ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Cầu Nguyện
 ****

 

**ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Cầu Nguyện:

 

Bài 8 - Cầu nguyện: Đavít - Con Người Cầu Nguyện

24 tháng 6 năm 2020

Xin thân ái chào anh chị em,

Trong hành trình giáo lý về cầu nguyện, hôm nay chúng ta gặp Vua Đavít. Được Chúa ưu ái ngay từ còn trẻ, chàng được tuyển chọn để thực hiện một sứ vụ đặc thù trong việc đóng vai trò chính yếu của lịch sử dân Chúa, cũng như trong đời sống đức tin của chúng ta. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu được gọi là "con Đavít: một số lần; thật vậy, như chàng, Người đã được hạ sinh ở Bêlem. Theo lời hứa, Đấng Thiên Sai sẽ xuất thân từ giòng dõi Đavít: một vị vua hoàn toàn đẹp lòng Chúa, tuyệt đối tuân phục Chúa Cha, bằng hành động tín trung hiện thực dự án cứu độ của Ngài (xem Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, 2579).

Câu chuyện về Đavít được khởi đầu nơi những ngọn đồi quanh vùng Bêlem, nơi chàng chăn dắt đàn vật của cha chàng là Jesse. Chàng vẫn còn là một đứa con trai, đứa út trong nhiều người anh. Nhiều đến độ khi tiên tri Samuel theo lệnh Chúa đến tìm kiếm vị tân vương, thì cha của chàng dường như quên mất người con trai trẻ nhất của mình (xem 1Samuel 16:1-13). Chàng đã làm việc ở ngoài trời thoáng: chúng ta có thể nghĩ về chàng như là một người bạn của gió thổi, của những âm vang thiên nhiên, của những tia nắng mặt trời. Chàng chỉ có một bạn đồng hành duy nhất để an ủi tâm hồn chàng, đó là cây hạc cầm (harp); và trong những tháng ngày dài sống hiu quạnh, chàng thích chơi nó và hát khen Thiên Chúa. Chàng cũng có thể sử dụng cả súng cao su nữa (slingshot).

Bởi thế, trước hết Đavít là một mục đồng: một người chăm sóc đàn vật, bênh vực chúng cho khỏi nguy hiểm xẩy ra, cung cấp cho chúng của ăn. Theo ý Chúa, khi Đavít chăm sóc cho dân của mình, thì chàng thực hiện không khác gì lắm. Đó là lý do tại sao hình ảnh mục đồng thường hiện lên trong Thánh Kinh. Ngay Chúa Giêsu cũng đã nhận mình là "vị mục tử nhân lành", với tác hành khác hẳn với thành phần làm thuê; Người hiến mạng sống mình vì chiên, Người hướng dẫn chiên, Người biết tên từng con một (xem Gioan 10:11-18).

 Đavít đã học được nhiều điều từ việc làm trước đó của mình. Bởi vậy, khi tiên tri Nathan khiển trách chàng về tội lỗi nghiêm trọng của chàng (xem 2Samuel 12:1-15), thì Đavít hiểu ngay rằng chàng đã tác hành như một mục tử tồi tệ, chàng đã cưỡng đoạt người khác là người chỉ có một con chiên được họ thương yêu, chàng không còn là một người tôi tớ khiêm tốn nữa, thế nhưng đã trở thành một con người độc tài chuyên chế, một kẻ trộm đi hôi của và cướp bóc người khác.

Đặc tính thứ hai nơi ơn gọi của Đavít đó là tâm hồn thi ca của chàng. Từ nhận định nhỏ nhoi này, chúng ta có thể suy diễn ra rằng Đavít không phải là một con người thô bỉ, như thường thấy nơi trường hợp của những con người bị sống đơn độc một thời gian lâu dài xa cách với xã hội. Trái lại, chàng là một con người nhạy cảm, thích âm nhạc và ca hát. Cây hạc cầm của chàng luôn kèm theo bên chàng: đôi khi chàng dâng lên Thiên Chúa một bài thánh ca hân hoan (xem 2Samuel 6:16), những lúc khác chàng lại tỏ ra than van, hay xưng thú tội lỗi của chàng (xem Thánh Vịnh 51:3).

Thế giới hiện lên trước mắt chàng không phải là một cảnh tượng lặng lẽ, ở chỗ khi các sự vật mở ra trước cái nhìn của chàng thì chàng đã thấy được cả một mầu nhiệm cao cả. Chính ở chỗ này đã thoát ra lời cầu nguyện: từ niềm xác tín rằng đời sống không phải là một điều gì đó làm cho chúng ta lạ lùng, mà là một mầu nhiệm ngỡ ngàng gây cảm hứng thi ca, âm nhạc, tri ân, thậm chí than vãn và nguyện cầu nơi chúng ta. Một con người thiếu chiều kích thi ca, nghĩa là, không có thi ca, thì tâm hồn họ u sầu ủ dột. Bởi thế truyền thống cho rằng Đavít là một đại nghệ sĩ ở đằng sau việc sáng tác các Thánh Vịnh. Nhiều Thánh Vịnh ở ngay đầu đã rõ ràng nói đến vị vua Israel này, cũng như đến một số biến cố quí phái trong đời sống của chàng, không nhiều thì ít.

Thế nên, Đavít có một giấc mơ, đó là trở thành một vị mục tử tốt lành. Đôi khi chàng đã sống trọn công việc này, có những lúc khác thì kém hơn; tuy nhiên, cái quan trọng trong bối cảnh lịch sử cứu độ ở chỗ chàng là một dấu báo về một Đức Vua khác, Đấng chàng chỉ loan báo và là tiền thân.

Nhìn vào Đavít, nghĩ về Đavít. Thánh thiện và tội lỗi, bị bách hại và bách hại, nạn nhân và sát nhân, những gì là phản khắc. Đavít là như thế, là tất cả những thứ ấy hợp lại. Cả chúng ta cũng đã ghi nhận các biến cố thường nghịch nhau; trong thảm kịch của cuộc đời, tất cả mọi người thường lỗi phạm vì tính chất bất nhất. Có một cái cốt tủy vàng son duy nhất dọc suốt cuộc đời của Đavít, cống hiến mối liên hết cho tất cả mọi sự đã xẩy ra, đó là việc cầu nguyện của chàng. Đó là tiếng kêu không bao giờ bị tắt lịm. Đavít một vị thánh cầu nguyện: Đavít một tội nhân cầu nguyện; Đavít một kẻ bị bách hại cầu nguyện; Đavít một tên bách hại cầu nguyện. Thậm chí ngay cả Đavít sát nhân cầu nguyện nữa. Đó là cái cốt tủy vàng son trải qua suốt cuộc đời của chàng. Một con người cầu nguyện. Đó là tiếng nói không bao giờ nín thinh. Cho dù nó âm vang niềm hân hoan hay nỗi than van, bao giờ cũng một lời nguyện cầu, chỉ có giai điệu là đổi thay thôi. Sống như thế, Đavít dạy cho chúng ta rằng hãy để cho hết mọi sự tham phần vào việc đối thoại với Thiên Chúa: niềm vui cũng như lỗi tội, yêu thương cũng như sầu khổ, thân tình cũng như yếu bệnh. Hết mọi sự đều có thể trở thành ngôn ngữ thân thưa cùng "Ngài", Đấng luôn lắng nghe chúng ta.

Đavít, người đã nếm mùi quạnh hiu, thật ra chưa bao giờ cảm thấy lẻ loi cô độc! Trái lại, nó là quyền lực nguyện cầu ở nơi tất cả những ai giành chỗ cho nó trong cuộc sống của mình. Cầu nguyện làm cho anh chị em trở thành cao quí, và Đavít cao quí vì chàng nguyện cầu. Thế nhưng chàng là một kẻ sát nhân cầu nguyện; chàng thống hối và chàng lấy lại tính chất cao quí nhờ cầu nguyện. Cầu nguyện làm cho chúng ta trở nên cao quí. Nó có thể bảo đảm mối liên hệ của nó với Thiên Chúa, Đấng thực sự là Đồng Bạn trong hành trình của hết mọi con người nam nữ, giữa bao nghịch cảnh của cuộc đời, tốt hay xấu: thế nhưng lúc nào cũng nguyện cầu. Lạy Chúa, con xin cám ơn Chúa. Lạy Chúa, con cảm thấy lo sợ. Xin giúp con lạy Chúa. Xin tha thứ cho con lạy Chúa. Lòng tin tưởng của Đavit mạnh mẽ tới độ khi chàng bị bách hại và phải thoát thân, chàng đã không để ai bênh vực chàng: "Nếu Thiên Chúa của tôi hạ tôi xuống như thế thì Ngài biết việc Ngài đang làm", vì tính chất cao quí của việc cầu nguyện đưa chúng ta vào bàn tay Thiên Chúa. Những bàn tay vì yêu đã bị thương tích: bàn tay vững chắc duy nhất chúng ta có được.

http://w2.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2020/documents/papa-francesco_20200624_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

 

 

*Bài 6 - Cầu nguyện: Trận Đấu của Tổ Phụ Giacóp

thứ tư 10 tháng 6 năm 2020

 

Xin chào anh chị em thân mến,

Chúng ta hãy tiếp tục các bài giào lý của chúng ta về chủ đề cầu nguyện. Sách Khởi Nguyên, qua những gì xẩy ra nơi con người nam nữ ở thời xa xưa, kể cho chúng ta biết về các câu chuyện giúp chúng ta có thể nhờ đó suy niệm về nó nơi đời sống của mình. Trong Vòng Các Vị Tổ Phụ (the Patriarch Cycle), chúng ta cũng thầy câu chuyện về một con người khôn khéo thi thố có tài nhất, đó là Giacóp. Trình thuật Thánh Kinh kể cho chúng ta biết về mối liên hệ khó khăn Giacop gặp phải với Esau anh mình. Ngay từ bé, đã xẩy ra một mối kình địch giữa họ với nhau, một mối kình địch chẳng bao giờ được khắc phục sau này. Giacóp là đứa con lọt lòng sau - họ là một cặp song sinh - nhưng nhờ mánh lới đã khéo chiếm được phúc lành và quyền trưởng nam của cha mình là Isaac (xem Khởi Nguyên 25:19-34). Đó mới chỉ là câu chuyện đầu tiên trong một loạt dài những thủ đoạn khả thi cho thấy con người không ngần ngại này thực hiện. Ngay cả cái tên "Jacop" cũng có nghĩa là một ai đó tinh xảo nơi những biến chuyển của mình.

Bị bắt buộc phải thoát thân cho khỏi người anh của mình, chàng ta dường như lại thành công trong hết những gì thực hiện trong đời của mình. Chàng ta giỏi về thương mại: chàng đã trở nên rất giầu có, thành một chủ nhân của một đàn vô vàn súc vật. Nhờ kiên cường và nhẫn nại, chàng đã lấy được người con gái đẹp nhất chàng thực sự phải lòng của ông cậu Laban. Giacóp - theo ngôn ngữ tân thời chúng ta có thể nói - là một con người "tự lập tự cường - self-made"; nhờ tài khéo của mình, nhờ biết khôn lanh, chàng đã chiếm được tất cả mọi sự mong muốn. Tuy nhiên, chàng lại thiếu một điều gì đó. Chàng thiếu mất mối liên hệ sống động với nguồn gốc của chàng. 

Một ngày kia, chàng chợt nghe thấy tiếng gọi hồi hương, về quê quán cũ của mình, nơi người anh Esau của chàng vẫn còn sống, một người anh chàng luôn có một mối liên hệ ghê gớm. Giacóp lên đường, thực hiện một hành trình dài, với một đoàn bao gồm nhiều người và súc vật, cho đến khi chàng tiến đến bước cuối cùng ở giòng suối Jabbok. Ở đây, Sách Khởi Nguyên cống hiến cho chúng ta một câu chuyện đáng nhớ (xem 32:23-33). Câu chuyện này cho thấy rằng vị tổ phụ ấy, sau khi có tất cả những người của mình cùng với đàn súc vật của mình - rất là nhiều - băng qua một giòng suối, vẫn ở một mình bên bờ sống phía xa lạ. Và chàng suy tư về những gì đang chờ đợi mình vào những ngày tháng tới đây? Người anh Esau sẽ tỏ thái độ như thế nào đối với mình đây, vì chàng đã cướp mất quyền trưởng nam của người anh? Tâm trí của Giacóp quay cuồng với những ý nghĩ ... Để rồi, khi trời bắt đầu tối, đột nhiên một người lạ nắm lấy chàng và bắt đầu vật lộn với chàng. Sách Giáo Lý dẫn giải: "truyền thống linh đạo của Giáo Hội vẫn coi biểu hiệu của cầu nguyện như là một trận đấu của đức tin và là một cuộc chiến thắng của lòng kiên trì" (số 2573).

Giacóp vật lộn cả đêm, không bao giờ buông tha cho đối phương của mình. Cuối cùng thì chàng bị đập, khiến giây thần kinh bên hông của chàng bị đối thủ đánh vào, nên sau đó chàng sẽ đã bước đi khập khễnh suốt đời của chàng. Kẻ vật lộn lạ lùng đó hỏi tên của vị tổ phụ và bảo với vị tổ phụ này rằng: "Tên của ngươi không còn gọi là Giacóp nữa, mà là Israel, vì ngươi đã phấn đấu với cả Thiên Chúa lẫn con người ta, và đã thắng thế" (32:28). Lời ấy như thể nói rằng: ngươi sẽ không bao giờ là con người bước đi như vậy nữa, tức đi thẳng. Vị ấy đã đổi tên cho chàng, thay đổi đời chàng, thay đổi thái độ của chàng. Ngươi sẽ được gọi là Israel. Sau đó Giacóp cũng hỏi người ấy rằng: "Tôi xin ngài cho tôi biết tên của ngài". Người ấy chẳng cho chàng biết tên của mình, mà lại chúc lành cho chàng. Vậy Giacóp hiểu rằng chàng đã được gặp gỡ Thiên Chúa "nhãn tiền" (29-30).

Việc vật lộn đối chọi với Thiên Chúa là một ẩn dụ về cầu nguyện. Những lúc khác Giacóp đã tỏ ra có thể đối thoại với Thiên Chúa, cảm thấy Ngài như là một sự hiện diện thân tình và gần gũi. Thế nhưng, đêm hôm ấy, nhờ một cuộc đối chọi lâu dài gần như làm cho chàng không chịu đựng nổi nữa, thì vị tổ phụ này đã tỏ ra thay đổi. Chàng đã đi đến chỗ trở thành một con người được thay đổi: tên của chàng, đường lối của chàng và cá tính của chàng. Nhờ vậy chàng không còn làm chủ tình hình - cái tinh khôn của chàng trở thành vô dụng đối với chàng -, chàng không còn là một con người chiến lược và tính toán nữa. Thiên Chúa đã quay trở chàng về với sự thật của chàng, như là một con người chết chóc, kinh đảm và kinh sợ, vì trong cuộc đối chọi, Giacóp đã tỏ ra sợ hãi. Nhờ vậy Giacóp chỉ còn nỗi yếu hèn và bất lực, cùng với tội lỗi của mình, để dâng cho Thiên Chúa. Và chính nhờ vậy này Giacóp nhận được phúc lành của Thiên Chúa, một phúc lành chàng khập khễnh bước vào đất hứa: yếu đuối và thương tật, nhưng lại với một con tim mới. Có lần tôi đã nghe một vị nam bô lão đã nói - một con người tốt lành, một Kitô hữu tốt lành, nhưng lại là một tội nhân đầy tin tưởng vào Thiên Chúa - rằng: "Thiên Chúa sẽ giúp con; Ngài sẽ không bỏ con một mình. Con sẽ vào Nước Trời; dù khập khễnh, nhưng con sẽ vào". Trước đó, ông là một con người tự tin; ông đã tin tưởng vào tài tinh khôn của ông. Ông đã là một con người không tiếp thu ân sủng, miễn nhiễm với lòng thương xót; ông không hề biết đến lòng thương xót là gì. "Tôi đây, tôi là một kẻ truyền khiến!" Ông không nghĩ ông cần đến lòng thương xót. Thế nhưng, Thiên Chúa đã cứu những gì đã bị mất mát. Ngài đã làm cho ông hiểu rằng ông là con người hạn hữu; ông là một tội nhân, cần lòng thương xót, và Ngài đã cứu ông.

Tất cả chúng ta đều hẹn hò với Thiên Chúa về đêm, trong đêm tối tăm của cuộc sống chúng ta, ở nhiều đêm đen trong cuộc đời của chúng ta: những lúc tối tăm, những lúc tội lỗi, những lúc thất lạc hướng đi. Và vào lúc đó, bao giờ chúng ta cũng được hẹn hò với Thiên Chúa. Ngài sẽ làm cho chúng lạ lùng bỡ ngỡ vào lúc chúng không ngờ nhất, khi chúng ta cảm thấy mình thực sự lẻ loi cô quạnh. Cũng vào đêm ấy, khi đối chọi với một kẻ lạ mặt, chúng ta mới nhận ra rằng chúng ta chỉ là những con người nam nữ đáng thương - "đồ đáng thương" tôi dám nói như thế -, thế nhưng, chính lúc chúng ta cảm thấy mình là "thứ đồ đáng thương" ấy, chúng ta không cần sợ: vì Thiên Chúa sẽ cống hiến cho chúng ta một tên gọi mới, chất chứa ý nghĩa cho cả cuộc đời của chúng ta; Ngài sẽ thay đổi lòng dạ của chúng ta và Ngài sẽ ban cho chúng ta phúc lành chỉ giành cho những ai để mình cho Ngài thay đổi. Đó là một lời mời gọi tuyệt vời, là hãy để mình cho Thiên Chúa đổi thay. Ngài biết cách làm điều này, vì Ngài biết được từng người chúng ta. "Lạy Chúa, Chúa biết con", hết mọi người chúng ta có thể nói: "Lạy Chúa, Chúa biết con. Xin hãy biến đổi con đi".

https://zenit.org/articles/this-is-a-beautiful-invitation-to-let-ourselves-be-changed-by-god-full-text-of-popes-general-audience/
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

Bài 5 - Cầu nguyện: Gương Tổ Phụ Abraham

3 tháng 6 năm 2020

Xin chào anh chị em thân mến,

Có một tiếng nói bỗng nhên vang vọng trong đời sống của Abraham. Một tiếng nói mời gọi ông thực hiện một cuộc hành trình có vẻ ngu dại: một tiếng nói thôi thúc ông bật gốc khỏi quê quán của ông, khỏi gia đình quyến thuộc của ông, để tiến đến một tương lai mới, một tương lai khác. Hoàn toàn căn cứ vào một lời hứa hẹn mà ông chỉ biết tin tưởng. Mà việc tin tưởng vào một lời hứa hẹn nào đó đâu có phải là chuyện dễ; người ta cần phải can đảm. Nhưng Abraham đã tin tưởng.

Thánh Kinh không hề đề cập gì đến quá khứ của vị Tổ Phụ tiên khởi này. Theo suy đoán tự nhiên thì người ta có thể cho rằng ông đã tôn thờ các vị thần linh khác; có lẽ ông là một con người khôn ngoan, thông biết về bầu trời cùng trăng sao tinh tú. Chính vì thế mà vị Chúa mới hứa hẹn với ông rằng con cháu của ông sẽ nhiều như sao lốm đốm trên bầu trời.

Thế rồi Abraham ra đi. Ông lắng nghe tiếng của Thiên Chúa và tin tưởng vào lời của Ngài. Điều quan trọng ở đây là ông tin tưởng vào lời của Thiên Chúa. Bằng việc lên đường ra đi của ông đã hiện lên một cách thức mới liên quan đến mối liên hệ với Thiên Chúa; chính vì lý do này mà Tổ Phụ Abraham hiện lên, nơi truyền thống thiêng liêng của Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo, như là một con người trọn hảo của Thiên Chúa, ở chỗ phục tùng Ngài, cho dù Ý Muốn của Ngài được tỏ ra một cách gay go, nếu không muốn nói là hoàn toàn không hiểu nổi.

Bởi vậy mà Abraham là một con người của Lời Chúa. Khi Thiên Chúa nói, con người trở thành thụ nhân của Lời ấy, và đời sống của họ trở thành nơi cần cho Lời Chúa nhập thể. Đó là một tính chất rất mới mẻ trong hành trình tôn giáo của con người: đời sống của tín hữu bắt đầu được cưu mang như là một ơn gọi, tức như là một tiếng gọi, như là một nơi chốn cho lời hứa hẹn được hiện thực; và con người di chuyển trên thế giới này không phải bị đè nặng bởi một cái gì đó bí mật khó hiểu, mà bằng quyền lực của lời hứa hẹn ấy, một hứa hẹn sẽ được hiện thực vào một ngày nào đó. Abraham đã tin vào lời hứa của Thiên Chúa. Ông đã tin và đã ra đi, không biết rằng mình đi đâu - như Thư Do Thái viết (11:8). Nhưng ông đã tin tưởng.

Đọc Sách Khởi Nguyên, chúng ta khám phá thấy Abraham đã sống cầu nguyện ra sao trong việc liên tục trung thành với Lời Chúa, những lời đã hiện lên dọc theo cuộc hành trình của ông từng giai đoạn một. Tóm lại, chúng ta có thể nói rằng, nơi đời sống của Abraham, đức tin đã trở thành lịch sử. Thật vậy, bằng đời sống của mình, với gương mẫu của mình, Abraham đã dạy chúng ta các thức này, đường lối ấy, những gì làm cho đức tin trở thành lịch sử. Thiên Chúa không còn được thấy chỉ ở các hiện tượng vũ trụ, như là một vị Thiên Chúa xa cách, Đấng có thể ra tay đáng sợ. Vị Thiên Chúa của Abraham trở thành "Thiên Chúa của tôi", vị Thiên Chúa cho chuyện đời tư của tôi, Đấng dẫn dắt các bước chân tôi đi, Đấng không bỏ rơi tôi, Vị Thiên Chúa của những ngày giờ của tôi, vị đồng hành của những cuộc mạo hiểm của tôi - Vị Thiên Chúa Quan Phòng. Tôi tự vấn mình và xin hỏi anh chị em nhé: chúng ta có cảm nghiệm về Thiên Chúa ấy hay chăng? Về "Vị Thiên Chúa của tôi", Vị Thiên Chúa đồng hành với tôi, vị Thiên Chúa trong câu chuyện đời tư của tôi, Vị Thiên Chúa dẫn dắt các bước chân tôi đi, Đấng không bỏ rơi tôi, Vị Thiên Chúa của những tháng ngày đời tôi? Chúng ta đã có được cảm nghiệm ấy chăng? Chúng ta hãy nghĩ về nó một chút đi.

Cảm nghiệm này của Abraham cũng được chứng thực bởi một trong những bản văn ngay từ đầu của lịch sử khoa linh đạo nữa, đó là cuốn Tưởng Niệm của Blaise Pascal. Nó được bắt đầu như thế này: "Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacóp, chứ không phải là Thiên Chúa của các triết gia và của những con người hiền triết. Chân thực, chân thực. Cảm thức. Niềm Vui. An Bình. Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô". Cuốn Tưởng Niệm này, được viết trên một mảng giấy bằng da nhỏ, và được tìm thấy sau khi ông qua đời, được thêu ở bên trong một chiếc áo của nhà triết gia, không diễn tả một thứ suy niệm về trí thức mà một hiền triết có thể nghĩ về Thiên Chúa, mà là một cảm quan sống động được trải nghiệm trước sự hiện diện của Ngài. Pascal thậm chí còn ghi nhận những lúc chính xác giây phút ông đã cảm thấy thực tại ấy, để rồi cuối cùng ông đã gặp thấy nó, đó là vào đêm 23/11/1654. Ngài không phải là một Vị Thiên Chúa trừu tượng hay là một Vị Thiên Chúa vũ trụ - không. Ngài là Vị Thiên Chúa của một ngôi vị, của một tiếng gọi, Vị Thiên Chúa của Abraham, của Issac, của Giacóp, Vị Thiên Chúa là những gì chân thực, cảm thức, hân hoan.

Lời cầu nguyện của Abraham trước hết được bày tỏ bằng những việc làm: là một con người tĩnh lặng, ông đã lập một bàn thờ cho Chúa ở mỗi đoạn đường đi" (Catechism of the Catholic Church, 2570). Abraham không kiến thiết một đền thờ, nhưng rải trên đường đi các viên đá nhắc nhở về việc trải qua của Thiên Chúa. Một Vị Thiên Chúa lạ lùng, như khi Ngài thăm ông duới hình thù của 3 người khách, những vị cả ông lẫn Sara cùng tiếp đón, và được các vị báo cho biết về việc đứa con trai Isaac của ông bà (xem Khởi Nguyên 18:1-15). Abraham bấy giò đã đến 100 tuổi và vợ ông hơn kém 90. Họ đã tin, họ tin Thiên Chúa, và Sara, vợ ông, đã thụ thai - ở vào tuổi ấy! Đó là Vị Thiên Chúa của Abraham, Vị Thiên Chúa của chúng ta, Đấng đồng hành với chúng ta.

Bởi vậy Abraham đã trở nên thân thiết với Thiên Chúa còn có thể lý sự với Ngài nữa, nhưng bao giờ cũng trung tín. Ông đã nói với Thiên Chúa và biện luận với Ngài. Cho đến khi Thiên Chúa thử thách ông hết cỡ, khi Ngài yêu cầu ông hiến tế người con trai Isaac của ông, người con trong lúc tuổi già của ông, người con nối dõi duy nhất của ông. Đến đây Abraham đã sống đức tin như là một thảm trạng, khi bước đi mò mẫm bước đi trong đêm tối, dưới bầu trời bấy giờ chẳng còn tinh tú. Nhiều lần nó cũng xẩy ra cho cả chúng ta nữa, khi chúng ta bước đi trong tăm tối, chỉ bằng đức tin. Chính Thiên Chúa đã giữ bàn tay Abraham đang sửa soạn đâm xuống đứa con lại, vì Ngài đã thấy được những gì trọn vẹn hy sinh không tiếc xót của ông (xem Khởi Nguyên 22:1-19).

Thưa anh chị em, chúng ta học được từ Abraham, chúng ta học biết cầu nguyện bằng đức tin, ở chỗ lắng nghe Chúa, bước đi, đối thoại đến biện luận. Chúng ta không sợ biện luận với Thiên Chúa! Tôi đang nói một cái gì đó như thể lạc giáo. Nhiều lần, tôi đã nghe dân chúng nói cùng tôi rằng: "Cha biết đó, điều ấy đã xẩy đến cho con, nên con tức giận Chúa". "Con dám tức giận Chúa hả?" "Đúng thế, con tức giận đấy". "Thế nhưng, đó lại là một hình thức cầu nguyện", vì chỉ có một đứa con mới có thể tức giận với cha của mình, sau đó lại gặp gỡ Ngài. Chúng ta học được từ Abraham cách lấy đức tin mà cầu nguyện, mà đối thoại, mà biện luận, thế nhưng bao giờ cũng phải sẵn sàng đón nhận Lời Chúa mà đem ra thực hành. Chúng ta học biết nói chuyện với Chúa như con cái với cha mình: ở chỗ nghe Ngài, đáp ứng, biện luận, thế nhưng một cách tinh ròng, như một người con với người cha. Abraham dạy chúng ta cầu nguyện như thế đó. Xin cám ơn anh chị em.

 

https://zenit.org/articles/popes-general-audience-on-the-prayer-of-abraham-full-text/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

(Sau Bài Giáo Lý, ĐTC nói với riêng phái đoàn nói tiếng Anh rằng:)

"Anh chị em ở Hiệp Chủng quốc thân mến, tôi đã hết sức quan tâm khi thấy tình trạng bất ổn xã hội gây lũng đoạn ở quốc gia của các anh chị em trong những ngày này, theo sau cái chết thê thảm của Ông George Floyd. Chúng ta không thể nào chấp nhận hay làm ngơ trước nạn kỳ thị chủng tộc và tẩy chay nơi bất cứ hình thức nào, và cần phải lên tiếng bênh vực sự sống linh thánh hết mọi người. Đồng thời chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng tình trạng bạo lực xẩy ra trong các đêm gần đây là những gì hủy hoại và thảm bại. Chẳng chiếm được gì bằng bạo lực mà lại còn bị nhiều mất mát nữa.

"Hôm nay, tôi xin hiệp với Giáo Hội ở Saint Paul và Minneapolis, cũng như với Giáo Hội ở toàn Hiệp Chủng quốc, cầu nguyện cho linh hồn của Ông George Floyd, cũng như cho tất cả những người khác, đã bị mất mạng vì tội ác kỳ thị chủng tộc. Chúng ta hãy cầu xin ơn an ủi cho các gia đình cùng nhưng người bạn hữu cảm thấy đau lòng, và cầu cho việc hòa giải đất nước cùng hòa bình chúng ta mong đợi. Xin Đức Mẹ Guadalupe, Mẹ của Mỹ Châu, chuyển cầu cho những ai đang hoạt động cho hòa bình và công lý nơi đất nước của anh chị em cũng như trên thế giới. Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả anh chị em và gia đình của anh chị em".

 

ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Cầu Nguyện:
Bài 4 - Cầu nguyện: nơi người công chính
  
Xin thân ái chào anh chị em,

Bài giáo lý hôm nay chúng ta giành để nói về việc người công chính cầu nguyện.

Dự án của Thiên Chúa giành cho nhân loại thì thiện hảo tốt đẹp, thế nhưng, trong đời sống hằng ngày của mình, chúng ta lại thấy sự dữ xuất hiện: đó là một kinh nghiệm thường ngày. Các đoạn đầu tiên của Sách Khởi Nguyên cho thấy tính chất rộng lan gia tăng của tội lỗi ở nơi các thứ chuyện của con người. Adong và Evà (xem 3:1-7) đã tỏ ra ngờ vực những ý định nhân lành của Thiên Chúa, khi nghĩ rằng họ đang phải đương đầu với một vị thần linh ganh tị, muốn ngăn cản không cho họ hưởng hạnh phúc của họ. Thế nên mới xẩy ra chuyện nổi loạn: họ không còn tin vào một vị Hóa Công quảng đại nữa, Đấng muốn cho họ được hạnh phúc. Lòng của họ, chiều theo chước cám dỗ của tên gian ác, được chấp nhận bởi những thứ ảo tưởng về quyền toàn năng: "Nếu chúng ta ăn trái của cây đó thì chúng ta sẽ trở nên như Thiên Chúa" (câu 5). Chước cám dỗ ấy là ở chỗ tham vọng lọt vào cõi lòng. Thế nhưng, kinh nghiệm lại là những gì nghịch đảo, ở chỗ, mắt của họ mở ra, khiến họ thấy rằng họ trần trụi (câu 7), chẳng có gì hết. Đừng quên điều này: tên cám dỗ là một tên dụ dẫm bậy bạ, hắn dụ dẫm một cách sai quấy.

Sự dữ càng trở nên lũng đoạn hơn nơi thế hệ thứ hai của con người, nó trở nên mãnh liệt hơn, nơi câu chuyện của Cain và Aben (4:1-16). Cain ghen tị với em của mình: một con sâu ghen tị xuất hiện; cho dù hắn là trưởng tử, hắn cũng thấy Aben như là một địch thủ, kẻ muốn ngầm phá vai trò chính yếu của hắn. Sự dữ hiện lên trong lòng hắn, và hắn không thể khống chế nó. Khi sự dữ bắt đầu đột nhập vào tâm can thì bao giờ cũng hiện lên những ý nghĩ xấu về người khác, ngờ vực họ. Trí óc có thể nghĩ rằng: "Đó là một tên bậy bạ, hắn sẽ gây tổn thương đến tôi". Rồi ý nghĩa ấy lọt vào tâm can... Để rồi câu chuyện về tình huynh đệ đầu tiên đã kết thúc ở một tay sát nhân. Tôi đang nghĩ đến tình huynh đệ nhân loại ngày nay... các thứ chiến tranh xẩy ra ở khắp mọi nơi mọi chốn.

Theo giòng dõi của Cain, thủ công nghệ và nghệ thuật phát triển, nhưng đồng thời bạo lực cũng phát triển nữa, như được bày tỏ trong bài ca nham hiểm của Lamec, một bài ca như là một khúc hát rửa hận: "Vì một vết thương, ta đã giết một người, vì một chút sây sát, ta đã giết một đứa trẻ. Ca-in sẽ được báo thù gấp bảy, nhưng La-méc thì gấp bảy mươi bảy!" (4:23-24). Rửa hận ở chỗ: "ngươi làm điều ấy thì ngươi có vay có trả". Thế nhưng quan tòa không nói điều ấy mà là tôi. Tôi phán quyết trường hợp ấy. Nên sự dữ lan ra như trận lửa dại, cho đến khi nó chiếm hết toàn bộ bức tranh: "Chúa đã thấy rằng sự gian ác tồi bại của con người đầy trên mặt đất, và hết mọi ý muốn sâu xa của lòng họ lúc nào cũng toàn là sự dữ" (6:5). Bức họa bao rộng về trận lụt toàn diện (đoạn 6-7), và tháp Babel (đoạn 11) cho thấy rằng cần đến một khởi đầu mới, như cần đến một cuộc tân tạo, một cuộc tân tạo sẽ được nên trọn nơi Đức Giêsu Kitô.

Tuy nhiên, ở những trang Thánh Kinh đầu tiên này, cũng có cả một câu chuyện khác nữa, không lôi cuốn cho lắm, đơn thường hơn nhiều và được mến mộ hơn nhiều, một câu chuyện tiêu biểu cho niềm hy vọng cứu độ. Cho dù là hầu hết mọi người đều tác hành một cách tàn bạo, gây hận thù ghen ghét và thống trị cả một guồng máy lớn lao nơi các sự vụ của con người, vẫn có một số người có khả năng chân thành cầu nguyện cùng Thiên Chúa, có thể viết lên định mạng của con người một cách khác biệt. Abel hiến dâng Thiên Chúa một hy tế của các thứ hoa trái đầu mùa. Sau khi Abel chết, Adong và Eva có được người con thứ ba là Set, cha của Enoc (nghĩa là "tử vong"), và Sách Thánh viết: "Từ lúc ấy dân chúng bắt đầu kêu cầu danh Chúa" (4:26). Sau đó Enoc xuất hiện, một con người "bước đi với Chúa" và được mang đi về trời (5:22,24). Sau cùng là truyện về Noe, một con người công chính "đã bước đi với Chúa" (6:9). 

Khi đọc những câu chuyện này, người ta có ấn tượng rằng cầu nguyện vừa là bờ đê vừa là chốn nương náu của con người trước trận lụt sự dữ đang dâng cao trên thế giới này. Nếu nhìn kỹ hơn chúng ta cũng cầu cho chính mình được cứu độ nữa. Cần phải cầu nguyện: "Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi bản thân con, khỏi các tham vọng của con, khỏi các đam mê của con". Những con người cầu nguyện ở những trang mở đầu của Thánh Kinh đều là những con người hoạt động cho hòa bình: thật vậy, nếu chân thực, việc cầu nguyện hoàn toàn không còn những bản năng bạo lực và là một ánh mắt hướng về Thiên Chúa, nhờ đó Ngài đáp lại bằng việc chăm sóc cho cõi lòng của con người. Sách Giáo Lý dạy rằng: "Tính chất cầu nguyện này được cảm nghiệm bởi nhiều con người công chính nơi tất cả mọi tôn giáo" (2569). Việc cầu nguyện là những gì vun trồng những luống hoa tái sinh ở những chốn lòng hận thù ghen ghét chỉ có thể lan rộng nơi sa mạc khô cằn. Cầu nguyện là những gì mãnh lực, vì nó thu hút quyền năng của Thiên Chúa, và quyền năng của Thiên Chúa lại luôn ban sự sống: bao giờ cũng thế. Ngài là Vị Thiên Chúa của sự sống và làm tái sinh.

Đó là lý do tại sao vai trò làm chúa của Thiên Chúa được tỏ hiện qua một chuỗi những con người nam nữ, thường bị hiểu lầm hay bị loại trừ trên thế gian này. Thế nhưng thế giới lại sống động và tăng trưởng, khi quyền năng của Thiên Chúa bị thu hút bởi những người đầy tớ này. Họ không phải là một bọn om sòm, một chuỗi người ít khi thấy nhẩy vọt lên ở những tin chính, tuy nhiên, họ lại rất quan trọng để phục hồi niềm tin tưởng trên thế giới! Tôi nhớ đến truyện của một người làm đầu trong chính quyền, đóng một vai quan trọng, không phải trong lúc này, mà vào thời đã qua. Một con người vô thần không hề có cảm quan tôn giáo gì trong lòng hết, thế nhưng, từ nhỏ, ông đã thấy được bà của mình cầu nguyện, và điều ấy vẫn lưu lại trong lòng của ông ta. Thế rồi, vào một lúc khó khăn trong cuộc đời của mình, ký ức ấy trở lại với cõi lòng của ông mà nhắc nhở rằng: "Thế nhưng bà của mình đã cầu nguyện...". Thế là ông bắt đầu cầu nguyện bằng các mẫu thức của bà ông dạy cho, và ông đã gặp được Chúa Giêsu ở đó. Cầu nguyện là một chuỗi đời sống, ở chỗ nhiều con người nam nữ cầu nguyện đều gieo vãi sự sống. Cầu nguyện là việc gieo vãi sự sống, lời cầu nguyện nhỏ nhoi: đó là lý do tại sao cần phải dạy cho trẻ em cầu nguyện. Tôi cảm thấy nhức nhối khi tôi thấy trẻ em không thể làm dấu Thánh Giá. Chúng ta cần phải dạy cho chúng làm dấu Thánh Giá đàng hoàng tử tế, vì nó là lời cầu nguyện đầu tiên. Trẻ em cần phải biết cầu nguyện. Sau đó, có thể các em sẽ bị quên mất, sẽ đi theo con đường khác; tuy nhiên, những lời cầu nguyện đầu tiên các em học được từ nhỏ vẫn còn trong lòng các em, vì chúng như là hạt giống sự sống, hạt giống đối thoại với Chúa.

Đường lối của Thiên Chúa trong giòng lịch sử băng qua họ, qua họ là phần "còn lại" của nhân loại, thành phần không chiều theo luật của những kẻ mạnh nhất, thế nhưng họ xin Thiên Chúa thực hiện các phép lạ của Ngài, nhất là biến đổi con tim chai đá của chúng ta thành con tim bằng thịt (xem Ezekiên 36:26). Đường lối của Thiên Chúa ấy giúp cho cầu nguyện: vì cầu nguyện là việc mở cửa ra cho Thiên Chúa, khi nó biến đổi cõi lòng chai đá nhiều lần của chúng ta thành con tim nhân loại.

http://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2020/documents/papa-francesco_20200527_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

 

Bài 3 - Cầu Nguyện qua Thiên Nhiên Vạn Vật

Thứ Tư 20 tháng 5 năm 2020

Thân ái chào anh chị em,

Chúng ta tiếp tục các bài giáo lý về cầu nguyện, bằng việc suy niệm về mầu nhiệm Tạo Dựng. Sự sống, một sự kiện đơn thuần cho thấy chúng ta đang hiện hữu đây, là những gì hướng lòng con người về việc cầu nguyện.

Trang Thánh Kinh đầu tiên giống như là một bài thánh ca tri ân cảm tạ. Trình thuật về việc Tạo Dựng được chấm phết cách ngăn nhau bằng những điệp khúc, những điệp khúc được liên tục lập lại về sự tốt đẹp mỹ miều của hết mọi sự được dựng nên. Thiên Chúa tạo dựng sự sống bằng lời của Ngài, và hết mọi sự được tham phần vào sự hiện hữu. Bằng lời truyền, Ngài phân ánh sáng ra khỏi bóng tối, luân chuyển ngày và đêm, luân chuyển chu kỳ các mùa, cho xuất hiện đủ thứ thảo mộc và thú vật khác nhau. Trong khu rừng mau chóng tràn đầy khỏa lấp đi cái hỗn loạn ấy thì cuối cùng con người đã xuất hiện. Và sự xuất hiện này làm bùng lên cả một trời hân hoan mãn nguyện muôn vàn, ở chỗ: "Thiên Chúa đã thấy hết mọi sự Ngài đã tạo dựng nên rất ư là tốt đẹp" (Khởi Nguyên 1:31). Chẳng những tốt lành mà còn mỹ lệ nữa, nét mỹ lệ hiện lên nơi toàn thể Tạo Vật!

Vẻ đẹp và mầu nhiệm của Tạo Vật làm phát sinh nơi tâm can của con người tác động đầu tiên khơi động nguyện cầu (Cf. Catechism of the Catholic Church, 2566). Bài Thánh Vịnh thứ 8 nói như thế như chúng ta đã nghe thấy lúc đầu: "Khi tôi nhìn vào các tầng trời của Chúa, vào công cuộc do các ngón tay Chúa, vào trăng sao Chúa đã dựng nên; thì con người là chi mà được Chúa nhớ tới, được Chúa chăm sóc cho?" (các câu 3-4). Con người cầu nguyện chiêm ngắm mầu nhiệm hiện hữu chung quanh mình, họ thấy bầu trời trăng sau ở trên đầu - và khoa thiên thể học ngày nay cho chúng ta thấy được tất cả những mênh mông của nó - và họ nghĩ đến những gì là yêu thương được biểu lộ ở đằng sau một công việc quyền năng như vậy! ... Rồi con người là chi ở giữa một không gian bao la bất tận ấy? Một Thánh Vịnh khác (89:48) nói "hầu như chẳng là gì": một hữu thể vào đời, một hữu thể qua đời, một tạo vật rất mong manh mỏng dòn. Ấy thế mà trong toàn thể vũ trụ này, con người lại là một tạo vật duy nhất nhận thức được vẻ đẹp tràn lan như thế. Một hữu thể nhỏ mọn được sinh ra, chết đi, nay còn mai mất, là một hữu thể duy nhất nhận thức được vẻ đẹp ấy. Chúng ta nhận thức được vẻ đẹp này!

Việc cầu nguyện của con người gắn bó chặt chẽ với cái cảm thức ngỡ ngàng này. Tính chất cao cả của con người chỉ là một cái gì li ti vô cùng, nếu mang so sánh với các chiều kích của vũ trụ này. Những thắng đoạt vĩ đại nhất của họ chỉ là những gì rất ư là nho nhoi... Thế nhưng, con người lại chẳng phải là cái gì không không. Một cảm thức về lòng thương xót bất khả cưỡng hiện lên trong khi nguyện cầu. Không có gì lại tình cờ mà hiện hữu: bí mật của cái vũ trụ này, qua đôi mắt của chúng ta, là ở nơi ánh mắt nhân ái của Đấng Nào Ấy. Bài Thánh Vịnh này khẳng định rằng chúng ta được dựng nên kém Thiên Chúa một chút, được trang điểm bằng vinh quang và vinh dự (xem 8:5). Tính chất cao cả của con người là mối liên hệ của họ với Thiên Chúa: việc họ được lên ngôi. Tự mình, chúng ta hầu như chẳng là gì, bé mọn, nhưng nhờ ơn gọi, chúng ta trở thành con cái của Đức Vua cao cả!

 Đó là một cảm nghiệm nhiều người chúng ta có được. Nếu truyện đời của chúng ta, với tất cả những gì là cay đắng của nó, đôi khi cả tặng ân nguyện cầu còn có nguy cơ bị dập tắt đi mất nơi chúng ta, thì chỉ cần chiêm ngắm bầu trời trăng sao, chiêm ngắm cảnh xế chiều, chiêm ngắm một cánh hoa... để tái thắp lên một tia sáng tri ân cảm tạ. Cảm nghiệm này có lẽ là nền móng cho trang Thánh Kinh đầu tiên ấy.

Khi mà trình thuật Thánh Kinh về việc Tạo Dựng được viết lên, thì dân Do Thái lại không trải qua những ngày may lành hạnh phúc. Quyền lực kẻ thù đã chiếm cứ mảnh đất của họ; nhiều người đã bị đầy ải, và bấy giờ họ thấy mình trở thành những kẻ nô lệ ở Mesopotamia. Chẳng còn quê hương, không còn Đền Thờ, hay còn đời sống xã hội và tôn giáo gì nữa - chẳng còn gì hết. Tuy nhiên, chính nhờ trình thật vĩ đại về việc Tạo Dựng, mà một số trong họ bắt đầu thấy được những lý do để tri ân cảm tạ, để chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa, về việc hiện hữu của họ. Cầu nguyện là mãnh lực đầu tiên của niềm hy vọng. Khi anh chị em cầu nguyện thì niềm hy vọng dâng lên, cứ thế. Tôi muốn nói rằng cầu nguyện là việc mở cánh cửa của niềm hy vọng. Hy vọng vẫn có đó, thế nhưng tôi chỉ hướng đến hy vọng khi nguyện cầu. Vì con người cầu nguyện bảo vệ các chân lý căn bản; chúng là những gì được lập lại, trước hết, cho chính bản thân họ, và sau đó, cho tất cả những người khác, để đời sống này, bất chấp mọi nhọc nhằn thử thách, bất chấp những tháng ngày khó khăn của nó, vẫn tràn đầy một thứ ân sủng nào đó để chiêm ngưỡng, nhờ đó, nó lúc nào cũng được bênh vực và bảo vệ.

Những con người nam nữ cầu nguyện biết rằng niềm hy vọng mạnh hơn là những gì thất đảm. Họ tin rằng tình yêu quyền lực hơn chết chóc, và vào một ngày nào đó tình yêu chắc chắn sẽ chiến thắng, cho dù ở vào những lúc và bằng những đường lối nào đó chúng ta không biết được. Những con người nam nữ cầu nguyện phản ảnh trên khuôn mặt của họ những chớp sáng: vì ngay cả trong những ngày đen tối nhất, mặt trời không thôi chiếu soi cho họ. Cầu nguyện là những gì chiếu soi anh chị em: nó soi chiếu linh hồn của anh chị em, nó chiếu soi cõi lòng của anh chị em, và nó soi chiếu gương mặt của anh chị em, cho dù ở những lúc cực đen tối, cho dù ở những lúc thật thảm sầu.

Tất cả chúng ta đều là thành phần ôm ấp niềm vui. Anh chị em có nghĩ về điều ấy hay chăng? Anh chị em là người ôm ấp niềm vui? Hay anh chị em lại thích mang vác tin dữ, những gì làm buồn chán. Tất cả chúng ta đều có khả năng mang lại niềm vui. Đời sống này là một tặng ân Chúa ban cho chúng ta, và thật quá ngắn ngủi để tiêu tán nó đi bằng sầu thương, bằng cay đắng. Chúng ta hãy ngợi khen chúc tụng Chúa, hãy chỉ biết hân hoan hiện hữu. Chúng ta hãy nhìn vào vũ trụ này, chúng ta hãy nhìn vào những vẻ đẹp, và chúng ta cũng nhìn đến cả các thập giá của chúng ta mà nói rằng: "Thế nhưng Chúa là Đấng hiện hữu, Chúa đã làm cho chúng ta như thế, cho Bản Thân Chúa".

Cần phải cảm thấy rằng nỗi khắc khoải của con tim là những gì dẫn chúng ta đến niềm tri ân cảm tạ và chúc tụng ngợi khen Chúa. Chúng ta, con cái của Vị Vua cao cả, của Đấng Hóa Công, có thể đọc thấy dấu vết của Ngài nơi tất cả mọi Tạo Vật, Tạo Vật mà hôm nay đây chúng ta không biết bảo vệ; tuy nhiên, nơi Tạo Vật ấy có dấu vết của thiên Chúa, Đấng vì yêu đã tạo dựng nên nó. Xin Chúa làm cho chúng ta hiểu được như vậy, một cách sâu xa hơn, và dẫn chúng ta đến chỗ dâng lời "Tạ Ơn", và "Tạ Ơn" là một lời cầu nguyện tuyệt vời.

https://zenit.org/articles/popes-general-audience-on-prayer-mystery-of-creation-full-text/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

 

Bài 2 - Cầu nguyện: Mối Liên Hệ Yêu Thương

Thứ Tư 13 tháng 5 năm 2020

Thân mến chào anh chị em,

Chúng ta hãy tiến tới bước thứ hai trong hành trình giáo lý về cầu nguyện được bắt đầu từ tuần vừa rồi.

Cầu nguyện là những gì thuộc về tất cả mọi người: về con người thuộc tất cả mọi tôn giáo, và có lẽ cho cả những ai chẳng tin tưởng gì. Cầu nguyện được xuất phát từ chốn thầm kín của bản thân chúng ta, một nội trường được các tác giả về đường thiêng liêng thường gọi là "cõi lòng" (cf. Catechism of the Catholic Church , 2562-2563). Bởi thế, cầu nguyện không phải là những gì xa vời trong chúng ta, nó không phải là một cái gì đó thuộc về các tài năng thứ yếu và bên lề, mà là một mầu nhiệm mật thiết nhất của bản thân chúng ta. Chính mầu nhiệm này là những gì cầu nguyện. Các cảm xúc cầu nguyện, thế nhưng cũng không thể bảo rằng cầu nguyện chỉ là cảm xúc. Lý trí cầu nguyện, thế nhưng cầu nguyện không phải chỉ là một tác động tri thức. Thân xác cầu nguyện, thế nhưng người ta có thể thân thưa với Thiên Chúa thậm chí một cách vô hiệu nhất. Bởi thế mà toàn thể con người cầu nguyện, nếu họ cầu bằng "tấm lòng" của họ.
Cầu nguyện là một thứ thôi thúc, là một khẩn cầu vượt ra ngoài bản thân chúng ta: một điều gì đó xuất phát tận đáy của con người chúng ta và vươn lên, vì nó cảm thấy như lưu luyến về một cuộc hội ngộ nào đó. Nỗi lưu luyến này còn hơn là một nhu cầu nữa, còn hơn là một bó buộc nào đó: nó là một đường lối. Cầu nguyện là tiếng nói của một "cái tôi - I" dò dẫm, mò mẫm, tìm kiếm một "cái bạn - You" nào đó. Cuộc gặp gỡ giữa "tôi" và "bạn" không thể được thực hiện bằng tính toán: nó là một cuộc hội ngộ con người, và nhiều lần người ta lần mò để gặp thấy "bạn" được "tôi" tìm kiếm.

Trái lại, cầu nguyện của Kitô hữu xuất phát từ một cuộc mạc khải: "Ngài - You" không bị che giấu một cách kín nhiệm, mà đã tham phần vào mối liên hệ với chúng ta. Kitô giáo là một tôn giáo tiếp tục cử hành "việc tỏ hiện" của Thiên Chúa, tức là cuộc hiển linh của Ngài. Những lễ đầu tiên của phụng niên là việc cử hành Vị Thiên Chúa ấy, Đấng không ẩn kín mà là Đấng cống hiến tình thân hữu của Ngài cho con người. Thiên Chúa tỏ vinh quang của Ngài ra nơi cảnh bần cùng ở Bêlem, trước sự chiêm ngắm của các Vị Đạo Sĩ, nơi phép rửa ở sống Jordan, nơi dấu lạ ở tiệc cưới Cana. Phúc Âm của Thánh Gioan kết luận bài đại thánh ca Khai Mở của mình bằng một câu chính xác: "Không ai đã từng được thấy Thiên Chúa: Chính Người Con duy nhất ở trong Cha tỏ Ngài ra" (1:18). Chính Chúa Giêsu là Đấng mạc khải Thiên Chúa cho chúng ta.

Việc cầu nguyện của Kitô hữu là việc tham dự vào mối liên hệ với Vị Thiên Chúa có dung nhan dịu hiền nhất, Đấng không muốn gây ra bất cứ nỗi sợ hãi nào nơi con người. Đó là đặc tính đầu tiên nơi việc cầu nguyện của Kitô giáo. Nếu con người luôn quen với việc tiếp cận Thiên Chúa như hơi sờ sợ, như hơi kinh hãi trước mầu nhiệm ngỡ ngàng và bàng hoàng, nếu họ quen với việc tôn kính Ngài bằng một thái độ tôi tớ, giống như thái độ của một thuộc hạ đối với chủ của họ, vị mà Kitô hữu lại dám tin tưởng gọi bằng danh xưng "Cha". Thật vậy, Chúa Giêsu sử dụng chữ khác: "ba/bố".

Kitô giáo đã bài trừ bất cứ mối liên hệ "phong kiến" nào khỏi việc gắn bó với Thiên Chúa. Trong di sản đức tin của chúng ta không có những thứ diễn tả như "thần phục - subjection", "nô lệ - slavery" hay "chư hầu - vassalage"; mà là những ngôn từ như "giao ước - covenant", "tình thân - friendship", "hứa hẹn - promise", "hiệp thông - communion", "gắn bó - closeness". Trong bài từ biệt dài của mình với các môn đệ, Chúa Giêsu nói như thế này: "Thày không còn gọi các con là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết được những gì chủ làm; nhưng Thày gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thày đã nghe từ Chúa Cha thì Thày đã tỏ cho các con biết. Không phải là các con đã chọn Thày, mà chính Thày đã chọn các con, để  sai các con đi sinh hoa kết trái và cho hoa trái ấy được tồn tại; nhờ đó những gì các con nhân danh Thày mà xin cùng Chúa Cha thì các con được ban cho" (Gioan 15:15-16). Tuy nhiên, đó là một chi phiếu trống: "Tất cả những gì các con nhân danh Thày mà xin cùng Cha của Thày thì Thày sẽ ban cho các con"!

Thiên Chúa là người bạn, là liên minh, là chàng rể. Bằng nguyện cầu, chúng ta có thể thiết lập một mối liên hệ tin tưởng với Ngài, cho đến độ Chúa Giêsu đã dạy chúng ta ở trong "Kinh Lạy Cha" là hãy xin Ngài với cả một loạt vấn đề. Chúng ta có thể xin Thiên Chúa cho tất cả mọi sự, hết mọi thứ; bày giải hết mọi điều, thân thưa đủ mọi chuyện. Không sao, cho dù chúng ta có cảm thấy lầm lỗi nơi mối liên hệ với Thiên Chúa, chẳng hạn như chúng ta không phải là những người bạn tốt, chúng ta không phải là những đứa con ngoan, chúng ta không phải là những người hôn thê thủy chung. Ngài vẫn tiếp tục yêu thương chúng ta. Đó là những gì Chúa Giêsu cuối cùng đã cho thấy ở Bữa Tiệc Ly, khi Người phán: "Đây là chén tân ước trong máu Thày, sẽ đổ ra cho các con" (Luca 22:20). Bằng cử chỉ ấy, Chúa Giêsu ngưỡng vọng đến mầu nhiệm Thánh Giá ở căn thượng lầu tiệc ly. Thiên Chúa là một liên minh trung tín, ở chỗ, cho dù con người ta có thôi yêu mến Người, thì Người vẫn tiếp tục yêu thương họ, bất chấp tình yêu có dẫn Người lên Đồi Canvê. Thiên Chúa bao giờ cũng ở kề ngay bên cửa lòng của chúng ta, và đợi chờ chúng ta mở nó ra. Đôi khi cõi lòng của chúng ta được Người gõ, nhưng Người không đột nhập, mà là chờ đợi. Việc Thiên Chúa nhẫn nại với chúng ta là sự nhẫn nại của một người bố, của một người quá yêu thương chúng ta. Tôi muốn nói đó là sự nhẫn nại của cả người bố lẫn người mẹ. Luôn gần gũi với cõi lòng của chúng ta, và khi Người gõ thì Người làm một cách nhẹ nhàng và đầy yêu thương.

Khi tham dự vào mầu nhiệm Giao Ước, tất cả chúng ta hãy cố gắng cầu nguyện như thế này. Hãy đặt mình cầu nguyện trong đôi cánh tay thương xót của Thiên Chúa, hãy cảm thấy được ôm ấp nơi mầu nhiệm hạnh phúc là sự sống Ba Ngôi, hãy cảm thấy như những người khách không xứng đáng hưởng vinh dự quá nhiều ấy. Và hãy lập lại cùng Thiên Chúa, trong nỗi ngỡ ngàng của nguyện cầu: phải chăng Chúa chỉ biết có yêu thương thôi? Người không biết ghét. Người bị ghét, nhưng Người không biết ghét. Người chỉ biết yêu. Đó là Vị Thiên Chúa chúng ta cầu nguyện với. Đó là cốt lõi rạng ngời nơi hết mọi lời cầu nguyện của Kitô hữu. Vị Thiên Chúa của tình yêu thương, Người Cha đang đợi chờ chúng ta và dìu dắt chúng ta.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

Sau Bài Giáo Lý, ĐTC nói tiếp:

"Chúng ta hãy xin Chúa, nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, cho hòa bình trên thế giới, cho chấm dứt dịch bệnh, cho có được một tinh thần thống hối và cho việc hoán cải của chúng ta. Chúng ta nghĩ đến những lần Mẹ hiện ra, cũng như đến sứ điệp của Mẹ đã được truyền đạt cho thế giới, cũng như đến cuộc tấn công Thánh Gioan Phaolô II, vị được cứu sống, đã thấy được việc can thiệp từ mẫu của Đức Thánh Trinh Nữ"

"
Thứ Hai tới sẽ là thời điểm 100 năm sinh nhật của Thánh Gioan Phaolô II. Tôi sẽ cử hành lễ lúc 7 giờ sáng ở trước bàn thờ mộ ngài, và sẽ được truyền thông cho tất cả mọi người trên toàn thế giới. Chúng ta tạ ơn Chúa đã ban cho chúng ta vị Giám Mục Rôma này, vị Giám Mục Thánh này, và chúng ta hãy xin ngài giúp chúng ta: giúp Giáo Hội Roma này biết hoán cải và tiến lên. Tận lòng mình tôi chúc lành cho anh chị em ...

"Tôi phấn khích tất cả mọi người hãy nhận biết và noi theo gương mẫu của Trinh Nữ Maria. Theo đó, chúng ta hãy cố gắng sống tháng này một cách thiết tha hơn và trung thành cầu nguyện, nhất là bằng việc 
lần chuỗi Mân Côi, như Giáo Hội khuyên, đáp ứng ước muốn của Đức Mẹ đã bày tỏ ở FatimaDưới sự chở che của Mẹ, anh chị em sẽ thấy dễ chịu đựng hơn những nỗi sầu thương và tai họa....".

Thánh Lễ công cộng sẽ được tái tấu vào Thứ Hai 18/5/2020, dịp kỷ niệm bách chu niên sinh nhật của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, cũng là thời điểm ĐTC Phanxicô thôi không còn Thánh Lễ trực tuyến hằng ngày như từ Thứ Hai ngày 9/3/2020 nữa.

 

ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Cầu Nguyện

Bài 1: "Con Người là Hành Khất của Thiên Chúa"

Thứ Tư 6 tháng 5 năm 2020

Xin chào anh chị em thân mến,

Hôm nay, chúng ta bắt đầu loạt bài giáo lý mới về đề tài cầu nguyện. Cầu nguyện là hơi thở của đức tin, đó là cách diễn tả thích hợp nhất về cầu nguyện. Như tiếng kêu xuất phát từ lòng của những ai tin kính (believe) và tin tưởng (trust) vào Thiên Chúa.

Chúng ta hãy nghĩ đến câu chuyện về Bartimê, một nhân vật trong Phúc Âm (xem Marco 10:46-52 và sau đó). Thú thật là đối với tôi đó là câu chuyện dễ thương nhất. Anh ta bị mù lòa, ngồi ăn xin ở vệ đường bên ngoài thành Giêricô của anh ta. Anh ta là một nhân vật vô danh tiểu tốt, anh ta có mặt mũi, có tên gọi là Batimê, tức "con của Timê". Một ngày kia anh ta nghe tin Chúa Giêsu đi băng ngang qua đó. Thật vậy, Giêricô là giao điểm của dân chúng, được khách hành hương và buôn bán liên tục băng ngang qua. Bấy giờ chàng Bartime ngấm ngầm tính chuyện phải làm tất cả những gì có thể để gặp Chúa Giêsu cho bằng được. Nhiều người khác cũng như thế thôi: như Giakêu đã leo lên cây. Nhiều người đã muốn được nhìn thấy Chúa Giêsu nữa.

Bởi thế mà con người này đã đi vào các Phúc Âm như là một tiếng kêu vang. Anh ta không nhìn thấy chúng ta; anh ta không biết Chúa Giêsu đang ở gần hay xa, nhưng anh ta nghe thấy Người, biết rằng Người đang ở trong đám đông, càng lúc càng tiến tới... Thế nhưng anh ta hoàn toàn lẻ loi cô độc một mình, chẳng có ai biết đến điều ấy. Vậy Batimê đã làm gì? Đã la to lên. Và cứ gào cứ réo. Anh ta chỉ biết sử dụng một thứ khí giới duy nhất đó là tiếng nói. Bắt đầu hô to: "Hỡi ngài Giêsu, Con Vua Đavít, xin thương xót tôi!" (câu 47). Rồi cứ thế mà hô hoán.

Những tiếng réo gào của anh ta gây khó chịu, như bất lịch sự, nên nhiều người đã nạt nộ anh ta, bảo im đi: "Này lịch sử đó nghe, đừng có mà làm như vậy!". Thế nhưng Batimê chẳng những không nín lặng, mà còn thậm chí la to hơn nữa: "Hỡi ngài Giêsu, Con Vua Đavít, xin thương xót tôi!" (câu 47). Đó là thái độ cứng đầu ngang bướng (that stubborn stubbornness) của những ai tìm kiếm ân sủng và cứ gõ vào cửa lòng của Thiên Chúa. Anh ta la to, anh ta gõ đập. Câu "Con Vua Đavít" rất quan trọng; có nghĩa là "Đấng Thiên Sai - nghĩa là tuyên xưng Đấng Thiên Sai - đó là lời tuyên xưng đức tin xuất phát từ miệng lưỡi của con người bị tất cả mọi người khinh khi.

Chúa Giêsu đã lắng nghe tiếng kêu này. Lời nguyện cầu của Batimê đánh động cõi lòng của Người, cõi lòng của Thiên Chúa, và các cánh cửa cứu độ đã được mở ra cho anh ta. Chúa Giêsu gọi anh ta. Anh ta nhảy cuống lên, và những ai trước đó bảo anh ta câm miệng bấy giờ lại dẫn anh ta đến cùng Vị Sư Phụ ấy. Chúa Giêsu đã nói với anh ta, đã hỏi anh ta muốn gì - một điều quan trọng - thế là tiếng kêu trở thành một vấn đề: "Lạy Chúa, xin cho tôi lại được nhìn thấy" (câu 51).

Chúa Giêsu nói với anh ta rằng: "Anh hãy đi, đức tin của anh đã cứu anh" (câu 52). Người nhận thấy con người nghèo khổ, vô dụng và bị khinh bỉ này tất cả quyền lực tin tưởng của anh ta, một lòng tin tưởng đã lôi kéo được lòng thương xót và quyền năng của Thiên Chúa. Đức tin cần phải có đôi tay giơ lên, cần vang lên kêu la van nài ơn cứu độ. Sách Giáo Lý dạy rằng "lòng khiêm nhượng là nền tảng của việc nguyện cầu" (2559). Lời cầu nguyện xuất phát từ trái đất này, từ humus là đất mùn - gốc của chữ "humble khiêm hạ", "humility lòng khiêm hạ" -; nó xuất phát từ tình trạng bấp bênh mong manh của chúng ta, từ nỗi khát khao Thiên Chúa liên tục của chúng ta (cùng nguồn vừa được trích dẫn, khoản 2560-2561).

Đức tin, như chúng ta thấy nơi Batimê, là một tiếng kêu; tình trạng không có đức tin là những gì đang làm cho tiếng kêu đó bị chết ngạt. Thái độ mà dân chúng có này, khiến họ câm nín, thì họ không phải là thành phần dân của đức tin như họ là. Việc dập tắt đi tiếng kêu ấy là một thứ "câm lặng". Đức tin là những gì chống chọi với một tình trạng đớn đau nào đó mà chúng ta không biết được lý do tại sao; tình trạng không có đức tin là những gì đành phải chịu đựng những gì chúng ta không thể tránh. Đức tin là niềm hy vọng được cứu độ; tình trạng không có đức tin là những gì quen với sự dữ đang áp đảo chúng ta và cứ như thế.

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy bắt đầu loạt bài giáo lý với tiếng kêu của Batimê, vì có lẽ hết mọi sự đã được viết về một nhân vật như anh ta. Batimê là một nam nhân kiên trì. Chung quanh anh ta có những con người cho rằng ăn mày ăn xin là đồ bỏ vô dụng, ăn mày ăn xin là một tiếng kêu vô vọng, ăn mày ăn xin là một tiếng động chỉ gây phiền phức, xin đừng la lối om xòm: thế nhưng anh ta vẫn không câm lặng. Để rồi cuối cùng anh ta đã được những gì anh ta mong muốn.

Có một tiếng nói khơi động trong cõi lòng của con người còn mãnh liệt hơn bất cứ biện luận nào. Tất cả chúng ta đều có tiếng nói ấy trong lòng. Một tiếng nói được bộc phát cách tự nhiên, không do ai truyền khiến nó, một tiếng nói đặt vấn đề về ý nghĩa của cuộc chúng ta hành trình dưới trần thế này, nhất là khi chúng ta ở trong tăm tối: "Hỡi ngài Giêsu, xin thương xót tôi cùng! Hỡi ngài Giêsu, xin thương xót tôi với!" Lời cầu nguyện này tuyệt vời.  

Thế nhưng, có lẽ những lời này đã không được ghi khắc ở nơi toàn thể thiên nhiên tạo vật hay chăng? Hết mọi sự đều kêu xin và van nài mầu nhiệm thương xót để đạt được tầm vóc viên trọn tối hậu của mình. Không phải chỉ có thành phần Kitô hữu nguyện cầu, mà họ chia sẻ tiếng kêu nguyện cầu này với tất cả những con người nam nữ. Tuy nhiên, chân trời vẫn còn được vươn dài nới rộng, ở chỗ, Thánh Phaolô nói rằng toàn thể tạo vật "đang rên xiết và quằn quại lâm bồn" (Roma 8:22). Các nghệ sĩ thường biến mình thành những diễn giải viên của tiếng kêu thầm lặng này của tạo vật, một tiếng kêu thầm lặng đang thúc ép ở nơi hết mọi tạo vật, và được vang lên trên hết ở nơi tâm can của con người, vì con người là "một kẻ ăn mày của Thiên Chúa" (xem Sách Giáo Lý khoản 2559). Câu định nghĩa tuyệt vời về con người: "một hành khất của Thiên Chúa". Xin cám ơn anh chị em.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

 

June 24, 2020