ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Sách Tông Vụ: Bài 21 (Phụ Thêm)
 22 tháng Giêng 2020
 Lòng Hiếu Khách Đại Kết

 

(Trong tuần lễ Hiệp Nhất Kitô Giáo theo truyền thống hằng năm 18-25/1, tức cho tới Lễ Thánh Phaolô Trở Lại,
ĐTC Phanxicô đã lợi dụng để chia sẻ tiếp về Sách Tông Vụ,dù ngài đã kết thúc vào tuần trước, vì chủ đề của Tuần Lễ Hiệp Nhất Năm 2020 là "Lòng Hiếu Khách", một lòng hiếu khách được nêu gương bởi dân Malta.
Như thế, có thể kể bài Giáo Lý về Lòng Hiếu Khách hôm nay là bài Giáo Lý bonus và là bài giáo lý có tính cách giúp Kitô hữu áp dụng thực hành Sách Tông Vụ.
Cuối bài giáo lý hôm nay ngài cũng chúc Tết Âm Lịch / Lunar New Year, chứ ngài không dùng chữ Tết Tầu / Chinese New Year, cho các quốc gia viễm đông / Far East)

Xin chào anh chị em thân mến!

Bài giáo lý hôm nay hợp với Tuần Lễ Cầu Nguyện cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo. Đề tài năm nay là đề tài về lòng hiếu khách, một lòng hiếu khách được các cộng đồng Malta và Gozo tỏ hiện, ở đoạn Sách Tông Vụ nói về lòng hiếu khách của dân cư ở Malta đối với Thánh Phaolô cũng như đối với phái đoàn của ngài, bị đắm tầu như ngài. Thật ra tôi đã đề cập đến tình tiết này ở bài giáo lý cách đây 2 tuần.

Bởi thế, chúng ta lại bắt đầu từ trải nghiệm thê thảm của biến nạn đắm tầu. Con tầu mà Thánh Phaolô đang hải hành bấy giờ gặp nguy khốn, gây ra bởi thiên nhiên. Họ đã bị trôi dạt trên biển cả 14 ngày, và phái đoàn hải hành này cảm thấy bị lạc mất định hướng, bởi không thấy mặt trời hay trăng sao gì hết. Dưới biển thì con tầu bị sóng xô dữ dội, đến nỗi họ cảm thấy con tầu sẽ bị vỡ ra trước sức tấn công của sóng biển. Bên trên thì gió mưa quật nhào xuống họ. Cuồng năng của cả biển khơi cùng với bão tố thật là khủng khiếp mãnh liệt và tỏ ra dưng dưng lãnh đạm đối với số mạng của đoàn người hải hành, chừng trên 260 người!

Tuy nhiên, Thánh Phaolô, vị biết được số mệnh không xẩy ra như thế, đã lên tiếng nói. Đức tin bảo cho ngài biết rằng sự sống của ngài ở trong tay Thiên Chúa, Đấng đã làm cho Chúa Giêsu phục sinh từ trong kẻ chết, và là Đấng đã kêu gọi ngài là Phaolô mang Phúc Âm đến tận cùng trái đất. Đức tin cũng cho ngài biết rằng Thiên Chúa, theo những gì Chúa Giêsu đã tỏ cho ngài, là một Người Cha yêu thương. Bởi thế, Thánh Phaolô đã hướng tới phái đoàn hải hành của ngài, và được tác động bởi đức tin, ngài đã loan báo cho họ biết rằng Thiên Chúa sẽ không để cho một sợi tóc nào ở trên đầu của họ bị mất đi.

Lời tiên báo này đã trở thành hiện thực khi con tầu bị mắc cạn ở duyên hải Malta, và tất cả mọi người trong phái đoàn đều vào đất liền được an toàn và lành mạnh. Thế rồi ở đó họ cảm thấy một cái gì đó mới lạ. Ngược lại với biển cả bão tố tàn bạo dữ dội, họ đã nhận được chứng từ về "tấm lòng tử tế ngoại thường" nơi cư dân của Hải đảo này. Những con người ấy, xa lạ với họ, đã tỏ ra quan tâm đến các nhu cầu của họ. Những người cư dân ấy đã đốt lửa lên để sưởi ấm họ; những cư dân này còn cống hiến cho họ chỗ cư trú tránh mưa cùng với lương thực để ăn. Cho dù những cư dân này chưa nhận được Tin Mừng của Chúa Kitô, họ cũng đã tỏ ra tình yêu thương của Thiên Chúa qua các hành động cụ thể tốt lành của họ. Thật vậy, lòng hiếu khách tự phát và các cử chỉ chăm sóc là những gì truyền đạt một cái gì đó về tình yêu của Thiên Chúa. Và lòng hiếu khách của cư dân trên hải đảo Malta đã được bù đắp bằng những phép lạ chữa lành, do Thiên Chúa thực hiện qua Thánh Phaolô trên Hải đảo này. Bởi thế, nếu dân chúng ở Malta là một dấu hiệu Quan phòng của Thiên Chúa đối với vị Tông Đồ này, thì ngài cũng là chứng nhân cho tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa đối với họ vậy.

Anh chị em rất thân mến, lòng hiếu khách là điều quan trọng, và nó cũng là một nhân đức đại kết quan trọng nữa. Trước hết, đó là nhìn nhận những anh chị em Kitô hữu khác thực sự là anh chị em của chúng ta trong Chúa Kitô. Chúng ta là anh chị em của nhau. Người nào đó có thể nói cùng anh chị em rằng: "Thế nhưng họ là người Tin lành, họ là người Chính Thống giáo...". Đúng thế, nhưng chúng ta đều là anh chị em trong Chúa Kitô. Đó không phải là một tác hành quảng đại một chiều, vì khi chúng ta tiếp đãi các Kitô hữu khác, là chúng ta đón nhận họ như là một tặng vật được trao cho chúng ta. Như cư dân Malta - những cư dân Malta tốt lành ấy - chúng ta được bù đắp, vì chúng ta nhận được những gì Thánh Linh đã gieo nơi những người anh chị em này của chúng ta, và điều ấy đã trở thành một tặng ân cho cả chúng ta nữa, vì Thánh Linh cũng gieo rắc ân sủng của Ngài ở khắp mọi nơi. Việc đón nhận Kitô hữu thuộc truyền thông khác, trước hết, nghĩa là chứng tỏ tình yêu của Thiên Chúa đối với họ, vì đều là con cái của Thiên Chúa - anh chị em của chúng ta -, hơn thế nữa, có nghĩa là lãnh nhận những gì Thiên Chúa đã làm trong đời sống của họ. Lòng hiếu khách đại kết đòi chúng ta cần phải biết tỏ ra sẵn sàng lắng nghe người khác, chú trọng tới những diễn tiến đức tin của riêng họ, cũng như diễn tiến nơi cộng đoàn đức tin của họ theo một truyền thống khác, khác với truyền thống của chúng ta. Lòng hiếu khách đại kết bao gồm cả ước vọng muốn có được trải nghiệm mà các Kitô hữu khác có được về Thiên Chúa, và mong được lãnh nhận các tặng ân thiêng liêng xuất phát từ đó. Đó là một ân ban; việc khám phá như thế là một tặng ân. Tôi nghĩ về quá khứ, về quê hương của tôi chẳng hạn. Khi có một số anh chị em thừa sai Tin Lành xuất hiện, thì một nhóm nhỏ Công giáo kéo nhau đến đốt lều của họ. Không thể chấp nhận được điều này; đó không phải là Kitô hữu. Chúng ta là anh chị em, tất cả chúng ta đều là anh chị em, và chúng ta cần phải tỏ lòng hiếu khách với nhau.

Hôm nay đây, vùng biển mà Thánh Phaolô cùng với phái đoàn hải hành của ngài đã bị đắm tầu lại trở nên một nơi nguy hiểm cho sự sống của các thành phần hải hành khác. Trên khắp thế giới, thành phần di dân nam nữ đang phải đương đầu với các cuộc hành trình liều lĩnh để thoát khỏi bạo lực, thoát khỏi chiến tranh, thoát khỏi nghèo khổ. Như Thánh Phaolô và phái đoàn hải hành của ngài, họ cảm thấy tính chất dửng dưng lãnh đạm, lòng hận thù của sa mạc, của sông ngòi, của biển khơi... Rất nhiều lần họ đã không được phép lên bờ ở các hải cảng. Thế nhưng, bất hạnh thay, đôi khi họ lại gặp phải chính lòng thù hận còn tệ hại hơn nữa của con người; những tay tội ác buôn người khai thác họ: vào hôm nay đây! Có một số nhà cai trị đối xử với họ như là những con số và như là một mối đe dọa: vào hôm nay đây! Đôi khi thái độ bất thiện cảm đã loại trừ họ như là một cơn sóng xô họ trở về với những gì là nghèo khổ hay nguy hiểm mà họ đã muốn thoát ly.

Là Kitô hữu, chúng ta cần phải cùng nhau hoạt động để chứng tỏ cho những người di dân thấy được tình yêu thương của Thiên Chúa do Chúa Giêsu Kitô mạc khải cho thấy. Chúng ta có thể và cần phải minh chứng chẳng những không hận thù và lãnh đạm, mà hết mọi người đều quí báu trước nhan Thiên Chúa và được Ngài yêu thương. Những thứ chia rẽ vẫn còn tồn tại giữa chúng ta là những gì cản trở chúng ta không thể trở thành một dấu chỉ trọn vẹn về tình yêu thương của Thiên Chúa. Việc cùng nhau hoạt động để sống lòng hiếu khách đại kết này, nhất là đối với những ai sống đời dễ bị tổn thương hơn, sẽ làm cho tất cả Kitô hữu chúng ta - Tin lành, Chính thống, Công giáo, tất cả Kitô hữu - trở thành những con người tốt đẹp hơn, thành những người môn đệ tốt lành hơn, và thành một dân Kitô giáo hiệp nhất hơn. Cuối cùng nó sẽ mang chúng ta đến gần hơn với mối hiệp nhất hơn là những gì Thiên Chúa mong muốn nơi chúng ta.

(Sau bài giáo lý, ĐTC ngỏ lời chào các phái đoàn hành hương, trong đó ngài hướng về các quốc gia thuộc vùng viễn đông với lời chúc tết như sau:)

Ngày 25/1 tới đây, ở vùng Viễn Đông cũng như ở các vùng khác trên thế giới, hằng triệu triệu con người nam nữ sẽ cử hành Tân Niên Âm Lịch. Tôi xin gửi đến họ lời chào nồng ấm của tôi, nhất là chúc cho các gia đình của họ được trở thành nơi giáo dục về các nhân đức của lòng hiếu khách, của sự khôn ngoan, của lòng tôn trọng hết mọi người, và việc sống hòa hợp với thiên nhiên tạo vật.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

GIÁO LÝ VỀ TÁM MỐI PHÚC THẬT

 

ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Bát Phúc: Bài 1

29 tháng Giêng 2020

 Đường Lối Hạnh Phúc

Xin chào anh chị em thân mến!

Hôm nay chúng ta bắt đầu loạt bài giáo lý về Bát Phúc trong Phúc Âm Thánh Mathêu (5:1-11). Đoạn Phúc Âm này là đoạn bắt đầu "Bài Giảng trên Núi", và là đoạn đã soi chiếu đời sống của tín hữu cũng như của nhiều người vô tín ngưỡng. Thật khó lòng mà không bị những lời này của Chúa Giêsu tác động, và có lý để mong muốn hiểu biết những lời ấy một cách trọn vẹn hơn. Bát Phúc là những gì chất chứa "thẻ căn cước" của Kitô hữu - đó là thẻ căn cước của chúng ta -, vì Bát Phúc này phác họa chính dung nhan của Chúa Giêsu, phác họa lối sống của Người.

Bây giờ chúng ta tóm lược tổng quát những lời ấy của Chúa Giêsu; ở các bài giáo lý tới, chúng ta sẽ nhận định về từng Mối Phúc, từ Mối Phúc này đến Mối Phúc kia.

Trước hết, vấn đề quan trọng là cách thức xẩy ra việc công bố sứ điệp này, đó là, Chúa Giêsu, khi thấy đám đông theo Người, thì Người leo lên một cái dốc thoai thoải bao quanh Biển Hồ Galilea; Người ngồi xuống, và khi ngỏ lời cùng các môn đệ thì Người công bố Bát Phúc. Bởi thế, sứ điệp này là sứ điệp nhắm đến các môn đệ, tuy nhiên, đám đông lại hiện lên ở chân trời, tức là toàn thể nhân loại. Đó là sứ điệp cho toàn thể nhân loại.

Hơn nữa, "Núi" đây ám chỉ Sinai, nơi Thiên Chúa đã ban cho Moisen Thập Giới. Chúa Giêsu bắt đầu dạy một thứ luật mới, đó là nghèo khổ, là hiền lành, là nhân hậu... Những "giới luật mới" này còn hơn là các thứ chuẩn mực nữa. Thật vậy, Chúa Giêsu không áp đặt bất cứ sự gì, mà tỏ cho thấy đường lối hạnh phúc - đường lối của Người - khi lập lại 8 lần lời "Phúc Thay". Từng Mối Phúc bao gồm 3 phần. Phần nhất bao giờ cũng được bắt đầu bằng lời "Phúc Thay". Sau đó tới trạng thái được các Phúc Nhân cảm nghiệm, như khó nghèo tinh thần, sầu khổ đau thương, đói khát công lý v.v. Sau hết là cái động lực của Mối Phúc, được mở đầu bằng giới từ "vì". "Phúc cho những người này vì, Phúc thay những người kia vì..." Bát Phúc đều là như thế, và tốt hơn nên thuộc lòng để lập lại chúng, để thực sự có được trong tâm trí của chúng ta thứ luật Chúa Giêsu đã cống hiến cho chúng ta đó. Chúng ta hãy lưu ý tới sự kiện đó là cái động lực của Mối Phúc không phải là tình trạng hiện tại, mà là điều kiện mới Phúc Nhân nhận được như tặng ân Thiên Chúa ban: "Vì Nước Trời là của họ", "vì họ sẽ được an ủi", "vì sẽ thừa hưởng trái đất" v.v.

Ở yếu tố thứ 3, một yếu tố thực sự là động lực của hạnh phúc, Chúa Giêsu thường sử dụng ở thể tương lai thụ động: "sẽ được an ủi", "sẽ thừa hưởng trái đất", "sẽ được no thỏa", "sẽ được xót thương", "sẽ được gọi là con cái của thiên Chúa".

Tuy nhiên, lời "Phúc thay" có nghĩa là gì? Tại sao mỗi một mối trong Bát Phúc được bắt đầu bằng lời "Phúc thay"? Từ ngữ chính thực này không ám chỉ về một con người no đủ hay làm giỏi, mà là một con người ở trong trạng thái ơn thánh, thành phần tiến triển trong ơn nghĩa Chúa và là con ngưòi đang tiến bước theo đường lối của Thiên Chúa, ở chỗ nhẫn nại, khó nghèo, phục vụ người khác, an ủi ... Những ai đang tiến triển nơi những điều ấy sẽ được hạnh phúc và sẽ trở thành các Phúc nhân.

Thiên Chúa thường chọn những đường lối không thể ngờ được để hiến Mình cho chúng ta, có thể là những đường lối ở nơi những gì là hạn hẹp của chúng ta, nơi những giòng châu lệ của chúng ta, nơi những thất bại của chúng ta. Đó là niềm vui vượt qua được những người anh em Đông phương của chúng ta nói tới, một niềm vui có những dấu thánh vẫn còn nguyên đó, một niềm vui đã trải nghiệm cái chết và đã cảm nghiệm được quyền năng của Thiên Chúa. Bát Phúc là những gì bao giờ cũng dẫn chúng ta đến niềm vui; chúng là đường lối để chiếm đạt niềm vui.
Hôm nay, chúng ta nên cầm lấy Phúc Âm của Thánh Mathêu, đoạn thứ 5, các câu từ 1 đến 11 để đọc lại Bát Phúc này - có lẽ một lần nữa trong tuần này - để hiểu được đường lối rất đẹp này, chắc chắn được hạnh phúc này, một hạnh phúc Chúa đã phác họa cho chúng ta.

 Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Bát Phúc: Bài 2
5 THÁNG HAI 2020 
 Phúc cho ai nghèo khó trong tinh thần

Xin chào anh chị em thân mến!

Hôm nay chúng ta đối diện với mối phúc đầu tiên trong Bát Phúc của Phúc Âm Thánh Mathêu. Chúa Giêsu bắt đầu công bố đường lối dẫn đến hạnh phúc của Người bằng một loan báo rằng: "Phúc cho những ai nghèo khó trong tinh thần, vì nước trời thuộc về họ" (5:3). Một đường nẻo lạ lùng và một đối tượng xa lạ của hạnh phúc, đó là nghèo khó.
Chúng ta cần phải tự hỏi xem "nghèo khó" ở đây có nghĩa là gì? Nếu Thánh Mathêu chỉ sử dụng chữ này thì ý nghĩa chỉ là những gì về kinh tế, tức là nói đến thành phần có ít của cải hay không đủ phương tiện hỗ trợ và cần được người khác giúp đỡ.

Thế nhưng, Phúc Âm của Thánh Mathêu, không như của Thánh Luca, nói về "nghèo khổ trong tinh thần". Nó có nghĩa là gì? Tinh thần, theo Thánh Kinh, là hơi thở sự sống Thiên Chúa thông truyền cho Adong; nó là chiều kích thâm sâu nhất của chúng ta, chúng ta nói về chiều kích tinh thần, chiều kích thân mật nhất, chiều kích làm cho chúng ta là những con người, cốt lõi sâu xa của hữu thể chúng ta. Vậy thì "nghèo khó trong tinh thần" là những ai nghèo hay cảm thấy nghèo khổ, là những con người ăn mày ăn xin ở thẳm sâu con người họ. Chúa Giêsu công bố là họ có phúc, vì Nước Trời thuộc về họ.

Biết bao lần chúng ta đã được bảo cho biết ngược lại! Bạn cần phải là một cái gì đó trong đời, cần phải là một ai đó... Bạn cần phải có tên tuổi... Đó là nơi xuất phát ra tâm trạng lẻ loi cô độc và bất hạnh, ở chỗ, nếu tôi là "một ai đó", thì tôi đối đầu với những người khác và sống trong mối ám ảnh bởi cái tôi của mình. Nếu tôi không chấp nhận nghèo nàn, thì tôi ghét tất cả những gì nhắc nhở tôi về nỗi yếu hèn của tôi. Vì nỗi yếu hèn này cản trở tôi trở thành một con người quan trọng, một con người giầu sang không phải chỉ về vấn đề tiền bạc mà còn cả danh tiếng, còn bao gồm hết mọi sự nữa.
Hết mọi người, trước bản thân mình, đều biết rõ rằng, cho dù họ có cố gắng lắm chăng nữa, họ bao giờ cũng vẫn thật sự là bất toàn và có yếu kém. Không có vấn đề che đậy được tính chất yếu kém này. Mỗi người chúng ta đều cảm thấy yếu kém trong bản thân mình. Cần phải thấy nó ở chỗ nào. Thế nhưng nếu anh chị em chối bỏ những hạn hữu của mình thì anh chị em sống tệ đến nỗi nào! Anh chị em sống một cách tồi tệ. Cái giới hạn là những gì không bị tiêu hóa mà là còn đó. Thành phần kiêu kỳ không xin được trợ giúp, họ không thể xin được cứu trợ, họ không xin giúp đỡ, vì họ muốn chứng tỏ cho thấy họ là một con người viên mãn. Biết bao nhiêu người trong họ cần được giúp đỡ, thế nhưng tính kiêu kỳ đã ngăn cản họ xin được giúp đỡ.  Thật khó biết bao khi cần phải chấp nhận một lầm lỗi và xin tha thứ! Có lần tôi khuyên bảo các cặp vợ chồng mới cưới, thành phần nói với tôi về chuyện làm sao để có thể sống đời hôn nhân một cách tốt đẹp, tôi đã bảo họ rằng: "Có 3 thuật ngữ, đó là xin phép, cám ơn và xin lỗi". Đó là những chữ xuất phát từ tâm trạng nghèo khó trong tinh thần. Anh chị em không được cứ làm bừa đi, mà cần xin phép: "Làm điều này có tốt hay chăng?". Thế mới gọi là đối thoại trong gia đình, đối thoại giữa cô dâu và chàng rể. "Anh/em đã làm điều ấy cho em/anh, cám ơn anh/em, em/anh cần đến nó". Thế rồi anh chị em luôn gây ra lầm lỗi, anh chị em buột miệng nói: "Cho anh/em xin lỗi". Thường thì các cặp phối ngẫu, những cặp mới lập gia đình, những người đang ở đây và đông đảo, nói với tôi rằng: "chữ thứ ba là chữ khó nói nhất", xin lỗi, xin tha thứ. Vì lòng kiêu hãnh nên không thể làm được. Anh ta không thể xin lỗi: anh ta bao giờ cũng đúng. Đó không phải là nghèo khó trong tinh thần. Trái lại, Chúa không bao giờ chán thứ tha; tiếc thay, chính chúng ta lại là thành phần chán xin tha thứ. Vấn đề chán xin tha thứ đó là một thứ bệnh tệ hại!

Tại sao khó lòng xin tha thứ? Vì nó hạ thấp hình ảnh giả hình của chúng ta. Còn nữa, sống mà cố gắng che đậy những thiếu sót của mình là những gì chán chường và buồn nản. Chúa Giêsu Kitô nói với chúng ta rằng: sống nghèo khó là một cơ hội của ân sủng; và cho chúng ta thấy được lối thoát của nỗ lực này. Chúng ta được ban quyền sống nghèo khó trong tinh thần, vì đó là đường lối của Vương quốc Thiên Chúa.

Thế nhưng có một điều nền tảng cần phải nhắc lại đó là: chúng ta không được biến mình thành nghèo khó trong tinh thần, chúng ta không được thực hiện bất cứ một biến hình nào, vì chúng ta đã là thế rồi! Chúng ta nghèo khó..., hay nói rõ hơn, chúng ta "nghèo khó" trong tinh thần! Chúng ta cần hết mọi sự. Tất cả chúng ta đều nghèo khó trong tinh thần, chúng ta đều là những kẻ hành khất. Đó là thân phận loài người.

Nước Thiên Chúa thuộc về những ai nghèo khó trong tinh thần. Có những con người có được các vương quốc ở trên thế gian này: họ có các thứ sản vật và họ có được những thứ thoải mái. Thế nhưng chúng là những lãnh giới có cùng. Quyền lực của con người, thậm chí là những đế quốc hùng mạnh nhất chăng nữa, đều qua đi và biến mất. Nhiều lần chúng ta thấy tin tức hay báo chí là nhà cầm quyền mạnh mẽ ấy, hay chính quyền hôm qua mới có đó đã không còn nữa, đã sụp đổ. Những kẻ giầu sang trên thế gian này đã qua đi, cả tiền bạc của họ nữa. Người xưa dạy chúng ta rằng tấm khăn liệm không có túi. Đúng thế. Tôi chưa bao giờ thấy một xe vận tải di chuyển ở đằng sau một đám ma: không ai mang theo được bất cứ sự gì. Những kho tàng ấy vẫn còn lại đây. Những ai biết quí mến điều thiện thực sự hơn chính bản thân mình mới thực sự cai trị. Và đó là quyền năng của Thiên Chúa.

Chúa Kitô đã chứng tỏ quyền năng ở chỗ nào? Ở chỗ Người đã có thể thực hiện được những gì các vua chúa trên trần gian này không thể, đó là hiến sự sống cho con người. Đó là quyền năng thực sự. Quyền năng của tình huynh đệ, quyền năng của tình bác ái, quyền năng của lòng yêu thương, quyền năng của sự khiêm hạ. Chúa Kitô đã làm như thế.
Đó là tự do đích thực: ai có quyền năng của sự khiêm nhượng, của phục vụ, của tình huynh đệ ấy thì đó là những con người tự do. Sự khó nghèo được ca ngợi nơi các Mối Phúc Thật là những gì giúp cho có được cái tự do này.
Có một thứ nghèo khó chúng ta cần phải chấp nhận, thứ khó nghèo về hữu thể chúng ta, và trái lại có một thứ khó nghèo chúng ta cần phải tìm kiếm, một thứ khó nghèo cụ thể, từ những sự vật của thế giới này, để được tự do và để có thể yêu thương. Chúng ta cần phải luôn tìm kiếm cái tự do của cõi lòng, cái tự do bắt nguồn từ nỗi khó nghèo của bản thân chúng ta.  

đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 
  

 

ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Bát Phúc: Bài 3
12 THÁNG HAI 2020  
 Phúc cho ai than khóc

 Xin chào anh chị em thân mến!

Chúng ta đã thực hiện cuộc hành trình theo các Mối Phúc Thật, và hôm nay chúng ta dừng lại ở phúc thứ hai: "Phúc cho những ai than khóc, vì họ sẽ được an ủi"

Theo tiếng Hy Lạp mà Phúc Âm được viết ra thì Mối Phúc Thật này được diễn tả bằng một động từ không ở thể thụ động - thật vậy, Phước Nhân này không chịu đựng việc than khóc - mà là ở thể chủ động: họ bị hoạn nạn. Họ than khóc ở bên trong. Đó là thái độ trở nên tâm điểm của linh đạo Kitô giáo và là thái độ đã được các Vị Tổ Phụ Tu Rừng, những đan sĩ đầu tiên trong lịch sử, gọi là "penthos", một nỗi sầu thương nội tâm dẫn đến mối liên hệ với Chúa và với tha nhân - đến mối liên hệ mới mẻ với Chúa và với tha nhân.

Trong Thánh Kinh, việc khóc than này có khai khía cạnh: trước hết là khóc than vì người chết hay khổ đau về một ai đó. Khía cạnh kia là khóc lóc vì tội lỗi - vì tội lỗi của bản thân nình, khi tấm lòng rỉ máu bởi đã xúc phạm đến Thiên Chúa và đến tha nhân của mình. Bởi thế mà nó là những gì liên quan tới người khác đến độ gắn bó mình với họ trong việc chia sẻ nỗi đớn đau của họ. Có những con người vẫn sống xa cách biết quay gót trở lại. Trái lại, thật là hệ trọng về những con người khác làm cho lòng chúng ta đau nhức.

Tôi đã thường nói đến tặng ân khóc lóc, và nó là một tặng ân cao quí biết bao (Cf. Post-Synodal Apostolic Exhortation Christus Vivit, 76; Address to Young People of Saint Thomas University, Manila, January 18, 2015; Homily on Ash Wednesday, February 18, 2015). Một con người yêu thương có thể tỏ ra lạnh lùng được chăng? Một con người yêu thương có thể nào lại không biết hành sử, lại không có phận sự? Chắc chắn là không; có thành phần sầu đau để an ủi, thế nhưng đôi khi cũng có những kẻ được an ủi bị sầu đau, để tái khơi dậy nơi con người bất khả cảm kích ấy trước nỗi đớn đau của kẻ khác.

Việc khóc thương, chẳng hạn, là một đường lối cay đắng, thế nhưng nó có thể trở thành hữu dụng trong việc mở mắt nhìn đời và nhìn thấy được cái giá trị linh thánh bất khả thay thế của từng người, và trong lúc ấy người ta mới nhận ra rằng thời gian ngắn ngủi biết bao.

Còn một ý nghĩa nữa nơi Mối Phúc có tính chất mâu thuẫn này, đó là khóc than vì tội lỗi. Ở đây cần phải phân biệt như thế này: có những con người tỏ ra tức giận vì họ sai lầm, nhưng đó là thái độ kiêu hãnh. Trái lại, có những người khóc than vì thiệt hại đã gây ra, vì bỏ qua không làm việc lành, vì phản bội lại với mối liên hệ với Thiên Chúa. Có cả nỗi sầu đau bởi không được yêu thương, một nỗi sầu đau xuất phát từ việc ấp ủ đời sống của những người khác trong lòng. Ở đây người ta than khóc vì họ không đáp ứng Chúa, Đấng yêu thương chúng ta quá nhiều, và ý nghĩ làm cho người ta cảm thấy buồn bởi họ đã bỏ qua không hành thiện. Đó là cảm quan về tội lỗi. Họ nói: "Tôi đã làm tổn thương người tôi thương yêu", và điều này làm cho người ta cảm thấy đớn đau đến rơi lệ. Chúc tụng Thiên Chúa nếu có được những giọt nước mắt ấy!

Đây là vấn đề về những lỗi lầm của con người cần phải đối diện - khó khăn nhưng quan trọng. Chúng ta nghĩ đến những giọt nước mắt của Thánh Phêrô, những giọt lệ đã dẫn ngài đến một tình yêu mới mẻ và chân thật hơn nhiều: nó là một thứ than khóc thanh tẩy, canh tân. Thánh Phêrô đã nhìn Chúa Giêsu và đã khóc: cõi lòng của ngài đã được đổi mới. Khác với Giuđa, con người không chấp nhận lầm lỗi của mình, và khốn thay đã đi đến chỗ tự vẫn. Đó là tặng ân Thiên Chúa ban cho để hiểu được tội lỗi; đó là một tác động của Thánh Linh. Tự mình, chúng ta không thể nào hiểu được tội lỗi. Đó là một ân sủng chúng ta cần phải cầu nguyện. Lạy Chúa, xin cho con hiểu được sự dữ con đã làm và sự dữ con có thể gây ra. Đó là một tặng ân rất cao cả, và sau khi hiểu được như thế thì mới có thể than khóc theo lòng thống hối.

Một trong những vị đan sĩ thuở ban đầu là Thánh Ephrem người Syria, nói rằng một gương mặt dầm dìa nước mắt thì tuyệt vời khôn tả (Cf. Ascetic Address). Vẻ đẹp của lòng thống hối, vẻ đẹp của việc khóc than, vẻ đẹp của việc ăn năn! Bao giờ cũng thế, đời sống Kitô hữu thể hiện tuyệt vời nhất ở nơi lòng thương xót. Ai chấp nhận nỗi đớn đau liên hệ với tình yêu là người khôn ngoan và có phúc, vì họ sẽ nhận được niềm an ủi của Thánh Linh, đó là niềm êm ái dịu dàng của Thiên Chúa, Đấng tha thứ và là Đấng chỉnh sửa. Thiên Chúa bao giờ cũng thứ tha: chúng ta đừng quên điều ấy. Thiên Chúa luôn tha thứ, cho dù là những tội ghê rợn nhất, bao giờ cũng thế. Vấn đề là ở nơi chúng ta, thành phần cảm thấy mệt mỏi trong việc xin tha thứ. Chúng ta khép kín bản thân mình lại và không xin cho được ơn thứ tha. Đó là vấn đề, nhưng Ngài vẫn có đó để tha thứ. Nếu chúng ta luôn nhớ rằng Thiên Chúa "không xử với ta như ta đáng tội, cũng không trả oán cho ta theo lỗi của ta" (Thánh Vịnh 103:10), thì chúng ta sống trong lòng thương xót và trong nỗi cảm thương, và tình yêu hiện lên trong chúng ta. Xin Chúa ban cho chúng ta ơn biết yêu thương một cách dồi dào, yêu thương với một nụ cười, bằng việc cận kề, bằng việc phục vụ cũng như bằng những giọt nước mắt.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Bát Phúc: Bài 4

 Phúc cho ai hiền lành 19 tháng Hai 2020

Xin chào anh chị em thân mến, 

Trong bài giáo lý hôm nay, chúng ta tập trung vào mối phúc thứ ba trong Bát Phúc ở Phúc Âm Thánh Mathêu: "Phúc cho ai hiền lành, vì họ sẽ được thừa hưởng đất làm của mình vậy" (5:5). Chữ "hiền lành" được sử dụng ở đây, theo nghĩa đen, là tinh tế, mềm mại và dịu dàng, không bạo động. Thái độ hiền lành được tỏ hiện ở những lúc xung khắc, cho thấy cách thức con người phản ứng trước tình trạng thù địch. Bất cứ ai cũng có thể gieo rắc sự hiền lành khi tất cả đều bình lặng, thế nhưng người ta sẽ phản ứng ra sao "khi bị đè nén", lúc bị tấn công, bị xúc phạm, bị hành hung? 

Thánh Phaolô đã nhắc lại ở một đoạn "hiền lành và dịu dàng của Chúa Kitô" (2Corinto 10:1). Phần thánh Phêrô nhắc lại thái độ của Chúa Giêsu trong cuộc Khổ Nạn: "Người không đáp trả hay đe dọa, vì Người ký thác cho Đấng phân xử công minh" (1Phero 2:23). Thái độ hiền lạnh của Chúa Giêsu được chứng kiến thấy mãnh liệt nhất là ở nơi cuộc Khổ Nạn của Người. 

Trong Thánh Kinh, chữ "hiền lành" cũng là người không có sản vật trên trần thế; bởi thế chúng ta mới bật ngửa ra trước sự kiện là Mối Phúc thứ ba này nói rằng kẻ hiền lành thực sự "sẽ được đất làm của mình vậy". 

Thật vậy, Mối Phúc này là mối phúc được trích từ Thánh Vịnh 37, bài Thánh Vịnh chúng ta đã nghe ngay mở đầu bài giáo lý. Ở trong đó, thái độ hiền lành và việc sở hữu trái đất này liên hệ với nhau. Tuy nhiên, hai điều này được coi như như bất tương hợp. Thật thế, việc sở hữu trái đất này là phạm vi tiêu biểu của những gì là xung khắc: thường xẩy ra những tranh chấp về một lãnh thổ, tranh chấp về quyền bá chủ một vùng nào đó. Trong các cuộc chiến tranh thì kẻ mạnh là người thắng thế và chiếm lấy các vùng đất khác. 

Tuy nhiên, chúng ta hãy nhìn vào động từ được sử dụng để nói đến vấn đề sở hữu của kẻ hiền lành, đó là họ không chiếm hữu trái đất. Không, câu đó không nói rằng "phúc cho ai hiền lành vì họ sẽ chiếm được / conquer trái đất", mà là họ sẽ "thừa hưởng / inherit" trái đất. Phúc cho ai hiền lành vì họ sẽ "thừa hưởng" trái đất. Theo Kinh Thánh thì động từ "thừa hưởng" có một ý nghĩa còn bao rộng hơn nữa. Đúng thế, Dân Chúa kêu gọi "việc thừa hưởng" này là mảnh đất Israel, tức là Đất Hứa. 

Mảnh đất đó là một hứa hẹn và là một tặng ân cho Dân Chúa, và nó trở nên một dấu hiệu cho một cái gì đó còn lớn lao hơn nhiều so với một lãnh thổ vậy thôi. Tôi xin được chơi chữ như thế này, có một thứ "đất" là Nước Trời, tức là, mảnh đất chúng ta đang tiến về, là Trời mới và đất mới chúng ta đang hướng tới (Cf. Isaiah 65:17; 66:22; 2 Peter 3:13; Revelation 21:1). Vậy, con người hiền lành là kẻ "thừa hưởng" những lãnh thổ cao quí nhất. Họ không phải là một kẻ nhút nhát, một con người "yếu hèn" tìm kiếm một thứ luân lý thủ lợi tránh né các vấn đề. Hoàn toàn ngược lại! Họ là con người đã lãnh nhận được quyền thừa hưởng nơi Thiên Chúa; họ bênh vực tặng ân này của mình, tặng ân của Thiên Chúa, bằng cách canh chừng lòng thương xót, tình huynh đệ, lòng tin tưởng cùng với những con người ôm ấp niềm hy vọng. 

Đến đây, chúng ta cần phải nói đến tội giận dữ, một tác động bạo lực, được thúc đẩy bởi những gì thì chúng ta tất cả đều biết. Ai là người thỉnh thoảng đã tỏ ra giận dữ? Tất cả mọi người. Chúng ta cần phải bảo tồn Mối Phúc này và tự vấn xem biết bao nhiêu là điều chúng ta đã hủy hoại bởi giận dữ? Biết bao nhiêu là điều chúng ta đã bị mất đi? Một giây phút giận dữ có thể hủy hoại rất ư là nhiều điều; con người ta  mất tự chủ và con người không trân trọng những gì thật là quan trọng, nên con người có thể hủy hoại mối liên hệ với một người anh chị em, đôi khi đi đến chỗ hết thuốc chữa. Rất nhiều anh chị em không nói chuyện với nhau lâu dài, chỉ vì giận dữ; họ tách biệt khỏi nhau. Đó là những gì phản lại với hiền lành. Hiền lành thì qui tụ còn giận dữ thì phân tán. 

Hiền lành thắng đoạt rất nhiều sự. Hiền lành là khả năng chiếm đoạt tâm can, khả năng gìn giữ tình bằng hữu, cùng rất nhiều điều khác nữa, vì thành phần giận dữ nhưng sau đó lắng dịu xuống, họ nghĩ lại và lấy lại quân bình, nhờ đó họ có thể tái thiết một cách hiền lành. 

Trái "đất" được chiếm lấy bằng đức hiền lành đó là phần rỗi của người anh em được Phúc Âm Thánh Mathêu nói tới: "Nếu họ nghe các con thì các con đã chiếm được người anh em của các con" (18:15). Chẳng có mảnh đất nào tuyệt vời hơn là cõi lòng của người khác; chẳng có lãnh thổ nào tuyệt vời hơn để chiếm hữu bằng trở lại sống bình an với một người anh em. Đó là trái đất được thừa hưởng bằng đức hiền lành vậy!

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Bát Phúc: Bài 5

 Phúc cho ai đói khát công lý...

thứ Tư 11 tháng 3 năm 2020.

Xin chào anh chị em thân mến,

Trong bài giáo lý hôm nay, chúng ta tiếp tục suy niệm về con đường hạnh phúc quang minh được Chúa ban cho chúng ta nơi Bát Phúc, và chúng ta tiến đến mối phúc thứ 4: "Phúc cho những ai đói khát công lý vì họ sẽ được no thỏa vậy" (Mathêu 5:6).

Chúng ta đã chạm trán với vấn đề nghèo khó trong tinh thần và vấn đề than khóc; giờ đây chúng ta đối diện với một loại yếu hèn khác, có liên hệ với đói khát. Đói và khát là những nhu cầu căn bản, liên quan đến chuyện sống còn. Cần phải nhấn mạnh là ở đây không phải là vấn đề của một thứ mong muốn chung chung vậy, mà là một nhu cầu sống còn hằng ngày, chẳng hạn nhu cầu về dinh dưỡng.

Thế nhưng đâu là ý nghĩa của việc đói khát công lý? Chắc chắn chúng ta không nói về những ai muốn trả thù rửa hận, trái lại, chúng ta nói về tính chất dịu hiền ở mối phúc trước đó. Những gì bất công thật sự đều gây tổn thương cho con người; xã hội loài người rất cần đến những gì là công bình, chân lý và công lý xã hội; chúng ta hãy nhớ rằng sự dữ mà những con người nam nữ chịu đựng trên thế giới này vươn tới tận con tim của Thiên Chúa là Cha. Người cha nào mà không đau lòng trước nỗi đớn đau của con cái mình chứ?

Thánh Kinh nói về nỗi đớn đau của người nghèo và thành phần bị áp bức được Thiên Chúa biết tới và chia sẻ. Vì đã lắng nghe tiếng kêu bị áp bức của con cái Israel - như sách Xuất Hành thuật lại (cf. 3:7-10) - mà Thiên Chúa đã xuống giải thoát dân của Ngài. Thế nhưng thứ đói khát công lý được Chúa nói với chúng ta đây về công lý của con người mà ai cũng ấp ủ trong lòng mình, thậm chí còn sâu xa hơn cả nhu cầu chính đáng nữa.

Trong cùng "bài giảng trên núi" này, xa hơn một chút, Chúa Giêsu nói về một thứ công chính cao hơn cả quyền lợi của con người hay sự trọn lành riêng tư: "Nếu sự công chính của các con không vượt trên sự công chính của những luật sĩ và biệt phái, thì các con sẽ không được vào nước trời" (Mt 5:20). Và đó mới là thứ công chính của Thiên Chúa (cf. 1Cor 1:30).

Trong Thánh Kinh chúng ta thấy được một khát khao sâu xa hơn cả thứ khát về thể lý, đó là thứ khát khao ở tận đáy hữu thể của chúng ta. Có câu Thánh Vịnh "Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ, ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa. Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước" (Thánh Vịnh 63:2). Các vị Giáo phụ của Giáo Hội nói về nỗi khắc khoải tồn tại trong cõi lòng của con người này. Thánh Âu Quốc Tinh viết: "Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, nên lòng con nôn nao cho tới khi nó được nghỉ yên trong Chúa" 

[Confessions , 1.1.5]  Có một thứ khát vọng nội tại, một đói khát trong lòng, một khôn nguôi khắc khoải ....

Ở hết mọi cõi lòng, thậm chí ở nơi con người băng hoại nhất và không tốt lành gì, vẫn có một ngưỡng vọng về những gì sáng tỏ, thậm chí tâm can của họ có đang nằm bẹp ở dưới đống vụn giả trá và lầm lỗi, ở đó bao giờ vẫn có một khát vọng chân thiện, tức là thứ khát vọng Thiên Chúa. Chính Thánh Linh đã khơi lên thứ khát vọng này: Ngài là thứ nước hằng sống đã hình thành thứ cát bụi chúng ta, Ngài là hơi thở sáng tạo đã cống hiến sự sống cho chúng ta cát bụi.

Chính vì lý do này mà Giáo Hội được sai đi để loan báo Lời Chúa cho hết mọi người, những con người được thấm nhiễm Thánh Linh. Vì Phúc Âm của Chúa Kitô là thứ công chính cao cả nhất có thể được cống hiến cho tâm can của nhân loại, một tâm can sống còn cần đến nó, ngay cả khi cõi lòng ấy không nhận thức được nó [ Cf Catechism of the Catholic Church , 2017: "The grace of the Holy Spirit confers on us the justice of God. By uniting us through faith and Baptism with the passion and resurrection of Christ, the Spirit makes us partakers of his life"].

Chẳng hạn, khi một người nam và một người nữ thành hôn thì họ có ý thực hiện một cái gì đó lớn lao và đẹp đẽ, và nếu họ giữ cho nỗi khát vọng này sống động thì họ sẽ luôn tìm thấy con đường tiến lên, giữa những các thứ trục trặc, bằng sự trợ giúp của Ân sủng. Ngay cả giới trẻ cũng đói khát, và chúng không được làm mất đi nỗi đói khát này! Chúng ta cần phải bảo vệ và nuôi dưỡng trong cõi lòng của trẻ em nỗi khát vọng được yêu thương, được dịu hiền, được đón nhận, được chúng bày tỏ nơi những thôi thúc chân thành và tỏ tường của chúng.

Mỗi một người được kêu gọi để tái khám phá ra những gì thực sự đáng kể, những gì họ thực sự cần, những gì làm cho đời sống tốt đẹp, và đồng thời, những gì là phụ thuộc, và những gì không thể nào không thực hiện.

Chúa Giêsu công bố ở mối phúc này - đói khát công lý - rằng có một thứ đói khát sẽ không bị lỡ làng; một thứ khát vọng mà, nếu được no thỏa, sẽ được mãn nguyện và bao giờ cũng có kết quả, vì nó tương xứng với chính cõi lòng của Thiên Chúa, với Thánh Linh là tình yêu của Ngài, và cũng là hạt giống được Thánh Linh gieo vào lòng của chúng ta. Xin Chúa ban cho chúng ta ơn này, đó là được một tấm lòng khao khát công lý là chính lòng khát khao tìm kiếm Ngài, khao khát thấy nhìn thấy Thiên Chúa và khao khát làm lành cho người khác.

(Sau bài giáo lý, ĐTC con ngỏ lời cùng các thành phần khác nhau như sau:)

Vào lúc này đây, tôi muốn ngỏ lời cùng tất cả mọi bệnh nhân đang bị vi khuẩn và những ai đang phải chịu thứ bệnh này, cũng như nhiều người đang bất ổn về bệnh nạn của mình. Tôi chân thành cám ơn nhân viên nhà thương, các bác sĩ, y tá, những tự nguyện viên đang ở bên thành phần đau khổ vào chính lúc rất khốn khó này đây. Tôi xin cám ơn tất cả mọi Kitô hữu, tất cả mọi người nam nữ thiện tâm đang cầu nguyện cho lúc này, tất cả liên kết với nhau, bất kể truyền thống tôn giáo của mình. Xin cám ơn rất nhiều về nỗ lực ấy. Thế nhưng tôi không muốn nỗi đớn đau này, cơn dịch dữ dội này, khiến chúng ta quên mất nhân dân Syria khốn khổ, những con người đang khổ đau ở biên giới giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ: một dân tộc khổ đau đã nhiều năm. Họ cần phải thoát được chiến tranh, đói khổ, bệnh nạn. Chúng ta đừng quên những người anh chị em này, đừng quên nhiều trẻ em.

Tôi thân ái chào anh chị em nói tiếng Ý. Tôi phấn khích anh chị em hãy đối diện với hết mọi trường hợp, ngay cả vào những lúc khó khăn nhất, một cách dũng cảm, trách nhiệm và hy vọng.

Tôi cũng xin cám ơn giáo xứ có nhà tù "Due Palazzi" ở Padua: cám ơn anh chị em rất nhiều. Hôm qua, tôi đã nhận được bản thảo về Đường Thánh Giá được anh chị em soạn thảo cho Thứ Sáu Tuần Thánh tới đây. Xin cám ơn tất cả anh chị em đã cùng nhau làm việc, toàn thể cộng đồng nhà tù này. Xin cám ơn những gì anh chị em sâu xa suy niệm.

Giờ đây tôi xin đặc biệt chào giới trẻ, giới già và các cặp tân hôn. Chớ gì anh chị em sống Mùa Chay này bằng ánh mắt gắn chặt vào Chúa Giêsu, Đấng đã khổ nạn và phục sinh từ trong kẻ chết, được nhận lấy ơn an ủi và niềm dịu hiền của Thần Linh Người.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

March 12, 2020