ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Cầu Nguyện
 ****

 

Bài 3 - Cầu Nguyện qua Thiên Nhiên Vạn Vật

Thứ Tư 20 tháng 5 năm 2020

Thân ái chào anh chị em,

Chúng ta tiếp tục các bài giáo lý về cầu nguyện, bằng việc suy niệm về mầu nhiệm Tạo Dựng. Sự sống, một sự kiện đơn thuần cho thấy chúng ta đang hiện hữu đây, là những gì hướng lòng con người về việc cầu nguyện.

Trang Thánh Kinh đầu tiên giống như là một bài thánh ca tri ân cảm tạ. Trình thuật về việc Tạo Dựng được chấm phết cách ngăn nhau bằng những điệp khúc, những điệp khúc được liên tục lập lại về sự tốt đẹp mỹ miều của hết mọi sự được dựng nên. Thiên Chúa tạo dựng sự sống bằng lời của Ngài, và hết mọi sự được tham phần vào sự hiện hữu. Bằng lời truyền, Ngài phân ánh sáng ra khỏi bóng tối, luân chuyển ngày và đêm, luân chuyển chu kỳ các mùa, cho xuất hiện đủ thứ thảo mộc và thú vật khác nhau. Trong khu rừng mau chóng tràn đầy khỏa lấp đi cái hỗn loạn ấy thì cuối cùng con người đã xuất hiện. Và sự xuất hiện này làm bùng lên cả một trời hân hoan mãn nguyện muôn vàn, ở chỗ: "Thiên Chúa đã thấy hết mọi sự Ngài đã tạo dựng nên rất ư là tốt đẹp" (Khởi Nguyên 1:31). Chẳng những tốt lành mà còn mỹ lệ nữa, nét mỹ lệ hiện lên nơi toàn thể Tạo Vật!

Vẻ đẹp và mầu nhiệm của Tạo Vật làm phát sinh nơi tâm can của con người tác động đầu tiên khơi động nguyện cầu (Cf. Catechism of the Catholic Church, 2566). Bài Thánh Vịnh thứ 8 nói như thế như chúng ta đã nghe thấy lúc đầu: "Khi tôi nhìn vào các tầng trời của Chúa, vào công cuộc do các ngón tay Chúa, vào trăng sao Chúa đã dựng nên; thì con người là chi mà được Chúa nhớ tới, được Chúa chăm sóc cho?" (các câu 3-4). Con người cầu nguyện chiêm ngắm mầu nhiệm hiện hữu chung quanh mình, họ thấy bầu trời trăng sau ở trên đầu - và khoa thiên thể học ngày nay cho chúng ta thấy được tất cả những mênh mông của nó - và họ nghĩ đến những gì là yêu thương được biểu lộ ở đằng sau một công việc quyền năng như vậy! ... Rồi con người là chi ở giữa một không gian bao la bất tận ấy? Một Thánh Vịnh khác (89:48) nói "hầu như chẳng là gì": một hữu thể vào đời, một hữu thể qua đời, một tạo vật rất mong manh mỏng dòn. Ấy thế mà trong toàn thể vũ trụ này, con người lại là một tạo vật duy nhất nhận thức được vẻ đẹp tràn lan như thế. Một hữu thể nhỏ mọn được sinh ra, chết đi, nay còn mai mất, là một hữu thể duy nhất nhận thức được vẻ đẹp ấy. Chúng ta nhận thức được vẻ đẹp này!

Việc cầu nguyện của con người gắn bó chặt chẽ với cái cảm thức ngỡ ngàng này. Tính chất cao cả của con người chỉ là một cái gì li ti vô cùng, nếu mang so sánh với các chiều kích của vũ trụ này. Những thắng đoạt vĩ đại nhất của họ chỉ là những gì rất ư là nho nhoi... Thế nhưng, con người lại chẳng phải là cái gì không không. Một cảm thức về lòng thương xót bất khả cưỡng hiện lên trong khi nguyện cầu. Không có gì lại tình cờ mà hiện hữu: bí mật của cái vũ trụ này, qua đôi mắt của chúng ta, là ở nơi ánh mắt nhân ái của Đấng Nào Ấy. Bài Thánh Vịnh này khẳng định rằng chúng ta được dựng nên kém Thiên Chúa một chút, được trang điểm bằng vinh quang và vinh dự (xem 8:5). Tính chất cao cả của con người là mối liên hệ của họ với Thiên Chúa: việc họ được lên ngôi. Tự mình, chúng ta hầu như chẳng là gì, bé mọn, nhưng nhờ ơn gọi, chúng ta trở thành con cái của Đức Vua cao cả!

 Đó là một cảm nghiệm nhiều người chúng ta có được. Nếu truyện đời của chúng ta, với tất cả những gì là cay đắng của nó, đôi khi cả tặng ân nguyện cầu còn có nguy cơ bị dập tắt đi mất nơi chúng ta, thì chỉ cần chiêm ngắm bầu trời trăng sao, chiêm ngắm cảnh xế chiều, chiêm ngắm một cánh hoa... để tái thắp lên một tia sáng tri ân cảm tạ. Cảm nghiệm này có lẽ là nền móng cho trang Thánh Kinh đầu tiên ấy.

Khi mà trình thuật Thánh Kinh về việc Tạo Dựng được viết lên, thì dân Do Thái lại không trải qua những ngày may lành hạnh phúc. Quyền lực kẻ thù đã chiếm cứ mảnh đất của họ; nhiều người đã bị đầy ải, và bấy giờ họ thấy mình trở thành những kẻ nô lệ ở Mesopotamia. Chẳng còn quê hương, không còn Đền Thờ, hay còn đời sống xã hội và tôn giáo gì nữa - chẳng còn gì hết. Tuy nhiên, chính nhờ trình thật vĩ đại về việc Tạo Dựng, mà một số trong họ bắt đầu thấy được những lý do để tri ân cảm tạ, để chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa, về việc hiện hữu của họ. Cầu nguyện là mãnh lực đầu tiên của niềm hy vọng. Khi anh chị em cầu nguyện thì niềm hy vọng dâng lên, cứ thế. Tôi muốn nói rằng cầu nguyện là việc mở cánh cửa của niềm hy vọng. Hy vọng vẫn có đó, thế nhưng tôi chỉ hướng đến hy vọng khi nguyện cầu. Vì con người cầu nguyện bảo vệ các chân lý căn bản; chúng là những gì được lập lại, trước hết, cho chính bản thân họ, và sau đó, cho tất cả những người khác, để đời sống này, bất chấp mọi nhọc nhằn thử thách, bất chấp những tháng ngày khó khăn của nó, vẫn tràn đầy một thứ ân sủng nào đó để chiêm ngưỡng, nhờ đó, nó lúc nào cũng được bênh vực và bảo vệ.

Những con người nam nữ cầu nguyện biết rằng niềm hy vọng mạnh hơn là những gì thất đảm. Họ tin rằng tình yêu quyền lực hơn chết chóc, và vào một ngày nào đó tình yêu chắc chắn sẽ chiến thắng, cho dù ở vào những lúc và bằng những đường lối nào đó chúng ta không biết được. Những con người nam nữ cầu nguyện phản ảnh trên khuôn mặt của họ những chớp sáng: vì ngay cả trong những ngày đen tối nhất, mặt trời không thôi chiếu soi cho họ. Cầu nguyện là những gì chiếu soi anh chị em: nó soi chiếu linh hồn của anh chị em, nó chiếu soi cõi lòng của anh chị em, và nó soi chiếu gương mặt của anh chị em, cho dù ở những lúc cực đen tối, cho dù ở những lúc thật thảm sầu.

Tất cả chúng ta đều là thành phần ôm ấp niềm vui. Anh chị em có nghĩ về điều ấy hay chăng? Anh chị em là người ôm ấp niềm vui? Hay anh chị em lại thích mang vác tin dữ, những gì làm buồn chán. Tất cả chúng ta đều có khả năng mang lại niềm vui. Đời sống này là một tặng ân Chúa ban cho chúng ta, và thật quá ngắn ngủi để tiêu tán nó đi bằng sầu thương, bằng cay đắng. Chúng ta hãy ngợi khen chúc tụng Chúa, hãy chỉ biết hân hoan hiện hữu. Chúng ta hãy nhìn vào vũ trụ này, chúng ta hãy nhìn vào những vẻ đẹp, và chúng ta cũng nhìn đến cả các thập giá của chúng ta mà nói rằng: "Thế nhưng Chúa là Đấng hiện hữu, Chúa đã làm cho chúng ta như thế, cho Bản Thân Chúa".

Cần phải cảm thấy rằng nỗi khắc khoải của con tim là những gì dẫn chúng ta đến niềm tri ân cảm tạ và chúc tụng ngợi khen Chúa. Chúng ta, con cái của Vị Vua cao cả, của Đấng Hóa Công, có thể đọc thấy dấu vết của Ngài nơi tất cả mọi Tạo Vật, Tạo Vật mà hôm nay đây chúng ta không biết bảo vệ; tuy nhiên, nơi Tạo Vật ấy có dấu vết của thiên Chúa, Đấng vì yêu đã tạo dựng nên nó. Xin Chúa làm cho chúng ta hiểu được như vậy, một cách sâu xa hơn, và dẫn chúng ta đến chỗ dâng lời "Tạ Ơn", và "Tạ Ơn" là một lời cầu nguyện tuyệt vời.

https://zenit.org/articles/popes-general-audience-on-prayer-mystery-of-creation-full-text/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

 

Bài 2 - Cầu nguyện: Mối Liên Hệ Yêu Thương

Thứ Tư 13 tháng 5 năm 2020

Thân mến chào anh chị em,

Chúng ta hãy tiến tới bước thứ hai trong hành trình giáo lý về cầu nguyện được bắt đầu từ tuần vừa rồi.

Cầu nguyện là những gì thuộc về tất cả mọi người: về con người thuộc tất cả mọi tôn giáo, và có lẽ cho cả những ai chẳng tin tưởng gì. Cầu nguyện được xuất phát từ chốn thầm kín của bản thân chúng ta, một nội trường được các tác giả về đường thiêng liêng thường gọi là "cõi lòng" (cf. Catechism of the Catholic Church , 2562-2563). Bởi thế, cầu nguyện không phải là những gì xa vời trong chúng ta, nó không phải là một cái gì đó thuộc về các tài năng thứ yếu và bên lề, mà là một mầu nhiệm mật thiết nhất của bản thân chúng ta. Chính mầu nhiệm này là những gì cầu nguyện. Các cảm xúc cầu nguyện, thế nhưng cũng không thể bảo rằng cầu nguyện chỉ là cảm xúc. Lý trí cầu nguyện, thế nhưng cầu nguyện không phải chỉ là một tác động tri thức. Thân xác cầu nguyện, thế nhưng người ta có thể thân thưa với Thiên Chúa thậm chí một cách vô hiệu nhất. Bởi thế mà toàn thể con người cầu nguyện, nếu họ cầu bằng "tấm lòng" của họ.
Cầu nguyện là một thứ thôi thúc, là một khẩn cầu vượt ra ngoài bản thân chúng ta: một điều gì đó xuất phát tận đáy của con người chúng ta và vươn lên, vì nó cảm thấy như lưu luyến về một cuộc hội ngộ nào đó. Nỗi lưu luyến này còn hơn là một nhu cầu nữa, còn hơn là một bó buộc nào đó: nó là một đường lối. Cầu nguyện là tiếng nói của một "cái tôi - I" dò dẫm, mò mẫm, tìm kiếm một "cái bạn - You" nào đó. Cuộc gặp gỡ giữa "tôi" và "bạn" không thể được thực hiện bằng tính toán: nó là một cuộc hội ngộ con người, và nhiều lần người ta lần mò để gặp thấy "bạn" được "tôi" tìm kiếm.

Trái lại, cầu nguyện của Kitô hữu xuất phát từ một cuộc mạc khải: "Ngài - You" không bị che giấu một cách kín nhiệm, mà đã tham phần vào mối liên hệ với chúng ta. Kitô giáo là một tôn giáo tiếp tục cử hành "việc tỏ hiện" của Thiên Chúa, tức là cuộc hiển linh của Ngài. Những lễ đầu tiên của phụng niên là việc cử hành Vị Thiên Chúa ấy, Đấng không ẩn kín mà là Đấng cống hiến tình thân hữu của Ngài cho con người. Thiên Chúa tỏ vinh quang của Ngài ra nơi cảnh bần cùng ở Bêlem, trước sự chiêm ngắm của các Vị Đạo Sĩ, nơi phép rửa ở sống Jordan, nơi dấu lạ ở tiệc cưới Cana. Phúc Âm của Thánh Gioan kết luận bài đại thánh ca Khai Mở của mình bằng một câu chính xác: "Không ai đã từng được thấy Thiên Chúa: Chính Người Con duy nhất ở trong Cha tỏ Ngài ra" (1:18). Chính Chúa Giêsu là Đấng mạc khải Thiên Chúa cho chúng ta.

Việc cầu nguyện của Kitô hữu là việc tham dự vào mối liên hệ với Vị Thiên Chúa có dung nhan dịu hiền nhất, Đấng không muốn gây ra bất cứ nỗi sợ hãi nào nơi con người. Đó là đặc tính đầu tiên nơi việc cầu nguyện của Kitô giáo. Nếu con người luôn quen với việc tiếp cận Thiên Chúa như hơi sờ sợ, như hơi kinh hãi trước mầu nhiệm ngỡ ngàng và bàng hoàng, nếu họ quen với việc tôn kính Ngài bằng một thái độ tôi tớ, giống như thái độ của một thuộc hạ đối với chủ của họ, vị mà Kitô hữu lại dám tin tưởng gọi bằng danh xưng "Cha". Thật vậy, Chúa Giêsu sử dụng chữ khác: "ba/bố".

Kitô giáo đã bài trừ bất cứ mối liên hệ "phong kiến" nào khỏi việc gắn bó với Thiên Chúa. Trong di sản đức tin của chúng ta không có những thứ diễn tả như "thần phục - subjection", "nô lệ - slavery" hay "chư hầu - vassalage"; mà là những ngôn từ như "giao ước - covenant", "tình thân - friendship", "hứa hẹn - promise", "hiệp thông - communion", "gắn bó - closeness". Trong bài từ biệt dài của mình với các môn đệ, Chúa Giêsu nói như thế này: "Thày không còn gọi các con là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết được những gì chủ làm; nhưng Thày gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thày đã nghe từ Chúa Cha thì Thày đã tỏ cho các con biết. Không phải là các con đã chọn Thày, mà chính Thày đã chọn các con, để  sai các con đi sinh hoa kết trái và cho hoa trái ấy được tồn tại; nhờ đó những gì các con nhân danh Thày mà xin cùng Chúa Cha thì các con được ban cho" (Gioan 15:15-16). Tuy nhiên, đó là một chi phiếu trống: "Tất cả những gì các con nhân danh Thày mà xin cùng Cha của Thày thì Thày sẽ ban cho các con"!

Thiên Chúa là người bạn, là liên minh, là chàng rể. Bằng nguyện cầu, chúng ta có thể thiết lập một mối liên hệ tin tưởng với Ngài, cho đến độ Chúa Giêsu đã dạy chúng ta ở trong "Kinh Lạy Cha" là hãy xin Ngài với cả một loạt vấn đề. Chúng ta có thể xin Thiên Chúa cho tất cả mọi sự, hết mọi thứ; bày giải hết mọi điều, thân thưa đủ mọi chuyện. Không sao, cho dù chúng ta có cảm thấy lầm lỗi nơi mối liên hệ với Thiên Chúa, chẳng hạn như chúng ta không phải là những người bạn tốt, chúng ta không phải là những đứa con ngoan, chúng ta không phải là những người hôn thê thủy chung. Ngài vẫn tiếp tục yêu thương chúng ta. Đó là những gì Chúa Giêsu cuối cùng đã cho thấy ở Bữa Tiệc Ly, khi Người phán: "Đây là chén tân ước trong máu Thày, sẽ đổ ra cho các con" (Luca 22:20). Bằng cử chỉ ấy, Chúa Giêsu ngưỡng vọng đến mầu nhiệm Thánh Giá ở căn thượng lầu tiệc ly. Thiên Chúa là một liên minh trung tín, ở chỗ, cho dù con người ta có thôi yêu mến Người, thì Người vẫn tiếp tục yêu thương họ, bất chấp tình yêu có dẫn Người lên Đồi Canvê. Thiên Chúa bao giờ cũng ở kề ngay bên cửa lòng của chúng ta, và đợi chờ chúng ta mở nó ra. Đôi khi cõi lòng của chúng ta được Người gõ, nhưng Người không đột nhập, mà là chờ đợi. Việc Thiên Chúa nhẫn nại với chúng ta là sự nhẫn nại của một người bố, của một người quá yêu thương chúng ta. Tôi muốn nói đó là sự nhẫn nại của cả người bố lẫn người mẹ. Luôn gần gũi với cõi lòng của chúng ta, và khi Người gõ thì Người làm một cách nhẹ nhàng và đầy yêu thương.

Khi tham dự vào mầu nhiệm Giao Ước, tất cả chúng ta hãy cố gắng cầu nguyện như thế này. Hãy đặt mình cầu nguyện trong đôi cánh tay thương xót của Thiên Chúa, hãy cảm thấy được ôm ấp nơi mầu nhiệm hạnh phúc là sự sống Ba Ngôi, hãy cảm thấy như những người khách không xứng đáng hưởng vinh dự quá nhiều ấy. Và hãy lập lại cùng Thiên Chúa, trong nỗi ngỡ ngàng của nguyện cầu: phải chăng Chúa chỉ biết có yêu thương thôi? Người không biết ghét. Người bị ghét, nhưng Người không biết ghét. Người chỉ biết yêu. Đó là Vị Thiên Chúa chúng ta cầu nguyện với. Đó là cốt lõi rạng ngời nơi hết mọi lời cầu nguyện của Kitô hữu. Vị Thiên Chúa của tình yêu thương, Người Cha đang đợi chờ chúng ta và dìu dắt chúng ta.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

Sau Bài Giáo Lý, ĐTC nói tiếp:

"Chúng ta hãy xin Chúa, nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, cho hòa bình trên thế giới, cho chấm dứt dịch bệnh, cho có được một tinh thần thống hối và cho việc hoán cải của chúng ta. Chúng ta nghĩ đến những lần Mẹ hiện ra, cũng như đến sứ điệp của Mẹ đã được truyền đạt cho thế giới, cũng như đến cuộc tấn công Thánh Gioan Phaolô II, vị được cứu sống, đã thấy được việc can thiệp từ mẫu của Đức Thánh Trinh Nữ"

"
Thứ Hai tới sẽ là thời điểm 100 năm sinh nhật của Thánh Gioan Phaolô II. Tôi sẽ cử hành lễ lúc 7 giờ sáng ở trước bàn thờ mộ ngài, và sẽ được truyền thông cho tất cả mọi người trên toàn thế giới. Chúng ta tạ ơn Chúa đã ban cho chúng ta vị Giám Mục Rôma này, vị Giám Mục Thánh này, và chúng ta hãy xin ngài giúp chúng ta: giúp Giáo Hội Roma này biết hoán cải và tiến lên. Tận lòng mình tôi chúc lành cho anh chị em ...

"Tôi phấn khích tất cả mọi người hãy nhận biết và noi theo gương mẫu của Trinh Nữ Maria. Theo đó, chúng ta hãy cố gắng sống tháng này một cách thiết tha hơn và trung thành cầu nguyện, nhất là bằng việc 
lần chuỗi Mân Côi, như Giáo Hội khuyên, đáp ứng ước muốn của Đức Mẹ đã bày tỏ ở FatimaDưới sự chở che của Mẹ, anh chị em sẽ thấy dễ chịu đựng hơn những nỗi sầu thương và tai họa....".

Thánh Lễ công cộng sẽ được tái tấu vào Thứ Hai 18/5/2020, dịp kỷ niệm bách chu niên sinh nhật của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, cũng là thời điểm ĐTC Phanxicô thôi không còn Thánh Lễ trực tuyến hằng ngày như từ Thứ Hai ngày 9/3/2020 nữa.

 

ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Cầu Nguyện

Bài 1: "Con Người là Hành Khất của Thiên Chúa"

Thứ Tư 6 tháng 5 năm 2020

Xin chào anh chị em thân mến,

Hôm nay, chúng ta bắt đầu loạt bài giáo lý mới về đề tài cầu nguyện. Cầu nguyện là hơi thở của đức tin, đó là cách diễn tả thích hợp nhất về cầu nguyện. Như tiếng kêu xuất phát từ lòng của những ai tin kính (believe) và tin tưởng (trust) vào Thiên Chúa.

Chúng ta hãy nghĩ đến câu chuyện về Bartimê, một nhân vật trong Phúc Âm (xem Marco 10:46-52 và sau đó). Thú thật là đối với tôi đó là câu chuyện dễ thương nhất. Anh ta bị mù lòa, ngồi ăn xin ở vệ đường bên ngoài thành Giêricô của anh ta. Anh ta là một nhân vật vô danh tiểu tốt, anh ta có mặt mũi, có tên gọi là Batimê, tức "con của Timê". Một ngày kia anh ta nghe tin Chúa Giêsu đi băng ngang qua đó. Thật vậy, Giêricô là giao điểm của dân chúng, được khách hành hương và buôn bán liên tục băng ngang qua. Bấy giờ chàng Bartime ngấm ngầm tính chuyện phải làm tất cả những gì có thể để gặp Chúa Giêsu cho bằng được. Nhiều người khác cũng như thế thôi: như Giakêu đã leo lên cây. Nhiều người đã muốn được nhìn thấy Chúa Giêsu nữa.

Bởi thế mà con người này đã đi vào các Phúc Âm như là một tiếng kêu vang. Anh ta không nhìn thấy chúng ta; anh ta không biết Chúa Giêsu đang ở gần hay xa, nhưng anh ta nghe thấy Người, biết rằng Người đang ở trong đám đông, càng lúc càng tiến tới... Thế nhưng anh ta hoàn toàn lẻ loi cô độc một mình, chẳng có ai biết đến điều ấy. Vậy Batimê đã làm gì? Đã la to lên. Và cứ gào cứ réo. Anh ta chỉ biết sử dụng một thứ khí giới duy nhất đó là tiếng nói. Bắt đầu hô to: "Hỡi ngài Giêsu, Con Vua Đavít, xin thương xót tôi!" (câu 47). Rồi cứ thế mà hô hoán.

Những tiếng réo gào của anh ta gây khó chịu, như bất lịch sự, nên nhiều người đã nạt nộ anh ta, bảo im đi: "Này lịch sử đó nghe, đừng có mà làm như vậy!". Thế nhưng Batimê chẳng những không nín lặng, mà còn thậm chí la to hơn nữa: "Hỡi ngài Giêsu, Con Vua Đavít, xin thương xót tôi!" (câu 47). Đó là thái độ cứng đầu ngang bướng (that stubborn stubbornness) của những ai tìm kiếm ân sủng và cứ gõ vào cửa lòng của Thiên Chúa. Anh ta la to, anh ta gõ đập. Câu "Con Vua Đavít" rất quan trọng; có nghĩa là "Đấng Thiên Sai - nghĩa là tuyên xưng Đấng Thiên Sai - đó là lời tuyên xưng đức tin xuất phát từ miệng lưỡi của con người bị tất cả mọi người khinh khi.

Chúa Giêsu đã lắng nghe tiếng kêu này. Lời nguyện cầu của Batimê đánh động cõi lòng của Người, cõi lòng của Thiên Chúa, và các cánh cửa cứu độ đã được mở ra cho anh ta. Chúa Giêsu gọi anh ta. Anh ta nhảy cuống lên, và những ai trước đó bảo anh ta câm miệng bấy giờ lại dẫn anh ta đến cùng Vị Sư Phụ ấy. Chúa Giêsu đã nói với anh ta, đã hỏi anh ta muốn gì - một điều quan trọng - thế là tiếng kêu trở thành một vấn đề: "Lạy Chúa, xin cho tôi lại được nhìn thấy" (câu 51).

Chúa Giêsu nói với anh ta rằng: "Anh hãy đi, đức tin của anh đã cứu anh" (câu 52). Người nhận thấy con người nghèo khổ, vô dụng và bị khinh bỉ này tất cả quyền lực tin tưởng của anh ta, một lòng tin tưởng đã lôi kéo được lòng thương xót và quyền năng của Thiên Chúa. Đức tin cần phải có đôi tay giơ lên, cần vang lên kêu la van nài ơn cứu độ. Sách Giáo Lý dạy rằng "lòng khiêm nhượng là nền tảng của việc nguyện cầu" (2559). Lời cầu nguyện xuất phát từ trái đất này, từ humus là đất mùn - gốc của chữ "humble khiêm hạ", "humility lòng khiêm hạ" -; nó xuất phát từ tình trạng bấp bênh mong manh của chúng ta, từ nỗi khát khao Thiên Chúa liên tục của chúng ta (cùng nguồn vừa được trích dẫn, khoản 2560-2561).

Đức tin, như chúng ta thấy nơi Batimê, là một tiếng kêu; tình trạng không có đức tin là những gì đang làm cho tiếng kêu đó bị chết ngạt. Thái độ mà dân chúng có này, khiến họ câm nín, thì họ không phải là thành phần dân của đức tin như họ là. Việc dập tắt đi tiếng kêu ấy là một thứ "câm lặng". Đức tin là những gì chống chọi với một tình trạng đớn đau nào đó mà chúng ta không biết được lý do tại sao; tình trạng không có đức tin là những gì đành phải chịu đựng những gì chúng ta không thể tránh. Đức tin là niềm hy vọng được cứu độ; tình trạng không có đức tin là những gì quen với sự dữ đang áp đảo chúng ta và cứ như thế.

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy bắt đầu loạt bài giáo lý với tiếng kêu của Batimê, vì có lẽ hết mọi sự đã được viết về một nhân vật như anh ta. Batimê là một nam nhân kiên trì. Chung quanh anh ta có những con người cho rằng ăn mày ăn xin là đồ bỏ vô dụng, ăn mày ăn xin là một tiếng kêu vô vọng, ăn mày ăn xin là một tiếng động chỉ gây phiền phức, xin đừng la lối om xòm: thế nhưng anh ta vẫn không câm lặng. Để rồi cuối cùng anh ta đã được những gì anh ta mong muốn.

Có một tiếng nói khơi động trong cõi lòng của con người còn mãnh liệt hơn bất cứ biện luận nào. Tất cả chúng ta đều có tiếng nói ấy trong lòng. Một tiếng nói được bộc phát cách tự nhiên, không do ai truyền khiến nó, một tiếng nói đặt vấn đề về ý nghĩa của cuộc chúng ta hành trình dưới trần thế này, nhất là khi chúng ta ở trong tăm tối: "Hỡi ngài Giêsu, xin thương xót tôi cùng! Hỡi ngài Giêsu, xin thương xót tôi với!" Lời cầu nguyện này tuyệt vời.  

Thế nhưng, có lẽ những lời này đã không được ghi khắc ở nơi toàn thể thiên nhiên tạo vật hay chăng? Hết mọi sự đều kêu xin và van nài mầu nhiệm thương xót để đạt được tầm vóc viên trọn tối hậu của mình. Không phải chỉ có thành phần Kitô hữu nguyện cầu, mà họ chia sẻ tiếng kêu nguyện cầu này với tất cả những con người nam nữ. Tuy nhiên, chân trời vẫn còn được vươn dài nới rộng, ở chỗ, Thánh Phaolô nói rằng toàn thể tạo vật "đang rên xiết và quằn quại lâm bồn" (Roma 8:22). Các nghệ sĩ thường biến mình thành những diễn giải viên của tiếng kêu thầm lặng này của tạo vật, một tiếng kêu thầm lặng đang thúc ép ở nơi hết mọi tạo vật, và được vang lên trên hết ở nơi tâm can của con người, vì con người là "một kẻ ăn mày của Thiên Chúa" (xem Sách Giáo Lý khoản 2559). Câu định nghĩa tuyệt vời về con người: "một hành khất của Thiên Chúa". Xin cám ơn anh chị em.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

 

May 21, 2020