Chúa Nhật XXX Thường Niên Năm A
 
 


Giới Luật Trọng Nhất

YÊU. Động từ nào lột được hết ý. Danh từ nào diễn tả được hơn? Nó thay thế cho mọi thứ: lòng ước ao mạnh mẽ, bị ám ảnh đau đớn, giết người, hung bạo, láo khoét. Vì danh Chúa người ta đã làm việc này việc nọ vì "yêu" nhưng Chúa lại không chấp nhận. Hoặc vì yêu mình mà họ đã tàn phá chính linh hồn họ. Như vậy, chữ "yêu" không còn là vấn đề nhỏ mọn tầm thường nữa.

Vì thế, không có chữ nào dễ hiểu lầm bằng chữ "yêu", vì khi nói đến yêu người ta nghĩ đến tình dục, phải làm cho người khác xúc động hay cảm thấy thoả mãn sung sướng. Chữ "yêu" ở đây phải hiểu cho đúng là phải sửa chữa, thay đổi, canh tân làm cho đời sống mình và thế giới nhẹ nhàng, hạnh phúc hoan lạc hơn. Một bài ca đã diễn tả: "Yêu là điều cần thiết cho tất cả".

Phải, Chúa Giêsu đã trả lời các luật sĩ và dân chúng hỏi Ngài giới luật nào trọng nhất. Câu trả lời của Ngài: "Con phải yêu Chúa với tất cả con tim, linh hồn và trí khôn con". Đó là giới luật thứ nhất và cao trọng nhất. Giới luật thứ hai: "Con phải yêu tha nhân như chính mình con". Câu thứ nhất không đáng ngạc nhiên vì nó có trong kinh tối sáng của người Do Thái thường đọc, được trích từ sách Đệ Nhị Luật (6:5). Điều răn này buộc phải yêu Chúa phải "ghi khắc trong quả tim" và khoan vào trong tâm trí của mỗi đứa trẻ. Phần hai của câu trả lời - "Con phải yêu tha nhân như chính mình con" - được trích từ sách Lêvi (19:18); Chúa Giêsu đặt cả hai giới răn ngang hàng nhau. Giới răn hai giống giới răn thứ nhất. Chúa Giêsu không làm ra hai luật lớn, nhưng Ngài liên kết hai thành một. Thánh ý Thiên Chúa và mục đích đời sống chúng ta là yêu Chúa với cả con người và yêu tha nhân như chính mình.

Tình yêu ở đây đòi con tim, ý chí, linh hồn, cuộc sống và sức mạnh. Nó đòi một giao ước trung tín. Như vậy tình yêu ở đây không chỉ là một sự nóng cháy hăng nồng mà còn đòi hỏi sự hy sinh, chịu đựng và sự thực hành hằng ngày. Trong sách Xuất Ai Cập đã minh định phải thực hành như thế nào về sự yêu thương, tình liên đới giữa con người với nhau. Chúng ta không được làm những điều bất công đối với các kiều bào; không được hành hạ những kẻ mồ côi goá bụa; khi cho người nghèo vay mượn tiền của không được cư xử với họ như chủ nợ đòi phải trả tiền lời; cầm giữ của ai vật gì phải trả lại cho họ trước khi mặt trời lặn.

Bất cứ ai nghĩ rằng yêu là phương pháp dễ dàng thì phải tham khảo "phương thức tuyệt hảo" trong thư thứ nhất của Thánh Phao Lô gởi Giáo Đoàn Côrintô. Đoạn Thánh thư này thường được nghe trong các lễ cưới, mà cũng nên đọc lại mỗi ngày trong đời sống gia đình. Yêu là nhẫn nhục hiền hậu, không ghen tương không vênh vang không tự đắc, không ích kỷ nóng giận hay nuôi hận thù; nhưng luôn luôn sẵn sàng tha thứ tin tưởng, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả bất cứ điều gì xẩy đến. Khi làm được như thế, tình yêu vĩnh cửu sẽ cư ngụ viên mãn trong chúng ta.

Martin Buber đã diễn tả mầu nhiệm thánh thiện như sau: "Các ngành chuyên môn về siêu tâm lý học hay huyền học đã cố gắng đào sâu những cảm xúc về những thực trạng của yêu, nhưng họ vẫn không kết cấu và lột hết được ý nghĩa: có nhiều loại cảm giác khác nhau. Cảm giác của Chúa Giêsu về ma quỉ thì khác với cảm giác của Ngài với các tông đồ yêu dấu; nhưng tình yêu là một tình yêu. Cảm giác là cơn 'giải trí' nó đến rồi đi. Yêu là trách nhiệm giữa tôi với Thiên Chúa. Tình yêu hoàn hảo của Đức Kitô đã lột được hết ý nghĩa trong cả cuộc đời của ngài là bị đóng đinh trên thập tự giá cho nhân loại; và Ngài đã mạo hiểm đến độ đem chính mình đến điểm sợ hãi kinh hoàng tột độ nhất là "sự chết" - tất cả vì yêu."

Sr. Marciana Chuẩn, CMR

Chúa Nhật 30 thường niên A - 26-10-2014
Mến Chúa hết lòng và Yêu tha nhân như chính Mình (Mt 22:34-40)


Nhà thơ Xuân Diệu đã hỏi, “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu” Vâng rất khó cắt nghĩa  được tình yêu. Nhưng khi chúng ta yêu ai, chúng ta có ngay chứng cớ vì nó phát từ bên trong. Tình yêu sẽ bày tỏ qua hành động. Mới đây, ngày 24-6-2014 Đài BBC có đưa tin:

Good Country Index là bảng xếp hạng mới ra mắt của một tác giả, nhà tư vấn chính sách Simon Anholt. Ông được trao giải Nobels Colloquia năm 2009, được trao bởi một ủy ban gồm 10 người từng nhận Nobel về Kinh tế.

Kết quả của bảng xếp hạng nó i Ireland  đứ ng đầu  thế   giớ i, cò n Iraq, Libya và  Việ t Nam ‘cùng xế p  hạ ng  dướ i đá y’. Trong ba nước  nà y,  Việ t  Nam (t hứ   124) đứ ng sau cả  Iraq (123) và  chỉ  trên có  Libya (125). Ireland  đứ ng  đầ u,  và   cù ng  nhó m  đầ u  bả ng là các nước  vùng  Bắc  Âu đượ c cho là  “có  đó ng  gó p chung nhiề u  nhấ t cho nhân loại  và   hà nh  tinh”, hơn hẳ n cá c khu vự c khá c trên thế giới. Anh Quố c đứ ng  thứ   bả y và  Hoa Kỳ   đứ ng  thứ  21 trong khi Kenya  đứ ng  thứ  26 trên toà n cầ u  nhưng là  quố c gia đứ ng đầ u châu Phi vì  đã  “nêu ví  dụ  đầ y  cả m hứ ng”  về  đó ng  gó p  có   ý   nghĩ a  xã   hộ i. Tác giả bảng xếp này nói, “Một nước thành công vẫn chưa  đủ. Họ phải  đóng góp gì  đó cho nhân loại. …  Đức là nước được quản trị rất tốt, nhưng tôi muốn hỏi là Đức làm được gì cho tôi, một công dân Anh?”

Việ t Nam bị   ‘độ i  sổ ’  về  đó ng  gó p  tổ ng  thể   cho nhân loạ i. Tôi không biết  đây có phải là kiểu nói nước Việt nam ít thương người, ích kỷ?

Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu trích Luật Yêu Chúa trong sách Đệ Nhị Luật (6:5) và luật yêu tha nhân trong sách Lêvi (19:18)  để ghép thành một luật. Theo  đó, yêu thương người khác như chính mình là yếu tố cần thiết trong việc yêu mến Chúa.

Đối với  đa số người thiện chí, yêu Chúa thường dễ hơn yêu tha nhân. Yêu tha nhân là một thách đố, nhất là khi người hàng xóm của tôi soi nói, tọc mạch và con cái họ phá làng phá xóm. Bày tỏ yêu thương trong những vụ đó thực khó khăn.

Nếu đạo chúng ta chỉ gồm đi lễ Chúa Nhật để cám  ơn Chúa và cầu xin Chúa trợ giúp, chúng ta sẽ thoải mái. Nhưng ngay trong thánh lễ chúng ta cũng được mời bày tỏ lòng yêu thương của chúng ta với tha nhân. Chúng ta mặc quần áo tươm tất để tôn kính Chúa, tôn kính tha nhân cũng như tôn kính chính mình. Chúng ta nghiêm trang  để không làm người khác chia trí. Chúng ta đến trước đi vào trong để nhường hàng ngoai cho người đến sau (Nếu dùng nhà vệ sinh, chúng ta biết có Chúa Giêsu trong tha nhân  đến sau chúng ta nên thu dọn sạch sẽ trước khi ra).

Sau bài giảng có lời nguyện cộng đồng cho giáo hội, cho thế giới, cho người nghèo khổ và cho cộng đoàn địa phương nữa. Chúc bình an là lời cầu cho sự hợp nhất và bình an. Luật Yêu Chúa và yêu tha nhân không được tách rời nhau trong lòng chúng ta cũng như trong hành động của chúng ta.

Thế Thiên Minh

Suy Niệm:

Chúa Nhật XXX Thường Niên A

Xh 22,21-27; 1Th 1,5c-10; Mt 22,34-40

Mọi người đều biết, các giới răn của đạo ta quy về hai việc mến Chúa và yêu người. Nhưng muốn biết phải mến Chúa thế nào và yêu người làm sao thì phải dựa vào Thánh Kinh. Những bài đọc Thánh Kinh hôm nay cũng nói về hai điều đó. Tuy là những bài viết ở những thời đại khác nhau và đã xưa rồi; nhưng suy nghĩ, chúng ta càng nhận thấy tính cách trường cửu của Lời Chúa.

Bài sách Xuất hành đưa chúng ta trở về thời Cựu Ước xa xưa. Chúng ta sẽ ngạc nhiên về tính cách nhân đạo của nếp sống đạo đức thời bấy giờ. Và chúng ta sẽ hiểu bối cảnh của bài Tin Mừng hơn để nhận ra uy tín của Ðức Kitô khi khẳng định về luật mến Chúa yêu người. Cuối cùng thư Phaolô sẽ cho chúng ta thấy gương sáng của một giáo đoàn biết đón nhận và thi hành Lời Chúa.

 

A. Trước Hết, Thời Xưa Ðã Có Nhân Ðạo

Chúng ta thường nghĩ rằng ngày xưa người ta chỉ biết lấy mắt trả mắt, răng đền răng. Hơn nữa chúng ta còn dám so sánh và cho rằng ở những thời đại xa xưa của Abraham, Môsê và Ðavít, người ta chỉ cư xử với nhau bằng luật rừng, chứ không thể cư xử với nhau theo tình bác ái. Bài sách Xuất hành hôm nay khiến chúng ta phải dè dặt hơn.

Dĩ nhiên đây không phải là những luật đã được ban bố vào thời Xuất hành. Người ta quen lấy những luật ở những thời đại về sau đem cắm vào những thời đại trước và đặt nơi môi miệng của nhà luật pháp trứ danh là Môsê để chúng được thêm uy tín. Tuy nhiên chúng vẫn căn cứ vào biến cố Xuất hành như ta thấy ở ngay câu đầu tiên trong bài đọc hôm nay.

Chúa truyền cho dân: "Khách cư ngụ, ngươi không được ngược đãi và áp bức nó, vì các ngươi đã là khách cư ngụ ở đất Aicập". Và Người dạy không được ức hiếp mẹ góa con côi, kẻo nó kêu lên Người thì khí nộ Người bốc lên làm cho người ta rơi vào cảnh vợ góa con côi.

Chúng ta thử đặt các lệnh truyền này vào thời đại của chúng cách đây ít nhất cũng phải gần 3,000 năm. Ðó không phải là nhân đạo và văn minh sao? Nhất là luật tiếp theo. Phải cho vay mà không được lấy lãi. Ðược giữ vật thế chân để tránh sự lạm dụng, nhưng những đồ cầm đó phải trả lại trước khi mặt trời lặn, kẻo đêm lạnh người nghèo không có áo làm mền.

Thật, ngày xưa đã có những luật không cho phép người ta bóc lột nhau. Nhưng ở đây không phải chỉ có vấn đề nhân đạo, mà còn có cơ sở đạo đức. Chúa dạy dân phải giữ các lệnh truyền bác ái, không phải vì mọi người là đồng loại, hoặc vì phải nhớ lại hồi trước dân đã từng là nạn nhân của nhiều sự bóc lột, nhưng nhất là vì Thiên Chúa là Ðấng lân tuất. Người luôn luôn xót thương và bênh vực những kẻ khó nghèo và yếu thế. Người chống lại bóc lột. Người đòi cho mọi người được bình đẳng vì tất cả đều là hình ảnh của Người. Người ta muốn đẹp lòng Người thì phải săn sóc đến tha nhân. Người không tách rời lòng đạo đức và tình đồng loại. Người không đồng hóa hai vấn đề mến Chúa và yêu người; nhưng Người chỉ chấp nhận những lòng mến Chúa đồng thời cũng thương người.

Ý định của Thiên Chúa thì rõ rệt như vậy; nhưng thường khi người ta lại không thi hành. Ngay ở trong Dân Chúa, bất công xã hội và bóc lột những kẻ yếu hèn là chuyện không hiếm hoi. Các tiên tri của Chúa phản ứng mạnh mẽ, nhưng cho đến thời Chúa Yêsu vẫn còn có những khuynh hướng pháp luật muốn tách rời hai nhiệm vụ mến Chúa và yêu người. Thậm chí người ta còn muốn căn cứ vào lòng mến Chúa để coi nhẹ bổn phận thương người. Ðọc kỹ bài Tin Mừng hôm nay chúng ta sẽ thấy như vậy.

 

B. Cả Hai Giới Răn Ðều Quan Trọng

Mở đầu, thánh Matthêô đã cho chúng ta thấy bầu khí tranh chấp đố kỵ của thời Ðức Yêsu. Người theo Biệt phái, kẻ theo Sađốc phái. Bên này gài bẫy bên kia và hí hửng khi đối thủ gặp nạn. Từ lãnh vực chính trị xã hội, cuộc tranh chấp lan sang phạm vi tôn giáo. Luật pháp có tới 613 khoản: 248 lệnh truyền và 365 điều cấm. Nhưng khoản nào trọng hơn khoản nào và khoản nào quan trọng hơn hết? Ðó là vấn đề sôi bỏng. Tùy theo người ta nghiêng về phụng vụ hay xã hội, về Ðền thờ hay về đền vua, mà người ta có thể biện minh cho thái độ Biệt phái hay Sađốc phái, thái độ dè dặt hay hợp tác với ngoại bang. Ai cũng muốn tranh thủ người khác về phe mình. Người ta muốn biết ý kiến của Ðức Yêsu. Lập trường của Người rất quan trọng, vì dân chúng sẽ tùy đó mà biểu lộ cảm tình với phe nào. Nhưng tuyên bố lập trường ấy ra cũng thật nguy hiểm cho Người. Phe đối địch sẽ có thêm chứng cớ để tiêu diệt Người.

Tuy nhiên đó chỉ là những suy tính của người ta. Ðã nhiều lần họ gài bẫy Người. Nhưng chẳng có lần nào họ đã thành công. Hôm nay cũng vậy. Ðược hỏi ý kiến về giới răn trọng nhất. Người trả lời như hết mọi người Dothái đạo đức: Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi, và hết lòng trí ngươi. Ðó là câu trong sách Thứ luật (6,5), là kinh nguyện hằng ngày của Dân Chúa. Nhưng Ðức Yêsu không dừng lại ở đó. Người còn nói tiếp: Ðó là giới răn thứ nhất. Thứ đến cũng quan trọng như vậy, là ngươi phải thương đồng loại như chính mình. Người không đồng hóa hai việc mên Chúa và yêu người. Hai việc đó vẫn khác nhau và có thứ tự trước sau, nhưng quan trọng như nhau; và vì thế không được sao nhãng nhiệm vụ nào. Nét độc đáo trong câu trả lời tức là lập trường của Ðức Kitô là ở chỗ đó. Người ta vẫn nói phải mến Chúa và thương người, phải có thiên đạo và nhân đạo. Nhưng thông thường người ta vẫn coi đó là những nhiệm vụ rời nhau, những bổn phận không liên lạc gì với nhau. Người ta có thể mến Chúa trong Ðền thờ và không thương người ngoài xã hội hoặc thương người nơi xã hội nhưng lại không mến Chúa trong Ðền thờ. Nhất là người ta quen coi thương người là thứ yếu sánh với nhiệm vụ phải mến Chúa.

Ðối với Ðức Kitô thì không được như vậy. Phải thương người cũng như mến Chúa. Ưu tiên là mến Chúa nhưng đồng thời cũng phải thương người. Sau này thánh Yoan sẽ giải thích: không thể có lòng mến Chúa vô hình nếu không thương người hữu hình (1Yn 4,20). Và khi dạy phải thương người như chính mình, Ðức Yêsu không có ý bảo phải thương mình trước, hay cũng phải thương cả tha nhân nữa. Câu nói của Người có nghĩa rằng: phải thương người hết mình như đã mến Chúa hết linh hồn.

Cuối cùng một nét độc đáo nữa trong câu trả lời của Ðức Yêsu là: tất cả Luật pháp và Tiên tri đều quy về hai giới răn mến Chúa và yêu người ấy. Và như vậy, không những tất cả 613 khoản luật, mà toàn thể mọi lời giáo huấn đều nhằm phát triển lòng mến Chúa và yêu người.

Vấn đề tranh chấp xưa nay giữa các phe nhóm đã được giải quyết. Chẳng phe nào thắng nhưng nhóm nào cũng phải nỗ lực hơn để giữ trọn Lề luật. Nói đúng ra phe nhóm nào cũng đã lầm lạc. Khi đã không coi trọng hai nhiệm vụ mến Chúa và thương người như nhau, người ta đã làm mất quân bình, gây ra lệch lạc trong đời sống. Ðức Yêsu đã mang ơn cứu độ đến. Ai đón nhận thì phải mến Chúa nhưng đồng thời cũng phải thương người. Thái độ đó, một phần nào chúng ta có thể nhìn thấy nơi giáo đoàn Thessalônikê của thánh Phaolô, mà bài thư hôm nay như muốn nói lên.

 

C. Một Gương Thực Hành

Có thể nói đây là những đoạn văn đầu tiên của bộ sách Tân Ước. Phaolô đã viết bức thư này trước hết vào khoảng năm 51, tại nhà Aquila sau khi Timôthê đã mang mực và da thuộc đến. Lần đầu tiên biên thư cho một giáo đoàn, nên Phaolô có một thái độ trịnh trọng đạo đức, và hầu như phụng vụ nữa.

Người tạ ơn Chúa vì sự sống đạo nơi giáo đoàn ấy. Giáo đoàn Thessalônikê vừa bắt chước Chúa vừa bắt chước các Tông đồ. Họ sống kết hợp với Chúa nhưng cũng kết hợp với các Tông đồ vì họ đã thấy các Tông đồ đến lo việc của Chúa ở nơi họ nhưng đồng thời đã tỏ ra đầy tinh thần phục vụ họ. Mến Chúa và yêu người không phải là hai phận sự tách biệt, nhưng cũng quan trọng như nhau và phải tiến hành đồng đều. Chính vì vậy mà tiếng tăm của giáo đoàn này đã bay đi khắp nơi và Thessalônikê đã trở thành giáo đoàn gương mẫu. Mọi nơi đều ca ngợi họ về hai điểm: đón nhận Lời Chúa cũng như đón nhận các Tông đồ. Họ vừa mến Chúa vừa thương người, vừa kết hợp với Chúa vừa hiệp nhất với nhau.

Cảm động và chân thật hơn nữa là thái độ đón nhận này quả thật rất siêu nhiên, vì là đón nhận giữa bao nỗi gian truân, nhưng lại hoan hỷ trong Thánh Thần. Ðiều này làm chứng Tin Mừng mà Phaolô đem đến không phải là lời của loài người nhưng là Lời của Thiên Chúa. Dân Thessalônikê đón nhận không phải vì thấy đó là lời lẽ khôn ngoan xác thịt, nhưng là Lời có sức mạnh của Thần Khí. Họ phải lướt thắng nhiều khó khăn để đón nhận và đón nhận vui vẻ. Thế nên họ thật đã tham dự vào mầu nhiệm tử nạn phục sinh của Chúa. Họ đã lãnh nhận được chính ơn cứu độ của mầu nhiệm thập giá. Phaolô đánh giá việc họ đón nhận là việc bắt chước Chúa Yêsu và các Tông đồ; bởi vì khi đón nhận Lời Chúa trong gian truân mà vui vẻ thì rõ ràng người ta đã bắt chước các Tông đồ trong việc dạn dĩ rao giảng Lời Chúa giữa ngăn cấm và đe dọa. Nói cách khác, lòng mến Chúa và thương người nơi giáo đoàn Thessalônikê không theo lẽ thế gian nhưng tựa vào sức mạnh của Thánh Thần. Ðó là nếp sống đạo chân thật vì hoàn toàn siêu nhiên. Phaolô có lý do để hãnh diện vì nếp sống đạo ấy. Người tạ ơn Chúa thật là phải lẽ. Và người không nói sai khi tuyên bố đó là nếp sống phải trở nên gương mẫu cho mọi giáo đoàn.

Chúng ta nghĩ sao về các lời Kinh Thánh ấy? Chúng ta đã thâm tín tất cả Luật pháp và Tiên tri đều quy về hai giới răn mến Chúa và yêu người. Ðó vẫn là hai việc khác nhau: không thể coi mến Chúa là thương người; và cũng không được coi thương người là mến Chúa. Nhưng đó là hai việc quan trọng như nhau; phải thi hành cả hai, phải quý cả hai như một; phải kết hiệp với Chúa và đồng thời cũng phải hợp nhất với mọi người.

Giáo xứ chúng ta có được như giáo đoàn Thessalônikê không? Gặp gian truân, khó khăn, chúng ta có "bắt chước" Chúa và các Tông đồ không? Có giữ đạo và đời không? Có vừa làm tốt đời và đẹp đạo không? Biết đâu những lời trong bài sách Xuất hành không đang còn có giá trị khẩn trương? Chung quanh chúng ta có những đồng bào mới đến. Những anh chị em ấy có được lập tức đón nhận như đồng bào ruột thịt không? Những cảnh mẹ góa con côi cũng không hiếm ở giữa chúng ta. Và chắc chắn nhiều người đang lâm cảnh vay mượn và cần giúp đỡ. Lòng nhân đạo khi gặp khó khăn có vươn lên được nhờ sự giúp đỡ của đức tin không?

Các tín hữu ở Thessalônikê đã nhờ việc "bắt chước" Ðức Kitô mà có một nếp sống đạo chân thực và tốt đẹp. Giờ đây, Ðức Kitô đến hiện diện trong mầu nhiệm tử nạn phục sinh nơi bàn thờ. Chúng ta muốn tham dự vào mầu nhiệm của Người. Nhưng việc tham dự này chỉ chân thật khi chúng ta quyết tâm bắt chước cuộc đời của Ðức Kitô. Chúng ta sẽ làm chứng mình đã tham dự thánh lễ chân thật, nếu sau khi về nhà, chúng ta sẽ sống tốt cả hai nhiệm vụ mến Chúa và yêu người. Chúng ta sẽ là Kitô hữu tốt khi chu toàn các bổn phận đối với cả đạo và đời. Xin Thiên Chúa giúp đỡ chúng ta. 

(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa

của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

ĐIỀU RĂN TRỌNG NHẤT
(CN XXX/TN-A) 

Sau khi đám biệt phái Pha-ri-sêu gài bẫy Đức Giê-su về vụ “nộp thuế cho Xê-da” (CN.XXIX/TN-A) bị thất bại thê thảm, thì lại đến lượt đám Xa-đốc gài bẫy Người về vụ “Kẻ chết sông lại”. Đám Xa-đốc vốn không tin có sự sống lại, nên mới đưa ra trường hợp một người đàn bà liên tiếp sống với 7 đời chồng (là anh em ruột, cứ người anh chết đi thì lại lấy người em kế, cho đến khi cả 7 anh em đều chết hết). Sau đó người đàn bà cũng chết. Họ hỏi Đức Giê-su: “Vậy khi sống lại, thì bà ấy sẽ là vợ ai trong số 7 người chồng đó?” Thực tế, không thể và không hề có chuyện như vậy. Nhóm Xa-dốc phịa ra một câu chuyện không tưởng, mục đích chỉ để dồn Đức Giê-su vào thế bí, nhằm hạ nhục Người. Đức Giê-su đã giáng một đòn rất mạnh, khiến họ phải câm miệng: "Các ông lầm, vì không biết Kinh Thánh, cũng chẳng biết quyền năng Thiên Chúa. Quả thế, trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời.” (Mt 22, 29-30). 

Vì liên tiếp thất bại, nên “Khi nghe tin Đức Giê-su đã làm cho nhóm Xa-đốc phải câm miệng, thì những người Pha-ri-sêu họp nhau lại.” (Mt 22, 34) tìm phương kế tiếp tục hành động ám muội của họ. Đó là đám người chuyên vỗ ngực tự cho mình là người thông luật và tự hào mình lúc nào cũng tuân thủ Lề Luật cách nghiêm chỉnh. Đáng tiếc là họ “nói mà không làm, bó những gánh nặng mà đặt lên vai người ta, còn chính họ lại không buồn động ngón tay vào”, và nhất là “họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy” (Mt 23, 3-5). Hơn thế nữa, họ vẫn cho rằng Đức Giê-su chống lại Lề Luật (cụ thể là luật Mô-sê), và họ đã liên tục đem Lề Luật ra gài bẫy Người (“các kinh sư và các người Pha-ri-sêu bắt đầu căm giận Người ra mặt, và vặn hỏi Người về nhiều chuyện, gài bẫy để xem có bắt được Người nói điều gì sai chăng.” – Lc 11, 53-54). Họ luôn tìm những chứng gian để có cớ xử án Người (“Còn các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng thì tìm chứng gian buộc tội Đức Giê-su để lên án tử hình” – Mt 26, 59). 

Bài Tin Mừng hôm nay CN.XXX/TN-A – Mt 22, 34-40) trình thuật về vụ những “nhà thông luật” Pha-ri-sêu họp nhau lại bàn mưu tính kế, rồi đặt câu hỏi để thử xem Đức Giê-su có “thông luật” không? Họ hỏi: "Thưa Thầy, trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất?" Với bộ luật Mô-sê có tới 613 khoản (gồm 248 lệnh truyền và 365 điều cấm), nếu gặp phải tay mơ, thì “bí rị” là cái chắc; nhưng thật không ngờ Đức Giê-su trả lời một cách trơn tru: "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy." (Mt 22, 36-40). 

Mới thoạt nghe câu trả lời của Đức Giê-su (yêu Chúa và yêu người thân cận), ai cũng cho là hữu lý, vì nghĩ rằng Thiên Chúa là Cha thì yêu Người “hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn” là điều tất nhiên; còn người thân cận thì hẳn phải là những người máu mủ ruột thit (cha mẹ, anh chị em), yêu mến họ là phải đạo làm người. Nhưng chẳng lẽ Thiên Chúa yêu tất cả loài người, mà Người chỉ dạy yêu những người ruột thịt thôi sao? Thắc mắc này không được thánh Mat-thêu trình thuật, nhưng theo thánh Lu-ca thì đó cũng là thắc mắc của chính người đã hỏi Đức Giê-su về “Điều răn trọng nhất” (Lc 10, 29-37): Nhà thông luật “muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giê-su rằng: "Nhưng ai là người thân cận của tôi?" Chỉ đến khi nghe hết “Dụ ngôn người Sa-ma-ri tốt lành” (Lc 10, 30-37), nhà thông luật mới vỡ lẽ để hiểu ra rằng “người thân cận” không chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình ruột thịt, mà là tất cả “những người ta gặp trên đường” hay nói rõ hơn, đó là “người trong bốn bể đều là anh em” (“tứ hải giai huynh đệ”), vì tất cả đều là con cái của Người Cha duy nhất trên trời: “Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng ta”. 

Tới đây thì mọi sự đã rõ ràng: “Thiên Chúa dựng nên loài người giống hình ảnh Người” (St 1, 27) thì tất cả những tha nhân bên cạnh và chung quanh chúng ta chính là hiện thân cụ thể và gần gũi chúng ta nhất, bởi tất cả đều giống hình ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng vô hình, mà lại dựng nên con người giống hình ảnh Người, vậy phải hiểu vấn đề như thế nào cho ổn? Vấn nạn này cũng đã gây nhiều tranh cãi, mãi đến Công Đồng Va-ti-ca-nô II, vấn đề mới sáng tỏ: “Mầu nhiệm về con người chỉ thật sự được sáng tỏ trong Mầu Nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể. Thật vậy, A-đam, con người đầu tiên, chính là hình ảnh của Đấng sẽ đến, là Chúa Ki-tô. Chúa Ki-tô, A-đam Mới, trong khi mạc khải về Chúa Cha và tình yêu của Người, cũng giúp con người hiểu biết đầy đủ về chính mình và nhận ra ơn gọi vô cùng cao quý của mình. Là "hình ảnh của Thiên Chúa vô hình" (Cl 1, 15), chính Người là con người hoàn hảo đã trả lại cho con cháu của A-đam hình ảnh Thiên Chúa đã bị tội nguyên tổ làm sai lệch.” (Hiến chế Mục Vụ về Giáo Hội “Gaudium et Spes”, số 22).

Vì thế, yêu những người ấy là yêu chính Thiên Chúa, và không yêu họ chính là không yêu Người. Do đó, thánh sử Gio-an mới nói: “Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu thương anh em mình” (1Ga 4, 20-21). Đó cũng chính là nguyên cớ khiến thánh Phao-lô và Gia-cô-bê đã tóm lại toàn bộ lề luật vào một giới răn duy nhất: “Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật; Các điều răn đều tóm lại trong lời này: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Yêu thương là chu toàn Lề Luật.” (Rm 13, 8-10); “Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.” (Gl 5, 14); “Luật Kinh Thánh được đưa lên hàng đầu là "Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Gc 2, 8).

Chính Con Người không những đã dạy bảo mà còn thực hành điều đó trên Thánh giá. Khi chiêm ngắm Thánh giá thì cũng chính là lúc người tín hữu được trực diện với hình ảnh Thiên Chúa Tình Yêu Giê-su Ki-tô đang dang rộng hai tay mời gọi mọi người hãy trở nên đồng hình đồng dạng với Người. Một cách cụ thể, Người đang muốn nói với tất cả chúng ta: "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” – Mt 22, 37-39). Cây Thánh giá hình chữ thập chính là biểu tượng cho hai điều răn quan trọng nhất ấy: Cây gỗ dọc là thân mình của mỗi Ki-tô hữu đang đứng thẳng vươn tới Thiên Chúa, thanh gỗ ngang là hai cánh tay dang rộng ôm lấy anh em trong yêu thương đùm bọc nhau. Nói khác đi, Đạo (con đường) Ki-tô chỉ có 2 chiều: chiều thẳng đứng chỉ sự công minh chính trực của Thiên Chúa là điều phải vươn tới và chiều nằm ngang chỉ tình cảm thương yêu đối với tha nhân là điều phải thực hiện trong cuộc sống. 

Rõ ràng 2 điều răn đã liên kết chặt chẽ với nhau trở nên một điều răn quan trọng nhất: “Mến Chúa yêu người”, cũng như 2 thanh gỗ đóng hình chữ thập nhuộm đỏ máu Chúa Ki-tô đã trở nên một Biểu-Tượng-Tinh-Yêu được cả thế giới công nhận và tín phục: HỒNG THẬP TỰ. Vâng, quả thực là Đạo Công Giáo chỉ sống và thực hành duy nhất một điều răn bao trùm lên tất cả: MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI. Muốn “mến Chúa” thì tiên vàn phải biết “yêu người” (“đói cho ăn, khát cho uống, rách cho mặc, tiếp rước khi là khách lạ, viếng thăm khi bị cầm tù…”), vì chỉ có “yêu người” mới thực là “mến Chúa”, bởi "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy" (Mt 25, 40). 

Không cần phải nói ở đâu xa, cứ xem ngay từ hồi những hạt giống Tin Mừng đầu tiên được gieo trên mảnh đất chữ S này, những anh em không cùng tín ngưỡng, kể cả những người không tín ngưỡng (vô thần) đều gọi Ki-tô Giáo là Đạo Yêu Thương, Đạo Bác Ái. Ngày nay, chúng ta hãnh dịên vì điều đó, thì lại càng phải làm sao cho điều đó trường tồn và phát triển đến thiên thu vạn đại. Muốn được như vậy, hẳn nhiên là phải thực sự trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô, cũng tức là phải làm thế nào cho mình trở nên một THẬP-TỰ-GIÊSU giữa đời. Viết tới đây, kẻ viết bài này bỗng liên tưởng tới một sự kiện cũng xảy ra tại Việt Nam vào cuối thập kỷ 80 thế  kỷ XX: Đó là câu chuyện bộ phim “Chuyện Tử Tế” của nhà đạo diễn Trần Văn Thủy đã gây chấn động dư luận trong nước và cả thế giới. 

Bộ phim được sản xuất và hoàn tất năm 1985, nhưng bị cấm phát hành, mãi đến năm 1987 mới được công chiếu. Bộ phim đã khắc họa hình ảnh của những người dân nghèo khổ dưới chế độ bao cấp của xã hội VN, để từ đó tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi: "Thế nào là sự tử tế?" Tác phẩm sau đó đã giành giải Bồ Câu bạc tại Liên hoan phim Quốc tế Leipzig, được nhiều đài truyền hình mua bản quyền để phát lại. Khi phim “Chuyện Tử Tế” được trình chiếu trong liên hoan phim Đại Dương (Pháp), một phóng viên đã hỏi: “Người Ki-tô hữu Việt Nam có thể làm gì cho dân tộc mình?” Đạo diễn Trần Văn Thủy đã trả lời: “Với tôi, điều người ta mong đợi ở các Ki-tô hữu là niềm tin của họ và cách họ sống điều họ tin”. Chính điều này cho thấy tin Đạo là một chuyện, nhưng còn phải biến niềm tin ấy thành hành động sống Đạo giữa đời, đem đến cho đời những điều tốt lành của Đạo, hay nói cách khác là sống tốt Đạo đẹp đời. Chỉ có như thế mới xứng đáng với “Hình ảnh và danh hiệu của Thiên Chúa” ở ngay chính con người của mình: Ki-tô hữu. 

Là Ki-tô hữu, tức là một Thập-tự-Kitô, phải chăng là đang thi hành sứ mệnh "Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em" (Mt 28, 19-20)? Câu trả lời thật hiển nhiên: “Vì sứ mệnh này tiếp diễn, và qua dòng lịch sử làm sáng tỏ sứ mệnh của chính Chúa Ki-tô, Ðấng đã được sai đến rao giảng Phúc Âm cho người nghèo khó, nên Giáo Hội được Thánh Thần Chúa Ki-tô thúc đẩy, cũng phải tiến bước trên chính con đường mà Chúa Ki-tô đã đi, là nghèo khó, vâng lời, phục vụ và tự hiến thân cho đến chết, để rồi toàn thắng nhờ sự sống lại của Người. Chính các Tông Ðồ trong niềm hy vọng cũng đã bước đi trên đường lối đó, đã chịu nhiều nghịch cảnh và đau khổ để hoàn tất những gì còn thiếu sót trong cuộc khổ nạn Chúa Ki-tô đã chịu vì thân thể Người là Giáo Hội. Nhiều khi máu các Ki-tô hữu còn là hạt giống nữa.” (SL Truyền Giáo “Ad Gentes”, số 5). 

“Máu các Ki-tô hữu còn là hạt giống nữa” ư? Vậy thì máu Ki-tô hữu đổ ra nhuộm đỏ thân mình trở thành một Hồng-Thập-Tự-Kitô, há chẳng phải là ”hat giống Tin Mừng” đó sao? Chính những hạt giống Tin Mừng ấy sẽ trưởng thành và đơm bông kết trái trên cánh đồng TRUYỀN GIÁO vậy. Ôi! Lạy Chúa, xin soi sáng và thêm sức cho con nên một cành nho trổ sinh nhiều hoa trái, để con thực sự trở thành một HỒNG-THẬP-TỰ-KITÔ-HỮU giữa đời thường. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.  

JM. Lam Thy ĐVD.

 

SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT  XXX TN ( A )

 LUẬT CỦA SỰ SỐNG ( Mt 22, 34- 40 )

Kinh thưa quý vị ! Thiên Chúa là nguồn sống, nguồn sống vĩnh cửu , đích thực và duy nhất. Vì sự sống từ nơi Thiên Chúa phát xuất ra, chứ sự sống không do bởi con người. Vì thế, nguồn sống vĩnh hằng nơi Thiên Chúa là điều quan trọng nhất. Chủ đề Lời Chúa hôm nay, Chúa Nhật XXX TN ( A ), tuy không dài, nhưng thật quan trọng, thật cao siêu. Vì đây là tận cùng là mấu chốt của vấn đề Đức Tin  Kitô giáo. 

Vâng , tại sao vậy, thưa quý vị ? Thưa, bởi vì, tất cả, chung quy, mọi sự rồi phải đến cùng đích đó là : “SỰ SỐNG VIÊN MÃN”. Từ đó, việc giữ đạo  mới thật sự có giá trị. 

Tại sao chúng ta nói : Thiên Chúa là tình yêu , vâng , quả thật là như thế. Bởi vì, Thiên Chúa là sự sống, là nguồn sống. Nếu như, Thiên Chúa không là tình yêu, thì tất không có sự sống. Chúng ta thấy, tại sao có ma quỷ? Bởi vì, nơi nó không có sự sống. Nó ghen ghét, nó có hận thù, nó là cho chết, tìm cách hãm hại. Thì chúng ta gọi đó là ma quỷ. Tại sao gọi là ma quỷ? Thưa, quỷ là kẻ đầu nêu , là kẻ gieo mầm sự chết. Tức satan, có nghĩa là kẻ phản nghịch, kẻ chống lại Thiên Chúa. Còn, ma là linh hồn người ta bị quỷ cám dỗ theo nó. Cho dù, linh hồn con người phạm tội chống lại Thiên Chúa, hay là quỷ đi nữa, thì Thiên Chúa cũng không tiêu diệt quỷ hay linh hồn đó. Bởi vì Nguồn sống bắt đầu từ Thiên Chúa, Đấng Tạo dựng. Thiên Chúa chỉ tạo dựng một lần và mãi mãi, không tạo dựng hai lần. Đó là nguyên lý nguồn sống từ Thiên Chúa, hay nói cách khác, ngoài Thiên Chúa thì không có nguồn sống. Từ chân lý nầy, chúng ta suy ra, sự sống của linh hồn và sự sống của thân xác . Sự sống của linh hồn tuy siêu nhiên, nhưng bất tử, vĩnh cửu , đời đời. Chúng ta không nhìn thấy sự sống của linh hồn bằng con mắt thể xác. Nhưng chúng ta có thể nhìn thấy sự sống của linh hồn qua con mắt đức tin. Bởi vì, điều gì nhìn thấy qua con mắt thể xác, thì điều ấy sẽ giới hạn. Vì vậy, qua sự sống hữu hạn, chúng ta được nhìn thấy sự sống vô hạn, đó là sự sống của linh hồn. Dù tin hay không, thì đây là chân lý. 

Từ sự sống thể xác, chúng ta suy về sự sống của linh hồn, từ đó, chúng ta cần tìm kiếm và tôn thờ Thiên Chúa, Đấng là nguồn của sự sống vĩnh cửu và hữu hạn. 

Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy luật của sự sống. Vâng, luật của sự sống đó là “YÊU THƯƠNG “. Vì tình yêu gắn liền với sự sống, cả nghĩa đen lẫn nghĩa siêu nhiên. Chúng ta tôn thờ Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta, hơn là quyền năng của Thiên Chúa. Vì quyền năng của Thiên Chúa làm cho chúng ta xúc phạm, còn tình yêu thương của Thiên Chúa, thì làm cho chúng ta được sống. Vâng, Thiên Chúa đã tỏ hiện tình yêu của Ngài qua Con Một- là Đức Giêsu –Kitô. Vì nếu chúng ta không đặt tình yêu Thiên Chúa lên trên tất cả, thì chúng ta không thể có sự sống vĩnh cửu được. Vì sự sống vĩnh cửu chỉ có ở một nơi duy nhất đó là Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta không thể vừa tôn thờ Thiên Chúa là tình yêu, mà chúng ta lại không trao ban tình yêu cho tha nhân. Trong đoạn Tin Mừng ( Mt 22, 39 b) hôm nay, gọi là “người thân cận “  : Người thân cận có nghĩa là: Cha mẹ , vợ chồng , con cái, anh chị em, hàng xóm,tất cả những người chúng ta gặp hằng ngày, nơi công xưởng, đồng nghiệp, học đường, ngoài chợ , bạn hàng. Tóm lại là tất cả mọi người chúng ta gặp từ người thường xuyên gặp đến những người ít găp, mới gặp. Trong cộng đoàn dòng tu, anh em cùng dòng, bề trên, bạn hữu, tất cả những anh chị em khác dòng, những người giúp việc, tất cả mọi người chúng ta gặp trên đường đi. Cụ thể như trường hợp các thánh. Các thánh tu trì không sống trong môi trường gia đình theo huyết thống, nhưng trong một môi trường gia đình thiêng liêng. Các thánh sống trong bậc gia đình, thì chu toàn bổn phận vì yêu thương gia đình đúng cách. Yêu như chính bản thân mình, là biết “hy sinh” cho người thân cận. 

Chúa Giêsu day cho chúng ta biết yêu thương tha nhân như chính mình, là dạy cho chúng ta biết yêu thương đúng cách. Để chu toàn luật yêu mến Thiên Chúa trên tất cả mọi sự. Hai điều nầy không mâu thuẫn với nhau, nên, gọi là một điều răn. Vì ai yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, thì tất không có lòng thù ghét người thân cận . Người thân cận, rất nhiều khi làm mất lòng chúng ta, làm cho chúng ta thiệt thòi về những điều cố tình hoặc vô ý. Chúng ta rất khó chịu, đó là sự sống thân xác. Nhưng, chúng ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, thì đó là sự sống linh hồn, sự sống siêu nhiên. Theo đó, yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa trên hết mọi sự và yêu thương người thận cận như chính mình, chính là một con người có thân xác và có linh hồn, như thế mới gọi là một con người sống có sự sống. Như vậy, gọi là “LUẬT CỦA SỰ SỐNG” . Vì nếu, chúng ta chỉ yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa không thôi, thì chưa đúng như Lời Chúa dạy. Còn ngược lại, nếu chúng ta chỉ yêu người thân cận không thôi, thì làm sao chúng ta có sự sống đích thực là Thiên Chúa. Khi thân xác hữu hạn qua đi, chúng ta làm sao có sự sống vĩnh cửu là Thiên Chúa được.  Vậy, chúng ta phải tìm lấy sự sống vĩnh cửu, để chu toàn sự sống hữu hạn nơi thân xác là yêu người thân cận như chính mình. Vì như thánh Phao-lô nói: “Yêu thương là chu toàn lề luật” ( Rm 13, 8). Như vậy, cũng có thể gọi là “LUẬT CỦA SỰ SỐNG “. Khi chúng ta giết người, thì chắn chắc luật xã hội sẽ trừng trị chúng ta. Nhưng khi, chúng ta hận người trong lòng, thì luật tình yêu thương của Thiên Chúa sẽ lên án chúng ta. ( vì luật xã hội không làm gì được chúng ta) 

Tình yêu chính là sức mạnh, là động lực sống cho con người.  Muốn làm được tất cả, trước tiên phải có tình yêu. Không phải chỉ có tình yêu đôi lứa, nam nữ giữa con người mà thôi. Tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa, bởi vì : THIÊN CHÚA Là TìNH YÊU . Tình yêu gắn kết đôi nam nữ và làm cho họ trở nên vợ chồng, như vậy hôn nhân cần có tình yêu. Nhưng, tình yêu của hôn nhân cần có tình dục để chu toàn trọn vẹn tình yêu. Hôn nhân gia đình, nếu thiếu hoặc mất đi hương vị của tình yêu, thì không còn hôn nhân nữa. 

Nhưng tình yêu nơi Thiên Chúa là tình bạn hữu muôn đời không thay đổi, vì đó là sự sống thần linh. Chúa Giêsu nói : “ Thầy không gọi anh em là tôi tớ, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì điều gì Thầy nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho anh em biết.” ( Ga 15, 15).( Lc 12, 4)  

Theo đó, Lời Chúa hôm nay cho chúng ta một sự khôn ngoan đích thực hầu bảo đảm cho chúng ta một sự sống đời đời. Như thế, không phải là “luật của sự sống” hay sao ? Lời Chúa cho chúng ta biết sống, sống đúng cách, và sống đời đời. 

Thánh Vịnh 17 hôm nay khái dài, cho chúng ta biết :” Bài ca cảm tạ “ Thiên Chúa: Chúa là dũng lực . là thành lũy chở che con. Muôn đời con cảm tạ ơn Ngài. 

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy cho chúng con một điều răn quan trọng nhất, đó là luật mến Chúa trên hết mọi sự, và yêu thường người thân cân như chính mình con. Xin thương ban cho chúng con biết thực thi Lời dạy của Chúa để chúng con nhận được sự sống đích thực từ nơi Chúa là nguồn sống, vì đó chính là đích điểm của chúng con./. Amen. 

26/10/2014

P.Trần Đình Phan Tiến

 

Đạo Yêu - Vị Tha hay Vị Kỷ
chúa nhật 30 tn-a
 

Phúc Âm Nhất Lãm có viết về Điều Răn Trọng Nhất (Mt 22:34-40; Mc 12:28-34; Lc 10:25-28) và bài Phúc Âm của chủ nhật này theo Thánh Mátthêu đã dựa vào bối cảnh của Phúc Âm theo Thánh Mátcô để diễn tả rằng Chúa Giêsu phải đối phó nhiều với các thượng tế, luật sĩ và người Pharisêu vì sau khi Ngài được đón rước vào Thành Thánh Giêrusalem một cách long trọng như một Vị Cứu Tinh nhưng những kẻ ghét Ngài đã quá thiển cận và mù quáng nên họ vẫn cứ gài bẫy, phản kháng và thách đố Chúa Giêsu để họ có thể tìm cách giết Ngài, và những cuộc đối chất này sẽ đưa đến hậu quả tối hậu là Ngài sẽ phải chết.  

Trong phần đối chất theo bài Phúc Âm của chủ nhật này, một luật sĩ đã thử Chúa Giêsu với một câu hỏi rất thông thường trong Đạo Do Thái về lời Kinh Shema (như là Kinh Tin Kính) mà người Do Thái phải đọc mỗi ngày -- “Nghe đây, hỡi Ítsraen; ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, là ĐỨC CHÚA duy nhất, hãy yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em” (NL 6:4-5) -- để xét Ngài sẽ đáp lại thế nào về giới răn trọng đại nhất.   Phúc Âm Thánh Mátthêu đã bầy tỏ rằng Chúa Giêsu đã biết ác ý của họ (Mt 22:18) nên Ngài đã dùng dịp này để đáp lại với một câu trả lời thật sâu xa: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi.  Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất.  Còn điều răn thứ hai - cũng giống điều răn ấy - là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.  Tất cả Luật Môisê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy” (Mt 22:37-40); rồi những người muốn tranh luận với Ngài đã phải câm miệng và rút lui. 

Câu trả lời tinh tế này cũng là một lời cảnh tỉnh cho cả chúng ta nên ta hãy bàn thêm về câu nói này của Chúa Giêsu: 

Yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn là một lẽ đương nhiên của những ai tin vào Thiên Chúa!  Nhưng lời kinh này không phải chỉ được đọc suông như con vẹt vì người đọc lời kinh này phải chứng tỏ lòng tin đó qua cuộc sống của họ.  Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu lại nói thêm vào lời kinh đó với câu nói: “Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ‘Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.  Tất cả Luật Môisê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy’.”  “Yêu người thân cận như chính mình” là bằng chứng cụ thể của người yêu Thiên Chúa một cách đích thực! 

“Yêu người thân cận như chính mình” ám chỉ rằng lòng yêu người phải được nhấn mạnh về tình thương tha nhân trước hết... khi ta thấy nỗi đau của người khác chính là nỗi đau của mình và tìm mọi cách để đáp ứng thì mới chứng tỏ được tình yêu tha nhân của mình có tính cách vị tha; thay vì tình yêu theo tính vị kỷ của con người vì họ chỉ nghĩ đến mình trước khi nghĩ đến người khác.  Ta hãy xét lại về tình thương của ta với Thiên Chúa hay tha nhân để xem tình thương của ta có tính cách vị tha hay vị kỷ.  Đây chính là Đạo Yêu đích thực mà Chúa Giêsu muốn ở nơi ta! 

LM JP Vũ Minh  

***************************** 

Religion of Love - based on the Self or the Others  

The Synoptic Gospel wrote about the Most Important Commandment (Mt 22:34-40; Mk 12:28-34; LK 10:25-28).  This Sunday’s Gospel according to Saint Matthew used the setting in Saint Mark’s that Our Lord Jesus had to confront the challenges imposed on Him after His glorious entry to the Holy City of Jerusalem as the Messiah but His adversaries were so narrow-minded and blinded to the point that they continued to trap, oppose and defy Him in order to kill Him, and these confrontations were ultimately led to His death. 

In the argument listed in this Sunday’s Gospel, a lawyer tested Our Lord Jesus with a very fundamental tenet in Jewish faith with the Shema (the creed) which the Jews must recite daily -- “Hear, O Israel!  The LORD is our God, the LORD alone!  Therefore, you shall love the LORD, your God, with your whole heart, and with your whole being, and with your whole strength” (Deut 6:4-5) -- in order to see His response to the Most Important Commandment.  Saint Matthew’s Gospel had indicated that Our Lord Jesus knew their malice (Mt 22:18) so He used this opportunity to reply to His opponents in a very wise statement: “You shall love the Lord, your God, with all your heart, with all your soul, and with all your mind; this is the greatest and the first commandment.  The second is like it: You shall love your neighbor as yourself.  The whole law and the prophets depend on these two commandments” (Mt 22:37-40)… then, these challengers were silenced and they walked away. 

This wise answer could be a wakeup call for us that required us to reflect further: 

“Love the LORD, your God, with your whole heart, and with your whole being, and with your whole strength” was a natural demand for all who believe in GOG.  This prayer should not be uttered just in words because the believer must demonstrate this statement of faith in their actual living.  That’s why Our Lord Jesus went further with His statement: “The second is like it: You shall love your neighbor as yourself.  The whole law and the prophets depend on these two commandments.”  “Love others as we love ourselves” was a natural demand for all so that their manifestation in actual life must be congruent to their love of GOD. 

“Love others as we love ourselves” indicated that the love of others emphasized the love of others in its primary point… one must have taken in the pain of the other person to be his own pain and tried to respond appropriately then this action would be a sign of their emphases were on the selves or the others.  Let us examine our hearts to see if our love was merely based on our personal interest instead of focusing on the others’ needs.  This would be the true Religion of Love that Our Lord Jesus wanted for all of us.

rev. JP Minh Vũ  

 

Tình yêu - nền tảng đời sống Đức tin

 

Thế giới phát triển về mọi mặt đang dần làm cho cuộc sống con người ngày hiện đại hơn. Tuy nhiên, đó cũng là một trong những nguyên nhân gây nên những khủng hoảng trầm trọng về khí hậu, môi trường, năng lượng… Hay nói cách khác, vấn đề này đã và đang đe dọa đến sự sống còn của con người. Nhưng điều đáng lo ngại hơn mà nhân loại đang đối điện đó chính là sự khủng hoảng “tình thương”. Điều mà làm cho cuộc sống ngày hôm nay mất đi căn tính đích thực, trở nên nhạt nhẻo và kéo theo bao nhiêu hệ lụy đau thương. 

Một cử chỉ yêu thương đang trở nên “đặc sản” bởi sự hiếm hoi của nó trong cuộc sống đời thường. Tình yêu, đó là cái đặc tính tự nhiên mà Thiên Chúa ban cho con người, đáng ra phải luôn được hiện hữu và gắn liền với sự tồn tại của chúng ta. Nhưng đời sống càng hiện đại bao nhiêu thì dường như tình yêu càng mờ nhạt bấy nhiêu. 

Đâu đó người ta vẫn bảo: “thời nay cuộc sống văn minh hơn”. Vậy, phải chăng sự văn minh của con người chỉ được đánh giá dưới chiều kích vật chất? Khi mà tình yêu, tình cảm, lòng bác ái đang dần mai một, khi mà con người chỉ biết tranh giành vật chất, quyền lực và địa vị, khi mà con người trở nên độc ác, ích kỷ hơn, rồi cuộc sống này sẽ đi về đâu? 

‘’Nhân phẩm từ đây giảm giá rồi

Chỉ còn lương thực tăng giá thôi

Lương tâm bán rẻ hơn lương thực

Chân lý chân giò một giá thôi!’’ 

Thật vậy, một thế giới quá chênh lệch giàu nghèo. Một xã hội quá đề cao tiền bạc và quyền lực mà quên đi phẩm giá con người. Một thế giới được xây dựng trên nền tảng kinh tế mà đánh mất đi những giá trị nhân văn và luân lý.  Một thế giới tiến bộ về khoa học kỹ thuật nhưng đạo đức đang xuống dốc trầm trọng. Một thế giới mà chân lý chỉ đúng với những cái lý của kẻ mạnh. Đây là một trong những khủng hoảng đáng báo động hơn hết mà con người đang phải đối diện. Bởi, con người đang sống nhưng sống trong ghen ghét hận thù vì miếng cơm manh áo, sống trong sự dẫm đạp lẫn nhau vì tiền tài địa vị, và sống trong sư cô đơn, lẻ loi vì sự ích kỷ, vô cảm. Như ai đó vẫn nói: “con người ngày nay đang sống mà như đã chết”. 

Những điều này đang là một thách thức lớn đối với cả nhân loại, cách riêng là đối với mỗi người kitô hữu chúng ta. Trước xu thế đó, chúng ta có dám sống triệt để giới răn mến Chúa giữa một xã hội loại trừ Thiên Chúa hay không? Chúng ta có dám sống yêu người giữa một thế giới đang thiếu vắng tình thương hay không? Đó là lời mời gọi cấp thiết mà Chúa Giêsu đang kêu mời mỗi chúng ta: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi… Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.” (Mt 22, 37-39) 

“Mến Chúa, yêu người” là châm ngôn sống cho đời sống đức tin của mỗi người chúng ta ngày hôm nay. Lời mời gọi đó muốn chúng ta sống căn tính môn đệ Đức Kitô một cách triệt để giữa những xáo trộn của xã hội. Quả vậy, sống đức tin một cách sống động không những hệ tại ở lòng mến Chúa ,nhưng là hiện thực hóa lòng mến đó bằng chính hành động “yêu mến tha nhân như chính mình”. 

Chính tình yêu là cốt lõi, là hơi thở, là sự sống của người kitô hữu. Không có tình yêu thì sức sống của người kitô hữu không còn. Không có bác ái thì người kitô hữu không còn là chứng nhân. Chúng ta được mời gọi đi ngược lại những dòng chảy của thế gian, mở rộng tấm lòng với tha nhân, đó là cách chúng ta làm chứng cho một tình yêu tuyệt vời, một sự tha thứ vô hạn và một tấm lòng bao dung vô bờ. 

Để sống được như vậy, hãy nhìn lên Đức Giêsu Kitô - Thầy Chí Thánh của chúng ta. Ngài đã đi trọn con đường trần thế với một tình yêu vĩ đại, một tình yêu bất diệt, đó là tình yêu “dám chết cho người mình yêu”. Với cuộc đời dương thế ngắn ngủi, nhưng Ngài đã ẳm lấy biết bao thân phận nghèo hèn, đau thương, bệnh tật; Ngài đã tha thứ cho bao nhiêu con người sỉ nhục, đánh đập và thậm chí giết chết Ngài; Ngài trao ban chính mình để nhân loại được sống, được tự do và trở nên con cái Thiên Chúa. Chính Đức Kitô là gương mẫu cho đời sống đức tin của mỗi chúng ta. Chính cái chết tắc tưởi trên Thập giá vì yêu thương nhân loại, Ngài đã minh chứng cho tất cả. Do đó, người kitô hữu được mời gọi trở nên đồng hình, đồng dạng với Ngài, đó là sống một tình yêu như Ngài trong hành trình đức tin.

Thiết nghĩ, không dễ dàng để sống một tình yêu như vậy với biết bao nhiêu yếu đuối và nặng nề của con người. Cho nên, kết hợp với Chúa trong chính cuộc đời của mình, thực thi Lời của Ngài trong mọi lúc mọi nơi, lấy Ngài làm cùng đích cho hành trình dương thế, là sức mạnh để chúng ta vượt thắng được sự mỏng giòn của phận người. Thật vậy, chỉ có trong tình yêu của Chúa, chúng ta mới đủ sức mạnh và can đảm để sống yêu thương tha nhân như chính mình. Nếu sống trong Chúa, chúng ta sẽ trao ban sự sống sung mãn cho nhân loại bằng những cử chỉ yêu thương, bác ái và vị tha. Nếu ở trong Chúa, chúng ta sẽ đưa tình yêu, lòng bao dung, thương xót đến với than nhân.. Nếu có Chúa trong đời, chúng ta sẽ đưa hình ảnh Chúa đến với nhân loại này ngang qua chính mình. 

Nhìn lên tình yêu của Đức Kitô, sống một tình yêu như Ngài đã sống đó là nền tảng đời sống đức tin đối với mỗi người tín hữu hôm nay. 

Hãy sưởi ấm những phận người cô đơn, thất vọng bằng việc thắp lên một ngọn lửa yêu thương. Hãy xoa dịu những bất công, hận thù bằng việc tha thứ, bao dung. Hãy tôn vinh phẩm giá con người bằng một đời sống công bằng và sự thật. Hãy đem Chúa đến với mọi người bằng chính đời sống chứng ta của một người kitô hữu. Được như vậy thì phần thưởng dành cho mỗi chúng ta trên Nước Trời sẽ thật lớn lao. 

J.B Lê Đình Nam

 

Vui cười : Yêu người như chính mình là sao?

Đến đón con từ lớp Giáo lý, trên đường về nhà bà mẹ tò mò hỏi:
- Hôm nay Sơ dạy con gì vậy?
Bé Tí ngoan ngoãn đáp:
- Sơ nói, Chúa dạy ta phải yêu mến Chúa hết lòng hết trí khôn, và yêu tha nhân như chính mình.
Bà mẹ hỏi tiếp để thử con:
- Vì sao phải yêu tha nhân như chính mình hả con?
Bé gái ngây thơ:
- Vì họ là "linh hồn" của ta.
Bà mẹ ngạc nhiên:
- Sơ dạy con như vậy sao?
Bé Tí thành thật:
- Dạ không phải sơ. Tối hôm qua con nghe anh hai vừa học vừa nói chuyện trên phôn rằng: Nhớ em quá. Em là linh hồn của anh!
Bà mẹ la to: Trời !!!....

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)