Chúa Nhật 3 Mùa Vọng -năm A
 
 


Ngài là Đấng Kitô phải đến
Mt 11,2-11

Chúa nhật 3 Mùa Vọng hôm nay quả quyết với chúng ta rằng: Đấng Cứu Thế mà mọi người đang mong đợi phải đến, và chúng ta không còn cần phải mong đợi một Đấng nào khác nữa. Chính Ngài là Đấng mà tiên tri Isaia đã tiên báo: "Chúng ta sẽ nhìn thấy vinh quang huy hoàng của Chúa. Chính Ngài sẽ đến và cứu độ chúng ta" (Is 35:2,4). "Chính Ngài sẽ làm cho nơi hoang địa cằn cỗi nở bông" (Is 35:1). "Ngài sẽ mở mắt người mù, cho người điếc được nghe, người què nhảy như nai" (Is 35:5-6). Phải, chính Đấng ấy đã đến và đã tỏ cho môn đệ của Gioan những phép lạ Ngài đã làm đúng hệt như tiên tri Isaia đã nói ở trên: "Người mù được thấy, người què đi được, người phong hủi được khỏi, người điếc được nghe" (Mt 11:5). Và hơn thế nữa Ngài còn làm những phép lạ phi thường mà duy chỉ Thiên Chúa mới có thể làm: "cho kẻ chết sống lại và những người nghèo khó được nghe báo Tin Mừng" (Mt 11:5). Như vậy để trả lời và đồng thời để chứng minh cho các môn đệ Gioan cũng như chúng ta rằng "Ngài quả là Đấng Kitô phải đến và đã đến không còn cần phải mong đợi một Đấng nào khác".

Ngài đã đến và sẽ còn đến một lần nữa với từng người và với tất cả chúng ta vào giờ chết và vào ngày thế mạt. Để đón chờ Ngài sẽ đến lần thứ hai đó chúng ta hãy thực hiện lời thánh Giacôbê khuyên trong bài đọc 2: "Hãy vững lòng, hãy kiên nhẫn và chịu đựng trong gian khổ" (Jac 5:7,10). Hãy sống bác ái "đừng kêu trách lẫn nhau" (Jac 5:9).

Thánh Phanxicô Xaviê Cần trong khi đón chờ ngày Chúa đến, giờ tử đạo, đã sống lời khuyên của Thánh Giacôbê. Ngài kiên nhẫn vững lòng chịu gian khổ trong giam cầm tra tấn dữ dằn đến nỗi quan huyện Thanh Oai phải chịu thua mà nói với ngài: "Ta đã làm hết sức để gỡ tội cho ông mà ông chẳng nghe. Vậy ta đặt tên cho ông là Ông Lì". Những người bên lương cũng phải khen: "Ông này có gan thánh gan thần. Mới có bấy nhiêu tuổi mà đã khôn ngoan quả quyết". Ngài cũng không oán trách ai nhưng bác ái và tha thứ cho cả những kẻ làm khổ ngài: "Đừng than khóc về cái chết của tôi. Nhưng hãy vui với tôi vì tôi được đến gần Chúa tôi. Đừng than trách những người đã bắt bớ tôi, vì qua bàn tay họ mà tôi được ơn cao cả ngày" (Dòng Máu Anh Hùng).

Lạy Chúa, tuần này con quyết tâm sống nhịn nhục hoà nhã bác ái với mọi người dù có gặp khó khăn trái ý để đón chờ Chúa đến như Thánh Phanxicô Xaviê Cần.

Lm. Tiến Huân - NS_TTDM 2007

Cùng Chúa Vào Đời kính gởi tới quý vị những thao thức suy tư

1. Đấng cứu độ vắng mặt ở đời này.       

Lung Linh
2. Đấng Mesia giả dạng giữa chúng ta.      
Anthony De Mello

 

Số 03 Chủ nhật thứ 3 A Mùa Vọng Ngày 12.12.2010

Đấng Cứu Độ vắng mặt ở đời này
Mt 11:2-11
Lung Linh

Hôm nay chủ nhật thứ 3 mùa Vọng, năm A.
Tin mừng Mat-thêu trong thánh lễ này đã mở đầu bằng một nỗi khắc khoải của Gioan Tảy Giả:
Ông Gio-an lúc ấy đang ngồi tù, nghe biết những việc Đức Ki-tô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng: "Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác? " (Mt 11:2)
Chúng ta còn nhớ rất rõ. Gioan đã vui vẻ giới thiệu với các môn đệ rằng.
Hôm sau, ông Gio-an thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói : “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian.
Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.”    (Ga 1:29, 31)
Lạ thật !! Gioan đã long trọng giới thiệu  Đức Giêsu với một niềm xác tín sâu xa như thế.
Vậy mà khi vào tù, Gioan lại đâm ra nghi ngờ, bèn sai môn đệ tới hỏi Đức Giêsu:
"Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không,      
 hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác? "
(Mt 11:2)
Dường như là Đấng Cứu Độ vắng mặt ở đời này

Gioan nghi ngờ thì cũng hợp lý thôi.
Vì can gián vua Herode lấy vợ anh của mình, Gioan trở thành “người tù lương tâm”  Gioan ngày đêm hy vọng Đức Giêsu - Đấng phải đến – đấng Mêsia – Đấng giải phóng – sẽ tính toán làm phép lạ bánh hóa nhiều sớm hơn một chút… cho 4 ngàn ngừơi ăn bánh no nê để xách động họ kéo tới trước dinh Heredo biểu tình với mục đích áp lực Herode phải thả “người tù lương tâm”  vô điều kiện và ngay lập tức..
Nhưng rồi ngày này qua ngày khác chẳng thấy Đức Giêsu đoái hoài gì cả, như vậy biết đâu Đức Giêsu vẫn chưa phải là đấng giải thoát như lòng mình mong đợi !!!
Cuối cùng, Gioan đã bị chém đầu mà không được gặp lại Đấng Cứu Độ.
Dường như là Đấng Cứu Độ vắng mặt ở đời này.
Dường như thôi, vì Gioan vừa là một vị ngôn sứ cuối cùng trong thời Cựu Ước vừa là một người mà Đức Giesu đã từng khen:   “Tôi nói cho anh em biết : trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, không có ai cao trọng hơn ông Gio-an. (Lc 7:28)   

Chúng ta thì sao?
Chúng ta nhắc nhở nhau giữ đạo cho đàng hoàng bằng cách cộng tác với Ơn Chúa – Ơn Chúa chứ không phải cộng tác với chính Chúa!!!
Có nghĩa là tương quan giữa ta với Chúa phải qua trung gian Ơn Chúa.
Nói cách khác, chúng ta hoàn toàn sống nhờ vào Ơn Chúa dù rằng ta có Rước Chúa cả ngàn lần cũng để cho vui thôi!!! Chúa vẫn ở ngoài kia..ngoài cữa tâm hồn ta!!!
Chúa chẳng dính dáng gì với ta cả, đã có Ơn Chúa là đủ rồi !!!
Rồi chúng ta chỉ còn biết khích lệ nhau: Hãy hy vọng … hy vọng vào lòng từ bi lân tuất của Chúa,  Chúa sẽ cứu độ ta sau khi chúng ta chết đi.
Rõ ràng là Đấng Cứu Độ vắng mặt ở đời này.

Hiện tại chúng ta sống bằng Ơn Thánh sủng hay là Ơn Thánh hóa. Chúng ta luôn nơm nớp lo sợ… bởi vì chỉ cần một tội trọng thôi… cũng đủ làm cho Ơn Thánh Hóa biến mất.
May sao, còn Ơn Trợ Giúp ngày đêm thúc giục ta đi xưng tội.. để lấy lại ơn thánh hóa đã mất..
Còn chính Thiên Chúa Ba Ngôi thì dường như các Ngài vẫn cứ mải vui chơi hưởng hạnh phúc với cả triều thần thánh trên Thiên Đàng …mặc xác lũ phàm nhân phải ngày đêm chiến đấu sao cho khỏi phạm tội trọng.
Mai này, tụi nó chết đi, chỉ cần mang sổ bìa vàng và sổ bìa đen “cân đo đong đếm giữa công và tội” để quyết định phạt chúng bao lâu trong lửa luyện tội “cho biết thế nào là lễ độ”.
Quả thật là Đấng Cứu Độ vắng mặt ở đời này.

Kết luận
Một câu hỏi thật nghiêm chỉnh được đặt ra trong mùa Vọng đầu tiên của chu kỳ 3 năm phụng vụ:
Đối với tôi Đấng Cứu Độ vắng mặt ở đời này?
Hay là        Đấng Cứu Độ hiện diện ở đời này?
Câu trả lời thuộc về riêng Cá nhân của từng người,
không ai có thể làm thay cho ai được, kể cả vợ chồng chung chăn chung gối!!!
Nếu Đấng Cứu Độ vắng mặt
Tất nhiên mỗi người phải gõ, phải tìm cho ra
Đấng Cứu Độ đang thực sự hiện diện sống động ngay tại đời này.

 

Đấng Mêsia giả dạng

 Anthony  De Mello

Vị Guru  đang thiền định trong một hang núi Hymalayas.

Mở mắt ra, ông trông thấy trước mặt mình là một người khách không mời. Đó là tu viện trưởng của một tu viện nổi tiếng.

“Ông cần gì vậy?” Guru  hỏi.

Vị tu viện trưởng bắt đầu kể lể. Số là trước đây tu viện của ông rất nổi tiếng ở khắp Tây Phương. Tất cả cơ sở tu viện đều đầy ắp những ứng viên trẻ đến xin dự tu. Thánh đường của tu viện luôn luôn rộn rã tiếng đàn hát thánh ca của các tu sĩ. Nhưng rồi, tu viện gặp phải một giai đoạn khó khăn. Người ta không còn ùn ùn tuốn đến xin bồi dưỡng đời sống thiêng liêng của họ nữa. Các ứng viên trẻ dần dần biến sạch. Thánh đường vắng lặng, trống trơn. Chỉ còn một nhúm thầy dòng sót lại, tiếp tục các bổn phận của họ trong uể oải, nặng nề.

Kể lể sự tình xong, tu viện trưởng hỏi:

“Có phải đấy bởi vì một tội nào đó của chúng tôi đã làm cho tu viện bị suy thoái thê thảm đến mức này?”

“Đúng vậy” - Guru  trả lời - “Đấy bởi vì tội thờ ơ của các ông.”
“Thờ ơ về điều gì, thưa ngài?”

“Một người trong các ông là Đấng Mêsia giả dạng. Và các ông chẳng hề hay biết điều đó.”
Nói xong, Guru  nhắm mắt lại, tiếp tục thiền định.

Suốt cả con đường trở về tu viện, trống ngực vị tu viện trưởng cứ đánh thình thình mỗi khi ông nghĩ rằng Đấng Mêsia – chính Đấng Mêsia – đã xuống thế trở lại và đang ở ngay trong tu viện của mình.

Vậy sao lâu nay mình không nhận ra nhỉ?
Và đó là ai vậy cà? Thầy Cook? Thầy Sacristan? Thầy Treasurer? Thầy Prior?

Ồ không, không thể là anh ta; anh ta có quá nhiều khuyết điểm. Mà này, Guru nói rằng Đấng Mêsia giả dạng. Có thể những khuyết điểm kia cũng là một cách giả dạng lắm chứ? Xem nào, mọi người trong tu viện đều có khuyết điểm. Và một người trong đó là Đấng Mêsia!

Về đến nhà, tu viện trưởng triệu tập tất cả các thầy lại và nói cho họ biết sự khám phá của mình. Tất cả các thầy đưa mắt nhìn nhau, ngờ ngợ.
 Mesia à? Ở ngay đây? Thật không thể nào tin được!
Nhưng đó là một Đấng Mêsia giả dạng. Vậy rất có thể là chuyện thực lắm chứ.

Nhưng đó là ai? Thầy này? Thầy kia? Hay thầy nọ? ...
Có một điều chắc chắn. Nếu Đấng Mêsia giả dạng thì khó mà nhận ra Ngài.

Thế là tất cả các thầy trong tu viện bắt đầu cư xử với nhau một cách đầy quan tâm và kính trọng. Mỗi người trong họ đều tự nhủ:
 “Biết đâu đó, có thể Mêsia là người này ...”

Kết quả là bầu khí trong tu viện trở nên ngày càng sinh động và vui tươi hơn. Các ứng viên trẻ lại ùn ùn tuốn đến xin gia nhập dòng. Thánh đường lại rộn rã các khúc ca. Tu viện lại đầy ắp tình yêu.

Có đôi mắt nhưng trái tim bị mù thì ích gì?

 

Có phải ông là người chúng tôi mong đợi không?
chúa nhật 3 mùa vọng (2005)

Ngày 10 tháng 5 năm 1975, gia đình tôi cùng với hơn 80 người nữa xuống chiếc thuyền mang số VT3228 hướng về phía Malaysia. Sau 15 ngày lênh đênh trên vịnh Thái Lan, cuối cùng chúng tôi cũng đến được Singapour và tạm cư trên đảo St. John. Giai đoạn chờ đợi định cư bắt đầu. Chờ đợi! Sáu tháng chờ đợi là một khoảng thời gian dài lê thê, tinh thần căng thẳng, sức lực hao mòn. Ngày nào cũng tò tỏ bên phòng Cao Ủy Tỵ Nạn để xin phỏng vấn, và lần nào cũng bị khước từ. Bỗng một hôm, văn phòng cho gọi lên và bảo tôi giơ tay tuyên thệ, gia đình được chấp thuận cho đi Mỹ. Ôi! không ngôn từ nào, bút mực nào tả hết nỗi vui mừng của tôi lúc bấy giờ.

Hôm nay đọc Bài Đọc 1 tôi cảm thông sâu xa nỗi vui mừng của người Do Thái ngày nào, sống trong cảnh lưu đầy tại Babylon, chờ đợi, không biết ngày nào về lại cố hương, được ngôn sứ Isaia báo tin: "Ngày vui sắp đến. Ngày giải phóng đã gần kề". Ôi! vui quá là vui. Mừng quá đỗi mừng, mừng đến độ thằng què cũng nhảy như nai, đứa câm cũng bật lên nói, ngay cả kẻ điếc người đui cũng như nghe, thấy được tin vui. Đó là hình bóng ngày Đấng Messia, Đấng mà muôn dân bốn ngàn năm mong đợi sắp đến.

Nhưng ở đời có lắm chuyện trái ngang. Oái oăm thay, "Ánh sáng đã đến giữa thế gian nhưng thế gian đã không nhận ra ánh sáng (Jn 3:19). Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận (Jn 1:11). Gioan đang ở trong ngục tối nhưng đã nhận ra ánh sáng ấy, đã nhận ra người nhà mình. Tại sông Giođan, Gioan đã nói: "Chính tôi mới cần Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi (Mt 3:14). Nơi khác, Gioan đã tuyên xưng: "Đây là Chiên Thiên Chúa, đây là Đấng xoá tội trần gian. Người đến sau tôi, nhưng có trước tôi, tôi xin chứng thực Người là Đấng Messia, Đấng Thiên Chúa tuyển chọn (Jn 1:29-34). Thế mà dân chúng vẫn không tin, ngay cả một số môn đệ của ông. Hôm nay ông cử hai người đến hỏi Đức Giêsu: "Ngài có thật là Đấng phải đến hay chúng tôi còn đợi ai khác (Mt 11:3). Gioan không hỏi cho mình nhưng để chính mắt môn đệ của mình cũng được thấy, chính tai họ cũng được nghe mà tin vào Đức Kitô, Đấng Messia ngàn năm mong đợi. Phòng giam, ngục tối đã không thể cản được sứ vụ tiền hô của Gioan.

"Có phải ông là người mà chúng tôi mong đợi hay không, hay chúng tôi còn phải đi tìm người nào khác?" Câu hỏi trên lại là một thách thức lớn đối với tôi, nó đập mạnh vào não trạng tôi. Là một người Công Giáo, là một người chồng, một người cha, lúc nào đó bất chợt có kẻ hỏi tôi: "Ông có phải là người Công Giáo không? Ông có phải là một người cha không? Ông có phải là người chồng lý tưởng hay một người nào khác?" Câu trả lời có thể như thế này: "Xin đừng hỏi tôi, cứ xem những việc tôi đã làm thì biết". Câu trả lời thật đơn sơ, ngắn gọn, nhưng đòi tôi phải cố gắng hết sức mình, và cố gắng mỗi ngày để nên hoàn thiện hơn, để giống Đức Kitô hơn, để hình ảnh của Người phản chiếu trên người tôi, như lời Người đã trả lời cho hai môn đệ của Gioan: "Hãy về nói lại cho Gioan những điều mắt thấy tai nghe".

Chứng nhân là tiền hô, chứng nhân là ngôn sứ, chứng nhân là tông đồ. Xin hãy làm chứng nhân cho Đức Kitô trong mọi cảnh huống để đem niềm vui và hy vọng cho đời.

Pt. Huỳnh Văn Ngọc - NS_TTDM 2005

Kiên nhẫn trong gian khổ để chờ ngày Chúa đến
Lm. Giuse Vũ Tiến Tặng12/13/2013

Chúng ta đang tiến gần đến ngày lễ Noel. Bầu không khí lễ hội dường như đã lan tỏa khắp nơi nơi từ trong các giáo xứ đến ngoài đường phố và các cửa tiệm. Có thể nói, tại Tây Phương, Noel phá tan không khí ảm đạm của mùa động lạnh giá và tăng thêm vẻ sinh động cho cuộc sống vì làm cho con người không bị tẻ nhạt bởi sự lặp đi lặp lại nếp sống thường nhật trong suốt một năm qua. Thật là thiếu sót nếu quên đi nhân vật chính của ngày lễ và sứ điệp chính yếu của ngày này. Riêng đối với Kitô hữu, Mừng Chúa sinh ra không thể không sống tâm tình Mùa Vọng trước đó.

Mùa Vọng là thời gian chuẩn bị để mừng lễ Giáng Sinh, kỷ niệm ngày Con Chúa sinh xuống làm người. Tự bản chất, vọng có nghĩa là mong đợi. Sống trong đợi chờ bao giờ cũng kèm theo niềm hy vọng. Nuôi dưỡng niềm hy vọng là trông đợi một tương lai tươi đẹp hơn so với thời điểm hiện tại của cuộc sống. Tương lai ấy là điều sẽ phải đến chứ không phải là một cái gì mơ mộng hão huyền nhằm quên đi những thực tại đầy bất trắc và gian nan.

Đây là một nền tảng vững chắc để chúng ta đứng vững giữa bao nhiêu thăng trầm của trong dòng chảy của cuộc đời. Để được như vậy, chúng ta cần phải xem xét lại tất cả mọi mặt trong cuộc sống của mình nhằm xây dựng hướng đi vững bền cho mình. Chúng ta cần đặt lại những câu hỏi để xác định mối liên hệ của mình với Đức Giêsu và để ý thức sự hiện diện của Ngài xuyên suốt cuộc đời mình. Ngài là ai trong cuộc đời của tôi ? Ngài mang đến cho nhân loại và cho cá nhân tôi những gì ? Tại sao tôi lại phải đón tiếp Ngài trong cuộc đời của mình ? Tại sao tôi lại đặt niềm tin tưởng và hy vọng nơi Người ? Đâu là thái độ tôi cần có để đón chờ ngày giờ Ngài đến vào cuối cuộc đời của tôi ?

Các bài đọc và bài Tin Mừng của Chúa Nhật thứ ba Mùa Vọng mời gọi chúng ta sống trọn vẹn tâm tình chờ mong ngày Chúa đến khai mở triều đại của Đấng Mêssia trong kiên tâm bền trí giữa những thử thách với một tinh thần chủ động và khát khao mong mỏi, đặc biệt là qua tấm gương mẫu mực của thánh Gioan Tẩy Giả, người đã được trao phó nhiệm vụ dọn đường cho Chúa đến.

1. Hãy can đảm lên

Trước hết, bài đọc thứ nhất trích trong sách tiên tri Isaia hướng dân Thiên Chúa đến ngày mai tương sáng trong thời kỳ Chúa đến và ban ơn cứu độ. Ngày đó sẽ là ngày vui mừng hoan hỷ. Ngày Người biểu lộ vinh quang của mình. Tất cả con người và cảnh vật được thay đổi theo chiều hướng tích cực : « Nơi hoang địa cằn cỗi sẽ vui mừng, cõi tịch liêu sẽ hân hoan, và nở bông dường như khóm huệ, sẽ nảy chồi non ». Ngày ấy, Thiên Chúa cũng chữa lành khỏi mọi bệnh hoạn tật nguyền, và giải thoát khỏi ách nô lệ, mở ra một triều đại của niềm hoan lạc bất tận : « Bấy giờ mắt người mù sẽ nhìn thấy, và tai những người điếc sẽ được nghe. Bấy giờ người què sẽ nhảy nhót như nai, những người được Chúa cứu chuộc, sẽ trở về, và đến Sion với lời khen ngợi; và trên đầu họ mang hoan hỉ triền miên, họ sẽ được vui mừng khoái trá, họ sẽ không còn đau buồn; rên siết sẽ trốn xa ».

Ngày đó sẽ đến. Đó là lời khẳng định chắc chắn của ngôn sứ Isaia. Do đó, dù trong hoàn cảnh bi đát, dân Chúa được hướng đến một tương lai huy hoàng. Tất nhiên, họ không thể chờ đợi ngày đó cách thụ động mà cũng phải đóng góp tích cực phần của cá nhân mình nữa : « Hãy can đảm lên và đừng sợ hãi ». Như vậy, việc trông đợi ngày cứu độ của Thiên Chúa tiếp thêm sức mạnh cho dân Thiên Chúa và giúp họ cản đảm đứng thẳng dậy để đối diện với các thử thách hiện tại ngõ hầu đi đến một tương lai đầy hy vọng đang đợi họ ở phía trước.

2. Bền chí trong gian khổ

Chờ đợi ngày cứu độ bằng thái độ can đảm không sợ hãi, thánh Giacôbê còn khích lệ Kitô hữu cần trang bị cho mình một tinh thần kiên tâm. Ngài đã dùng hình ảnh người nông dân chờ đợi ngày mùa đến để tận hưởng những thành quả lao động của mình trong sự kiên trì. Qua đó, thánh nhân nhấn mạnh rằng, ngày của Chúa sắp đến gần và chúng ta cần phải sống theo gương các tiên tri : « Anh em hãy học gương kiên nhẫn và chịu đựng trong gian khổ của các tiên tri, là những người đã nói nhân danh Chúa ». Như vậy, kiên nhẫn trong gian khổ là quãng đường cần phải đi qua để tiến đến đích điểm là ngày của Thiên Chúa cứu độ. Có thể nói đây là cái giá cần thiết để được chung hưởng niềm vui trong vinh quang cùng các tôi tớ của Thiên Chúa. Điều này mang lại ý nghĩa cho cuộc sống, nhất là trong những thời điểm khó khăn và đen tối thì ở đó vẫn có nguồn ánh sáng hy vọng để dẫn đưa chúng ta đến với một tương lai tương sáng đang chờ đợi ở phía trước.

3. Theo gương Gioan Tẩy Giả

Kiên tâm chờ đợi trong gian khổ mà thánh Giacôbê đề cập đến trong thư của mình có đưa ra gương chứng nhân của các tiên tri, mà cụ thể trong bài Tin Mừng hôm nay có nêu ra trường hợp điển hình của Thánh Gioan Tẩy Giả. Ông đã được Thiên Chúa trao sứ mệnh dọn đường cho Đức Giêsu Kitô. Ông đã sống hết mình với sứ mệnh này bằng trọn vẹn cuộc đời và sức lực của mình. Nay bị tống giam chốn ngục tù, ngài cũng chẳng hề nao núng và đã phái môn đệ của mình đến gặp gỡ Đức Giêsu : « Thầy có phải là Ðấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi Ðấng nào khác? ». Chúng ta thử điểm qua một vài nét chính trong cuộc đời con người này.

Trước hết, ông đã dành ra một thời gian dài sống ẩn dật trong hoang địa bằng một cuộc sống rất khắc khổ với lương thực nuôi thân là mật ong rừng và châu chấu, với của mặc bằng lông lạc đà và dây thắt lưng làm bằng da. Chính Đức Giêsu đã ca ngợi ông trong bài Tin Mừng hôm nay khi dùng hình ảnh « một cây sậy phất phơ trong gió nơi hoang địa ». Có thể nói, thời gian chuẩn bị cho sứ mệnh được bắt đầu chính bằng việc xem xét lại đời mình trong mối tương giao mật thiết với Thiên Chúa. Từ đó, Gioan mới có thể giới thiệu Đấng phải đến nhân danh Thiên Chúa cho con người thuộc thời đại ông sống.

Để chuẩn bị cho dân chúng tâm hồn đón Đấng Mêssia, Gioan Tiền Hô đã kêu gọi sám hối và khuyên mỗi người sống đúng với ơn gọi và hoàn thành bổn phận của mình, với tư cách là người thu thuế, binh sĩ và dân thường…Lời kêu gọi mà ông đưa ra thật là khẩn thiết và thúc giục mọi người cần phải thi hành ngay, vì « cây rìu đã kề sẵn bên gốc cây ». Như vậy, sám hối là thái độ cần có để chuẩn bị đón ngày Chúa đến.

Nhìn vào cuộc sống của Gioan, chúng ta còn thấy ông dám sống và chết cho sứ mệnh của mình bằng cách luôn bảo vệ sự thật cho đến cùng. Vì ngăn cản vua Hêrôđê không được lấy bà Hêrôđia, vợ của người anh trai mình là Philipphê (x. Mc 6, 17), ông đã bị tống giam trong ngục. Sau đó còn phải trả giá bằng chính cả mạng sống của mình.

Suốt trong Mùa Vọng, khuôn mặt Gioan Tẩy Giả được Tin Mừng nhắc đến như là tiếng kêu để sửa đường cho Chúa đến. Các đồi núi cần được san cho bằng phẳng, đường quanh co phải được uốn cho ngay thẳng. Tiếng kêu của ông thôi thúc dân chúng nhìn nhận lại lỗi lầm thiếu sót của mình để thay đổi đời sống. Chính ông là mẫu gương tuyệt vời của sự trông chờ ngày Chúa đến qua một cuộc sống đầy thuyết phục : từ lúc ẩn dật cho đến lúc thi hành sứ mạng và sau cùng là dám chết để bênh vực cho sự thật.

Với tấm gương sống động này, thánh Giacôbê mời gọi chúng ta ngày hôm nay tiếp tục học hỏi và bắt chước. Chính Đức Giêsu cũng đã ca ngợi ông như là người cao trọng nhất từ trước đến nay. Trong cuộc sống, vẫn có những thử thách và khó khăn, ước gì mỗi người chúng ta luôn thấm nhuần Lời Chúa hôm nay để đứng vững trong các thử thách bằng thái độ kiên tâm trong gian khổ, bằng một tinh thần không biết sợ hãi, để hướng đến một tương lai huy hoàng mà Thiên Chúa hứa ban cho những ai yêu mến và sẵn sàng thực thi thánh ý của Người.

Ngày 12 tháng 12 năm 2013

 

ĐẤNG PHẢI ĐẾN (CN III/MV-A)

Mở đầu bài Tin Mừng hôm nay, Thánh sử Mat-thêu viết: “Ông Gio-an lúc ấy đang ngồi tù, nghe biết những việc Đức Ki-tô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng: "Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác? " (Mt 11, 2-3). Thật ngỡ ngàng khi nghe người được sai đến dọn đường, mở lối cho Đấng Cứu Thế, và đã từng khẳng định về Người: “Còn Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người.” (Mt 3, 11), nay lại sai môn đệ đến hỏi Người như vậy. Một sự kiện lạ lùng đến khó hiểu!

Nhưng tại sao thánh nhân không trực tiếp đến hỏi mà lại sai môn đệ? Vì thánh nhân đang ngồi tù do đức tính cương trực của ngài. Đó là câu chuyện Hê-rô-đê cướp vợ của anh ruột mình (bà Hê-rô-đi-a, vợ của ông Phi-lip-phê), Thánh Gio-an Tẩy Giả đã không ngần ngại công kích kịch liệt hành động vô luân đó và vì thế ngài bị hung thần tống giam (về sau còn bị trảm quyết – Mc 6, 17-29). Qủa đúng là một người ngay thẳng, công chính, nghĩ sao nói vậy, không hề sợ áp lực quyền thế bạo lực. Như vậy thì có thể nói, vì tính tình ngay thẳng bộc trực, nên thánh Gio-an đã sai môn đệ hỏi Đức Giê-su một câu hỏi lạ lùng như thế. Làm như thánh nhân không hề biết tí gì về Đức Giê-su vậy!

Lần giở lại Tin Mừng thì thấy Thánh Gio-an Tiền Hô, vì được tiền định từ trước vô cùng, nên biết Đấng Cứu Thế từ khi còn là bào thai trong bụng me (“Bà Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng bà Ma-ri-a chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần” – Lc 1, 41). Rồi khi thánh nhân bắt đầu rao giảng Tin Mừng, thì cũng là lúc Đức Giê-su khai mạc sứ vụ cách công khai. Câu chuyện Đức Giê-su đến xin Gio-an làm phép rửa tại sông Gio-đan, thánh nhân đã “một mực can Người và nói: “Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi!” (Mt 3, 14), thêm một lần chứng tỏ thánh Gio-an biết rõ về Con Người Giê-su Na-da-ret. Ấy là chưa kể thánh nhân vẫn luôn "nghe biết những việc Đức Ki-tô làm” (Mt 11, 2). Vậy mà còn hỏi kỳ cục như thế, thì chẳng phải là lạ lùng khó hiểu hay sao?

Cũng đã có nhiều người cho rằng Thánh Gio-an bị khủng hoảng đức tin vì phải ngồi tù. Nếu nhìn trên bề nổi, thì có thể nói như vậy. Lý do cũng dễ hiểu, vì với con người trần thế khi đã tin tưởng vào một nhân vật mà mình đinh ninh là Đấng Thiên Sai đến cứu độ nhân loại (nhất là chính Đấng ấy đã từng đến xin mình làm phép rửa như trường hợp Thánh Gio-an) thì khi mình bị giam cầm, chắc chắn Đấng ấy sẽ can thiệp cứu mình khỏi tù tội. Hơn thế nữa, Thánh Gio-an không chỉ tin tưởng, mà còn rao giảng, làm chứng cho Đức Giê-su, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng ăn năn sám hối để được ơn tha tội; vậy mà trong khi thánh nhân bị tù tội, Đấng ấy vẫn thản nhiên làm như không hay biết gì! Bị khủng hoảng đức tin là tất nhiên. Tuy nhiên, đó chỉ là tâm lý chung của phàm nhân, còn với Thánh Gio-an Tẩy Giả – một nhân vật đã được tiền định từ trước vô cùng trong sứ vụ “dọn đường đón Đấng Cứu Thế” – thì không thể. Vậy thì phải hiểu vấn đề như thế nào?

Xét cho kỹ, thì thấy ở đây phải nói là những môn đệ của Thánh Gio-an mới thực sự là những người bị khủng hoảng đức tin (Thầy mình bị cầm tù, mà không tìm cách giải thoát được). Cơn khủng hoảng đức tin ấy của các môn đệ, Thánh Gio-an tuy biết rõ, nhưng cũng khó lòng giải gỡ được. Chi bằng cho họ đến trực tiếp gặp gỡ và hỏi thẳng Đấng Thiên Sai, thì họ sẽ được chứng kiến tận mắt các việc Người làm và Người sẽ giải tỏa cơn khủng hoảng cho họ một cách thoải mái, nhẹ nhàng. Quả nhiên đó là một bài thuốc thần diệu chữa cơn khủng hoảng cho các môn đệ của Gio-an (bằng chứng là sau khi thánh nhân bị trảm quyết thì các môn đệ của ngài đã mau mắn báo cho Đức Giê-su biết và trở lại theo Người).

Còn một điều nữa, nếu Thánh Gio-an Tẩy Giá yếu đức tin đến độ bị khủng hoảng như vậy, thì Đức Giê-su Thiên Chúa biết rõ hơn ai hết. Vậy tại sao Người còn nói về Gio-an: “Thế thì anh em ra xem gì? Một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến. "Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả.” (Mt 11, 9-11). Một người “còn hơn cả các ngôn sứ… không ai cao trọng hơn”, đã vì tin vào sự công chính của Thiên Chúa và giới răn của Người (“chớ ngoại tình” – Mt 5, 27-30), ngang nhiên chọc giận hung thần sát thủ Hê-rô-đê, không lẽ còn bị “khủng hoảng đức tin” vì hành động của mình sao?

Rõ ràng Thánh Gio-an Tiền Hô biết rất rõ ngài sẽ chết về tay bạo chúa Hê-rô-đê, không còn cơ hội tiếp tục sứ mạng, nên mới sai môn đệ đến hỏi Đức Ki-tô như vậy. Chủ ý của thánh nhân không những chỉ để củng cố đức tin cho các môn đệ, mà ngài còn muốn đi xa hơn, là mong muốn các môn đệ sẽ tiếp nối bước đường của ngài. Các môn đệ được “mắt thấy, tai nghe” sẽ là những chứng nhân sống động cho Đấng Cứu Thế, sẵn sàng tiếp nối bước đường “loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”, đó là điều tất yếu. Quả thật câu trả lời của Ðức Giê-su đã cho người tín hữu (kể từ các môn đệ của Thánh Gio-an) một hình ảnh trung thực về dung mạo Ðấng Cứu Thế. Đó là Đấng làm cho "Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11, 5).

Tóm lại, nhờ những cơ hôi như trình thuật trong bài Tin Mừng hôm nay, người Ki-tô hữu mới có những nhân chứng thật hiện thực và rất sống động "đã nghe, đã thấy, đã chiêm ngưỡng, đã chạm đến" sự kiện lịch sử Ngôi Lời nhập thể bằng xương bằng thịt (1Ga 1, 1). Vậy thì tại sao lại không cùng vui lên mừng đón ngày Chúa quang lâm, bởi "Chính Người sẽ đến cứu anh em" (Is 35, 4)? Tại sao lại cứ "phàn nàn kêu trách lẫn nhau", mà không biết "kiên nhẫn và bền tâm vững chí, vì ngày Chúa quang lâm đã gần tới" (Gc 5, 8-9)? Đã đành "cái khó bó cái khôn", nhưng vẫn có thể "trong cái khó sẽ ló cái khôn" (tục ngữ VN), nếu biết học theo Thánh Gia-cô-bê tông đồ, đừng "phàn nàn kêu trách lẫn nhau", mà bền tâm vững chí, kiên trì cầu nguyện, tìm kiếm, cố gắng "thắp lên một ngọn đèn" hy vọng. Đừng tuỵêt vọng trước cái khó để đi tới tự huỷ hoại, mà hãy vui lên vì Đấng Khôn Ngoan đã tới, đang tới và sẽ tới.

Trong Thông điệp “Ánh Sáng Đức Tin – Lumen Fidei” (số 56), ĐTC Phan-xi-cô I viết: “Người Ki-tô hữu biết rằng mình không thể loại bỏ đau khổ, nhưng chúng có thể có ý nghĩa và trở thành một hành động yêu thương, tín thác vào bàn tay Thiên Chúa là Đấng không bỏ rơi chúng ta, bằng cách này, nó là một giai đoạn tăng trưởng trong đức tin và tình yêu. Qua việc chiêm niệm sự kết hợp của Đức Ki-tô với Chúa Cha, cả trong giờ phút đau khổ tột đỉnh của Người trên Thánh Giá (x. Mc 15, 34), người Ki-tô hữu học chia sẻ cùng một cái nhìn của Chúa Giê-su. Vì thế ngay cả cái chết cũng được sáng tỏ và có thể được cảm nghiệm như lời mời gọi cuối cùng với đức tin, lời mời gọi sau cùng “Hãy rời bỏ vùng đất của ngươi” (St 12, 1), lời mời gọi “Hãy đến!” cuối cùng mà Đức Chúa Cha nói, mà với Ngài chúng ta phó thác trong sự tự tin rằng Ngài cũng sẽ củng cố chúng ta ngay cả trong bước cuối cùng của chúng ta.”

Vâng, “Hãy đến và mừng vui lên”, vì Nước Chúa đã đến gần. Alleluia! Ôi! “Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, này dân Chúa đem tất cả niềm tin đợi chờ ngày lễ Sinh Nhật Ðấng Cứu Thế. Xin hướng niềm vui chúng con về chính nguồn hoan lạc của mầu nhiệm Giáng Sinh cao cả để tâm hồn chúng con hoàn toàn đổi mới, mà họp mừng ngày cứu độ đã gần kề. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ Chúa nhật III Mùa Vọng).

JM. Lam Thy ĐVD.

 

CHÂN DUNG ĐỨC GIÊ-SU:

ĐẤNG CỨU TINH NHÂN LOẠI (Mt 11,2-11)

Chúa nhật thứ ba Mùa Vọng dâng tràn niềm vui với phụng vụ màu hồng đan xen giữa màu tím. Đức Ki-tô đã đến gần, niềm mong đợi ơn giải thoát ngày một gần kề. Đức Messia phải chăng là Đấng  muôn dân hằng mong đợi. Ngài đến và đã đến chưa? Phải chăng Đấng cứu tinh muôn dân đợi trông đã đến rồi. Ngồi trong tù, tâm trạng của Gioan chẳng yên chút nào, Đấng Cứu thế được Thánh Kinh trình bày có phải chính Giê-su làng quê Nazareth. Những thắc mắc cứ khi ẩn, lúc hiện khiến Gioan Tẩy Giả phải sai các môn đệ của ông, đến gặp Chúa Giê-su và cật vấn Ngài: “ Thưa Thầy, Thầy có phải là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác”(Mt 11, 3).

 Đức Giê-su trả lời cho môn đệ Gioan

Ngài biết Gioan dựa vào lời Thánh kinh mà tiên báo và dọn đường cho mình. Nên thay cho câu trả lời là một trích dẫn từ Cựu Ước, qua lời ngôn sứ I-sai-a: “ Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người phong được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng”(Is 35, 1-6.10). Triều Đại mà muôn dân đợi trông đó chính là vương quốc thái bình, thịnh vượng. Nơi đó chấm dứt mọi áp bức, những bất công, xóa bao hận thù, oan khiên. Có lẻ sống trong một xã hội còn quá nhiều nghịch lý, công bằng chưa được nhìn nhận, phẩm giá con người chưa được tôn trọng. Người ta chưa thật sự quy chiếu vào những giá trị thật của chân-thiện-mỹ. Hơn bao giờ hết, chân dung của một vị Thiên Chúa luôn khao khát và yêu thương con người, cho đến nỗi không thể ngồi nhìn con dân mình phải hư vong, và Ngài đã xé các tầng trời mây mà ngự đến, giữa chúng ta.

Gioan Tẩy Giả thự thi sứ mạng Tiền hô

Đức Giê-su được Thánh  Gioan giới thiệu với các môn đệ Ngài, khi từ đằng xa tiến lại: “ Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng gánh tội trần gian”. Gioan xác quyết mình chỉ là tiếng, là người dọn đường cho Đấng Messia, và Gioan khẳng định Đấng đến sau tôi có trước tôi, và tôi không đáng cởi dây giày cho Ngài. Ngài phải lớn lên, còn tôi thì nhỏ lại. Sự khiêm nhường khi thực thi trách vụ của Gioan đã được Chúa Giê-su khen tặng: “ Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông”(Mt11,11).

Mùa vọng cũng đã dần khép lại, nhiều khuôn mặt được Thánh Kinh giới thiệu như là những vai diễn trong vở kịch dài mà Thiên Chúa viết cho nhân loại, bằng giao ước Thánh. Từ Gia-ca-ri-a, Isave, Gioan Tẩy Gỉa, Thánh Giuse, Mẹ Maria…Tất cả được đúc kết và nên cao trọng trong chân dung duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa của muôn loài. Ngài là vị cứu tinh cho nhân trần, Ngài đến để đem yêu thương, sự tha thứ và tình yêu thương. Ngài sinh ra, lớn lên và rao giảng tin mừng cho mọi dân nước. Kết thúc đời mình trên Thập Giá, Đức Giê-su đã dệt nên hình ảnh tuyệt đẹp của Đấng Cứu độ con người, mà ai cũng mong ước được diện kiến Ngài, trong ngày sau hết.

Lm Giacobe Tạ Chúc

 

ĐẤNG PHẢI ĐẾN

CN 3 MV-A by Niềm vui chia sẻ

Gioan Tẩy Giả là một nhân vật quan trọng của Mùa Vọng. Trong Tin Mừng Chúa Nhật trước, chúng ta đã nghe Gioan Tẩy Giả loan báo Đấng Cứu Thế sẽ đến là một Thẩm Phán chí công, thưởng phạt nghiêm minh. Ngày Đấng Cứu Thế đến sẽ là một ngày kinh hoàng đối với những người gian ác, tội lỗi, không chịu hối cải.

Nhưng rồi, khi Chúa Giêsu đến, Gioan Tẩy Giả đã thất vọng, vì ông chẳng thấy có gì là kinh hoàng như ông đã loan báo trước. Đang lúc đó chính Gioan Tẩy Giả lại phải ngồi tù, vì đã ăn ngay nói thẳng. Thật là trớ trêu!

- Gioan Tẩy Giả đã loan báo sai chăng?

- Hay là Chúa Giêsu chưa phải là Đấng Cứu Thế thực sự phải đến mà còn phải chờ đợi ai khác nữa?

Gioan sai các môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu một lần cho rõ: Xin Thầy nói thật cho chúng tôi: “Thầy có phải là Đấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng nào khác nữa?”.

Để trả lời Gioan và các môn đệ, Chúa Giêsu đã mượn lời Ngôn sứ Isaia loan báo về Đấng Cứu Thế: “Người mù được thấy, người què được đi, người phong hủi được sạch, người điếc được nghe, người chết sống lại…”.

Thì ra Chúa Cứu Thế đến “không phải để xét xử luận phạt, nhưng để tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư hỏng”. “Ngài đến không phải để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi sinh hoạt ăn năn”. “Ngài đến để cho con người được sống và được sống dồi dào”. “Và Ngài còn đến không phải để được người ta hầu hạ phục vụ, nhưng để phục vụ và thí mạng sống cứu chuộc loài người”.

Bao lâu còn quan niệm như Gioan Tẩy Giả, còn chờ mong Chúa đến can thiệp kiểu vua chúa trần gian để áp đặt một quyền lực, chúng ta sẽ mãi mãi ảo vọng. Trong khi Gioan Tẩy Giả và dân Do Thái mong một Đấng Cứu Thế đến tái lập uy quyền và vinh quang Thiên Chúa, thì Thiên Chúa lại chỉ mãi lo cho vinh quang của con người, ưu tiên cho những con người bị coi rẻ nhất: người mù, người què, người điếc, là những hạng người phải ăn mày để sống, ăn mày sự sống với những người quyền thế giàu có vẫn coi thường khinh bỉ họ, và nắm quyền sinh tử trên họ. Ngài coi đó là trả lại sự sống cho hạng người sống mà như chết dở, những người cùi hủi, những người bị khinh tởm, bị xua đuổi khỏi xã hội, chỉ được sống trong những nấm mồ hoang giữa người chết.

Ngày xưa, khi Chúa Cứu Thế Giáng Sinh, các luật sĩ và cả vua Hêrôđê và dân thành Giêrusalem đã không nhận ra Chúa Cứu Thế, vì họ quan niệm Chúa Cứu Thế phải đến trong oai phong lẫm liệt, phải sinh ra ở lầu son gác tía, chứ không phải ở chuồng bò.

Chúa Cứu Thế phải xuất hiện trong cung cách như thế đó. Chúng ta ngày nay phải hết sức tỉnh táo mới khỏi đón hụt mất Chúa Cứu Thế. Bởi vì, vẫn như ngày nào, Chúa đang hiện diện ở giữa chúng ta; không ồn ào giữa hàng lũ người tuỳ tùng hầu hạ kiểu vua chúa phong kiến, mà ẩn mình trong thân phận những con người nghèo đói, ốm đau, bệnh tật… Vẫn như ngày nào và sẽ mãi mãi cho đến tận thế. Ngài không dạy chúng ta đón nhận Ngài bằng bất cứ một hình thức nào khác hơn là đón nhận chính con người anh em, những người bé nhỏ, đói khát, mình trần thân trụi, không nhà không cửa, ốm đau bệnh tật, tù đày… Vì vậy, nếu không hết sức tỉnh táo, chúng ta sẽ đón hụt mất Ngài.

Anh chị em thân mến,

Hai ngàn năm rồi, Chúa đã đến, nhưng cũng còn những người vãn đang mong chờ một Chúa Cứu Thế khác sẽ đến, chứ Ông Giêsu này không phải là Chúa Cứu Thế. Thậm chí có cả những người Công Giáo cũng nghi ngờ Chúa Giêsu là Chúa Cứu Thế của họ. Bởi vì, tại sao Chúa cứ bắt tôi phải đói khổ, bệnh tật? Tại sao Chúa không trừng trị địch thù, những bọn gian ác? Chúng tôi phải chờ một Đấng Cứu Thế khác. Ngài sẽ đến thanh trừng với bạo lực, thống trị với quyền năng hiển hách như lời các ngôn sứ loan báo.

Chúa Giêsu Kitô chính là “Đấng phải đến”. Ngài đã đến rồi. Đó là niềm tin của chúng ta hôm nay như đã là niềm tin của Thánh Phêrô. Ngài nói: “Ngoài Đức Giêsu ra, dưới bầu trời này, ơn cứu độ chúng ta không có ở một người nào khác, không có một ai khác có khả năng cứu độ chúng ta” (Cv 4,12).

Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế đã đến, đã chết để cứu chuộc chúng ta, đã sống lại và đang sống ở giữa chúng ta. Ng đã giải phóng chúng ta và bao nhiêu con người khác đang bị giam cầm trong tội lỗi. Chúng ta hãy vui mừng vì chúng ta đã được Ngài cứu độ và được sống trong Ngài. Chúng ta không phải chờ đợi một ai khác nữa.

 

ĐẤNG SẼ ĐẾN -CN 3 MV-A

by sưu tầm

Thầy có phải là Đấng sẽ đến hay không?

Như chúng ta đã biết, Gioan Tiền Hô vì lên tiếng chỉ trích Hêrôđê nên đã bị tống vào ngục. Từ thế giới tù đày, ông đã sai hai môn đệ thân tín đến gặp Chúa Giêsu và đưa ra câu hỏi: Thầy có phải là Đấng sẽ đến, hay là chúng tôi còn phải đợi một Đấng nào khác?

Câu hỏi này thoạt xem ra thì có vẻ vô lý và mâu thuẫn với sứ mạng tiền hô, với sứ mạng dọn đường của Gioan. Phải chăng ông đã chẳng long trọng giới thiệu Chúa Giêsu: Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian đó sao? Phải chăng bên bờ sông Giođan ông đã chẳng xác quyết: Ngài phải rửa cho tôi chứ không phải là tôi rửa cho Ngài. Tôi không xứng đáng cúi xuống cởi dây giày cho Ngài? Rồi với những sự kiện lạ lùng sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, với sự tỏ lộ đặc biệt của Chúa Thánh Thần, ông đã tin chắc Chúa Giêsu người Nadarét chính là Đấng Cứu thế được loan báo từ những thế kỷ về trước. Vậy thì tại sao bây giờ ông lại nghi ngờ và phản lại những lời đã xác quyết? Theo tôi nghĩ vấn đề được đặt ra thật quan trọng. Quan trọng không phải cho bản thân của Gioan vì ông không hề nghi ngờ chi nữa, nhưng quan trọng cho các môn đệ của ông, bởi vì họ còn đang phân vân, lưỡng lự và chưa dứt khoát được lập lập trường đối với Chúa Giêsu. Ông tin chắc câu trả lời và những lý chứng của Chúa Giêsu sẽ là một thứ ánh sáng phán tan mọi thứ nghi ngờ còn đọng lại trong cõi lòng của họ. Thực vậy, những phép lạ Ngài làm là một lý chứng hùng hồn nhất về sứ mạng cứu thế của Ngài: Người mù được thấy, kẻ què được đi, người chết sống lại và những kẻ nghèo túng được loan báo Tin Mừng. Và sau đó Chúa Giêsu đã lên tiếng ca tụng Gioan Tiền hô.

Người Do Thái luôn trông chờ một Đấng Cứu thế. Còn chúng ta thì khác, chúng ta đã tin tưởng chắc chắn Chúa Giêsu chính là Đấng Cứu thế được loan báo từ muôn ngàn thuở trước và chúng ta là những người đã Ngài được cứu chuộc. Ngài là Đấng chúng ta đặt trọn vẹn niềm cậy trông. Hãy kiên nhẫn trông đợi ngày Ngài trở lại. Không vội vàng, không hấp tấp. Hãy tin tưởng vào thời gian và sự quan phòng đầy yêu thương của Chúa trên những nẻo đường chúng ta đi.

Đức Thánh Cha Gioan XXIII thường nói: Chúng ta hãy tin tưởng vào thời gian bởi vì thời gian sẽ sắp đặt mọi sự. Nó sẽ giúp chúng ta nhìn rõ bàn tay yêu thương của Chúa, cũng như giúp chúng ta gặt hái được những thành quả tốt đẹp. Chân lý này đã được thực hiện trong chính cuộc đời của ngài. Với tính tình hiền hoà và đôn hậu người ta tưởng rằng ngài sẽ chẳng làm được những việc phi thường trên ngôi giáo hoàng. Thế nhưng Chúa đã dùng ngài để hướng dẫn Giáo Hội. Chính ngài đã quyết định triệu tập Công đồng Vatican II và đã thổi vào Giáo Hội một tinh thần, một luồng sinh khí mới.

Thánh Giacôbê tông đồ cũng đã khuyên nhủ chúng ta: Anh em hãy kiên nhẫn trông chờ ngày Chúa đến. Như người nông phu kiên nhẫn trông chờ những giọt nước mưa, và hoa màu của đồng ruộng. Anh em cũng hãy bền chí và vững tâm vì Chúa đã gần đến.

Thánh Vincentê luôn cảnh giác chúng ta: Đừng hấp tấp vội vã vì đó là mưu mô của ma quỷ, lừa dối những người thiện chí để rồi cuối cùng chẳng làm được gì cả. Để kết luận chúng ta hãy nhớ tới lời Chúa: Ai kiên tâm và bền chí đến cùng thì sẽ được cứu thoát.

 

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)