Chúa Nhật XXV Thường Niên Năm A
 
 


Ông chủ quảng đại

Mùa nho chín trong cánh đồng của Israel khởi sự từ tháng 9. Tháng 9 cũng là tháng hay có những cơn mưa rào, và cũng vì thế nho mới được nước bắt đầu chín mọng. Nếu để lâu nho sẽ bị hư thối và mùa nho tàn lụi. Các chủ vườn phải phỏng đoán tinh vi vào mùa nắng ráo và thuê thợ kịp thời để thu hoạch hoa màu.

Trong hoàn cảnh này, Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn "vườn nho" về một ông chủ quảng đại đi thuê thợ vào làm vườn cho ông. Sáng sớm ông thấy cơn mưa rào kéo đến nên chạy ra đường thuê người vào hái nho cho ông. Ông mạc cả trả cho mỗi người một đồng. Vì công việc cấp bách, ông kiếm thêm nhiều người vào làm cho mau. Chiều đến, ông hài lòng với đám thợ đã thu hoạch kịp thời, nhưng còn cần một ít thợ nữa để làm cho xong, ông lại ra vơ vét cả toán thợ đang đứng chơi ngoài đó vào làm cho ông.

Ông hài lòng vì vườn nho đã làm xong. Ông muốn thưởng cho hết mọi người cả một ngày lương mặc dù họ chỉ làm có ít giờ. Thấy ông chủ trả lương đồng đều là 1 đồng cho cả đám thợ, cả kẻ làm ít lẫn người làm nhiều giờ. Những người làm từ sáng sớm kêu trách với chủ: "Chúng tôi làm từ sáng sớm đến chiều mà ông cũng trả cho một đồng ư?" Ông chủ trả lời: "Tôi không đánh lừa các ông đâu. Nào tôi lại không thỏa thuận với các ông tiền công một đồng là gì? Bây giờ tôi muốn thưởng công cho người làm ít giờ mà không được à? Hay là các ông thấy tôi quảng đại với họ rồi phen bì chăng?"

Người làm ít giờ cũng giống như người trộm lành trên thánh giá, ông thống hối ở phút chót và được cứu rỗi. Còn người làm nhiều giờ thì giống như người anh trong câu truyện người con hoang đàng trở về. Họ có óc ghen tị với anh em mình, họ thiếu lòng nhân từ độ lượng. Họ không biết rằng: người anh em mình phải vất vả chờ mong có người thuê mướn, và cả gia đình phải lệ thuộc vào họ. Nếu không có ai thuê thì cả nhà phải nhịn đói. Do đó, càng thấy rõ ông chủ thương người chừng nào!

Dụ ngôn dạy chúng ta một bài học thực tế: Phải biết thương người khốn cùng. Liệu chúng ta có vô tâm trước những cảnh nghèo túng không? Hay tệ hơn nữa, chúng ta có phen bì nói này nói nọ khi thấy người khác rộng rãi ban phát nhu cầu cần thiết cho người túng thiếu? Chúa không hẹp hòi như vậy đâu.

Lm. Vũ Khiêm Cung, CMC

Quảng Đại
Lm Louis Minh Nhiên, CMC
01/02/2005

Chúa Nhật 25 Thường Niên
Quảng Đại
Mt 20,1-16

Một công ty thuê một cái tàu du ngoạn trên biển để thưởng công cho các nhân viên làm việc giỏi và chăm chỉ. Đến ngày đi, các nhân viên ngày xuống tàu và đi tìm phòng của mình. Chỉ vài phút sau, một người chạy vội lên văn phòng muốn gặp vị thuyền trưởng. Một trong nhựng viên chức phụ trách hỏi: “Ông muốn gặp thuyền trưởng để làm gì?” Người đó đáp: “Tôi cũng làm việc giỏi và chăm chỉ như người bạn của tôi, thế mà tại sao anh ta lại được căn phòng xinh đẹp hơn căn phòng của tôi?” Vị phụ trách trả lời: “Thưa ông, căn phòng nào cũng giống nhau cả”. Người đó nói: “Phải, nhưng phòng của anh ta nhìn ra biển khơi, còn căn phòng của tôi chỉ nhìn thấy bến tàu, trông chẳng hấp dẫn chút nào?”

Thật là tội nghiệp. Một khi tàu rồi bến ra ngoài khơi thì hai bên đều nhìn thấy biển giống nhau. Một con chim sẻ phàn nàn với Chúa: “Chúa cho con công nhiều màu sắc rực rỡ xinh đẹp, còn cho chim hoàng anh thì hót thật hay trong khi con chẳng được gì và còn bị quên lãng. Tại sao Chúa lại dựng nên con chỉ để cho con đau khổ?” Chúa nhẹ nhàng trả lời: “Con không được tạo dựng để chịu đau khổ. Con đau khổ vì con phạm vào một lỗi làm giống hệt như con người, đó là con so sánh mình với người khác. Hãy bằng lòng với chính mình, vì không có so sánh thì cũng không có đau khổ”.

Phải chăng nếu để ý sẽ thấy rằng chúng ta thường hài lòng với những gì chúng ta có cho tới khi chúng ta so sánh những gì mình có với những gì người khác có?

Bài Tin mừng hôm nay đề cập đến dụ ngôn thuê người làm vườn nho, thuê người làm từ sáng sớm cho đến người chỉ làm được một giờ trước khi nghỉ và tối đến tất cả đều lãnh được một đồng, khiến cho người làm từ sáng sớm bất mãn kêu ca ông chủ bất công.

Để hiểu rõ thêm về dụ ngôn nầy, chúng ta cần phải hiểu về bối cảnh hoàn cảnh của xã hội Palestine thời Chúa Giêsu sinh sống. Theo William Barclay, một nhà chú giải thánh kinh, ở Palestine mùa hái nho chính vào cuối tháng Chín. Sau đó là mùa mưa. Nếu không hái nho kịp trước khi mùa mưa đến thì nho sẽ hư, vì vậy người ta phải chạy đua với thời giờ để kịp thu hoạch.

Tiền công trả cũng bình thuờng, một đơniê là tiền công một ngày bình thường của một người làm mướn. Những người đứng chợ không phải là những người biếng nhác ở đầu đường xó chợ, hạng ăn không ngồi rồi. Ở xứ Palestine, chợ là nơi trao đổi lao động. Người ta đến đó vào sáng sớm, mang theo dụng cụ lao động của mình và chờ ở đó cho đến khi có người đến mướn. Họ ở đó chờ công việc, bằng chứng là trong số họ có người chờ đến năm giờ chiều, chứng tỏ họ muốn làm việc như thế nào.

Những người này là những nhân công làm thuê, thuộc tầng lớp lao động thấp nhất, đời sống của họ luôn bấp bênh, trong đe dọa bị đói. Họ hoàn toàn sống nhờ vào sự thương xót, vào cơ hội làm việc. Nếu họ thất nghiệp một ngày, thì con cái sẽ bị đói. Giống như ở Việt Nam bây giờ, lương công nhân khoảng một hai đô la, và gia đình nào có thể để dành với đồng lương một hai đô la chứ? Do đó, đối với họ một ngày thất nghiệp là một tai họa.

Phải chăng ông chủ bất công? Không, ông chủ không bất công, vì lẽ người làm từ sáng sớm đã đồng ý đã thoả thuận về tiền công nhật là một đồng và họ lãnh nhận được một đồng. Họ lãnh nhận đủ tiền lương của một ngày cho một ngày trọn làm việc. Nhưng khi họ thấy người làm sau cũng được một đồng, mà thật sự đó không phải là vấn đề của họ (it was really none of their business), họ đâm ra tức giận phàn nàn kêu ca. Có lẽ người làm sớm sẽ bằng lòng an tâm nếu họ không chơi trò so sánh. Họ so sánh những gì họ được trả với người khác được trả khiến họ bất mãn để rồi bị lãnh nhận một câu hỏi tuy thành thực nhưng đầy đau đớn: “Phải chăng các người ghen tị vì tôi quảng đại?”

Với dụ ngôn này, một nhà chú giải Thánh kinh đã thêm rằng, người chủ bày tỏ cả sự công bằng lẫn quảng đại. Công bằng với người làm sớm và quảng đại với người làm sau. Ông biết người làm sớm có đủ tiền lo cho nhu cầu sinh sống thường ngày, và quan tâm đến người làm sau. Ông biết rằng một đơniê một ngày không phải là số lương lớn, và nếu người làm công trở về nhà với một số tiền ít hơn nữa, vợ họ sẽ lo lắng và con họ sẽ bị đói, vì vậy người chủ vườn đã vượt qua lẽ công bằng và trả cho họ nhiều hơn số tiền họ đáng được.

Tuy hiểu như vậy nhưng chúng ta vẫn không thoải mái với dụ ngôn bởi lẽ thông thường người chủ không trả lương bổng cho nhân viên theo lòng thương xót vì nếu làm như vậy chắc thương mại của ông chẳng tồn tại lâu dài, thứ đến, nếu tất cả người thợ đều lãnh nhận lương bằng nhau với số giờ làm việc nhiều ít khác nhau thì chắc sẽ có chuyện đình công hay ít nhất cũng có cuộc biểu tình chứ chẳng chơi! Dụ ngôn này tuy không thực tế trong cuộc sống, nhưng đã nói lên sự khác biệt giữa Thiên Chúa và con người: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta,” cũng như làm nổi bật lòng quảng đại nhân lành của Thiên Chúa.

Tất cả đều là ân sủng. Trước mầu nhiệm cứu chuộc, một nhà chú giải Kinh thánh nói rằng, chỉ có Chúa Giêsu là người thợ làm từ sáng sớm, còn tất cả chúng ta chỉ là người đến sau làm muộn. Tất cả những gì chúng ta đã đang lãnh nhận cũng như ơn cứu chuộc đều là quà tặng do lòng rộng rãi của Thiên Chúa nhân lành. “Các con đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho đi nhưng không”, chúng ta được mời gọi làm sứ giả đem lại niềm vui cho con người. Thay vì đặt mình là người làm vườn nho, chúng ta hãy đặt mình vào vai trò người được chọn để phân phát tiền cho người làm, phải chăng chúng ta thấy niềm vui mừng sung sướng hiện trên khuôn mặt của người thợ chỉ làm được một giờ khi lãnh nhận tiền công và phải chăng chúng ta cũng đã đang muốn đem những niềm vui giống như thế đến cho tha nhân?

Một buổi sáng nọ, người đàn bà đã làm một cử chỉ lạ thường: dừng xe lại để đóng thuế đường, bà nói với người thâu ngân: “Tôi đóng thuế cho tôi và cho sáu chiếc xe phía sau tôi”. Thế là lần lượt đến phiên mình, sáu chiếc xe đều dừng lại và nghe người thâu ngân giải thích: “Ông không cần phải trả tiền nữa, người đàn bà lái chiếc xe phía trước đã trả thế cho ông rồi.” Tuy bỡ ngỡ, nhưng tài xế của sáu chiếc xe ấy không khỏi lộ niềm vui trên khuôn mặt.

Ông chủ vườn nho trong bài Tin mừng hôm nay và người đàn bà trả tiền thế đã mang lại niềm vui hạnh phúc cho tha nhân, còn mỗi người chúng ta?

Chúa Nhật Thứ Hai Mươi Lăm Mùa Thường Niên
Lm Augustine S.J.

01/02/2005

Ðọc Tin Mừng Mt 20,1-16a

Khi ấy Ðức Giêsu nói: 1 "Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình. 2 Sau khi đã thỏa thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc. 3 Khoảng giờ thứ ba, ông lại trở ra, thấy có những người khác ở không, đang đứng ngoài chợ. 4 Ông cũng bảo họ: "Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng". 5 Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu, rồi giờ thứ chín, ông lại trở ra và cũng làm y như vậy. 6 Khoảng giờ mười một, ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ: "Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?" 7 Họ đáp: "Vì không ai mướn chúng tôi". Ông bảo họ: "Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!" 8 Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý: "Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất". 9 Vậy những người mới vào làm lúc giờ mười một tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền. 10 Khi đến lượt những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền. 11 Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn gia chủ: 12 "Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt". 13 Ông chủ trả lời cho một người trong bọn họ: "Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một quan tiền sao? 14 Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. 15 Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?" 16 Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót.

Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng

Ðức ái không có biên giới

Sinh năm 1929 trong một gia đình trung lưu Nhật Bản, tương lai của cô Satôcô như đã được sắp đặt sẵn. Là một người nhất mực bảo thủ với các truyền thống trong gia đình Nhật, cha của Satôcô, cũng là một tiến sĩ nông học, đã muốn giáo dục cô theo tiêu chuẩn của các thiếu nữ con nhà thượng lưu thời ấy: trung thành với Nhật hoàng; tòng phục cha mẹ; học những phong cách và lễ nghi quý phái để sau này phục dịch một đức lang quân do cha mẹ sắp xếp. Thế nhưng cha cô có ngờ đâu rằng, một ngày kia, con gái ông sẽ vượt ra khỏi khuôn khổ gia đình ấy.

Năm 1941, Nhật khai chiến với Mỹ. Cha của Satôcô bị động viên vào quân đội; còn cô và em trai bị ép buộc vào làm việc ở một hãnh chế tạo máy bay. Năm 1945, khi chiến tranh kết thúc, cô ngã bệnh lao vì kiệt lực; còn em trai cô đã chết trước đó cũng vì lao lực. Năm 1946, cô vào học trường Dược ở Tôkyô. Một ngày nọ, đang lúc đi dạo ngoài bãi biển, Satôcô bị cuốn hút chú ý đến hai Nữ Tu Thừa Sai Bỉ. Tuy không là người công giáo, nhưng một động cơ nào đó đã thúc đẩy cô theo chân hai nữ tu vào trong một nhà thờ. Vẻ đẹp của gương mặt bức tượng Ðức Nữ Ðồng Trinh như xoáy vào tim cô. Trở về nhà, cô đã học đạo với các Nữ Tu Thừa Sai và được rửa tội năm 1949. Ðó cũng là năm cô đậu bằng dược sĩ.

Thời ấy, có một thừa sai Phanxicô người Ba Lan tên là Thầy Ðô (Deno Sebroski), hoạt động nổi tiếng cho người nghèo ở khu ổ chuột Annê, ngoại ô Tôkyô. Cùng với một nhóm tu sĩ Ba Lan do thánh Maximilianô Kôlbê (sau tử đạo trong trại tập trung Ðức quốc xã) hướng dẫn, Thầy Ðô đã đến Nagasaki từ năm 1930. Vì những hoạt động nhân đạo nổi tiếng của Thầy, Thầy là người ngoại quốc duy nhất không bị bắt giữ trong chiến tranh, mà còn được chính Nhật hoàng ban thư giới thiệu, kêu gọi mọi người hãy giúp đỡ Thầy. Khi nghe biết về Thầy Ðô, Satôcô đã nói với cha cô: "Nếu những người Ba Lan từ xa xôi đến Nhật để tận hiến cuộc đời phục vụ người nghèo, tại sao các tín hữu Nhật không thể làm như thế?" Thế là Satôcô đã đến gặp Thầy Ðô và xin đi thăm khu Annê. Ðêm hôm đó, cô không sao chợp mắt vì đầu óc miên man với hình ảnh những con người bất hạnh cô gặp ở Annê. Hơn nữa, gương mặt cũa vị tu sĩ già, lúc nào cũng ánh lên lòng thương xót và ý chí sắt đá phục vụ người nghèo, trở nên một thách thức đối với cô.

Sống chết với người nghèo

Khi thức giấc sáng hôm sau, Satôcô đi đến một quyết định táo bạo là phục vụ người nghèo mà không cần biết hậu quả sẽ ra sao. Công việc đầu tay của cô ở Annê là tổ chức lễ Giáng Sinh năm 1950 cho trẻ em. Sau đó cô vẫn tiếp tục sinh hoạt đều đặn với các em: dạy học, chăm sóc, nghe các em tâm sự về hoàn cảnh gia đình. Tuy thế, người dân Annê chưa tin tưởng cô. Họ nghĩ rằng cô tiểu thư nhà giàu ấy không sống cho họ, nhưng chỉ vì Chúa; cô yêu Chúa chứ thương yêu gì họ. Hơn nữa, người dân Annê tuy nghèo nhưng luôn hãnh diện về khả năng sinh sống nhờ thu lượm đồ phế liệu chứ không muốn nhận của bố thí. Ðể chứng tỏ lòng thành thật của mình, Satôcô bắt đầu đi lượm ve chai và đồ phế liệu, để kiếm quĩ tổ chức các sinh hoạt cho trẻ. Dần dần, cô đã cảm hóa được những người lớn nhờ sự đơn sơ, vui vẻ và nhờ tình thương chân thành cô dành cho con em họ. Chính người lãnh đạo cộng đoàn Annê tặng cô chiếc xe đẩy để công việc thu lượm phế liệu của cô được dễ dàng hơn. Mỗi lần cần món tiền lớn để tổ chức những sinh hoạt đặc biệt như đi nghỉ hè, Satôcô thường cầu khẩn Mẹ Maria và luôn kiếm được số tiền cần thiết. Những hoạt động từ thiện của cô đã gây tiếng vang, đến độ tên tuổi cô xuất hiện cả trên báo chí và truyền hình.

Một lần nọ, cộng đoàn Annê muốn mua lại của thành phố một thửa đất lớn để qui hoạch lại khu phố với một trung tâm hướng nghiệp, một nhà thờ và một công viên. Tuy nhiên số tiền 25 triệu yên vượt quá sức của cộng đồng. Nhân cuộc họp thương lượng lần cuối của lãnh đạo cộng đồng với chính quyền thành phố, Satôcô đã trao cho phía chính phủ cuốn sách "Những trẻ em ở khu ổ chuột Annê" mà cô viết 4 năm trước đó; đồng thời cô cầu nguyện cật lực cho dự án này. Sau này khi cân nhắc lại, chính quyền đã đồng ý nhượng khu đất với giá 15 triệu, trả góp trong 5 năm.

Vì làm việc quá sức, lại ăn ngủ thất thường, nên chứng bệnh lao mang lúc 15 tuổi nay quay lại đòi mạng Satôcô. Cô đã dâng căn bệnh cho Chúa để cầu nguyện cho người dân Annê có được cuộc sống tươi đẹp hơn. Ngày 20.1.1958, khu phố mới Annê được khánh thành. Ba ngày sau, "Satôcô của khu ổ chuột Annê" qua đời ở tuổi 29. Trong những ngày cuối đời, cha mẹ cô đã đem cô trở lại Annê, để cô qua đời tại nơi cô hằng yêu mến (viết theo Mẫu Gương Thánh Thiện, trang 131-142)

Thiên Chúa giàu lòng thương xót

Tấm gương của cô Satôcô và Thầy Ðô hẳn làm chúng ta phải cảm phục. Ðể có thể làm những cử chỉ bác ái như thế, ắt các vị phải có một lòng thương cảm con người sâu xa và một đức tin mạnh mẽ vào Chúa. Thật ra, chính Thiên Chúa đã đi bước trước và là mẫu gương cho nhân loại về lòng thương xót vượt qua mọi rào cản; Ðấng ban Thánh Thần trong con tim mọi người, đã khơi dậy nơi họ lòng yêu thương, xả kỷ, hướng đến tha nhân. Dụ ngôn ông chủ vườn nho hôm nay là một mạc khải của Ðức Giêsu về Thiên Chúa Cha giàu lòng thương xót.

Thật vậy, ông chủ vườn nho ấy đã cư xử với lòng thương xót chứ không theo lối "công bằng sòng phẳng" như người đời. Với lòng thương xót, ông đã đi tìm những con người khốn khổ để giúp họ có được những thứ cần thiết cho cuộc sống. Trong dụ ngôn, những người khốn khổ đó là những người thợ không kiếm được việc làm. Không như những chủ vườn khác chỉ ra kêu đủ số thợ một lần vào sáng sớm, ông đã ra ngoài kiếm họ những 5 lần. Ðiều khó hiểu là mãi đến giờ thứ 11 ông còn ra kêu thợ vào làm chỉ một giờ; trong khi dụ ngôn không có dấu chỉ nào cho thấy có công việc đột xuất cần thêm thợ. Ðiều đó chỉ có thể được cắt nghĩa như sau: đích nhắm của ông chủ không là những công việc, nhưng là, những con người khốn kho堣ần bán sức lao động để kiếm sống hàng ngày. Chính vì vậy mà ông bận tâm nhiều đến những người thợ mà mãi đến giờ thứ 6, 9, 11 hãy còn thơ thẩn ngoài chợ, chưa được ai tuyển dụng; và ông đã ra ngoài những 5 lần.

Hơn thế, việc ông trả lương đồng đều: một quan tiền cho mọi người thợ [số tiền cần thiết để nuôi sống một gia đình trong một ngày], càng cho thấy rõ nét hơn rằng việc tuyển dụng chỉ là "cái cớ" để ông chủ nhân hậu giúp đỡ những người thợ ít mau mắn. Tuy nhiên, lối cư xử đầy thương xót của ông đã vấp phải những lời dị nghị của những con người vốn chỉ quen với thứ công bằng gắt gao đầy vị kyhứ công bằng này thẳng tay gạt ra ngoài những kẻ yếu thế, không đạt điều kiện của luật chơi "tiền có trao, cháo mới múc". Trong khi đó, lòng thương xót thì vượt xa lẽ công bằng: nó không chiết tính sự tương xứng giữa "cái cho" và "cái nhận", cũng không nghĩ đến chuyện thiệt hơn; nhưng nhìn thẳng vào sự khốn cùng của con người, rồi lao mình cứu giúp họ một cách nhưng không, hoàn toàn vô điều kiện, bất chấp lời đàm tiếu, bất chấp mọi rào cản. Tóm lại, lòng thương xót là hình thức công bằng thượng đẳng, vì nó nhằm đem đến cho mọi người, từ những người bé mọn nhất, một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm con cái Thiên Chúa.

Ðó chính là cách thức mà Thiên Chúa đã hành xử với toàn thể nhân loại, khi Người ban Con Một đến chịu chết để cứu độ mọi người, bất kể họ là Do Thái hay dân ngoại; đạo đức hay tội lỗi; bất kể họ trở lại với Chúa vào thời điểm nào của cuộc đời họ: dù là "rất sớm" như một số vị thánh, hay chỉ vào giờ phút cuối cùng; giờ thứ 11, như trường hợp người trộm lành.

Nước Trời giống như gia chủ kia,.. . đã cư xử với lòng thương xót đối với tất cả mọi người, từ người sau hết đến người trước hết. Ðể được thuộc về Nước Trời đó, mỗi người chúng ta cũng được mời gọi theo gương ông chủ, và những người đi trước như Thầy Ðô và cô Satôcô, cư xử với mọi người bằng một lòng nhân từ thương xót, vượt trên mọi rào cản sắc tộc, tôn giáo, chính kiến, giai cấp xã hội... và đôi lúc, phải vượt xa cả những nguyên tắc luân lý thông thường.

Một số câu hỏi gợi ý

1. Theo bạn, ông chủ vườn nho có bất công hay thiên vị không? Bạn có thể bào chữa cho ông như thế nào?

2. Tại sao sống công bằng là cần thiết, nhưng chưa đủ? Tại sao cần phải có cả lòng thương xót?

3. Bạn có biết mẫu gương nào về lòng thương xót tại Việt Nam, tương tự mẫu gương của Thầy Ðô và cô Satôcô không?

Chúa Quá Nhân Từ
Br Minh Trân, CMC
01/02/2005

Chúa Nhật 25 Thường Niên
Chúa Quá Nhân Từ
Mt 20,1-16

Một buổi sáng đi ngang qua con đường Euclid vùng Nam California, thấy đầy dẫy những người Mễ đứng dọc bên lề đường, tôi thắc mắc hỏi bác tài xế ở vùng đấy, và được bác cho biết là họ đang đứng chờ người thuê đi làm. Bác còn thêm: "Ở đây thuê Mễ rẻ lắm". Tôi hỏi tiếp: "Vậy rẻ là bao nhiêu vậy bác?" Bác trả lời:"Có người trả họ hai đồng một giờ, có người thuê ba đồng, có người bốn hoặc năm đồng. Nhưng mà bốn năm đồng thì hiếm lắm. Tụi nó... hả... trả bao nhiêu nó cũng làm hết". Thấy cảnh tượng nhân công nhiều mà người thuê nhân công thì ít, tôi chợt nghĩ có người sẽ được thuê đi làm, được năm ba đồng nuôi sống gia đình (nghĩ thấy xã hội cũng bất công...) và cũng có người sẽ đợi, đợi mãi rồi lủi thủi trở về nhà chờ sáng mai ra đứng đợi tiếp. Cuộc sống của họ thật bấp bênh. Nghĩ thật đáng thương!

Trong bài Phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu diễn tả Nước trời qua hình ảnh một gia chủ gọi các người thợ vào làm vườn nho của ông. Nhưng khác với những người nhân công Mễ trong câu chuyện trên, những người thợ làm vườn nho trong bài Phúc âm đều được gia chủ gọi đi làm và được trả công cân xứng.

Theo một số nhà chú giải Thánh kinh thì ở đây Chúa có ý muốn nói cho dân Do Thái (những người được Chúa tuyển chọn, được mạc khải cách riêng) hay dân ngoại (những người chưa nhận biết Chúa), người công chính (những người ngày đêm hằng tuân giữ luật Chúa) hay người tội lỗi, nếu sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa mời gọi thì đều được Chúa thương đồng đều cả, bất kể trước sau. Chúa vẫn mãi nhân từ, hằng thương yêu hết mọi người, mọi thời, và thương như nhau - có người được Chúa gọi ngay từ tảng sáng, có người từ trưa, và có người mãi đến chiều; và tất cả đều được một đồng tiền lương. Chúng ta không rõ giá trị một đồng thời đó so với một đồng ngày nay thế nào, nhưng chúng ta biết chắc một điều là những người được gọi đi làm từ tảng sáng đã đồng ý ngay với giá lương ấy, và những người được gọi đi là về sau thì cũng không chút phàn nàn khi lãnh lương.

Mỗi người chúng ta, sau khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, hằng ngày đón nhận biết bao ơn phúc và tình thương của Chúa. Hôm nay là dịp để chúng ta cùng nhau nhìn lại ơn gọi cao quý mà Chúa đã kêu gọi mỗi người chúng ta vào làm vườn nho Chúa. Chúng ta tin rằng cho dầu chúng ta được nuôi dưỡng và lớn lên trong gia đình đạo hạnh ngay từ tấm bé, hay cho dầu suốt cả đời sống xa tình Chúa và nay được ơn nhận biết Chúa trong những ngày tháng cuối đời, chúng ta đều có quyền tin chắc rằng Chúa luôn yêu thương chúng ta và yêu thương như chính mình Ngài.

Lạy Chúa, chúng con cám ơn Chúa vì Chúa đã gọi, đã chọn, và đã trao cho chúng con mỗi người mỗi việc trong vườn nho Chúa. Xin Chúa ban cho chúng con được luôn rộng mở cõi lòng đón nhận ơn Chúa. Chúng con muôn đời cảm tạ ơn Chúa. Xin Chúa thương đến những người vẫn còn "vô công rỗi nghề đứng nơi đầu chợ", ban cho họ được nhận ra tiếng Chúa mời gọi và sẵn sàng quảng đại thưa tiếng Xin Vâng.

Lòng Nhân Hậu
Sr Mai An Linh, OP

10/09/2005

Chúa Nhật 25 TN.A
(Mt. 20,1-16a)
LÒNG NHÂN HẬU


Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta hình ảnh về người chủ thuê thợ rất kỳ lạ, kỳ lạ trong cách thức thuê thợ và kỳ lạ trong việc trả lương. Theo bình thường thì ai ai cũng muốn và mong thuê được thợ làm công rẻ và người ta phải liện hệ từ hôm trước hoặc rất sớm để họ có thể làm việc sớm cho mình. Còn đây ngày lao động đã sắp hết mà ông còn ra phố chợ để thuê người làm, không những thế, ông thuê thợ suốt ngày, hình như ông không nghĩ tới phần lợi cho mình, không sợ thiệt cho mình mà chỉ sợ người ở không, không có việc làm.

Và khi trả lương, ông trả lương cho người vào làm sau cùng trước và trả lương cho họ bằng với người làm từ sáng sớm, cho nên những người thợ làm nhiều giờ đã kêu trách ông chủ. Chứng tỏ ông chủ không bình thường, vì bình thường người ta căn cứ vào mức độ làm lợi cho mình mà trả lương, còn ông chủ này không nghĩ đến mình mà chỉ hành xử theo lòng thương xót mà thôi.

Rõ ràng khi kể dụ ngôn, Chúa Giêsu muốn tô đậm nét không bình thường nơi ông chủ vườn nho, làm như vậy để đặt nổi lòng nhân hậu và sự tự do của ông chủ. Ông nhân hậu từ cách thuê thợ đến cách trả lương, ông tỏ ra là người nhân hậu khác thường, ông không nghĩ đến việc mình mà chỉ nghĩ đến những người thợ thất nghiệp, nên đã thuê thợ vào bất cứ giờ nào trong ngày. Rồi khi trả lương ông không căn cứ vào giờ lao động hay số công việc hòan tất mà chỉ hành động theo lòng nhân hậu. Ông đã vượt mọi khuôn thước bình thường. Lòng nhân hậu đã làm cho ông vượt xa giới hạn công bình mà đi vào khu vực tự do nhờ tình yêu “ tôi há không được dùng của tôi tùy ý tôi sao? Hay mắt bạn ghen vì tôi nhân hậu ?”(c.15). Qủa là “ tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi”(Is.55,6).

Ông chủ mà Chúa Giêsu đưa ra chỉ có thể có nơi Thiên Chúa, Thiên Chúa nhân hậu và tự do, Ngài mời gọi mọi người vào làm vườn nho của Ngài là do lòng nhân hậu và thưởng công cho mọi người cũng chỉ do lòng nhân hậu. Ngài mời gọi mọi người cần đến Ngài, cũng như ông chủ thuê mọi người thợ đang cần đến ông. Thiên Chúa gọi kẻ trước người sau, nhưng gọi mọi người, miễn là họ cần đến Ngài. Ông chủ khi trả lương không căn cứ vào giờ làm và việc làm. Thiên Chúa cũng thế, Ngài trả lương cho ta theo lòng nhân hậu mà thôi, nên chúng ta đừng tính công với Ngài, xét cho cùng thì chúng ta cần đến lòng nhân hậu của Chúa hơn là đến đức công bình của Ngài. Hãy cậy dực vào lòng nhân hậu của Ngài vì Thiên Chúa tự do thưởng công. Tất cả những tính tóan, những dự liệu pháp lý, những đòi hỏi, những tham vọng phải tan biến trước oai nghiêm và tự do của Đấng Tạo Hóa.

Bài Tin Mừng cũng cho chúng ta khía cạnh khác về những người thợ: Nhóm thợ vào làm đầu tiên khi thấy ông chủ trả lương cho bọn thợ vào làm một giờ, mỗi người một đồng, họ tưởng thế nào họ cũng được hơn một đồng, nhưng khi họ thấy mình cũng chỉ có một đồng, thì họ kêu trách ông chủ và dựa vào sự công bằng với công của họ. Khi lẩm bẩm kêu trách, những người thợ làm nhiều giờ muốn lấy suy nghĩ của mình áp đặt lên suy nghĩ của ông chủ, họ muốn ông đừng làm người cha yêu thương mà hãy làm một người buôn bán vô tình.

Có lẽ chúng ta cũng cho phản ứng của họ là đúng vì nó hợp với phản ứng của chúng ta. Thực ra đó là phản ứng ích kỷ và chính ông chủ cũng cho rằng họ phản ứng không bình thường bởi lẽ: ông trả lương như thế là theo lòng nhân hậu, còn nếu căn cứ vào lẽ công bình mà bọn thợ đầu tiên đòi hỏi thì ông đã sòng phẳng với họ, còn như căn cứ vào lòng nhân hậu thì họ chẳng có quyền gì đòi hỏi cả. Những người này không nhìn ra lòng nhân hậu của ông chủ vì lòng họ ích kỷ mà khi đứng trước lòng nhân hậu của ông chủ họ đã không nhận ra và tưởng mình có quyền đòi hỏi ông chủ. Cũng do lòng ích kỷ mà chẳng những họ đã sai lầm lại còn chuốc lấy hình khổ vào thân là ghen tương, và không được hưởng hạnh phúc khi được chứng kiến “ chi thể” khác được thương mến, hạnh phúc.

Cái nhìn của những người này cũng là não trạng của chúng ta, chúng ta tính toán mình giữ đạo nhiều năm, đọc kinh, dự lễ nhiều lần, làm việc lành phúc đức nhiều nhiều…và yên trí tới ngày trình diện Thiên Chúa chắc chắn sẽ được thanh tóan sòng phẳng, nếu tính công thì chúng ta nguy to, tội của chúng ta mà lấy công để trả thì chết, như lời Thánh vịnh: “ Nếu Chúa chấp tội nào ai đứng vững”. Sống theo não trạng này thật nặng nhọc và vô tình, vô nghĩa.

Thực ra Thiên Chúa yêu thương chúng ta theo hoàn cảnh mỗi người, người lo chu toàn công việc, người phải bối rối vì không có việc làm, người lo lắng hết ngày mà nồi cơm không gạo…, nhưng người nào cũng được Thiên Chúa ban ơn cứu độ. Nếu chúng ta ý thức được như thế, chúng ta sẽ thoải mái và hạnh phúc, nhất là cảm nhận được tình yêu Chúa dành cho chúng ta và đáp lại bằng việc làm, không tính toán mà bằng cả tấm lòng.

Lạy Chúa, tư tưởng chúng con nông cạn, trí óc chúng con nghèo nàn và con tim chúng con hẹp hòi. Xin Chúa hãy mở rộng con tim, khối óc và tư tưởng của chúng con để chúng con có suy nghĩ như Chúa dạy, là biết chấp nhận những gì Chúa đã ban cho mình cũng như cho tha nhân, trong tâm tình cảm tạ, tri ân và chúng con cần đến lòng nhân hậu của Chúa hơn là đức công bình.

 

Minh Họa Lời Chúa: CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN Năm A

(Is. 55,6-9; Pl. 1,20-24.27; Mt. 20,1-16)

Thiên Chúa nhân hậu với mọi người

Tin Mừng theo thánh Matthêu: Mt. 20, 1-16

 

"Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình. Sau khi đã thỏa thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc. Khoảng giờ thứ ba, ông lại trở ra, thấy có những người khác ở không, đang đứng ngoài chợ. Ông cũng bảo họ: "Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng". Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu, rồi giờ thứ chín, ông lại trở ra và làm y như vậy. Khoảng giờ mười một, ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ: "Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?". Họ đáp: "Vì không ai mướn chúng tôi". Ông bảo họ: "Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!". Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý: "Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất". Vậy những người mới vào làm lúc giờ mười một tiến lại, và lãnh mỗi người một quan tiền. Khi đến lượt người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ lãnh được nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền. Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn gia chủ: "Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt". Ông chủ trả lời cho một người trong bọn họ: "Này bạn, tôi đâu có đối xử bất công vời bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một quan tiền sao? Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi là không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?" Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót. (Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít.

 

1. Giá bốn căn hộ bằng nhau

          Một dãy phố nọ có bốn căn hộ. Căn một trị giá 40 ngàn đô, căn hai 30 ngàn đô, căn ba 20 ngàn đô và căn tư 10 ngàn. Bạn là chủ căn một. Một hôm có người gọi đến xin mua căn hộ của bạn là 50 ngàn đô. Thế là bạn vui mừng và đồng ý bán ngay, vì thực giá căn hộ của bạn chỉ có 40 ngàn đô thôi. Nhưng hôm sau, bạn nghe tin người mua căn hộ của bạn cũng mua hết ba căn hộ kia, và mỗi căn cũng với giá 50 ngàn đô. Thật là một tin sét đánh! Bạn giận dữ, gọi điện kêu trách người mua. Ông ta trả lời:

- Tôi đâu có đối xử bất công với bạn, bạn đã thỏa thuận với tôi với giá 50 ngàn đô. Hay là bạn ganh tị vì tôi rộng lượng đối với ba người kia. 

          Câu chuyện trên đây minh họa câu chuyện của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay.

          Thời Chúa Giêsu, những người được thuê mướn vào làm vườn nho chỉ những kẻ tội lỗi. Họ nghe lời Chúa kêu gọi mới ăn năn thống hối trở lại với Chúa. Còn đám thợ được thuê từ sáng sớm là những người Biệt Phái. Họ giận dữ ganh tức vì thấy những kẻ tội lỗi mới ăn năn trở lại mà cũng được vào nước Chúa, được thưởng như họ. 

          Tại sao những người được thuê làm vườn nho từ sáng sớm ganh tức với đám thợ được thuê muộn? 

          Chúa Giêsu đã trả lời cho chúng ta: "Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một quan tiền sao?... Hay là vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức". (Mt. 20, 13-15). 

          Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta đừng so sánh mình với kẻ khác, mà hãy chấp nhận hiện trạng của chúng ta, theo lời khuyên của Thánh Phaolô: "Mỗi người hãy xem xét việc làm của chính mình, và bây giờ sẽ có lý do hãnh diện vì chính mình, chứ không phải vì so sánh với người khác... Thật vậy, ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy. Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu, thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát. Còn ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt, thì sẽ gặt được kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời" (Gl. 6, 4.7-8) 

          Điều quan trọng trong cuộc sống không phải là những gì người khác nghĩ về chúng ta hoặc chúng ta nghĩ gì về người khác, mà là những gì Thiên Chúa nghĩ về chúng ta. (Theo "Sunday homilies").

 

2. Những cử chỉ lạ thường 

          "Hãy thực thi sự tử tế một cách gàn dở và những cử chỉ đẹp một cách vô nghĩa".

          Đây là một khẩu hiệu đã được rất nhiều người ở khắp nước Mỹ hiện nay. 

          Một buổi sáng mùa đông nọ, trên chiếc xe chất đầy quà giáng sinh, một người đàn bà đã làm cử chỉ lạ thường. Khi dừng xe lại để đóng thuế cầu bắc qua vịnh San Francisco, bà đưa tiền thuế và nói: 

- Tôi đóng thuế cho xe tôi và 6 chiếc xe sau tôi.

          Bà hành động cách khác thường như thế vì đã đọc trên tủ lạnh của người bạn.

          "Hãy thực thi sự tử tế một cách gàn dở và những cử chỉ đẹp một cách vô nghĩa".

 

          Tại New Jersey, ngày nọ người ta thấy 12 người dọn dẹp sân cỏ của những người già. Tại Chicago, có cậu thiếu niên cào tuyết cho chỗ đậu xe của người hàng xóm... 

          Và không biết bao nhiêu những hành động tử tế như thế được thực thi cách gàn dở và những cử chỉ được làm cách vô nghĩa như thế. 

          Trong Kinh Thánh có rất nhiều hành động hết sức bất thường như thế, như Con Thiên Chúa vô cùng cao cả sinh ra nghèo hèn, chết nhục nhã trên khổ giá. Bất thường quái lạ đến nỗi người Do Thái cho là điên rồ, người Hy Lạp gọi là yếu đuối. Thánh Phaolô cũng gàn dở không kém khi ông tuyên bố: "Vinh dự của tôi là chính thập giá Đức Kitô". Nhưng với Thiên Chúa, đó chính là kẻ khôn ngoan và sức mạnh, là tình yêu và trao ban vô vị lợ, quảng đại, khoan dung như trong Tin Mừng hôm nay, những người làm vườn nho giờ chót cũng được lãnh lương bằng những kẻ vào làm từ sáng sớm "Phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt" (Mt. 20. 12). 

          Nhưng đó chính là hành động của Thiên Chúa: Trao ban mà không tính toán, cho không cần cho lại, hành động mà không kể gì khen chê, không chỉ yêu thương bạn hữu mà cả kẻ thù. Đó chính là cách hành xử của Chúa khi nhập thể cứu chuộc nhân loại. Và người Kitô hữu cũng được mời gọi hành xử theo cung cách và lối suy nghĩ đó của Chúa, là vượt lên cái bình thường, bước vào cõi sống siêu nhiên, cõi sống của những người con sống nhân từ quảng đại như Cha trên trời. (Theo "Tin vui mùa đông").

 

3. Thiên Chúa công bình

          Một hôm Thiên Chúa đi vào thiên đàng. Ngài ngạc nhiên thấy tất cả những người chết đều được vào đó cả, không ai bị sa hỏa ngục. Ngài suy nghĩ phải chăng Ngài không phải là Đấng công bình vô cùng. Ngài gọi sứ thần Gáp-rien đến và bảo: 

- Con hãy tập trung mọi người đến trước mặt Ta. Đọc cho họ nghe 10 giới răn của Ta. 

          Sứ thần đọc giới răn thứ nhất và Chúa phán bảo: 

- Những kẻ nào phạm giới răn thứ nhất đó, hãy xéo khỏi mặt Ta, đi vào hỏa ngục ngay. 

          Một số người từ từ rời khỏi đám đông và buồn bã khóc lóc đi vào hỏa ngục. Và sứ thần đọc tiếp các giới răn khác, cứ sau mỗi giới răn đều có số người rời khỏi đám đông và than khóc đi xuống hỏa ngục. Sau cùng chỉ còn lại có một người, người đó là một ẩn sĩ già.

          Thấy vậy, Thiên Chúa hỏi sứ thần: 

- Chỉ có một người này được vào Thiên Đàng hay sao? 

          Nói xong, Ngài bảo sứ thần gọi đám đông lại và cho họ trở vào thiên đàng. Thấy đám đông tội lỗi xấu xa thế mà Chúa lại tha thứ cho trở lại thiên đàng, vị ẩn sĩ tức giận nói với Chúa:

- Chúa không phải là Đấng công bình!... 

          Thiên đàng chính là ngôi nhà của tha thứ, của quảng đại khoan dung. Tha thứ khoan dung của Thiên Chúa dành cho con người và tha thứ bao dung của con người dành cho nhau. 

          Thiên Chúa đã ví thiên đàng như một bữa tiệc, trong đó từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc mọi người không phân biệt màu da, chủng tộc, địa vị, giàu nghèo, nhất là không phân biệt bạn thù đều đồng bàn với nhau. Thiên đàng ấy không chỉ ở đời sau mà bắt đầu ngay tại đời này. Mỗi khi con người biết tha thứ nhân hậu với nhau, mỗi khi họ chấp nhận đồng hành với nhau, sống khoan dung rộng lượng với nhau là lúc thiên đàng được rộng mở... 

          Chúa Giêsu đã mở cửa thiên đàng đó cho những người làm vườn nho trong Tin Mừng hôm nay. Những người sau chót chỉ làm có một giờ, thế mà Chúa cũng cho họ vào thiên đàng như những kẻ đã làm việc nặng nhọc cả ngày. Như thế làm sao khỏi bị ganh tức. 

          Nhưng Chúa Giêsu còn mở cửa thiên đàng khi Người đồng bàn với những người thu thuế, những người tội lỗi, những người bị xã hội loại bỏ, và nhất là khi Người tha thứ cho những kẻ đã giết treo Người trên thập giá. Vì ngôn sứ Isaia đã xác quyết: "Trời cao hơn đất bao nhiêu thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi bấy nhiêu" (Is. 55,9) (Theo "Phút cầu nguyện cuối ngày, tập III).

 

4. Bất hạnh vì ganh tỵ

          Traund là một kiến trúc sư nổi tiếng và rất thành công trong sự nghiệp. Anh có vợ là Êlisabét và hai đứa con ngoan. Gia đình sống rất đầm ấm hạnh phúc. Và công việc làm ăn của anh ngày càng phát triển đến nỗi một mình làm không hết , phải hợp tác với Đavít mới đáp ứng hết nhu cầu của khách hàng. 

          Lúc đầu mọi việc êm xuôi tốt đẹp. Tình bạn đôi bên cùng sâu đậm. Nhưng sau một thời gian, Traund nhận thấy khách hàng quý chuộng Đavít hơn, nhờ anh đứng thầu nhiều dự án xây cất hơn. Thế là Traund nổi ghen lên, kiếm chuyện xích mích với bạn mãi, làm cho mối quan hệ giữa hai người ngày càng căng thẳng, lôi kéo luôn số nhân viên chia rẽ kình địch nhau. 

          Nhưng tai hại hơn cả là tình cảnh gia đình Traund. Mỗi khi đi làm về, anh cáu gắt với vợ con. Đời sống gia đình trở nên địa ngục sầu thảm. Rồi bàn tay phải của anh bắt đầu bị sưng khớp đau nhức, bắt buộc anh phải bỏ công việc, vào bệnh viện chữa trị. Khi xuất viện về nhà, anh như con sư tử bị giam trong củi. 

          Buồn khổ quá, vợ anh gọi điện thoại đến Cha Micae Pacli là một linh mục chuyên chữa bệnh tâm linh. Cha tới gặp anh, khuyên anh bỏ lòng ghen tuông, làm hòa với Đavít, để mọi việc được trở lại tốt đẹp an vui. Anh không đồng ý mà còn giận dữ. Nhưng sau một lúc cầu nguyện chung với anh, cha Micae đã khuyên bảo được anh viết thư xin lỗi Đavít. 

          Và lạ thay, từ đó ghen tuông của anh tan biến, tay anh không còn bị sưng khớp nữa. Gia đình anh trở lại êm ấm hạnh phúc, công việc làm ăn trở nên niềm vui cho anh như trước. 

          Ganh tỵ là mãnh lực có sức tàn phá lớn lao, nó phá hủy khả năng yêu thương. Chính sự ghen tuông đã thúc đẩy các Biệt Phái sát hại Chúa Giêsu, họ coi Ngài là kẻ thù không đội trời chung với họ. 

          Trong Tin Mừng hôm nay, cũng chính vì ganh ghét mà nhóm người làm vườn nho từ sáng sớm phê bình chỉ trích ông chủ bất công, khi ông chủ trả lương họ bằng những người chỉ vào làm lúc năm giờ, vì họ thấy ông chủ "tốt bụng với những người này mà họ đâm ra ganh tức". 

          Qua câu chuyện của kiến trúc sư Traund và dụ ngôn trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy chúng ta là tín hữu của Người sống quảng đại như Người, luôn yêu thương tha thứ cho nhau. Tình thương phá tan ganh tức. Nhất là khi chúng ta quảng đại yêu thương tha thứ thì chúng ta được sống an bình hạnh phúc. (Theo "Thiên đàng là thế đó).

 

5. Lòng quảng đại chân chính

          Một hôm Chúa Giêsu bảo Phêrô và Gioan cùng leo núi với Ngài. Dọc đường Ngài bảo mỗi ông hãy mang theo một hòn đá. Ông Phêrô nhặt một hòn đá nhỏ bỏ túi, còn ông Gioan vác cả một tảng đá to. Do đường xa vác nặng, ông Gioan thở hổn hển và đến nơi sau hết. Còn ông Phêrô bước đi nhẹ nhàng thảnh thơi nên đến nơi trước. Chúa Giêsu cho hai ông ngồi xuống, rồi đọc lời chúc tụng, biến hai viên đá thành bánh. Dĩ nhiên chiếc bánh của ông Phê rô nhỏ bé, không đủ thỏa mãn cơn đói cồn cào của ông. Còn ông Gioan thì ăn no nê dư dật. 

          Lần khác, Chúa gọi hai ông leo lên núi với Ngài nữa. Rút kinh nghiệm lần trước, Phêrô mang theo một tảng đá to, phải cố gắng hết sức mới vác nổi lên núi. Đến nơi, Chúa Giêsu bảo hai ông ngồi xuống. Ông Phêrô trông đợi Chúa làm phép lạ nhưng Chúa bảo các ông ngồi lên tảng đá mà các ông đã vác theo. Phêrô cảm thấy xấu hổ trách Chúa, nhưng Chúa bảo: 

- Lòng quảng đại đích thực không phải là lòng quảng đại tính toán. 

          Chúng ta thường nói: "Có qua có lại mới toại lòng nhau". Chúng ta cho là để được cho lại, chúng ta làm ơn là để được trả ơn. Chúng ta lập công là để được thưởng công. Chúng ta làm việc là để được lãnh lương như các người làm vườn nho trong Tin Mừng hôm nay. 

          Óc vụ lợi chi phối tất cả mọi quan hệ của chúng ta với tha nhân cũng như đối với Thiên Chúa. 

          Qua dụ ngôn những người làm vườn nho trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã đảo lộn quan niệm thông thường của chúng ta. Qua toàn bộ cuộc sống và cái chết của Ngài, Chúa Giêsu mặc khải cho chúng ta một Thiên Chúa quảng đại đến độ trao ban cách nhưng không cho chúng ta Con Một của Ngài. Qua cách cư xử của Ngài, Thiên Chúa muốn nói với chúng ta, Ngài yêu thương mà không mong đền đáp nào của chúng ta. 

          Lòng quảng đại đích thực không phải là lòng quảng đại tính toán. Tình yêu đích thực là trao ban cách nhưng không. 

          Chúa Giêsu mời gọi chúng ta nên trọn lành như Cha chúng ta ở trên trời, sống quảng đại, sống san sẻ, sống yêu thương cho đến cùng, như chính Ngài đã chết trao trên khổ giá. Tình yêu ấy mời gọi chúng ta tin tưởng phó thác hoàn toàn vào Người, tình yêu ấy mời gọi chúng ta thanh luyện tình yêu ích kỷ, vụ lợi của chúng ta.

(Theo "Chờ đợi Chúa").

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)