn, làm cho các vua chúa phải
cung phụng hắn, mở các cửa ra cho hắn vào, không cài khóa cổng
môn”.
Vấn
đề đức tin tuân phục
Phải,
Thiên Chúa có quyền sử dụng hay lợi dụng bất cứ một nhân vật lịch
sử nào, trong một thời điểm nào đó, để thực hiện ý định toàn năng
của Ngài trong lịch sử, tức để hoàn tất dự án lịch sử cứu độ bất
biến của Ngài. Điển hình là hoàng đế Ba Tư Cyprus trên đây, một
vị hoàng đế (năm 545 BC) được Giavê Thiên Chúa dùng để sau khi
cho ông chiếm được Babylon (năm 539 BC), đã truyền lệnh cho phép
dân Do Thái bị lưu đầy được hồi hương xây lại Đến Thờ và Thành
Thánh của họ (x 2Chr 36:22f; Ezr 1:1-4). Đó là lý do, trong phần
hai của bài đọc một hôm nay, Thiên Chúa đã mạc khải ý định của
Ngài với vị hoàng đế công cụ này như sau: “Vì Giacóp tôi tớ của
Ta, vì Yến Duyên người được Ta tuyển chọn, mà Ta đã gọi đích danh
ngươi, ban cho ngươi một danh hiệu, cho dù ngươi chẳng hề biết
Ta. Ta là Chúa, không còn ai khác, không có Chúa nào ngoài Ta
cả. Mặc dù ngươi không hề biết Ta, bản thân Ta cũng đã ẵm lấy
ngươi, để từ lúc mặt trời mọc lên cho tới khi lặn xuống con người
ta có thể nhận biết rằng không có Chúa nào ngoài Ta”.
Nếu
“không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa mà ra, và tất
cả mọi quyền bính đều do Thiên Chúa thiết lập” (Rm 13:1), thì,
sau khi xác tín như thế, Vị Tông Đồ Dân Ngoại liền khẳng định:
“Bởi thế, người nào chống lại quyền bính là chống lại mệnh lệnh
của Thiên Chúa” (Rm 13:2). Đó là lý do, theo ý nghĩa của lời Chúa
Giêsu trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này “của Cêsa hãy trả cho
Cêsa” tức là phải tỏ ra tôn kính và tuân phục đế quốc. Tuy nhiên,
các nước bị đô hộ tỏ ra tôn kính và tuân phục đế quốc trần gian
chính trị không phải chỉ vì sợ đế quốc, một chế độ tự bản chất
bất nhân chắc chắn sẽ không thể nào tồn tại với thời gian, như
lịch sử cho thấy, mà là tôn kính và tuân phục chính Thiên Chúa,
Đấng làm chủ lịch sử, Đấng đã phán “ngoài Ta không còn Chúa nào
khác”, chứ đừng nói tới Hitle, Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot
v.v. những con người cũng chết như bao nhiêu triệu người họ đã
tán sát. Ở đây, chắc chắn Chúa Kitô không có ý nói con người bị
đô hộ không được phép chống lại những bất công gian ác của đế
quốc, cả đế quốc cộng sản cũng như tư bản, nhưng Người chỉ có
ý dạy con người hãy chấp nhận mọi sự theo ý Đấng Tối Cao, hãy
nhìn tất cả mọi biến chuyển lịch sử bằng con mắt đức tin, và hãy
phản ứng bằng nhận thức thần linh.
Vấn
đề truyền bá phúc âm
“Của
Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa” là ở chỗ này. Như thế có nghĩa
là, chính khi con người “trả cho Cêsa những gì của Cêsa”, thì
đồng thời con người cũng thực hiện và chu toàn việc “trả về cho
Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa”. Hay nói ngược lại, nói một
cách thực tế hơn, hãy “trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa”,
tức hãy tin vào Ngài, con người mới có thể “trả về cho Cêsa những
gì của Cêsa”. Bằng không, như thực tế cho thấy, có những chính
trị gia Công Giáo nói riêng và Kitô hữu nói chung, một khi “trả
về cho Cêsa những gì của Cêsa” thì họ không còn gì để “trả về
cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa” nữa, thậm chí làm hại
đến tất cả những gì Ngài trao cho họ, như việc họ phò quyền tự
quyết tuyệt đối pro-choice, chứ không phò quyền sự sống pro-life,
nơi quốc hội cũng như trong đời sống hôn nhân gia đình của mình.
Ngược lại, thực tế cũng không thiếu những trường hợp cho thấy,
chính khi con người “trả về cho Thiên Chúa những gì của Thiên
Chúa” thì họ lại quên hay không muốn “trả về cho Cêsa những gì
của Cêsa”, như trường hợp được Thánh Gioan Tông Đồ nhắc nhở: “Ai
nói rằng ‘tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình thì
đó là kẻ nói dối” (1Jn 4:20). Gương điển hình nhất của việc “trả
về cho Cêsa những gì thuộc về Cêsa, trả về cho Thiên Chúa những
gì của Thiên Chúa” là gương của một Thiếu Nhi Giêsu 12 tuổi đã
ở lại nhà Cha trên trời của Người nhưng sau đó cũng đã trở về
Nazarét vâng phục cha mẹ trần gian của Người (x Lk 2:49, 51).
Đến
đây chúng ta đã thấy được bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này liên
quan đến Chứng Từ Giáo Hội là chủ đề của toàn Mùa Thường Niên
Hậu Phục Sinh ra sao. Đó là vấn đề truyền bá phúc âm hóa, tức
vấn đề đã được Thánh Phaolô nói với Kitô hữu Thessalonica trong
bài đọc thứ hai Chúa Nhật tuần này, đó là “việc rao giảng phúc
âm đã cho thấy không phải chỉ là vấn đề thuần túy ngôn từ mà là
vấn đề quyền năng; một việc rao giảng trong Chúa Thánh Thần và
bởi việc hoàn toàn xác tín mà ra”. Tóm lại, có nghĩa là, chỉ khi
nào con người sống đức tin thuần túy, hoàn toàn biết “dâng lên
Chúa vinh quang và vinh dự”, như câu họa của bài Đáp Ca Chúa Nhật
tuần này, bấy giờ họ mới có thể thực sự “trả về cho Thiên Chúa
những gì của Thiên Chúa” nơi tất cả “những gì của Cêsa trả cho
Cêsa” họ thực hiện trong cuộc sống trần gian của họ qua mọi hoàn
cảnh họ sống.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
|
|