Lễ Giáng Sinh
 
 


Thiên Chúa ở cùng chúng ta

Ngày 20 tháng 3 năm 1811, dân thành Balê đã được nghe 101 phát đại bác chào mừng hoàng tử Napoleon Francois Joseph Charles vừa mở mắt chào đời tại điện Tuileries. Vừa sinh ra, bé đã được vua cha đặt làm Vua Thành Rôma, và một tương lai thật huy hoàng đang đón chờ bé. Nhưng chỉ 5 năm sau, Hoàng đế Napoleon thất thủ tại Waterloo, và bị đi đầy ở đảo St. Helena. Bé Napoleon đã được đưa về sống với ông ngoại là vua Francis I, nước Áo. Trong những năm sau đó, chàng thanh niên Napoleon đã phung phí hết tuổi xuân trong ăn chơi ca hát, để rồi qua đời năm 21 tuổi vì bệnh phổi. Bao hứa hẹn của ngày mới sinh, tất cả đều tan theo mây khói.

Hôm nay, toàn thể nhân loại hân hoan mừng ngày sinh nhật của Chúa Giêsu. Tuy rằng, trong ngày Chúa sinh ra, người ta không bắn đại bác để chào mừng Chúa, và ngoài Mẹ Maria, Thánh Giuse, và một số mục đồng, có lẽ sự kiện Chúa sinh ra chẳng được ai quan tâm chú ý. Nhưng đó lại là một ngày thật trọng đại cho cả nhân loại. Ngày trọng đại đó đã được Thiên Chúa chuẩn bị từ ngàn xưa. Đã được hứa ban qua các đời: "Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel -- Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (Is 7:14).

Đó quả thật là ngày trọng đại, vì ngày này khởi đầu chương trình cứu độ nhân loại của Thiên Chúa. Từ sau ngày nguyên tổ phạm tội, nhân loại hằng ngóng trông, chờ mong tới ngày Đấng Cứu Thế đến để giải thoát con người khỏi ách thống trị của tội lỗi.

Đó là ngày trọng đại, vì là ngày Ngôi Lời Thiên Chúa được ban cho nhân loại. Ngài đến để mạc khải cho con người biết về Thiên Chúa, về tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Ngôi Lời Thiên Chúa đã đến để ban lời hằng sống, để dạy con người những nguyên tắc sống, giúp con người sống một cuộc đời hạnh phúc và ý nghĩa. Và Ngôi Lời Thiên Chúa đã đến, để qua lời Ngài, tội lỗi được tha thứ, quỉ dữ bị xua đuổi, và tật bệnh được chữa lành.

Đã qua hai ngàn năm ơn cứu độ được ban cho nhân loại, nhưng nhìn vào thế giới chúng ta đang sống, xem ra nhiều người con chưa mở cửa tâm hồn để tiếp nhận Chúa Kitô; chúng ta còn thấy một xã hội với đầy những vô luân, một thế giới bao phủ bởi bóng tối của chiến tranh, hận thù, bạo động. Ngày hôm nay, một lần nữa, chúng ta được nhắc nhớ Ơn Cứu Độ, ơn giải thoát của Thiên Chúa đã được ban cho nhân loại. Và vì thế, chúng ta sống trong hy vọng. Hy vọng vì giữa những tăm tối của thế giới, chúng ta tin rằng, Thiên Chúa đang ở cùng chúng ta. Không như những hứa hẹn của người đời, hứa mà không thực hiện được, lời hứa của Thiên Chúa sẽ mãi mãi trường tồn. Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa, Lời của Ngài, vẫn còn đang tiếp tục ban cho chúng ta. Và đó là niềm hy vọng của chúng ta khi mừng Lễ Giáng Sinh hôm nay.

Lm. Vũ-Nghi, CMC- NSTTDM 2005

2013

Giáng Sinh : Nụ hôn nồng nàn của Thiên Chúa
Lm. Giuse Trương Đình Hiền 12/24/2013

Giáng Sinh : Nụ hôn nồng nàn của Thiên Chúa

Bài giảng thánh lễ đêm Giáng Sinh 2013

Kính thưa Ông Bà Anh Chị em giáo dân, Kính thưa Quý Vị và các bạn ngoài Kitô giáo,

Trước hết, thay mặt cho bà con giáo dân giáo xứ Quảng Ngãi, giáo hạt Quảng Ngãi, tôi xin được trân trọng gởi đến quý vị không có chung niềm tin Kitô đang có mặt ở-đây-giờ-nầy lời cám ơn chân tình và lời chúc mừng Giáng Sinh tốt đẹp và trân trọng nhất.

Tôi muốn dành những lời đầu tiên nầy để chia sẻ cùng quý vị không cùng niềm tin với chúng tôi. Chúng tôi cám ơn quý vị, quý bạn đã đến đây để chia sẻ niềm vui Giáng Sinh với chúng tôi, để tham quan ngôi từ đường của đại gia đình kitô hữu Quảng Ngãi, để chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu trong máng cỏ, để nghe những bài thánh ca Noel, để lòng lắng đọng trước một đôi gợi ý của Kinh Thánh về huyền nhiệm đức tin Kitô,… và đối với các bạn trẻ hoặc một số người, Giáng Sinh còn mang theo cả một trời kỷ niệm, kỷ niệm của những mối tình đầu thơ mộng, mà bài hát “Hai Mùa No-en” của Ns Nguyên Vũ đã phần nào diễn tả :

Mùa Noel đó chúng ta quen bên giáo đường
Mùa Noel đó anh đón em vào tình yêu
Quỳ bên hang sâu nghe lời kinh thánh van cầu
Nhìn nhau không nói nên câu
Vì biết nói nhau gì đâu…


Với chúng tôi, những người Công Giáo của miền Núi Ấn-Sông Trà, quả thật đây là dịp duy nhất trong một năm, chúng tôi được đón tiếp quý vị như những vị khách quý để có thể chia sẻ với quý vị đôi điều về niềm tin của chúng tôi, để giới thiệu đôi nét đan thanh về Chúa Giêsu, mà với niềm xác tín của những người Kiô hữu chúng tôi, là Đấng Cứu Độ duy nhất, một Đấng mà chắc chắn quý vị còn rất mù mờ, có khi được hiểu cách lệch lạc và rất nhiều khi được thông tin với một ý đồ không mấy thiện chí, nếu không muốn nói là xuyên tạc và thù nghịch.

Đặc biệt năm nay, Năm mà Giáo Hội Công Giáo muốn các gia đình đem Tin Mừng hiện thực trong chính mái ấm của mình, tôi xin được chia sẻ cùng cônghj đoàn Kitô hữu và toàn thể quý vị một khía cạnh, một ý nghĩa đặc biệt về Chúa Giêsu và về cuộc Giáng Sinh của Ngài :

Chúa Giáng Sinh : Nụ hôn nồng nàn của Thiên Chúa.

Để minh họa cho ý nghĩa nầy, tôi xin được kể một câu chuyện nhỏ mang tựa đề : NHỮNG NỤ HÔN TRONG CHIẾC HỘP RỖNG.

Gia đình nghèo và việc chi tiêu rất eo hẹp. Nhưng cô bé lại dùng cuộn giấy gói xa xỉ đó chỉ để bọc một cái hộp đặt dưới gốc cây thông Nô-en. Người cha tỏ ra vô cùng giận dữ trước sự phí phạm của con gái. Mặc dù vậy, buổi sáng hôm sau, cô bé vẫn mang hộp quà đó tới trước mặt cha và hớn hở nói: “Cha ơi, con tặng cha món quà Giáng sinh!”. Người cha cảm thấy vô cùng bối rối bởi phản ứng thái quá trước đó của mình: Cô con gái nhỏ dù sao cũng chỉ muốn một hộp quà bọc gói thật đẹp để tặng cha. Nhưng khi mở gói quà ra, nụ cười vừa nở trên môi ông đã tắt lịm. Trước mắt ông chỉ là một chiếc hộp rỗng! Nhìn thẳng vào mắt con gái, người cha quát rất to: “Con không biết điều này hay sao? Khi con tặng quà ai đó, chắc chắn phải có gì đó bên trong gói quà!”. Cô bé nước mắt giàn giụa nhìn cha và nói: “Không, cha ơi. Chiếc hộp con tặng cha có rỗng đâu. Con đã thổi rất nhiều nụ hôn vào đó. Tất cả những nụ hôn đó con dành tặng cha mà.”...

Một thời gian ngắn sau đó, tai nạn xảy ra cướp đi cuộc sống của cô bé dễ thương. Còn người cha vẫn giữ bên mình chiếc hộp bọc giấy vàng tuyệt đẹp nhiều năm sau đó.

Và bất cứ khi nào ông cảm thấy tuyệt vọng, chán nản, ông đều lấy chiếc hộp ra và hình dung đến con gái bé bỏng yêu thương đang ôm và thơm vào má cha – những nụ hôn trong chiếc hộp ngọt ngào...

Kính thưa ông bà và anh chị em,

Phải chăng, ý nghĩa đầu tiên và sâu sắc nhất của mầu nhiệm Thiên Chúa Giáng Sinh chính là “Chiếc hộp bằng vàng chứa đựng nụ hôn tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại, cho mỗi người chúng ta”, đúng như lời khẳng định trong Tin Mừng Thánh Gioan :

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).

Vâng, chúng ta chỉ hiểu được, chỉ chấp nhận được mầu nhiệm Giáng Sinh nầy trong chiều kích TÌNH YÊU, trong ý nghĩa tình yêu.

- Giáng sinh : đó là tình yêu của Thiên Chúa

- Giáng sinh : đó là tình yêu của Thiên Chúa hiện thực trong lịch sử con người.

- Giáng sinh : đó là tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện cách trọn vẹn và hết mình.

- Giáng sinh : đó là cách thế để Thiên Chúa dạy cho con người biết thế nào là yêu thương và phải đáp trả tình yêu dành Ngài và cho nhau phải được thể hiện làm sao.

Thi sĩ linh mục Trăng Thập Tự đã cảm nhận sâu xa ý nghĩa nầy trong bài thơ Tại Sao mà xin được trích ra đây đôi dòng tiêu biểu :

Còn Ngài yêu con, Ngài đã làm người

Để có thể khóc, để có thể cười,

Để có thể chết thay con mà chuộc tội,

Và nhờ đó con hiểu thế nào là tội lỗi,

Thế nào là lòng Chúa thương yêu.

Để con hiểu ra vẽ diễm kiều

Khi được làm người, khi được làm con Thiên Chúa.

Lạy Đấng Cứu Thế, là Trời, là Tạo Hóa,

Chiều nay trên thập giá,

Chúa có ân hận đã làm người?

Con hỏi và con tự trả lời

Khi con đã biết

Ngài yêu là yêu cho đến đời đời kiếp kiếp

Lạy Thượng Đế làm người, lạy Chúa Giêsu

(Trăng Thập tự, “Có ai về Cát Minh”, Bài “Tại Sao”, tr.184-186)

Thiên Chúa vẫn tiếp tục giáng sinh trong thế giới nầy.

Tuy nhiên, trong đêm nay cũng có kẻ sẽ tự nói rằng : Giáng Sinh đó là câu chuyện huyển tưởng của bọn Kitô giáo, có liên hệ gì đến mình đâu.

Không có liên hệ đấy quý vị. Chỉ cần 6 ngày nữa, khi tấm lịch cuối cùng ngày 31 tháng 12 năm 2013 được xé bỏ để bắt đầu tờ lịch mới 1.1.2014, cũng đã nói với quý vị rầng : Ngày sinh của Chúa Giêsu mà hôm nay chúng ta mừng kính đã được chọn làm cột mốc của khởi đầu cho Công lịch. Kể từ năm sinh của Ngài đến hôm nay đã được 2013 năm.

Nhưng điều chúng ta cần dừng lại đó lại là ý nghĩa tâm linh và chiều kích nhân sinh, xã hội mà mầu nhiệm Giáng Sinh mang đến cho con người.

Chúng tại phải trở về với lời Kinh Thánh, đặc biệt sứ điệp Tin Mừng được công bố hôm nay để tìm những chỉ dẫn cho những ý nghía nầy :

Bài Tin mừng Luca, với giọng văn lịch sử mang phong cách Hy lạp, tác giả Luca đã làm bật nổi biến cố Giáng Sinh với những lời và bối cảnh thật ấn tượng : “Trong vùng ấy có những người chăn chiên sống ngoài đồng…bổng sứ thần Chúa trong vinh quang sáng láng hiện ra loan báo rằng : “Anh em đừng sợ. Nầy tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là niềm vui cho toàn dân : là hôm nay, trong thành vua Đa-vít, Đấng Cưứ thế đã giáng sinh…”

Với những lời tiên báo đó, với những sứ điệp vui mừng và hy vọng về một Đấng Cứu thế ra đời đó, quả thật loài người đã tìm được điều gì nơi Đấng Cứu Thế giáng sinh cách đây 2013 năm ?

Thật trái với mong đợi của bao khát vọng trần tục của loài người.

- Thay vì một hoàng tử sinh ra trong gác tía lầu son, Đấng Cứu Thế lại là một em bé sinh ra trong hang lừa máng cỏ.

- Thay vì một Đế vương chấp chính oai phong trên ngai vàng lẫm liệt, Đấng Cứu Thế lại được Chúa Cha giới thiệu với loài người đang khi chen lẫn giữa đám dân đen tụ tập cùng nhau sám hối bên bờ sông Gio-đan.

- Thay vì công bố giữa triều đình oai nghi những đề cương kinh tế chính trị xã hội bài bản, Đấng Cứu thế lại rao giảng một Tin Mừng “Tám Mối Phúc Thật” chỉ thích hợp cho những kẻ nghèo khổ bất hạnh.

- Thay vì chinh phạt với vó ngựa, gươm đao để mở rộng cõi bờ, sát phạt muôn dân, Đấng Cứu thế lại chủ trương “phúc cho ai xây dựng hòa bình, phúc cho ai bị bách hại vì chính đạo...”

- Thay kéo bè kết cánh với những thế lực uy quyền và giàu có, Đấng Cứu thế lại giao du thân mật với những người nghèo, kẻ bất hạnh và chọn lựa những kẻ thất học, dân chài vai u thịt bắp để làm môn sinh và xây dựng. Giáo Hội

- Thay vì đăng quang chấp chánh trên ngai vàng lẫm liệt bắt muôn dân sấp mặt cuối đầu thì Đấng Cứu thế lại chấp nhận một bản án bất công và chịu tử hình Thập Giá, một cái chết dành riêng cho hàng nô lệ, giữa những người tội lỗi…

Và phải chăng, đó chính là ý nghĩa cuối cùng của mùa nhiệm Giáng Sinh, mầu nhiệm EMMANUEL, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”.

Quả thật, sự xuất hiện và cuộc đời của Chúa Giêsu, Đấng Cứu thế mãi mãi là một thách đố để chúng ta tin nhận, là một huyền nhiệm để chúng ta đi tìm. Nếu hôm nay, chúng ta đến đây, chúng ta cử hành mầu nhiệm Giáng Sinh nầy, chúng ta tìm kiếm một “Ông Giêsu” chỉ với mục đích là được no cơm ấm áo, chỉ với một ước nguyện là được tiền tài danh vọng và những bảo đảm vật chất, chỉ với một mưu cầu là đạt được những mưu đồ chính trị…thì có lẽ chúng ta sẽ ra về trong thất vọng. Bởi vì Tin Mừng Giáng Sinh, Chân lý của Đức Kitô, con đường nhân sinh của Kitô giáo không đề nghị cho chúng ta những giải pháp trần tục đó, những hứa hẹn vật chất chóng tàn đó. Bởi vì Đức Kitô và Tin Mừng của Ngài tuyệt đối không phải là một ý thức hệ, một chủ nghĩa, một học thuyết chính trị-kinh tế, cho dù đã có không ít đề nghị, chủ trương Ngài là Nhà Cách mạng vô sản, Ngài là lãnh tụ của thành phần dân nghèo đứng lên đòi quyền giả phóng.... Bởi vì Chúa Giêsu hôm qua, hôm nay và mãi mãi duy nhất là Đấng Cứu Độ, là Đấng, như lời kinh thánh “ trong Bài đọc 2 vừa được công bố hôm nay “đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta khiến chúng ta thành dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện” (BĐ 2), là Đấng qui tụ nhân loại thành anh em trong gia đình Thiên Chúa để dẫn tất cả vượt qua kiếp sống trần gian tiến về hạnh phúc vĩnh hằng.

Tin và đón nhận Đức Ki-tô đó chính là không ngừng khám phá và gặp gỡ chính Ngài đang hiện diện thật sự trong thế giới nầy, trong nhân loại nầy, đặc biệt, Ngài hiện diện trong những con người bé nhỏ khó nghèo, bị chà đạp, bị tổn thương, bị vất bỏ bên vệ đường xã hội…

Câu chuyện trong kho tàng khôn ngoan của Ấn Độ sau đây đã phần nào diễn tả ý nghĩa nầy :

“Có một vị linh sư Ấn giáo và các môn sinh ngồi quây quần bên một bếp lửa hồng. Sức nóng của than hồng và hơi nóng của từng người làm cho căn phòng ấm hẳn ra….Nhưng bổng chốc, vị linh sư già run lập cập, môi ông bập bẹ không nói ra lời. Các môn sinh lo lắng cho sức khỏe của thầy : “Thưa thầy, chắc thầy yếu trong người, chúng con xin phép được cho thêm củi vào lò sưởi”. Trong cơn thổn thức, vị linh sư già cố gắng nói từng tiếng : “Lửa và sức nóng trong căn phòng nầy quá đủ cho ta…Ta cảm thấy lạnh là bởi vì bên ngoài có một người hành khất đang run lập cập”. Quả thật, đúng như lời của vị thầy, các môn sinh đã mở cửa và nhìn ra ngoài, và họ đã tìm thấy một người hành khất đang rét run vì đói và lạnh….Họ đưa ngươi đó vào trong căn phòng, săn sóc cho anh và từ giây phút ấy, vị linh đạo sư cũng trút bớt nổi rét run của mình...”

Kính thưa cộng đoàn và toàn thể ông bà anh chị em,

Trong năm vừa qua, chúng ta đã ghe biết và chứng kiến bao nhiêu đau thương, tệ nạn liên tiếp xảy ra trong các gia đình Việt Nam chúng ta. Từ vụ xác của chị Lê thị Huyền bị bác sĩ thẩm mỹ Cát Tường ném xuống sống Hồng Hà cho đến hành vi chém và đốt xác người yêu tại Đà Nẵng hay sự kiện người bảo mẫu hành hạ đến chết trẻ em được giao chăm sóc…thì quả thật, sứ điệp Giáng Sinh hôm nay quả thật cần thiết biết bao ! Cần thiết biết bao cuộc nhập thể giáng sinh của Ngôi Lời trong mọi cơ cấu của xã hội để hoán cải , để chữa lành, để phục sinh, như chính lời của Đức Thánh Cha Phanxicô đã cắt nghĩa trong bài huấn dụ trước lễ Giáng Sinh ngày 18.12.2013 tại Quảng trường Rôma :

“Lễ Giáng Sinh của Chúa Giêsu biểu lộ cho thấy Thiên Chúa đã đứng về phía con người một lần cho tất cả, để cứu vớt chúng ta, để nâng chúng ta dậy từ bụi đất của các nỗi bần cùng, khó khăn và tội lỗi của chúng ta. Từ đó phát xuất ra món quà vĩ đại của Hài Nhi Bếtlehem: một năng lực tinh thần giúp chúng ta không chìm sâu trong các mệt nhọc, thất vọng, buồn sầu của chúng ta; bởi vì nó là một năng lực sưởi ấm và biến đổi con tim. Thật thế việc sinh ra của Chúa Giêsu đem đến cho chúng ta một tin vui: đó là chúng ta được Thiên Chúa yêu thương vô cùng và một cách đặc biệt, và tình yêu này Ngài không chỉ làm cho chúng ta nhận biết, mà còn ban tặng và thông truyền nó cho chúng ta nữa! “

Kính thưa ông bà và anh chị em,

Trong mùa Giáng Sinh nầy chúng ta đã từng nhận được rất nhiều cánh thiệp chúc mừng Giáng Sinh cùng với những lời chúc tốt đẹp, và chắc chắn ai trong chúng ta cũng ước mơ những lời chúc ấy sẽ trở thành hiện thực. Riêng tôi, tôi ước mong anh chị em phải biến cuộc đời mình, gia đình mình, cộng đoàn mình thành Tin Mừng Giáng Sinh, thành một Quà Tặng Sự sống, quà tặng của sự trung thành và hy sinh trong mái ấm gia đình, quà tặng của yêu thương và phục vụ ở giữa cộng đoàn, quà tặng của bác ái vị tha với mọi người chung quanh, quà tặng của bao dung tha thứ dành cho những người ghét ghen đố kỵ và xúc phạm đến mình. Chắc chắn, khi có được những quà tặng như thế, chúng ta sẽ nhận được “chiếc hộp vàng đựng nụ hôn chúc phúc của Chúa Hài Nhi Giêsu”, nụ hôn của niềm vui và an bình, nụ hôn của tin yêu và hạnh phúc hôm nay để dẫn dắt chúng ta đi trót cuộc hành trình dương thế để nhận được nụ hôn của Ba Ngôi Thiên Chúa trong hạnh phúc vĩnh hằng. Bởi vì, đó chính là lời chúc mà các thiên sứ đã hát lên trong đêm Giáng Sinh đầu tiên ở Bê-lem : ”Vinh Danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người Chúa thương” ; và đó cũng chính tiêu đích của cuộc Nhập thể - Giáng sinh mà chính Chúa Giêsu đã từng khẳng định : “Ta đến để chúng được sống và sống phong phú”. Amen.

LM. Jos. Trương Đình Hiền

 

LỄ GIÁNG SINH

(Lễ Đêm)

Is 9,1-6 ; Tt 2,11-14 ; Lc 2,1-14 

BÀI ĐỌC 1 : Is 9,1-6 

          1 Đoàn dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi. 2 Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng. Họ mừng vui trước nhan Ngài như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt,như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm.3 Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gãy như trong ngày chiến thắng quân Ma-đi-an. 4 Vì mọi giầy lính nện xuống rần rần và mọi áo choàng đẫm máu sẽ bị đem thiêu, làm mồi cho lửa. 

          5 Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần  Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hoà bình. 6 Người sẽ mở rộng quyền bính, và lập nền hoà bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc của vua Đa-vít. Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh, từ nay cho đến mãi muôn đời. Vì yêu thương nồng nhiệt, Đức Chúa các đạo binh sẽ thực hiện điều đó.

 

ĐÁP CA : Tv 95 

Đ.       Hôm nay, Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho chúng ta

          Người là Đấng Ki-tô, là Đức Chúa.  (Lc 2,11)       

 1 Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, hát lên mừng Chúa, hỡi toàn thể địa cầu! 2a Hát lên mừng Chúa, chúc tụng Thánh Danh!

2b Ngày qua ngày, hãy loan báo ơn Người cứu độ, 3 kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển, cho mọi nước hay những kỳ công của Người.

11 Trời vui lên, đất hãy nhảy mừng, biển gầm vang cùng muôn hải vật, 12 ruộng đồng cùng hoa trái, nào hoan hỷ.

12b Hỡi cây cối rừng xanh,13 hãy reo mừng trước tôn nhan Chúa,vì Người ngự đến, Người ngự đến xét xử trần gian.Người xét xử địa cầu theo đường công chính, xét xử muôn dân theo chân lý của Người. 

BÀI ĐỌC 2 : Tt 2,11-14 

          11 Anh em thân mến, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người.12 Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này.13 Sở dĩ như vậy, là vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Ki-tô Giê-su là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng cứu độ chúng ta, xuất hiện vinh quang.14 Vì chúng ta, Người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta, khiến chúng ta thành Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện.

 TUNG HÔ TIN MỪNG : Lc 2,10-11 

          Hall-Hall : Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại : Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa. Hall. 

TIN MỪNG : Lc 2,1-14 

          1 Thời ấy, hoàng đế Au-gút-tô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. 2 Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Qui-ri-ni-ô làm tổng trấn xứ Xy-ri.3 Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi.4 Bởi thế, ông Giu-se từ thành Na-da-rét, miền Ga-li-lê lên thành vua Đa-vít tức là Bê-lem, miền Giu-đê, vì ông thuộc gia đình dòng tộc vua Đa-vít.5 Ông lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Ma-ri-a, lúc ấy đang có thai.6 Khi hai người đang ở đó, thì bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa.7 Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.

 

          8 Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật.9 Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng.10 Nhưng sứ thần bảo họ: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân:  11 Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa.12 Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ."13 Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:

           14 "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương."

 

BÀI SUY NIỆM 1 :

 MẦU  NHIỆM CON THIÊN CHÚA NHẬP THỂ

 

          Qua hình thức tổ chức lễ Giáng Sinh dựa vào lịch sử đời sống của Hội Thánh, Phụng Vụ đã diễn tả về mầu nhiệm nhập thể :

  Con Một Chúa Cha nhập thể, là một nhân vật lịch sử phi thời gian.

  • Ngài là Mặt Trời Công Chính.
  • Ngài sống nghèo cho ta được giàu có.
  • Ngài nâng phẩm giá con người vượt trên kiếp người.

 

I. CON MỘT CHÚA CHA NHẬP THỂ, LÀ MỘT NHÂN VẬT LỊCH SỬ PHI THỜI GIAN.

           1- Đức Giêsu là nhân vật lịch sử.

           Ngài không phải là một ý tưởng, hay lý tưởng của nhân loại, như “Thần Tài” hay “Thần Lành” trong các tôn giáo nhân gian ; Ngài cũng không phải là nhân vật thần thoại như “Con Rồng” hay “Tiên Ông” … Nhưng Ngài là con người lịch sử, sinh vào thời điểm đế quốc La Mã đang thống trị Israel, dưới triều đại hoàng đế Augúttô và Quirintô làm đặc sứ toàn quyền miền Syria đã ra lệnh mọi người phải về quê quán khai tên tuổi. Vào dịp này ông Giuse và bà Maria đã mau mắn thi hành lệnh trở về Bethlem. Khi hai người đang ở đó, thì Maria tới ngày mãn nguyệt khai hoa (x Lc 2,1-6 : Tin Mừng) ; và Ngài đã bị giết chết theo lệnh Philatô làm tổng trấn miền nam nước Do Thái (x Ga 19,12t).

           Vậy ngay từ lúc chào đời, Đức Giêsu đã dạy chúng ta phải biết tùng phục quyền bính đời (x Lc 2,2 : Tin Mừng), để mỗi người chúng ta phải nên thánh ngay trong môi trường và hoàn cảnh của mình đang sống!

 

          2- Con Thiên Chúa được sinh ra trong thời gian nhưng lại phi thời gian.

           Niên lịch của nhân loại trước thế kỷ thứ 15 chưa thống nhất :

          * Người Ai Cập, Assyri ; Babylon dùng niên lịch theo các đời vua.

          * Người Hy Lạp lấy ngày tế thần Zeus, đầu tiên vào năm 776 trước Công nguyên.

          * Người Roma tính từ ngày hai ông Romolus và Remus xây thành Roma vào năm 750  trước Công nguyên.

          * Người Do Thái tính từ ngày ông Abraham được Thiên Chúa kêu gọi khoảng 2.000 năm trước Công nguyên.

          Nói chung trước thế kỷ thứ 15, lịch thế giới không thống nhất, nên tạo khó khăn trong vấn đề giao dịch. Mãi đến thế kỷ thứ 6 (năm 525), thày dòng Denys le Petit cho biết Chúa Giáng Sinh vào năm - 754 theo lịch Roma. Đến đời Đức Giáo hoàng Grégorio XIII (1505-1583) mới quyết định lấy ngày Chúa Giáng Sinh làm mốc thời gian cho cả thế giới. Nhưng tiếc là thày Denys le Petit đã tính sai ! Vì vào năm 1912, người ta tìm thấy tấm bia ở Antiôkia xứ Pisiđia còn ghi lại rằng : lệnh khai hộ khẩu do ông Quirintô khởi xướng và ông Sentiô hoàn tất vào năm 7 và 6 trước Công nguyên. Như thế, lịch hiện hành đã tính trễ khoảng 6 – 7 năm.

           Dầu sao thì không có ai biết chính xác Đức Giêsu sinh ra vào ngày tháng nào ! Điều này Chúa muốn dạy chúng ta :

  • Đức Giêsu con người lịch sử được sinh ra, được sinh ra mà không phải được tạo thành, không lệ thuộc vào thời gian.
  • Đức Giêsu là Thiên Chúa, mà Thiên Chúa là Đấng hằng hữu, thì không có khởi sinh không có tận cùng.

 II. CHÚA GIÊSU LÀ MẶT TRỜI CÔNG CHÍNH.

           Thực ra vào thế kỷ thứ 4, lễ Giáng Sinh mới bắt đầu hình thành, tức là vào năm 350, Đức Giáo hoàng Julius I chính thức chọn ngày 25/12 là ngày mừng lễ Giáng Sinh. Lý do hoàn cảnh lúc ấy dân ngoại ồ ạt theo đạo Chúa, nhưng trước đó họ có thói quen cứ đến ngày 25/12 là đi dự lễ hội mừng ngày sinh của thần Mặt Trời. Do đó Hội Thánh Công Giáo muốn “rửa tội” cho ngày đó bằng cách nói với dân ngoại đã trở lại Đạo rằng : Muốn thờ thần Mặt Trời, thì chính Đức Giêsu là MẶT TRỜI CÔNG CHÍNH đã đến viếng thăm nhân loại. (x Lc 1,78)

 III. CON THIÊN CHÚA TRỞ NÊN NGHÈO ĐỂ TA ĐƯỢC GIÀU CÓ.

           Phúc Âm không ghi Đức Giêsu sinh ra trong hang đá, nhưng theo thánh Giustinô (thế kỷ thứ 2) thì nói Đức Maria sinh Đức Giêsu trong một hang đá. Vào thế kỷ thứ 4, hoàng đế Constantinô cho xây một vương cung thánh đường tại một hang ở Bethlem, mà theo truyền thống người ta tin Chúa Giê-u sinh ra tại đó.

           Còn việc làm hang đá ngày nay, được bắt đầu vào thời thánh Phanxicô thành Assisi : Lúc ấy người ta đã tục hoá lễ Giáng Sinh, đáng lẽ vào dịp lễ này người ta phải gia tăng cầu nguyện, nghe Lời Chúa và chia sẻ, thì họ lại tổ chức tiệc tùng, ăn uống xa xỉ và đú đỡn với nhau ! Đầu tháng 12 năm 1223, thánh Phanxicô báo trước cho mọi người là lễ Giáng Sinh năm nay không cử hành tại Nhà Thờ mà là ở một nơi khác (không cho biết trước). Mỗi tín hữu đêm ấy cầm đuốc đi theo thánh nhân vào một khu rừng vắng. Rồi thánh nhân leo lên một triền núi phẳng và cùng với mọi người dâng Thánh Lễ tại đây, ngài giảng một bài rất hùng hồn về cảnh nghèo nàn của Con Thiên Chúa vào đời, có ý dạy mọi người tránh sống xa xỉ, để có điều kiện chia sẻ vào những công việc đạo đức, hữu ích cho mọi người. Khi thánh Phanxicô đang giảng say sưa, thì thình lình Chúa Hài Đồng hiện ra ngay trên Bàn Thờ, nằm giơ hai tay, hai chân như muốn đòi thánh nhân bế. Từ điển tích này, người ta đặt tượng Chúa Hài Đồng nơi hang đá không phải là một cậu bé được quấn tã nằm ngủ ngon trong máng cỏ, mà là một Hài  Nhi nằm “giơ bốn vó !”

           Vậy “làm sao chúng ta phải trở nên giàu có như Đức Giêsu, mà vì chúng ta, Ngài đã trở nên nghèo khó, để chúng ta được giàu có nhờ sự nghèo khó của Ngài !” (2Cr 8,9) Ta phải trở nên giàu có như Đức Giêsu để có thêm điều kiện làm cho đồng loại được giàu có về Đức Tin và của cải vật chất,còn ta trở nên nghèo khó giống Đức Giêsu, đến nỗi Ngài không có nơi ngả đầu! (x Lc 9,58), vì chết trần trụi trên thập giá!

 IV. CON THIÊN CHÚA ĐẾN NÂNG PHẨM GIÁ CON NGƯỜI VƯỢT TRÊN MỌI LOÀI THỤ TẠO.

                  * Cũng vào hoàn cảnh ở thế kỷ thứ 4 (năm 440), nhóm Manisê chủ trương khinh chê thân xác con người, vì thân xác là nguồn gốc của tội lỗi !

           * Rồi đến năm 448, nhóm “Độc Tính” dạy rằng : Chúa Giêsu chỉ có một bản tính Thiên Chúa, thân xác chỉ là “ốc mượn hồn”, con người không làm được gì tốt, phủ nhận sự cộng tác của con người trong chương trình Chúa cứu độ, mà Thiên Chúa hoàn toàn làm hết cho kẻ tin Ngài !

           Để chống lại hai lạc thuyết trên, lễ Giáng Sinh Hội Thánh dạy ta phải xác tín rằng  :

  Mỗi người được Chúa ở cùng, thân xác họ là Đền Thờ đích thực của Thiên Chúa. (x 1Cr 3,16)

  1. Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa không hỏi ý kiến ai, vì chưa có ai để hỏi. Nhưng khi cứu độ con người, thì Thiên Chúa tôn trọng họ, nên Ngài hỏi ý con người ! (thánh Augustino) [x Mc 2,1-12]
  2. Khi tạo dựng Ađam thứ I, Ađam cuối cùng (Đức Giêsu), Thiên Chúa đã khắc ghi hình ảnh mình trong đó, như Lời tiền Tin Mừng Chúa đã hứa : “Miêu duệ người nữ đạp nát đầu rắn” (St 3,15). Do vậy, Ađam cuối cùng đã lãnh nhận vai trò và tên Ađam thứ I : Vì Ađam thứ I làm mất những gì tốt đẹp đã được Thiên Chúa tạo dựng theo hình ảnh Ngài (x St 1,26). Ađam trước đã khởi đầu, nhưng đi vào sự chết ; Ađam cuối cùng sống vinh phúc muôn đời. Do đó, người sau (Giêsu - Ađam cuối cùng) mới đích thực là người đầu, như chính Ngài đã nói về mình : “Ta là đầu và là cuối’’ (Kh 1,17) : Từ khởi sự cho đến hoàn tất, đều nhờ bởi Chúa Giêsu.
  3. Adam cũ được dựng nên bởi đất trinh (đất chưa ai canh tác), còn Adam cuối cùng thì được sinh ra bởi Mẹ Đồng Trinh” (Thánh Irênê). Thánh Gioan nói : “Những ai đón nhận được Ngài, thì Ngài ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa, ấy là cho những kẻ tin vào danh Ngài” (Ga 1,12). Vì vậy mà thánh Gioan Kim Khẩu nói: “Thiên Chúa làm người, cho con người được làm Thiên Chúa”. Và Chúa “không ngớt vui chơi, vui chơi trên mặt đất, đùa giỡn với con cái loài người” (Cn 8,30-31).

Nhưng ai muốn được những ơn trọng đại trên, buộc họ phải sống trong Hội Thánh Chúa Kitô. Vì Chúa chỉ muốn cứu loài người trong một đoàn chiên và một Chủ chiên (x Ga 10,1-18). Chính vì thế mà giáo huấn Công Đồng Vat. II trong Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân số 32 dạy : “Ngôi Lời nhập thể và tình liên đới nhân loại, Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu rỗi loài người cách riêng rẽ thiếu liên kết, nhưng Ngài muốn quy tụ họ thành một dân tộc, để họ nhận biết chính Ngài trong chân lý, và phụng sự Ngài trong thánh thiện” .

           Câu chuyện Đường Tăng (trích trong “Phẩm Giá Của Con Người” của Nguyễn Thái Hợp :

           “Đường Tăng Huyền Trang là một nhân vật lịch sử. Một tăng sĩ dũng cảm, thông minh, tinh tế và là một học giả uyên thâm kinh điển Phật giáo. Ông là một học giả thiên tài và nghiêm túc đã dịch rất nhiều kinh sách Phật giáo ra chữ Hán. Ông đã ghi chép cẩn thận những gì mắt thấy tai nghe trên đường đi thành tập “Tây Du Ký”.  Đây là một tài liệu giá trị về xã hội, địa dư, tôn giáo và lịch sử của Ấn-Độ thời ấy. Nhưng chẳng mấy ai đọc “Tây Du Ký” của Huyền Trang.

           Ngô Thừa Ân không sử dụng tài liệu lịch sử của Huyền Trang, mà lại hư cấu một “Tây Du Ký” khác. Dưới ngòi bút của Ngô Thừa Ân, Huyền Trang học giả biến thành một Đường Tăng khù khờ, cả tin, hơi u mê và nhiều khi từ bi không đúng chỗ. Tuy nhiên, thầy trò Huyền Trang Tam Tạng của Ngô Thừa Ân lại được nhiều người Á Đông biết đến và say mê, vượt rất xa tác phẩm và nhân vật Huyền Trang chính thức.

           Vào đầu thập niên 90, Trương Quốc Dũng đã hư cấu một Huyền Trang khác trong truyện thật ngắn mang tựa đề “Đường Tăng”. Trong lời bạt của cuốn sách “40 truyện rất ngắn”, nhà phê bình Lê Ngọc Trà nhận định sắc nét : “Truyện Đường Tăng đầy những câu văn ngắn có hồn. Chữ ít nhưng dường như chữ nào cũng sống, cũng có một âm điệu tình cảm, một không gian…”. Xin được phép trích nguyên văn truyện thật ngắn này, một trong hai truyện được giải nhất trong cuộc thi truyện rất ngắn 1993-1994 (dưới 1.000 chữ) của bán nguyệt san Thế Giới Mới :

           “Đêm cuối cuộc trường chinh đầy gian khổ, ngày mai vào yết kiến Như Lai để lên kiếp Phật, đường Tăng trằn trọc không sao ngủ được. Suốt cuộc đời tâm nguyện tới cõi này, giờ đây khi sắp trút bỏ kiếp người, ông bỗng thấy lòng day dứt. 

           “Chiều nay, thân thể Đường Tăng đã rã rời, đầu óc đầy mộng mị, tay biếng lần tràng hạt. Tâm linh như muốn níu chân dừng lại. Máu ông nhức nhối thấm lần qua tim, cứa vào qúa khứ đau xé. Ông nhớ tới những người sinh thành ra mình. Tình cha, huyết mẹ tạo nên mà bao nhiêu năm nay ông không một lần thắp hương, không một lần nhắc nhở.

           “Chặng đường dài tới đất Phật khiến trái tim ông dần chai sạn. ông đã quá nhiều lần phải lạy lục, cầu khẩn các thần lớn bé, đã qua nhiều lần dẫm đạp lên xác máu yêu ma xa gần, chỉ với một mục đích : mau thành chánh qủa. ông thương người. Nhưng đêm nay, trước ranh giới cuối cùng của cõi Người và Phật, ông chợt hiểu ra cội rễ của tình thương ấy. Mỗi lần cứu giúp con người, ông chỉ thầm tính toán như xây thêm cho mình một bậc thang tới Phật đài.

           “Nhiều lần Đường Tăng đã tự hỏi tại sao nước mắt mình ngày càng lạnh giá. Giờ đây ông thầm biết, trên con đường thỉnh kinh về cứu rỗi người đời, ông đã dần dần xa lạ với con người.

           “Ông trở mình, thở dài : không là người, ta sẽ là ai? Yêu quái cản đường, biết bao kẻ chính từ trên đây xuống, pháp thuật vô biên, ác nghiệt vô cùng. Ta nhập vào chốn ấy biết rồi thành Phật hay thành ma ?

           “Đường Tăng chợt nhói trong tim. Ông khẽ rên lên, hai tay ôm ngực. Mở mắt thấy các đồ đệ đang đứng bên giường nhìn ông âu lo. Cả ba hình như đều không ngủ.

           “Đường Tăng thở hắt : “Không sao đâu, ta chỉ chợt nhớ tới ngày xưa”. Nói rồi lại nhắm mắt.

           Nghe tiếng Ngộ Không : “Xin thầy đừng tự dối lòng. Thầy đang nhớ cả kiếp người – Đường Tăng rùng mình khi giọng Ngộ Không quá u uất – Con từ đá sinh ra. Coi thường cả thần thánh, yêu ma, chỉ mong được thành người. Thầy đã là người lại tự bỏ mình đi tìm hồn phách khác. Đêm nay sao khỏi xót xa”.

           “Bát Giới cười khẽ : “Làm người có gì vui. Chúng ta đã dốc lòng theo đạo, ngày mai được lên chốn thần tiên, sung sướng biết bao nhiêu. Thầy đừng luyến tiếc.”

           “Sa Tăng an ủi : “Thầy trò mình sắp hóa Phật, mang đạo xuống khai sáng cho loài người. Công qủa vĩ đại lắm !”

           “Đường Tăng lắc đầu, nằm im hồi lâu, hai tay vẫn đặt lên tim, mắt vẫn nhắm, nước mắt trào ra ấm nóng lại. Rồi như trăn trối : “Ta ước gì đêm nay đừng sáng. Ta đau đớn cho mười mấy năm viễn du. Ngộ Không ơi ! Một đời con mong được thành người thì bị ép phải theo ta để thành Phật. Bát Giới tự dối mình, giác ngộ thật ra chỉ là đi tìm một chốn hoan lạc mới. Sa Tăng rời cõi u mê này sang cõi hoang tưởng khác mà lại hy vọng khai sáng. Còn  ta ? Không còn là người, không phải là người thì làm sao đồng cảm mà đòi khai sáng, cứu vớt con người.” 

          “Ngộ Không sụp xuống nắm tay thầy, ngẹn ngào : “Thầy đã nhận ra chân lý. Nhưng chậm quá rồi.” 

          Truyện Đường Tăng cho ta phải suy nghĩ : Đường Tăng mong thành Phật, khi sắp thành Phật lại buồn vì không còn là người ! Mà không là người làm sao cứu được người ? Như vậy Đường Tăng thua xa Chúa Giê-su, Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là người. “Ngài đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Ngài có thể cứu giúp những ai bị thử thách !” (Dt 2,18) Và không ai có thể lên cõi Phúc (lên Trời), ngoại trừ “Đấng từ Trời mà xuống, để ai tin vào Ngài thì được sống hạnh phúc đời đời !” (Ga 3,13.15) Như vậy, muốn cứu ai ta phải có hai điều  kiện : 

  • Sống kiếp người giống như đồng loại ta muốn cứu, để ta cảm nghiệm được hoàn cảnh đau khổ của họ. Đó là lý do Đấng Cứu Thế muốn làm người như chúng ta. 

Nếu Thiên Chúa ngồi trên trời sai thiên thần đến Việt Nam, xem hoàn cảnh dân chúng sống ra sao, khi thiên thần trở về chắc chắn thưa với Chúa : “Lạy Chúa, “đầy tớ nhân dân” rất giàu có, trái lại nhân dân làm chủ lại quá nghèo khổ, bo bo không có đủ mà ăn. Chúa ngạc nhiên hỏi : “Tại sao thế, Ta không hiểu, đầy tớ lại giàu hơn chủ nghĩa là sao?” Thiên thần thưa : “Đầy tớ nhân dân giàu lắm, họ rửa tiền bằng cách đi xe hơi và uống bia ôm. Còn nhân dân làm chủ thì không ai làm chủ một tấc đất, họ chỉ có quyền sử dụng, nên họ phải đi xe ôm và uống bia hơi!” 

Nghe thế, Chúa phán : “Ta phải xuống xem sao, chứ nghe báo cáo thế thì “Tây” nó cũng chẳng hiểu nổi!” 

Vậy muốn cứu ai đạt hiệu quả cao, không nhưng ta phải giống mà còn phải hơn người ấy. 

          Nhờ ngòi bút của ông Luca, cho ta lưu ý hai lần ông viết “Hôm nay”, đặc biệt ở đầu và cuối cuộc đời Đức Giêsu : 

  • Ngày Con Đấng Tối Cao giáng trần, Thiên thần nói : “Hôm  nay, Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho chúng ta, Người là Đấng Kitô, là Đức Chúa” (Lc 2,11 : Đáp ca).
  • Ngày Con Đấng Tối Cao lìa bỏ trần thế về Trời, Ngài nói với tên trộm biết sám hối tội mình và xin theo Ngài : “Hôm nay, ngươi ở trên Thiên Đàng với Ta” (Lc 23.43). Đúng với Lời thiên thần nói với các chú mục đồng : “Này tôi báo cho anh em một Tin Mừng trọng đại : Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavid, Người là Đấng Kitô, là Đức Chúa” (Lc 2,11 : Tung Hô Tin Mừng). 

Kinh Thánh viết như thế, muốn nhấn mạnh rằng : Chúa Giê-su rất muốn đến với chúng ta từng ngày hôm nay trong suốt đời ta. Ngài không hẹn ta vào ngày khác đến gặp Ngài. Do đó, nếu mỗi người chúng ta hôm nay rộng mở cửa tâm hồn đón Chúa Giêsu Phục Sinh, khi ta dự Thánh Lễ, thì cho dù ngày hôm nay ta còn vương vấn tội lỗi mà biết sám hối, nếu Chúa lại gọi ta hôm nay ra khỏi thế gian này, chắc chắn Chúa cũng đưa ta vào Thiên Đàng ngay hôm nay, bởi vì ta không đến nỗi tồi tệ như tên trộm lành suốt đời chỉ chôm chỉa của người khác. Như thế ta không phải xuống luyện tội một thời gian để thanh tẩy mới được vào Thiên Đàng, giống như nhiều người phải thanh tẩy nơi luyện tội. Vì Chúa Giêsu cũng đã hứa : “Ai nghe Lời Ta và tin vào Đấng đã sai Ta thì có sự sống đời đời và khỏi phải đến tòa phán xét, nhưng đã ngang qua sự chết mà vào cõi sống”  (Ga 5,24). Chính vì vậy, mà thánh Phaolô nói : “Bây giờ án phạt không có nữa cho những ai ở trong Đức Kitô Giêsu” (Rm 8,1), nên “nếu Đức Kitô ở trong anh em, thì tuy thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng làm cho anh em được sống, vì anh em đã được trở nên công chính” (Rm 8,10). 

Nhất là ta dự Lễ trọn vẹn : nghe Lời và rước lễ là cách chắn chắn được Chúa ở cùng, Ngài giúp ta thắng satan, thắng tội lỗi, thắng thần chết, hơn xưa Chúa chỉ ở cùng ông Ghêđêôn qua dấu chỉ “tấm lông chiên ông phơi ngoài sân đẫm ướt sương” (x Qa/Tl 6-7), nhờ thế mà ông chiến thắng quân Mađian (x Is 9,1-6 : Bài đọc I). 

Vậy ngày hôm nay ta dự Lễ là được Chúa ở cùng, chắc chắn Ngài cho ta mạnh sức hơn ông Ghêđêon, để “Ngài giúp ta từ bỏ lối sống vô luân, hầu ta xứng đáng là dân riêng của Chúa, một dân hăng say làm việc thiện” (Tt 2,11-14 : Bài đọc II).

 

THUỘC LÒNG.

 

          Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. (Ga 3,16)

 

BÀI SUY NIỆM 2 :

 CUỘC ĐỜI LÀ HIẾN TẾ CỨU ĐỘ

          Thiên Chúa Ngôi Hai, Ngài là Đấng Hằng Hữu và Toàn Năng, nhưng Ngài chỉ trở thành Tư Tế khi được sinh ra làm người và trở thành của lễ dâng Chúa Cha sinh ơn cứu độ cho loài người, đúng với ý nghĩa danh Giêsu (Thiên Chúa Cứu Độ) đã được sứ thần Gabriel ra lệnh cho Đức Maria và ông Giuse đặt cho Ngài (x Lc 1,31 ; Mt 1,18-25).

 

          Ta biết Đức Giêsu hoàn tất Hy Lễ mới của Ngài :

 

          -     Khởi đi từ lúc nhập thể, đỉnh cao nơi thập giá.

 

  • Để mạc khải cho “kẻ bé mọn” sự khôn ngoan của Thiên Chúa.
  • Để tạo nên một dân riêng thoát ách Luật, chuyên lo việc lành.
  • Để ta theo gương Đức Maria cộng tác với Đức Giêsu hoàn tất công trình sáng tạo mà Chúa Cha đã khởi sự.
  • Con Chúa đến qua Phụng Vụ Hội Thánh cử hành để hoàn tất việc tạo dựng con người.

 1/ ĐỨC GIÊSU VÂNG LỜI SỐNG NGHÈO TỪ LÚC NHẬP THỂ, ĐỈNH CAO LÀ THẬP GIÁ.

  Ngày Đức Giêsu vào trần gian, cha mẹ Ngài phải vâng lời hoàng đế Roma về Bêlem, thành của vua Đavid mà đăng ký hộ khẩu, trong cảnh nghèo khổ : Không kiếm được chỗ trú thân trong thành, nên cha mẹ Hài Nhi phải lấy tã vấn và đặt nằm trong máng cỏ ! (x Lc 2,7). Phải chăng người ta coi Ngài như thân sâu bọ nằm trong cỏ, dựa vào lời ngôn sứ Isaia đã nói : “Dáng vẻ của Ngài không còn thuộc hạng người ta”  (Is 52,14) ; “Không duyên dáng, không oai vệ bắt chúng tôi phải để ý” (Is 53,2).

  • Nhưng còn tệ hơn, ngày Đức Giêsu lìa đời, Ngài lại phải vâng lời quyền bính Roma, tại thành của vua Đavid, để lãnh án tử, chết nhục trên thập gía ! Rồi được ông Giuse quê tại Arimathia và một môn đệ bí mật xin ông Philatô đưa xác Ngài đem đi liệm táng trong mồ ! (x Ga 19,38t) Đúng như lời ngôn sứ Isaia đã nói : “Ngài bị khinh khi, và là đồ phế bỏ của người đời!”  (Is 53,3)

 

2/ ĐỂ MẠC KHẢI CHO “KẺ BÉ MỌN’’ ĐƯỜNG LỐI KHÔN NGOAN CỦA THIÊN CHÚA.

  Ngày Ngôi Hai giáng trần, Ngài sai thiên thần đến mạc khải cho các chú mục đồng, là những “kẻ bé mọn” về dấu chỉ: Một trẻ vấn tã nằm trong máng cỏ”,để nhận ra Đấng Cứu Thế. Mà thực, chỉ có lũ trẻ ranh con này được tin mới tìm đến thờ lạy Hài Nhi Giêsu, còn hạng người tự mãn là khôn ngoan thông thái chỉ mở Sách Thánh tra tầm nơi sinh của Hài Nhi, Vua Do Thái, để chỉ điểm cho bạo chúa Hêrôđê  ra lệnh chém giết, chứ nào họ có đến thờ lạy ?! (x Mt 2)

  • Bởi vậy, cái chết của Đức Giêsu trên thập gía là cớ vấp phạm cho người Do Thái, là sự điên rồ đối với dân ngoại ; chỉ có kẻ bé mọn như ông Phaolô mới được Đức Giêsu mạc khải cho biết đó là đường lối khôn ngoan của Thiên Chúa. (x 1Cr 1,17)

 

3/ ĐỂ TẠO NÊN MỘT DÂN RIÊNG THOÁT ÁCH LỀ LUẬT, CHUYÊN LO VIỆC LÀNH.

           Ngôn sứ Isaia trong Bài đọc I đã cho ta biết trước gía trị ơn cứu độ do Đấng Cứu Thế thực hiện : “Ngài đập tan cái ách đè trên vai dân…” (Is 9,3t). Đây chính là cái ách, cái gánh nặng, cái roi của Lề Luật đặt trên nhân loại, vì “Luật chỉ làm cho ta nhận biết tội’’ (Rm 7,7),và nó “giam ta trong tội” (Gl 3,22).Chỉ có Đức Giêsu giải phóng cho “kẻ bé mọn” thoát án phạt của Lề Luật (x Gl 3,24 và Mt 11,25-30). Ai được Chúa ở cùng, người ấy được Ngài ủng hộ và bênh đỡ thắng sự ác, còn hơn xưa Thiên Chúa ủng hộ ông Ghêđêôn thắng quân Mađian để bảo vệ dân Ngài (x Tp 6). Bởi vì Ngài vừa là Đấng cao cả nhất lại trở nên thấp hèn nhất ! Ngài vừa khác ta, vì Ngài là Thiên Chúa, Ngài lại giống ta, vì Ngài là người như mọi người, ngoại trừ tội lỗi!

           - Ông Emerson nói : “Muốn quan sát một khu vực, ta phải leo lên nơi cao nhất, và còn phải xuống nơi thấp nhất.” Ví dụ : Một người muốn tham quan một địa danh để biết tường tận nơi đó, thì người ấy phải ngồi trên máy bay nhìn xuống, đồng thời họ còn phải lội qua từng dòng suối, xuống tận thung lũng sâu thẳm!

           - Còn ông P.Tillich nói : “Muốn hiểu ai, ta phải vừa giống họ, lại vừa khác họ.”

           Vậy chỉ có Đức Giê-su hiểu hết những nhu cầu, những khát vọng của ta, vì Ngài cao cả không ai bằng, cũng không ai hạ mình xuống thấp nhất như Ngài : Ngài vốn dĩ là Thiên Chúa toàn năng, lại trở nên như người nô lệ để phục vụ, thậm chí người ta liệt Ngài vào hạng tội nhân phải loại trừ!

           Để minh chứng Ngài giống ta để hiểu ta nhất, làm thỏa mãn khát vọng nên thánh của ta, thánh Phaolô nói : “Ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. … Sở dĩ như vậy, là vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Kitô Giêsu là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng cứu độ chúng ta, xuất hiện vinh quang. Vì chúng ta, Người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta, khiến chúng ta thành Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện.” (Tt 2,11-14 : Bài đọc II).

 4- TA THEO GƯƠNG ĐỨC MARIA CỘNG TÁC VỚI ĐỨC GIÊSU ĐỂ HOÀN TẤT CÔNG TRÌNH SÁNG TẠO CỦA CHÚA CHA.

           * Theo gương Đức Maria : Khi các chú mục đồng vào thành Bêlem, họ thuật lại tất cả các lời thiên thần loan báo, làm mọi người kinh ngạc – một thái độ nghi ngờ chưa tin – chỉ riêng Đức Maria thì giữ kỹ các điều ấy và hằng suy đi nghĩ lại trong lòng (x Lc 2,15-20). Thái độ của Đức Maria trước ý định của Thiên Chúa đã trở thành mẫu mực cho mọi thành phần trong Hội Thánh, để nhờ nhẫm đi nhắc lại Lời Chúa suốt đêm ngày, họ làm gì cũng thành công ! (x Tv 1,2-3)

           * Cộng tác với Đức Giêsu ngay “Hôm Nay’’ : Trong Tin Mừng của thánh sử Luca, ông đã dùng 8 lần thuật ngữ “HÔM NAY’’ để nói về ơn cứu độ Chúa ban:

  Hôm nay Đấng Cứu Thế sinh ra (x  Lc 2,11).

  1. Hôm nay Cha sinh ra Con (x Lc 3,22).
  2. Hôm nay ứng nghiệm điều tai các ngươi vừa nghe (x Lc 4,21).
  3. Hôm nay chúng ta được thấy điều kỳ lạ : Con Người có quyền tha tội (x Lc 5,26).
  4. Hôm nay và ngày mai tôi trừ quỷ và chữa lành bệnh tật, ngày thứ ba tôi hoàn tất                   (x Lc 13,32).
  5. Hôm nay tôi phải lưu lại nhà ông Giakêu  (x Lc 19,5).
  6. Hôm nay nhà này được ơn cứu độ (x Lc 19,9).
  7. Hôm nay anh ở trên Thiên Đàng với tôi (x Lc 23,43).

          Như thế, thời Cựu Ước, Chúa đã tạo dựng vũ trụ trong 6 ngày, ngày thứ 7 Ngài nghỉ ngơi (x St 1). Đó là dấu chỉ trong thời Tân Ước, vào ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, Đức Giêsu được nghỉ ngơi (an táng trong mộ), và Ngày Thứ Tám, Ngài sống lại, thì 8 lần “Hôm Nay” trong đời Đức Giêsu, Ngài lấy cả sự ác làm hoàn tất việc tạo dựng mà Chúa Cha đã khởi sự. Cụ thể Ngài đưa anh trộm lành dâng lên Chúa Cha để tôn vinh Người. Đúng là như lời thiên thần báo cho các mục đồng : “Này tôi báo cho anh em một Tin Mừng trọng đại : Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavid, Người là Đấng Kitô, là Đức Chúa” (Lc 2,11 : Tung Hô Tin Mừng).

           (Ta lưu ý : Trong Tin Mừng của Luca, còn nói đến hai lần “Hôm nay” nữa, nhưng không được kể là HÔM NAY CHÚA BAN ƠN, vì tác gỉa nói đến hình phạt đối với người từ chối Đức Giêsu : Lc 19,42 : Ngài trách người Do Thái hôm nay không biết đón nhận phúc bình an ! Lc 22,34 : Ngài báo trước ông Phêrô sẽ chối Thầy : “Hôm nay gà sẽ không gáy cho đến lúc ngươi chối ba lần là không biết Ta”).

 5- CON CHÚA ĐẾN QUA PHỤNG VỤ HỘI THÁNH CỬ HÀNH ĐỂ HOÀN TẤT VIỆC TẠO DỰNG LOÀI NGƯỜI.

           Nhờ tình thương và quyền năng lạ lùng Con Thiên Chúa đã thực hiện như đã đề cập ở trên, làm cho các chú mục đồng cùng với các thiên thần chung lời tôn vinh ngợi khen Thiên Chúa : “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (x Lc 2,14.20).

           Lời tôn vinh trên, đêm hôm nay mọi Ki-tô hữu đều cất lời cùng chung tiếng hát với các thiên thần, để nối dài và mở rộng niềm vui ơn cứu độ đã đựơc công bố cách đây trên 2.000 năm, và còn đang tiếp tục thực hiện cho tới ngày Chúa lại đến, để tập họp thêm những người thiện tâm theo Ngài đi vào vinh quang bất diệt !

           Vì khi tạo dựng Ađam thứ I, Ađam cuối cùng (Đức Giêsu) đã khắc ghi hình ảnh mình trong đó. Vì vậy Ađam cuối cùng lãnh nhận vai trò và tên của Ađam thứ I đã bỏ mất những gì tốt đẹp Thiên Chúa ban, nhất là được tạo dựng theo hình ảnh của Ngài (x St 1,26). Ađam đầu, Ađam cuối : Người trước đã có khởi đầu, Người sau sẽ tồn tại mãi mãi, vì Người sau mới thực là Người đầu, như chính Ngài đã nói về mình “Ta là Đầu và là cùng đích” (x Thánh Phêrô Kim Khẩu – Bài Giảng 117).

           Đức Kitô Giêsu xuất hiện không phải một lần, mà Ngài cứ muốn đến lần nữa, lần sau huy hoàng hơn lần trước. Thực vậy, lần I Ngài đến chịu trăm nghìn đau khổ, còn lần sau Ngài đến biểu lộ vương quyền của Thiên Chúa, vì nơi bản tính Thiên Chúa, hai lần Ngài được sinh ra : Lần I sinh ra bởi Thiên Chúa từ trước muôn đời, lần II được sinh ra do quyền năng Chúa Thánh Thần, nơi cung lòng Đức Trinh Nữ Maria. Ngài đến âm thầm như sương xuống tấm lông chiên của ông Ghê-đê-on, và lần II Hội Thánh sinh Ngài qua Bí tích Thánh Thể, như sương từ trời xuống lần II trên mảnh đất ông Ghêđêon phơi tấm  lông chiên, mà tấm lông chiên không đẫm ướt sương! Đó là dấu chỉ Chúa thúc bách ông Ghê-đê-on xuất quân chiến thắng kẻ địch Mađian giải phóng cho dân tộc ! (x Tp/Qa 6,36t). 

          Lần I, Đức Kitô Giêsu đến được Mẹ bọc tã đặt trong máng cỏ (x Lc 2,7) ; lần II Ngài đến trong bộ áo cẩm bào muôn ánh hào quang. 

          Lần I, Đức Giê-su đến vác thập giá mà chẳng hề nhuốc hổ, lần II vào ngày Quang Lâm, Ngài đến trong vinh quang, có các đạo binh thiên thần hộ tống. 

          Lần I, Ngài đến với ta qua Bí tích Thánh Tẩy, để ta được tháp vào Ngài như cành tháp vào cây, cho ta trở thành chi thể trong Thân Mình Mầu Nhiệm Chúa Giêsu Phục Sinh, còn lần II Ngài đến với ta qua Bí tích Thánh Thể, để ta được sống bằng sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa (x Ga 6,57), bảo đảm cho sự sống lại, một sự sống dồi dào và vĩnh cửu (x Ga 6,54 ; 10,10). 

          Như thế người ta được sinh ra lần I theo ý muốn xác thịt của cha mẹ, thì loài người được nhân lên và chia rộng ra ; còn lần II ta được sinh ra qua Bí tích Khai Tâm bởi ý muốn của Thiên Chúa, trong Chúa Giêsu (x Cv 2,38), thì ta lại được thu họp trong Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa Ki-tô là Hội Thánh, để ta vừa được sống bởi Chúa Giêsu, vừa được sống dồi dào bởi các chi thể trong Thân Mình Đức Kitô thông chia cho, đó là “áo cưới của Hiền Thê Tân Lang Giêsu”, thánh Gioan nói đó chính là “áo trúc bâu, là công đức của các thánh, để được mời vào dự tiệc cưới Con Chiên trong  ngày cánh chung” (x Kh 19,7-8). 

          Vậy chúng ta hãy trông chờ Đức Giêsu đến lần II quan trọng hơn lần I và bổ túc cho lần I, hầu lần II, Ngài cho chúng ta cùng cất tiếng tung hô : “Hôm nay, Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho chúng ta, Người là Đấng Kitô, là Đức Chúa” (Lc 2,11 : Đáp ca). Ta “hát lên mừng Chúa một bài ca mới,hát lên mừng Chúa hỡi toàn thể địa cầu! Hát lên mừng Chúa chúc tụng Thánh Danh. Ngày qua  ngày, hãy loan báo ơn Người cứu độ” (Tv 96/95,1-2). 

THUỘC LÒNG. 

          Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa. (Tv 95/94,7) 

http://phaolomoi.net

Lm GIUSE ĐINH QUANG THỊNH

 

BÀI CHIA SẺ LỄ GIÁNG SINH 2013 

Kính thưa quý ông bà và anh chị em! 

Chúng ta đang long trọng và vui sướng đứng trước một cử hành rất lớn của Giáo hội Công giáo hoàn vũ. Đêm nay, trên tòan thế giới, những anh chị em tin Thiên Chúa, lòng trào dâng những cảm xúc dạt dào vô tận, vì được chiêm ngắm Máng cỏ, Hang đá nơi mà Chùa Hài nhi cất tiếng khóc chào đời, bên cạnh Thánh Giuse, Mẹ Maria. 

Thật vậy, mỗi dịp Giáng sinh về, chúng ta cầu chúc cho nhau được an lành hạnh phúc. Những cánh thiệp gởi trao nhau, những món quà cho những người già yếu, một chút bánh kẹo tượng trưng cho các trẻ em, qua hình ảnh ông già noel…Tất cả là biểu cảm của tình yêu thương. Quả vậy, Thiên Chúa vì yêu thương nhân loại nên Ngài đã hạ mình, nhập thể trong thân xác một con người, một trăm phần trăm là người như chúng ta, để mời gọi anh chị em biết sống và yêu thương nhau. Chỉ tiếc rằng, thế giới hôm nay đang còn quá nhiều thù hận, ghen ghét và đố kỵ. Chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh vẫn xảy ra như cơm bữa. Tình người đang bị xơ cứng và nạn dửng dâng, vô cảm ngày một nhiều. Vừa qua, trên các trang báo Thanh niên, tuổi trẻ đều đồng loạt đưa tin: “Vụ hôi bia ở Biên hòa”, câu chuyện được kể rằng, ngày 4/12/2013 anh tài xế tên là Hồ Kim Hậu lái xe tải chở bia từ Sài gòn ra Huyện  Bắc bình  Bình thuận thì gặp nạn tại vòng xoay Tam hiệp Biên hòa. Thế là mọi người thay vì giúp tài xế thì họ xông vào hôi của, chở bia đem về nhà mình. Thật đau lòng cho con người Việt Nam ngày hôm nay, và cũng thật vô cùng xấu hổ khi tình yêu thương đồng loại đang ngày một vắng bóng. Chúa Hài nhi mời gọi con người nhìn nhận nhau là anh chị em có cùng Cha chung trên trời. Mừng Chúa Giáng sinh là thông điệp để chúng ta biết bảo vệ sự sống bảo vệ và chăm sóc các trẻ em. Cũng còn đó biết bao nhiêu trẻ thơ không được nhìn nhận và giúp đỡ. Những bào thai vô tội bị bứng ra khỏi lòng mẹ khi chưa kịp cất tiếng khóc chào đời. Những em bé bị chính cha mẹ, người thân, những bảo mẫu hành hạ và giết chết cũng vẫn thường xảy ra. Chúa Hài Nhi Giê-su nhắc nhở mỗi người sứ điệp bảo vệ chân lý chống lại những bất công bạo tàn. 

Anh chị em thân mến! năm 2014 sắp đến, năm Phúc âm hóa gia đình, hơn bao giờ hết mẫu gương gia đình Chúa Hài Đồng vẫn là một tấm gương lớn cho chúng ta noi theo và học hỏi. Sống trong một cuộc sống biến động và đổi thay, những bực làm cha mẹ phải biết cho con bú sữa đức tin, dòng sữa ngọt ngào là ân sủng của Thiên Chúa, chứ không chỉ sữa của người mẹ, hay các loại sữa được con người chế biến. Mừng Chúa Giáng sinh anh chị em hãy sống thật tình của lòng yêu thương, sự tha thứ và tinh thần trách nhiệm của những người con cái Chúa. Về trong gia đình, cha mẹ vợ chồng con cái hãy dành cho nhau những lời nói, cử chỉ và tình yêu mà chúng ta đón nhận được từ chính Chúa Hài Đồng. Cầu chúc cho anh chị em tin tưởng và nhận được ơn phúc lành từ Thiên Chúa chúng ta qua con một rất yêu dấu của Ngài là trẻ thơ Giê-su. Anh chị em hãy mời và đón tiếp những anh chị em không cùng tôn giáo đến, để chia sẻ niềm vui Giáng sinh và một năm mới dương lịch sắp đến với mỗi người chúng ta. Amen. 

Lm Giacobe Tạ Chúc

 

LỄ GIÁNG SINH

(Lễ Ngày)

Is 52,7-10 ; Dt 1,1-6 ; Ga 1,1-18

 

BÀI ĐỌC I: Is 52,7-10

 

          7 Đẹp thay trên đồi núi bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Xi-on rằng: "Thiên Chúa ngươi là Vua hiển trị." 8 Kìa nghe chăng quân canh gác của ngươi cùng cất tiếng reo hò vang dậy; họ sẽ được thấy tận mắt Đức Chúa đang trở về Xi-on.9 Hỡi Giê-ru-sa-lem điêu tàn hoang phế, hãy đồng thanh bật tiếng reo mừng, vì Đức Chúa an ủi dân Người, và cứu chuộc Giê-ru-sa-lem. 10 Trước mặt muôn dân, Đức Chúa đã vung cánh tay thần thánh của Người:ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta, người bốn bể rồi ra nhìn thấy.

 

ĐÁP CA : Tv 97

 

Đ.       Toàn cõi đất này đã xem thấy

          ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta.      (c 3cd)

 

1 Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,vì Người đã thực hiện bao kỳ công.Người chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh,nhờ cánh tay chí thánh của Người.

 

2 Chúa đã biểu dương ơn Người cứu độ, mạc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân;3ab Người đã nhớ lại ân tình và tín nghĩa dành cho nhà Ít-ra-en.

 

3cd Toàn cõi đất này đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. 4 Tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu,mừng vui lên, reo hò đàn hát.

 

5 Đàn lên mừng Chúa khúc hạc cầm dìu dặt, nương khúc hạc cầm réo rắt giọng ca. 6 Kèn thổi vang xen tiếng tù và,tung hô mừng Chúa, vị Quân Vương!

 

BÀI ĐỌC II : Dt 1,1-6

 

          1 Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ;2 nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài.3 Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật. Sau khi đã tẩy trừ tội lỗi, Người lên ngự bên hữu Đấng Cao Cả trên trời.4 Danh hiệu Người được thừa hưởng, cao cả hơn danh hiệu các thiên thần bao nhiêu, thì Người lại trổi hơn họ bấy nhiêu. 5 Thật vậy, có bao giờ Thiên Chúa đã phán cùng vị thiên thần nào: Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con hoặc là: Ta sẽ là Cha Người, và chính Người sẽ là Con Ta.6 Khi đưa Trưởng Tử vào thế giới loài người, Thiên Chúa lại nói: Mọi thiên thần của Thiên Chúa, phải thờ lạy Người.

 

TUNG HÔ TIN MỪNG :

 

          Hall-Hall : Ngày thánh đã bừng lên chiếu rọi chúng ta, muôn dân hỡi, đến mà thờ lạy Chúa. Vì hôm nay, ánh huy hoàng rực rỡ, tỏa xuống khắp cõi trần. Hall.

 

TIN MỪNG : Ga 1,1-18

 

1 Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa.2 Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. 3 Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành,và không có Người,thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành 4 ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.5 Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng. 6 Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gio-an. 7 Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. 8 Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng.9 Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. 10 Người ở giữa thế gian,và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. 11 Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.12 Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.13 Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa. 14 Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người,vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật. 15 Ông Gio-an làm chứng về Người, ông tuyên bố: "Đây là Đấng mà tôi đã nói: Người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi."  16 Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. 17 Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-sê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giê-su Ki-tô mà có.18 Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả ; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha,chính Người đã tỏ cho chúng ta biết.

         

LOÀI NGƯỜI PHẢI ĐƯỢC TÁI SINH

TRONG CHÚA GIÊSU

 

          Niềm vui ơn cứu độ khai mào từ mầu nhiệm Giáng Sinh, phải được nối dài và mở rộng nhờ :

  • Sứ giả Tin Mừng loan báo cho nhân loại đang sống trong cảnh lầm than, có Đấng Toàn Năng từ trời đến cứu giúp họ.
  • Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa đến tạo dựng và tái tạo vũ trụ cho loài người được sự sống của Thiên Chúa.
  • Ngài là ánh sáng thật đến biến dữ ra lành : Từ bóng tối bật lên ánh sáng ban sự sống.
  • Ai đón nhận được Ngài, là được Ngài tái sinh làm con Thiên Chúa.
  • Ngài cho con người được đồng hóa với Ngài.

 

1/ SỨ GIẢ TIN MỪNG LOAN BÁO CHO NHÂN LOẠI ĐANG SỐNG TRONG CẢNH LẦM THAN, CÓ ĐẤNG TOÀN NĂNG TỪ TRỜI ĐẾN CỨU GIÚP HỌ.

 

          Sứ giả Tin Mừng phải tự đặt mình trong tâm trạng của ngôn sứ Isaia, được Chúa sai đến với dân Ngài trong hoàn cảnh dân đang bị cảnh nô lệ dưới ách thống trị của đế quốc Babylon, đi loan báo Tin Mừng cho dân Chúa biết : Hãy phấn khởi vui mừng, vì Chúa dùng bàn tay ông Kyros, vua ngoại giáo giải phóng cho dân khỏi ách nô lệ, và cho dân trở về quê hương. Đặc biệt vua lấy ngân quỹ quốc gia cung cấp cho dân Chúa tái thiết đền thờ Giêrusalem (x Is 52,7-10 : Bài đọc I). Nhưng biến cố trên chỉ là tiền trưng cho ơn cứu độ Thiên Chúa thực hiện, khởi đi từ mầu nhiệm Giáng Sinh : Con Một Vua Cả trên trời uy quyền mạnh sức hơn vua Kyros, thương loài người đang chịu bao cảnh đau khổ bởi những quyền lực sự ác, nhất là các dục vọng đang thống trị tâm hồn con người. Ngài mới đích thực là Đấng giải phóng toàn diện hồn xác tất cả những ai tin theo Ngài, để tái thiết cuộc đời của họ, trở nên Đền Thờ đích thực Thiên Chúa ưa chuộng (x 1Cr 3,16), hơn đền thờ Giêrusalem thuở xưa được tái thiết bằng những vật liệu quý giá.

 

          Thánh Gioan nối tiếp sứ mệnh của ngôn sứ Isaia loan báo Tin Mừng cho cả loài người biết đón nhận Đấng Giải Phóng đích thực, đối với những tâm hồn đang khao khát sống đời hoàn thiện.

 

2/ NGÀI LÀ NGÔI LỜI THIÊN CHÚA ĐẾN TẠO DỰNG VÀ TÁI TẠO VŨ TRỤ CHO LOÀI NGƯỜI ĐƯỢC SỰ SỐNG CỦA THIÊN CHÚA.

 

          Thuở ban đầu vũ trụ này được thành hình, muôn vật hiện hữu đều tốt đẹp khi Lời Thiên Chúa phán ra (x St 1). Lời ấy hôm nay trở thành một Ngôi vị, thánh Gioan gọi là “Ngôi Lời”, Ngài chính là Thiên Chúa, Ngài xuất hiện trên trần gian để tái tạo những gì tốt đẹp do tội loài người đã làm hư hỏng, Ngài bảo tồn nó trong quyền năng và danh dự của Ngài. Không có Ngài thì không sự gì được tạo thành, điều đặc biệt đã được tạo thành nơi Ngài là sự sống thật dồi dào, cho loài người được thông dự vào sự sống phong phú của Thiên Chúa (x Ga 1,1-3 : Tin Mừng ; Ga 6,57).

 

3/ NGÀI LÀ ÁNH SÁNG THẬT ĐẾN BIẾN DỮ RA LÀNH : TỪ BÓNG TỐI BẬT LÊN ÁNH SÁNG BAN SỰ SỐNG.

 

          Trong trình thuật sáng tạo thuở ban đầu, Thiên Chúa đã tạo ra ánh sáng trước nhất (x St 1,3), để rồi từ ánh sáng đó, Chúa tiếp tục hoàn tất sáng tạo vạn vật trong vũ trụ. Khi Ngôi Lời Thiên Chúa đến tái tạo vũ trụ, Ngài không làm thêm ánh sáng vật chất, vì Ngài là ánh sáng ban sự sống, ánh sáng của Ngài mạnh hơn ánh sáng mặt trời đến viếng thăm chúng ta (x Lc 1,78). Mà ánh sáng thì không có đối thủ, ánh sáng đến tiêu diệt bóng tối : Ngôi Lời Thiên Chúa là ánh sáng đến tiêu diệt sự ác, lại biến tội lỗi của con người thành ơn huệ dồi dào hơn lòng họ mơ ước (x Rm 5,20 ; Ep 3,20). Trong khi đó, nhiều người đã lầm tưởng Gioan là Đấng Cứu Thế (x Ga 1,20 ; 3,28). Thực ra, ông Gioan chỉ đến làm chứng cho sự sáng, nếu ai gọi ông là ánh sáng, thì ánh sáng của ông chỉ như chiếc đèn (x Ga 5,35), làm sao so sánh được với Đức Giêsu còn hơn ánh sáng mặt trời (x Lc 1,78). Vì ánh sáng này làm cho những kẻ đang ngồi trong bóng tối sự chết, hướng chân họ thẳng đường bình an (x Ga 1,4-9 : Tin Mừng ; Lc 1,79).

 

4/ AI ĐÓN NHẬN ĐƯỢC NGÀI, LÀ HỌ ĐƯỢC TÁI SINH LÀM CON THIÊN CHÚA.

 

          Hết những ai đón nhận được Ngôi Lời Thiên Chúa, thì họ được Ngài tái sinh trở nên dưỡng tử của Thiên Chúa, họ được sinh ra không do khí huyết hay ước muốn của xác thịt loài  người, nhưng được sinh ra bởi Thiên Chúa (x Ga 1,10-13 : Tin Mừng).

 

          Thuở xưa Chúa dùng bụi đất mà dựng nên con người, làm sao sánh được với nghĩa tử của Thiên Chúa được sinh ra bởi xương thịt của Ngôi Lời nhập thể (x Dt 2,11).

 

5/ NGÀI CHO CON NGƯỜI ĐƯỢC ĐỒNG HÓA VỚI NGÀI.

 

          Thiên Chúa vốn dĩ là Đấng toàn năng,  nhưng khi Ngài cứu loài người, Ngài không ngồi trên trời để tỏ lòng thương hại loài người đang lầm than khốn nạn nơi dương thế, mà Con Một Thiên Chúa đã giáng trần, sống kiếp  người như mọi người, ngoại trừ tội lỗi, hầu Ngài cảm thông được những đau khổ của nhân loại. Vì Ngài lại là Đấng toàn năng, nên Ngài dư quyền để cứu độ nhân loại.

 

          Ơn cứu độ Ngài ban cho loài người một cách cụ thể là dẫy tràn ân sủng và sự thật, bởi vì “từ nguồn sung mãn của Ngài, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác”. Xưa kia Chúa ban cho dân Ngài Luật qua tay Mô-sê, đã là một ơn huệ lớn lao, không dân tộc nào có được, nhưng Luật ấy vẫn còn giam người ta trong tội lỗi (x Gl 3,22). Luật ấy chỉ có giá trị dẫn dắt người ta đến kết hợp với Ngôi Lời Thiên Chúa (x Gl 3,24), một Đấng mà chưa ai thấy bao giờ, vì Ngài là Con Một Cha trên trời hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Ngài đã bày tỏ cho chúng ta được biết Cha Ngài (x Ga 1,14-18 : Tin Mừng).

 

          Như vậy, Lời thuở ban đầu Thiên Chúa đã tạo dựng vạn vật, nay Lời ấy trở thành thịt, thành Ngôi vị cư ngụ giữa chúng ta, Ngài kêu gọi hết thảy những ai đang gánh  vác nặng nề, hãy đến cùng Ngài, sẽ được Ngài nâng đỡ bổ sức cho (x Mt 11,28), đối với những ai làm cho Lời Thiên Chúa trở thành xương thịt của mình, cụ thể là :

 

          C Đón nhận trọn vẹn Chúa Giê-su Phục Sinh qua Bí tích Khai tâm.

          C Thực hành Lời Ngài đã dạy, để đi cùng con đường Đức Giêsu đã đi (x 1Ga 2,6).

 

          Niềm vui ơn cứu độ trên đây, người ta chỉ cảm nghiệm được khi đến tham dự Phụng Vụ của Hội Thánh trong tin yêu, vì mỗi khi ta tham dự Phụng Vụ, đức tin Công giáo dạy : Ta được trực tiếp nghe Lời Con Thiên Chúa, Hội Thánh chỉ là cái loa Thiên Chúa dùng chuyển Lời đến tai ta (x Dt 1,1-6 : Bài đọc II), để “toàn cõi đất này được xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta” (Tv 98/97,3 : Đáp ca).

 

          Nhưng làm sao ta an tâm, nắm chắc khi dự Phụng Vụ, ta được nghe trực tiếp Lời Thiên Chúa phán ? Muốn thế, ta phải nghe Lời Thiên Chúa, dựa trên ba tiêu chuẩn này :

 

          a- Bài giảng phải dựa vào những nguyên tắc của Hội Thánh đã dạy, đặc biệt trong Hiến Chế Phụng Vụ của Công Đồng Vatican II :

 

                    - Hiến Chế Phụng Vụ số 24 dạy : “Trong việc cử hành Phụng Vụ, Thánh Kinh giữ vai trò tối quan trọng. Thực vậy, người ta trích từ Thánh Kinh những Bài đọc, những bài này để dẫn giải trong bài giảng”.

 

                    - Hiến Chế Phụng Vụ số 52 dạy : “Bài giảng phải căn cứ vào Thánh Kinh, để trình bày các mầu nhiệm đức tin và những quy tắc cho đời sống Ki-tô hữu trong suốt chu kỳ năm Phụng Vụ. Bởi vậy, bài giảng  rất được coi như phần chính của Phụng Vụ”.

 

                    - Hiến Chế Phụng Vụ số 35 dạy : “bài giảng thuộc phần hoạt động của Phụng Vụ, nên phải có thời gian thích hợp để giảng dạy, phải hết sức chu toàn thừa tác vụ giảng dạy đúng với nghi lễ. Tiên vàn bài giảng phải múc lấy từ nguồn Kinh Thánh  và Phụng Vụ”.

 

          b- Bài giảng không chỉ dừng ở điểm dạy thương người, đó chỉ là nhân bản. Mà bài giảng phải tiến xa lên cao hơn là làm cho người nghe nhận ra không có Chúa Giêsu đời mất hết giá trị. Bởi vì sứ mạng chính của Hội Thánh là giới thiệu Chúa Giêsu cho thế giới. Vì “ai có Chúa Giêsu thì sống, kẻ không có Chúa Giê-su là chết !” (1Ga 5,12) ; Có kết hợp với Chúa Giê-su để làm điều tốt cho đồng loại, việc ấy mới là việc của Thiên Chúa, có  giá trị cứu độ, làm vinh hiển Chúa ; trái lại, không kết hợp với Chúa Giêsu, chỉ lòng tốt của mình mà phục vụ đồng loại, đó là việc của loài người, trước sau sẽ tan biến  (x Cv 5,38-39)

 

  • Việc cắt nghĩa Lời Chúa không nghịch với truyền thống đức tin Công Giáo. Dù vị này giảng không giống vị kia, nhưng nếu thu góp các bài giảng ấy, lại làm cho ta hiểu Lời Chúa phong phú hơn, chứ không chống lại nhau. Ta biết rằng, ý nghĩa của một đối tượng rất phong phú, dường như bất tận.

 

Ví dụ : Có một người sống trên cung trăng đáp xuống trái đất, người đó lượm được một cục phấn, mà không biết nó là gì, liền đi hỏi một nhà giáo : “Đây là cục gì?” Nhà giáo nói : “Đây là phấn dùng viết bảng dạy học trò” ; Người cung trăng lại cầm cục phấn đến hỏi người nhà nông : “Đây là cục gì?” Người nhà nông trả lời : “Đây là loại thạch cao, trồng cây không được ” ; Người cung trăng lại đến hỏi nhà làm tượng : “Đây là cục gì?” người làm tượng trả lời : “Đây là loại thạch cao, nhưng loại này tôi không dùng nắn tượng được” ; Người hành tinh lại đi hỏi nhà khoa học : “Đây là cục gì?” Nhà khoa học trả lời : “Đây là kết tinh của nhiều phân tử can-xi, mỗi phân tử có dương điện tử và âm điện tử, chạy quanh một trung hòa tử.”

 

Như thế, muốn tìm ý nghĩa của một cục phấn, mà bốn người nói khác nhau, nhưng không nghịch nhau, mà chỉ làm phong phú về ý nghĩa của cục phấn. Nếu người hành tinh lười biếng, không đi hỏi nhiều người, chỉ hỏi một người nông dân về cục phấn, thì người hành tinh biết quá ít, quá nông cạn về cục phấn! Nhưng nếu càng chịu khó đi hỏi nhiều  người, thì càng giàu kiến thức về cục phấn.

 

Ấy một cục phấn ý nghĩa còn phong phú đến thế, huống chi Lời Chúa còn phong phú ý nghĩa gấp bội. Chúng ta càng chịu khó nghe nhiều vị giáo sĩ giảng Lời Chúa, chúng ta càng hiểu biết Lời Chúa phong phú hơn! 

THUỘC LÒNG 

          Từ sự sung mãn của Chúa Giêsu Phục Sinh, chúng ta lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác (Ga 1,16). 

http://phaolomoi.net

Linh mục GIUSE ĐINH QUANG THỊNH

 

Giáng Sinh 2013 –

Lễ Nửa Đêm – Ôn Cố tri Tân 

Cuộc kiểm tra đầu tiên (Lc 2:1-3): Kinh Thánh Sử Gia Eusebius* (260-340) đã nhắc tới cuộc kiểm tra này, và còn nói thêm là người Do Thái thời đó cho rằng việc kiểm tra để bắt dân chúng đóng thuế không khác hơn là Đế Quốc La Mã ra lệnh kiểm tra để đánh thuế sẽ làm cho họ trở thành như những người nô lệ, và đây cũng là khởi điểm để người Do Thái vùng lên chống lại bạo quyền.  Xã hội Hoa Kỳ cũng làm kiểm tra 10 năm một lần không phải vì để tìm người đóng thuế nhưng là để phân định lãnh thổ chính trị trong nước và theo tỷ số mà chọn những người đại diện cho dân làm dân biểu trong quốc hội, và di chuyển nguồn lợi từ thuế má để trang trải cho những phí khoản về y tế và trợ giúp người nghèo.  Người trong xã hội tự do này tuy dù phải đóng thuế nhưng người ta không phản loạn vì họ nhận thấy việc đóng thuế là một điều đương nhiên trong khi đó ở xã hội cộng sản - như ở Việt Nam - người ta phải đóng thuế, nhưng tiền thuế đó dân không được hưởng; trái lại, những số tiền đó chỉ có làm giầu cho những người thu thuế và những người này cũng phải “chung tiền” lại cho cấp trên… do đó thuế má trong xã hội cộng sản không đem lại lợi ích gì cho công chúng. 

Các mục đồng: Họ là những bần cố nông chỉ biết làm lụng để nuôi sống cho mình và gia đình họ; họ bị kềm chế mọi mặt nhất là về thuế má và không có cơ hội để vươn lên; họ là những người ngày đêm lái xe vận tải hay xe đò, những người chỉ biết làm thợ thuyền trong các công xưởng… họ không có tương lai, nhưng giờ đây họ được thiên thần loan tin là một vị cứu tinh sẽ đến để giải thoát họ trong cảnh lầm than này.  Họ rất hoan hỷ khi nghe tin đó vì lý do tại sao nữa? 

Thành của David (Lc 2:11): Vua Đavid, theo truyền thống, đã được sinh ra ở Be-Lem (nhà của bánh mì), là vị vua đầu tiên mà Thiên Chúa chọn - người tuy dù nhỏ bé nhưng đã đánh chết người lính thuộc dòng giống khổng lồ (David và Goliad) - để lãnh đạo và làm ổn định xã hội của dân Chúa nơi Đất Hứa.  Nhà của bánh này cũng có nghĩa là “Bánh Hằng Sống bở trời” để nuôi sống trần gian (Ga 6:26-58)!   

Bọc trong khăn vải sô (Lc 2:12): Vua Salomon là con của Vua Đavid đã viết trong Sách Khôn Ngoan rằng chính ông cũng đã được bọc trong khăn vải sô khi ông chào đời (KN 7:3-6); do đó, Vị Cứu Tinh mà thiên thần loan báo thuộc về dòng giõi David sẽ lên ngôi để cứu họ khỏi cảnh lầm than.  Thêm vào đó, các mục đồng biết rằng những con chiên mà họ bán để làm con vật tế sinh sẽ phải là những con chiên không tỳ ố và họ thấy những con chiên lành mạnh tốt đẹp thì họ sẽ để riêng ra để chăm sóc thì sau đó họ mới bán dược nhiều tiền… những con chiên đo sẽ được họ gói bó thật kỹ trong những vải sô như Vua Solomon đã được gói trong đó (tấm - không mịn màng như cám - nhưng vẫn còn êm ấm chứ không như vải gai khó chịu)… Chúa Giêsu cũng đã được tẩm liệm khi chết bằng tấm vải sô… Các mục đồng nghe lời các thiên thần và hiểu ngay là đứa trẻ này sẽ là con chiên làm lễ tế sinh cho họ và họ thấy mừng vui cho số phận của mình.  Số phận của bạn thế nào thì bạn đã biết… và trong cảnh trầm luân này, bạn có hy vọng gì thì hãy dâng lời nguyện xin để cho mọi ước vọng của bạn được toại nguyện, và biết thêm rằng: chúng ta chỉ biết cậy nhờ vào Thiên Chùa trong mọi sự mà thôi! 

Nằm trong máng cỏ (Lc 2:12):  Máng cỏ là chỗ để đồ ăn cho bò lừa và dê chiên.  Tuy dù là nơi để nuôi thú vật, Đấng Cứu Tinh này nằm trong máng cỏ cũng là biểu tượng của ơn từ Trời để nuôi sống mọi loài trên trần gian; do đó, khi Chúa Giêsu nói: “Ta là Bánh Hằng Sống, là bánh ban phát từ trời…” (Ga 6:26-58), lời này mang ý nghĩa rất sâu đậm mà các mục tử là những kẻ tin đã hiểu ngay về tin vui này và họ đã tấp tốc đi tìm Đấng Cứu Tinh mà thiên thần đã báo cho họ.  Xin bạn hãy cùng vui với tôi, và chúng ta đi tìm Chúa Giêsu Đấng cứu Tinh cho đời mình theo lời của thiên thần loan báo.  

Nguyện xin lời của thiên thần và chứng nhân của các mục tử sẽ làm cho anh chị em vui mừng khi chúng ta đón mừng Lễ Chúa Giáng Sinh 2013! 

LM JP Vũ Minh 

* Eusebius (260-339): http://www.ccel.org/ccel/schaff/npnf201.iii.vi.v.html.

 

************************* 

Christmas 2013 – Midnight Mass – Review the Past in order to Fathom our Present 

The first census (Lk 2:1-3): Biblical Historian Eusebius* (260-340) mentioned about this census, and stated further that the Jews at that time considered that this census would have made them slaves to the Roman Empire through taxation, and it had became the source for many Jewish’s revolts against the oppressive Roman Empire later on.  The American Government has also conducted a census every 10 years not for taxation but for political reason, i.e. to determine the number of representatives in the House (of Representatives) who would represent their people equally among the populace as well as to properly divide the intake from its taxation for monetary distribution in order to support medical subsidy and to help the poor.  People in this democracy have recognized that this taxation was a reality and they have not revolted; meanwhile in Communist society such as Vietnam, people have to pay taxes, but the collected amount only benefited the collectors and these agents - in turn - used this money to pay their superiors for the amount they have collected… taxation in Communist society have not brought any benefit tho its people.    

The shepherds: They were the lowly peasants who only knew to work in order to feed themselves and their families; they had been always living under the oppressive regime and had to pay taxes but had no future; nowadays, they could be the truck drivers or people working in assembly lines… with the announcement from the angel that a New Savior will come to save them from misery, they had enthusiastically gone to welcome Him.  Were there any other reasons? 

Town of David (Lk 2:11): King David was born in Bethlehem (house of bread), the first king chosen by God - a man small in stature but defeated the giants (David vs. Goliath), he had lead God’s people into an orderly society in the Promised Land.  The house of bread also signified that Jesus is the “Bread from Heaven” to feed the world (Jn 6:26-58). 

Wrapped in swaddling cloth (Lk 2 12): King Solomon, son of King David, wrote in the Book of Wisdom, that he was wrapped in swaddling clothes at his birth (Wis 7:3-6); therefore, the Savior, whom the angel announced, will take control to save them from their misery… Moreover, the shepherds knew from their profession that the newborn and un-blemish lambs must be wrapped in swaddling material and tended to maturity in order to be sold with good price in the temple’s market for sacrificial offering… the swaddling cloth (not as soft as linen but also not coarse as burlap, swaddling cloth would durable and yet comfortable) also would be the cloth being used to wrap the Savior’s body at Hid death before the burial… the shepherds understood immediately that this child will be their sacrificial offering for their sins and they had rejoiced to hear this announcement.  You have known about you present life situation… in our own condition, let us come to Our Lord and Savior, Jesus Christ, and pray that your dream for a better future may be realized, knowing that we only can rely on God for everything as the shepherd did.    

Laid in a manger (Lk 2:12): Manger was the feed trough for livestock.  The new Savior who was laid the manger would be the one who will feed the whole world and the shepherds, knowing their own desolated condition, have welcomed this announcement with great joy.  As we remember the word of Our Lord Jesus: “I am the bread of life, coming from heaven…” (Ga 6:26-58), this word must be taken to our heart as the shepherd had received and they immediately had rushed to welcome the Savior after the angel’s announcement.  Please join me as we come to the manger in order to find Our Lord and Savior, Jesus Christ, according to the angel’s message. 

May the word of the angel and the shepherds’ testimony bring us joy and help us find Our Lord Jesus this Christmas 2013!

Rev. JP Minh Vũ 

* Eusebius (260-339): http://www.ccel.org/ccel/schaff/npnf201.iii.vi.v.html.

 

VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRỜI, BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO NGƯỜI THIỆN TÂM

.. Cha Sở lui cui rút giây điện, vì nước trong ấm đã sôi. Chỉ còn 4 tiếng đồng hồ nữa là đúng Nửa Đêm, Cha sẽ cử hành Thánh Lễ Giáng Sinh cho các tín hữu. Nhưng trước đó, Cha sẽ ngồi tòa giải tội cho họ.

Trời Đêm Giáng Sinh (ở Ba Lan) lạnh buốt. Bên ngoài tuyết rơi và gió thổi mạnh. Cha Sở mặc đến mấy lớp áo mà vẫn run lập cập. Cha lấy trà ra pha để uống cho ấm bụng và tỉnh táo. Vừa loay hoay, Cha vừa lẩm bẩm một mình.

Thật ra Cha Sở vẫn có thói quen nói một mình. Bà bếp giải thích với các cụ bà trong giáo xứ - vốn tò mò muốn biết Cha Sở nói chuyện với ai - rằng:
- Ngài nói chuyện với Thánh Thiên Thần Bản Mệnh của ngài ấy mà!

Từ khi lời đó tung ra, bỗng trở thành sự thật nơi Cha Sở .. Đêm nay cũng thế, một mình trong nhà xứ vắng lặng và lạnh lẽo, chống cự với đôi mi nặng trĩu, Cha Sở thưa chuyện với Thánh Thiên Thần Bản Mệnh:
- Nếu đúng như lời bà bếp nói, thì xin Thánh Thiên Thần pha trà cho con đi! Phần con, mệt đến ngất ngư! Mà chút nữa đây, con phải đủ sức để ngồi tòa giải tội và dâng Thánh Lễ cho các tín hữu!

Cha Sở đứng bật dậy, vươn vai cho giãn xương cốt và nói tiếp một mình:
- Can đảm lên nào! Con không biết là người ta đang đợi con sao? Rồi biết đâu sẽ vồ được con mồi lớn, vì, Đêm Nay không giống bất cứ đêm nào khác!

Bỗng một tiếng nói hung dữ và đe dọa, phát ra từ sau lưng Cha Sở:
- Ông nói chuyện với ai thế? Ai đang ở trong nhà với ông đây?

Cha Sở giật mình đánh thót một cái! Thì ra có kẻ lẻn vào nhà xứ mà không báo hiệu trước .. Cha lấy lại bình tĩnh và nhã nhặn trả lời:
- Tôi nói chuyện với Thánh Thiên Thần Bản Mệnh của tôi đó, chứ không có ai khác đâu! Ông muốn tôi làm gì nào?

Viên công an dằn mạnh từng tiếng:
- Thôi ông ơi, đừng có đùa cợt! Tôi cho ông thời giờ dọn va-li, trong khi đó tôi sẽ làm một vòng kiểm soát cặn kẽ nhà xứ.

Nhìn gương mặt hầm hầm sát khí, Cha Sở nhận chân tất cả thảm trạng đang xảy ra. Cha không lo cho bản thân, cho bằng nghĩ đến số phận của chính đoàn chiên, vào một Đêm trọng đại như Đêm nay, Đêm Chúa Cứu Thế sinh ra!

Cha Sở tìm lối, thoát khỏi hiểm nguy. Cha cất tiếng mời:
- Anh có muốn một tách trà nóng không?

Người công an trẻ tuổi tỏ dấu do dự, vì kỷ luật đảng nghiêm cấm nhận lời dùng bất cứ thức gì nơi nhà thường dân .. Nhưng đêm nay trời thật lạnh, vã lại, chàng lẩm nhẩm:
- Đêm Nay không giống bất cứ đêm nào khác!

Nghĩ thế, nên chàng đáp cộc lốc:
- Muốn!

Nhanh như chớp, Cha Sở đút lại giây điện. Vừa dọn tách, đường và bánh ngọt, Cha vừa kín đáo theo dõi. Đôi mắt chàng đang đảo quanh một vòng và ngừng lại thật lâu nơi giỏ đựng bánh mì không men. Đây là loại bánh các tín hữu Công Giáo Ba Lan có thói quen chia sẻ với nhau vào buổi chiều Vọng Lễ Giáng Sinh, như dấu chỉ cầu chúc An Bình và Tình Huynh Đệ. Chàng công an như chìm vào dĩ vãng xa xôi của ngày thơ trẻ, khi còn là tín hữu Công Giáo ngoan đạo ..

Cha Sở cất tiếng kéo chàng ra khỏi giấc mộng:
- Anh muốn chia sẻ với tôi bánh mì không men không?

Chàng giật mình như bị đi guốc trong bụng. Chàng lúng túng trả lời:
- Chắc hẳn ông cũng như mọi người đều coi tôi như quái vật?

Cha Sở hiền từ đáp:
- Quái vật ư? Không! Đúng ra là người đáng thương vì nghĩ rằng không ai thương mình!

Chàng công an cay cú:
- Như vậy ông muốn thuyết phục tôi nghĩ rằng mình là người dễ thương, phải không?

Cha Sở đáp:
- Đúng thế và còn hơn thế nữa. Tôi có thể cả quyết rằng: THIÊN CHÚA yêu thương anh. Ngài yêu thương anh cách đặc biệt!

Viên công an tức giận nhảy chồm lên:
- Ông chế nhạo tôi phải không?

Cha Sở chậm rãi nói như rót mật vào tai:
- Không! Chính vì những hạng người xấu như anh và tôi mà có ĐÊM GIÁNG SINH. Đức Chúa GIÊSU xuống trần để gánh lấy tội lỗi chúng ta. Nếu chúng ta bằng lòng trao tội lỗi cho Người, thì có nghĩa là GIÁNG SINH: Chúa sinh ra trong lòng chúng ta và sinh ra trên thế giới. Đây chính là HÒA BÌNH cho người thiện tâm, là mầu nhiệm Con THIÊN CHÚA giáng trần! Điều quan trọng là phải chấp nhận Món Quà Giáng Sinh của Đức Chúa GIÊSU Hài Đồng.

Chàng công an trẻ tuổi lặng lẽ nghe Cha Sở nói. Như hồi tỉnh khỏi một cơn ác mộng, chàng nhỏ nhẹ hỏi:
- Nếu bằng lòng chấp nhận, con phải làm gì?

Cha Sở vui mừng đáp ngay:
- Chúa ơi, thì anh phải xưng tội tức khắc!

Và phép lạ Đêm Giáng Sinh đã xảy ra. Chàng công an thật lòng thống hối, dọn mình xưng tội. Sau đó chàng theo Cha Sở ra nhà thờ xưng tội và tham dự Thánh Lễ Đêm Giáng Sinh với các tín hữu Công Giáo đạo đức ..

(Câu chuyện xảy ra vào Đêm Giáng Sinh nơi xứ đạo nhỏ bên nước Ba Lan trong thời kỳ Ba Lan sống dưới ách thống trị của đảng cộng sản vô thần).

... Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ: ”Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một Tin Mừng trọng đại, cũng là Tin Mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng KITÔ THIÊN CHÚA. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”. Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen THIÊN CHÚA rằng: ”Vinh danh THIÊN CHÚA trên Trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”.
Khi các thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: ”Nào chúng ta sang Bêlem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết”. Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp Bà MARIA, Ông GIUSE, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên. Còn Bà MARIA thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng. Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng THIÊN CHÚA, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ (Luca 2,8-20).

(Maria Winowska ”Les Voleurs de Dieu”, Editions Saint Paul, 1989, trang 11-18)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

 

TIN MỪNG TRỌNG ĐẠI: MỘT ĐẤNG CỨU ĐỘ ĐÃ SINH RA!

... Chị Emmanuelle Cinquin - tục danh Madeleine Cinquin - là nữ tu dòng Đức Bà Sion (Notre Dame de Sion), một hội dòng chuyên về ngành giáo dục. Chị chào đời ngày 16-11-1908 tại thủ đô Bruxelles bên vương quốc Bỉ và qua đời ngày 20-10-2008 tại thành phố Callian ở miền Nam nước Pháp. Thân mẫu Chị người Bỉ và thân phụ Chị người Pháp.

Năm 1971, Chị từ giã ghế giáo sư triết học để dấn thân hoạt động bên cạnh những người nghèo, chuyên sống nghề bới rác, tại khu ổ chuột ngoại ô thủ đô Le Caire của nước Ai Cập. Nhật báo Le Figaro (Người Thợ Cạo) ngày vọng Lễ Giáng Sinh 24-12-1995 có đăng chứng từ của Chị Emmanuelle về dấu chỉ Hy Vọng của Lễ Giáng Sinh như sau.

Tôi nghe đây đó vang lên những câu nói bi quan: ”Giáng Sinh là lễ của Hy Vọng thật sao? Với tất cả những vấn đề khó khăn hiện tại, nạn thất nghiệp lan tràn, nền tài chánh eo hẹp và rạng đông 1996 báo hiệu một năm mới đen tối, thử hỏi Giáng Sinh có còn Lễ của Hy Vọng nữa không?”. Mặc dầu nghe than van như thế, tôi vẫn cứ quả quyết rằng: ”Vâng, Giáng Sinh chính là Lễ của Hy Vọng, bởi vì, Lễ Giáng Sinh nối kết chúng ta chung quanh một Hài Nhi”. Mỗi một hài nhi sinh ra tượng trưng cho cánh cửa mới, bước vào cuộc sống. Cho dù cuộc sống có đầy dẫy những đắng cay chua xót, bệnh tật và sau cùng là chết chóc, cuộc sống vẫn mang nặng gánh Hy Vọng. Chúng ta đâu phải là những tên thầy bói, chuyên nghề tiên báo những sự chẳng lành! Không! Chúng ta tiếp nhận một hài nhi sinh ra bằng đôi tay rộng mở, ôm ấp hài nhi vào lòng và chờ đón nụ cười của hài nhi. ”Nụ cười của hài nhi là sứ điệp Hy Vọng: hài nhi tin tưởng và phó thác”.

Ước gì tất cả chúng ta có thể trở nên như con trẻ, giơ tay chờ đón cái vuốt ve âu yếm và sẵn sàng trao ban sự dịu dàng. Xét cho cùng, những người trẻ, người lớn và người già, tất cả chúng ta chờ đợi mong mỏi cái gì, nếu không phải là được sống trong bầu khí yêu thương đầm ấm? Về điểm này, chúng ta cũng giống như một trẻ thơ. Niềm hạnh phúc của một đứa trẻ không phải là được bơi lội trong các lạc thú nhưng là được sống trong hơi ấm của tình thương và lòng trìu mến. Tôi đã từng gặp những đứa bé nằm trong đống giẻ rách nhưng khuôn mặt đầy nét tươi vui cũng giống y như những đứa bé nằm trong các chiếc nôi sang trọng giàu có. Chỉ cần một nụ cười, một cái vuốt ve và nụ hôn, đủ làm cho đứa bé hài lòng sung sướng!

Đây là bài học Hy Vọng mà hang đá Giáng Sinh cống hiến cho chúng ta: niềm hạnh phúc trong sự trần trụi, một Trinh Nữ nghèo sinh con trong một hang bò lừa, một Hài Nhi được đặt trong máng rơm .. có thêm sự hiện diện của vài ba mục đồng nghèo nàn, đơn sơ giản dị. Nhưng tất cả khung cảnh đó được chìm ngập trong ánh sáng chan hòa chen lẫn các bài ca tươi vui.

Tôi cũng được hân hạnh mừng một Lễ Giáng Sinh đẹp và ý nghĩa nhất trong khung cảnh khó nghèo như thế. Hồi năm 1975, tại khu ổ chuột ở ngoại ô thủ đô Le Caire bên Ai Cập, người ta không cử hành Lễ Giáng Sinh nữa. Tôi liền đến gặp Đức Thượng Phụ Chenouda và xin ngài chỉ định một Linh Mục đến dâng Thánh Lễ Nửa Đêm. Tin vui được lan ra. Mọi người hăng hái quét dọn rác rưởi. Một vài miếng giẻ rách màu mè được giăng lên. Ngọn đèn bằng dầu được thắp sáng, soi chiếu đủ một khu vực nhỏ. Mỗi người cầm trong trong tay một cây nến và mọi khuôn mặt trông như đẹp hơn ngày thường. Khi tiếng hát Giáng Sinh được cất lên: ”Đấng Cứu Thế đã sinh ra” tức khắc mọi con vật giật mình thức giấc: lừa kêu be-be, heo kêu ủn-ỉn, gà cồ gáy ò ó o o .. gà mái kêu tục-tác, tục-tác .. Thật là một bản nhạc vô cùng độc đáo.

Vị Linh mục cử hành thánh lễ Giáng Sinh không cần phải dài lời. Ngài chỉ vắn tắt giải thích câu: ”Vinh danh THIÊN CHÚA trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Nếu Đức Chúa GIÊSU giáng trần lần nữa, hẳn Ngài sẽ đến đây mang theo Sứ Điệp Tình Yêu của Ngài. Vậy chúng ta hãy cất tiếng hát vang chúc tụng THIÊN CHÚA.

Thánh lễ Giáng Sinh kết thúc, tôi phân phát cho mỗi người một trái quít và một chiếc bánh ngọt nhỏ. Mọi người ôm hôn và chúc bình an cho nhau. Xong, mỗi người về túp lều nhỏ của mình, lòng đầy ắp Niềm Vui Giáng Sinh!

Niềm Vui Giáng Sinh không đến từ bữa tiệc Giáng Sinh có đầy thức ăn mĩ vị, nhưng đến từ sự kiện mọi người cùng nắm tay nhau hát vang lời ca Giáng Sinh, chung quanh máng cỏ có Đức Chúa GIÊSU Hài Đồng: ”Một Hài Nhi đã sinh ra cho chúng ta. Một Người Con đã được ban tặng cho chúng ta”.

... Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ: ”Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một Tin Mừng trọng đại, cũng là Tin Mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng KITÔ THIÊN CHÚA. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”. Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen THIÊN CHÚA rằng: ”Vinh danh THIÊN CHÚA trên Trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”.
Khi các thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: ”Nào chúng ta sang Bêlem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết”. Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp Bà MARIA, Ông GIUSE, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên. Còn Bà MARIA thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng. Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng THIÊN CHÚA, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ (Luca 2,8-20).

(”Le Figaro”, 24-12-1995)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

CA DAO GIÁNG SINH

À ơi… Con Chúa ngủ đi

Ngoài kia sương, tuyết, gió lùa lạnh run

À ơi... điệp khúc hồng ân

Ngủ đi, Con Chúa, cứu nhan trần này

Bao người vương kiếp đọa đày

Chờ Con cứu độ, vui vầy bình an

À ơi… Con Chúa đơn thân

Kìa mục đồng đến đứng bên chiên, lừa

Lạy thờ, cảm tạ, ngợi ca

Vinh danh Thiên Chúa, an hòa chúng nhân

Hòa cùng muôn vạn thiên thần

Trên cao cất tiếng hân hoan kính mừng

À ơi… vô thủy vô chung

Lòng thương xót Chúa vô cùng thương yêu

À ơi… Tình Chúa ngọt ngào

Những kẻ khó nghèo được cứu đêm nay

Hoa Công Lý nở đó đây

Bình an thắm sắc, tròn đầy Giáng Sinh

À ơi… ai vướng tội tình

Hãy luôn tín thác chân thành ngày đêm

Giêsu mặc xác nhân phàm

Để cứu ai lầm lạc bước trần ai

ÊM đềm Đức Mẹ ngọt lời

Ru Con Chúa với cả đời nhân gian

Tạ ơn Con Chúa giáng trần

Đồng hành sẻ chia mọi phần khổ đau

Kiếp người lạc lối bể dâu

Phúc thay Con Chúa dạt dào hồng ân

Giáng Sinh – sóng lộc triều nguyên

Lòng thương xót Chúa vô biên muôn đời

TRẦM THIÊN THU

Chuẩn bị đón Chúa Giêsu giáng trần, 24-12-2013

Chúa không nhà
Giáng Sinh gợi những suy tư
Vì Giêsu hóa Hài Nhi khó nghèo
“Thầy yêu chúng con, lời ai nói cho cùng. Thầy yêu chúng con, Thầy sinh xuống gian trần. Thầy yêu chúng con, Thầy ban trót thân mình, để nuôi chúng con ngày lưu ký trần gian”. Đó lời điệp khúc trong bài Thánh ca “Niềm Tâm Sự” của Lm Ns Kim Long. Vâng, Tình Chúa thật tuyệt vời! Lòng Chúa thương xót quá bao la! Xin muôn đời cảm tạ Đại Sư Giêsu!
Giáng Sinh rất lạ. Lạ đủ thứ. Lạ từ nội tại tới ngoại tại. Giáng Sinh năm nay, Saigon lạnh hơn những năm trước. Có lẽ lâu rồi người Saigon mới lại cảm nhận được cái lạnh như thế, dù không lạnh lắm. Nghe nói cái lạnh ở miền Bắc, nhất là vùng Sapa, mới thực sự buốt da thấu thịt, thế nên người ta gọi là giá lạnh. Việt ngữ hay thật, cái “giá” này mới… “đáng giá”, chứ cái “lạnh” chưa thấm thía vào đâu.
Cái lạnh ngoại tại khiến tôi nhớ tới cái lạnh tâm hồn, cái lạnh linh hồn, cái lạnh tâm linh. Loại lạnh này thật khủng khiếp – có lẽ phải gọi là “giá băng”.

  • Lạnh tâm hồn hoặc lạnh cõi lòng là cái giá lạnh của những người cô độc, mồ côi, neo đơn, thất vọng, bị người khác xa lánh, ghen ghét,... Họ không có ai để chia sẻ, mà có chia sẻ cũng chẳng ai quan tâm. Khổ tâm thật!
  • Lạnh linh hồn là cái lạnh của những người khôn khan, nguội lạnh, tội lỗi, niềm tin lung lay,... Đáng thương thật!
  • Lạnh tâm linh là cái lạnh của những người vô cảm trước nỗi khổ của người khác, như ông Simon “dè bỉu” người-phụ-nữ-tội-lỗi khi cô này xức dầu thơm chân Chúa Giêsu (Lc 7:36-50), như Thầy tư tế và Thầy Lê-vi không hề chạnh lòng thương xót “người lân cận” mà cam tâm bỏ mặc nạn nhân sống dở chết dở (Lc 10:30-37), hoặc như người Pha-ri-sêu “chảnh” ngay khi cầu nguyện tại Đền thờ (Lc 18:10-14).

Tin Mừng theo Thánh sử Mát-thêu có trình thuật về cảnh Phán Xét Chung: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han” (Mt 25:34-36).
Giáng Sinh về mà đọc trình thuật này, có lẽ nhiều người cho rằng “lệch pha”. Nhưng không phải vậy. Không “lệch pha” vì sao? Vì Giáng Sinh là lời mời gọi yêu thương – yêu thương bằng cả tâm hồn và hành động cụ thể. Trình thuật này rất cụ thể về Đức Ái Kitô giáo.
Trình thuật Mt 23:34-40 là đoạn Kinh Thánh đã gợi hứng cho điêu khắc gia Timothy P. Schmalz (sinh 1970) tạc một pho tượng đồng lớn bằng người thật (2,5m), nằm co ro và trùm chăn kín mít, nhưng đôi chân thò ra ngoài và có dấu đinh. Thì ra đó là Chúa Giêsu vô gia cư, tứ cố vô thân!
Sau hai năm bị nhiều nơi từ chối, bức tượng “Homeless Jesus” (Chúa Giêsu Không Nhà) đã được “dừng chân” và “cư ngụ” tại Quảng trường Thánh Phêrô vào dịp Giáng Sinh năm nay – 2013. Ý tưởng của Timothy Schmalz thật sâu sắc và độc đáo. Bức tượng “Chúa Giêsu Không Nhà” của Timothy Schmalz là tiếng chuông cảnh báo mỗi chúng ta về việc thực hành đức ái sao cho đúng nghĩa, đúng ý Chúa.

ĐGH Phanxicô là “người của dân nghèo”, sống tinh thần của Thánh khất sĩ Phanxicô Assisi (Vị sáng lập Dòng Phanxicô, Dòng Anh Em Hèn Mọn). ĐGH Phanxicô rất thích bức tượng này, ngài đã cầu nguyện trước bức tượng và đã làm phép bức tượng “Chúa Giêsu Không Nhà” của nghệ sĩ Timothy Schmalz.
Khi phán xét, nếu chúng ta được đứng bên “chiên”, chúng ta sẽ được trực tiếp nghe Thẩm phán Giêsu Kitô xác định: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25:-40). Nhưng nếu chúng ta bị đứng bên “dê”, và cũng chính chúng ta trực tiếp nghe bản án của mình do Thẩm phán Giêsu Kitô tuyên bố: “Mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy” (Mt 25:45). Thật khốn thay!
Nguyện xin cho mọi người được bình an đích thực trong đêm Con Chúa giáng sinh nhờ thể hiện Đức Ái. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Saigon, ngày 24-12-2013

 

December 24, 2013

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)