June 7, 2018

suy niệm Lời Chúa..

by Huệ Minh

Chúa nhật IX thường niên, năm B

 

THỨ HAI TUẦN 9 THƯỜNG NIÊN

2 Pr 1:2-7; Tv 91:1-2,14-15,15-16; Mc 12:1-12

TẢNG ĐÁ GÓC TƯỜNG

Trang Tin Mừng hôm nay thuộc phần II theo Thánh Máccô với chủ đề lớn nói về “Mầu Nhiệm Con Người”.

Trong phần này có tựa đề là “Phán xét Giêrusalem” vì đoạn Mc 12,1-12 nói về dụ ngôn những tá điền sát nhân, như một tiếng chuông vang thức tỉnh lòng những ai xem thường hoặc sống lơ là, đã làm những việc mà phải trả lẽ trong ngày cánh chung khi ra trước toà Chúa phán xét.

         Và ta thấy sau một chuỗi giải thích và phân tích dụ ngôn, các thầy thượng tế, kinh sư chợt hiểu ra một điều là: Chúa Giêsu đang có ý nhằm nói đến họ. Và họ tìm cách bắt  Chúa Giêsu vì sự xỉ nhục này, nhưng họ sợ đám đông, vì dân chúng đang say mê lắng nghe giáo thuyết của Ngài : một vị giảng sư có uy quyền trong lời nói và việc làm chứ không như các kinh sư của họ. Họ không bắt được Chúa Giêsu vì có lẽ chưa đến giờ của Ngài. Thế là họ đành bỏ Ngài mà đi. Họ bỏ đi để chờ dịp thuận tiện.

          Mở đầu chương 12, tác giả cho thấy Chúa Giêsu miêu tả về một người chủ vườn nho. Ông ta có vẻ quí mến và quan tâm khá nhiều đến vườn nho của ông. “Ông rào giậu, đào bồn đạp nho và xây tháp canh.... rồi cho tá điền canh tác....” ( c.1). Trước khi đi xa, ông chủ đã bố trí, sắp dặt mọi công việc đến nỗi ông tin tưởng giao vườn nho cho các tá điền trong thời gian ông vắng mặt. Vì công việc bận rôn nơi phương xa, và không thể về để thu hoạch hoa lợi,nên ông phái đầy tớ của ông đến, thay mặt ông thu góp mùa màng (x.c.2).

Và ta thấy rõ 2 thái cực đối lập. Ông chủ đã chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ và các tá điền chỉ việc chăm sóc, thu hoạch không vất vả. Giậu đã rào. Bồn đã xây và có cả tháp canh để trông chừng kẻ cướp. Các tá điền chỉ việc tưới bón, cắt tỉa... đến mùa hái nho cho vào bồn đạp nho.

Chủ thương tá điền đến như vậy mà các tá điền không thu hoa lợi cho chủ. Họ muốn chiếm đoạt cho họ phần hoa lơị này và cả vườn nho nữa. Họ đánh đập những đầy tớ đến thu hoa lợi, đuổi họ ra về tay không. Ông chủ không nản lòng. Ông vẫn tin tưởng họ nên sai đầy tớ khác đến, vì cho  rằng : có lẽ đầy tớ trước không biết cách thu hoa lợi chăng ? Càng ngày ông càng sai nhiều nhóm đầy tớ khác nhau đến, nhưng kết quả “tay trắng vẫn hoàn trắng tay”.

Hơn nữa họ còn bị đánh đập, bị hạ nhục và bị giết chết ( c.3-5). đến nỗi ông không còn đầy tớ để sai đi nữa ( có lẽ một phần bị giết hại, một phần vì quá sợ... nên không ai dám làm việc cho chủ nữa). Cuối cùng, ông chỉ còn một người nữa oà người con yêu dấu. Ông quyết định cử cậu con trai yêu quí của mình đến gặp họ để giải quyết vấn đề vì nghĩ rằng : Ít ra chúng sẽ tôn trọng con trai ta ( c.6)

           Đến đây, chúng ta thấy tình thương của ông chủ lên đến đỉnh điểm. Lòng nhân hậu của ông khiến ông mù quáng đến độ sai con mình đến gặp bọn “ác ôn”. Ông tin vào tình yêu, ông tin vào con người. Và niềm tin của ông đã được đáp trả tương xứng nhưng theo chiều nghịch. Ông càng thương, càng cố gắng thuyết phục thì họ càng ganh ghét, càng muốn chiếm đoạt bằng mọi giá “Đứa thừa tự đây rồi, nào ta giết nó đi và gia tài sẽ về tay ta”.(c.7).

Thế là họ cùng nhau thực hiện mưu đồ điên dại của họ.

Họ nghĩ , làm như vậy là họ sẽ làm chủ vườn nho ( c.8). Họ quên rằng vẫn còn một người có quyền trên họ, có quyền giết chết hoặc để họ sống, đó là ông chủ. Và Chúa Giêsu kết luận, đưa ra kết quả của dụ ngôn này là : Ông sẽ tiêu diệt các tá điền và giao vườn nho cho người khác ( c.9).

Thiên Chúa đã giao dân Israel cho các lãnh tụ Do Thái chăm sóc, nhưng họ không chu toàn trách nhiệm. Các ngôn sứ nhiều lần được sai đến nhắc nhở họ, họ đã không nghe mà còn bách hại các vị ấy. Cuối cùng Thiên Chúa sai chính Con Một của mình đến, họ cũng không nghe và còn giết chết Người Con ấy. Bởi vậy Thiên Chúa sẽ truất quyền họ, Ngài sẽ ban Nước Trời cho một dân khác là Giáo Hội. Phần Chúa Giêsu, tuy bị giết chết nhưng Ngài sẽ sống lại và làm nền tảng cho Giáo Hội.

Thiên Chúa dùng những cách thức khác nhau để thanh luyện và hướng dẫn dân riêng, làm cho họ trở nên sẵn sàng đón nhận Đấng Cứu Thế và đồng thời trở nên gương mẫu cho các dân tộc khác trong việc phát huy công lý, tinh thần trách nhiệm và tình huynh đệ. Đó là hoa lợi mà họ có nhiệm vụ dâng cho Chúa. Nhưng thực tế không được như vậy, vì họ đã đối xử bất công và giết chết những người được Thiên Chúa sai đến nhắc cho họ về món nợ hoa lợi này. Và thậm chí họ còn ra tay với cả con ông chủ nữa. Nhưng có một điều hoàn toàn bất ngờ: Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta. Lòng thương xót của Chúa thì lớn hơn tội ác của con người. Nhìn một cách nào đó thì chính tội lỗi của con người lại là cái cớ, là cơ hội để lòng thương xót của Chúa thực thi những điều kỳ diệu trước mắt chúng ta.

           Công trình của Thiên Chúa khác hẳn với dự tính của chúng ta. Thiên Chúa đã dùng chính tảng đá mà thợ xây loại bỏ. Tảng đá đó là Chúa Giêsu. Ngài là Con Một yêu dấu của Chúa Cha đã bị các thượng tế, kinh sư loại bỏ và giết chết. Tảng đá này Thiên Chúa đã xử dụng làm tảng đá góc, nối kết các dân ngoại tôn thờ Thiên Chúa với dân Do Thái (người tin vào Chúa Giêsu ). Nhờ Chúa Giêsu mà hai bức tường này đựơc liên kết dính liền với nhau, do đó bảo đảm sự vững chắc của chúng.

         Ngày nay, nhiều người không ít lần đã buột miệng kêu trách người Do Thái xưa : Sao không tin Chúa? Sao lại đối xử  với Chúa như vậy? Nhưng rồi khi nghĩ lại, ta cũng đâu thua kém gì họ. Với những chứng từ sống động của các tông đồ, nhưng trang kinh thánh dẫn chứng rành rành, những cái chết của các vị Thánh Tử Đạo... để làm chứng về một Thiên Chúa, vậy mà chúng ta vẫn cứng lòng, vẫn làm ngơ trước lời mời gọi của Chúa qua Lời Chúa, qua các Bí Tích. Thậm chí đôi lần chúng ta đã bách hại các tôi tớ của Chúa khi không cộng tác với các vị chủ chăn trong công việc mục vụ, chê bai, nói hành nói xấu vu oan cáo vạ....Và giờ đây chúng ta thành tâm xin lỗi Chúa và xin Chúa giúp chúng ta sống là một Kitô hữu ngày càng tốt đẹp hơn 

 HUỆ MINH

 

THỨ TƯ TUẦN 9 THƯỜNG NIÊN

2 Tm 1:1-3,6-12; Tv 123:1-2,2; Mc 12:18-27

CHÚA LÀ CHÚA CỦA KẺ SỐNG

Trang Tin Mừng hôm nay trích đoạn trong chương 12, từ câu 18-27 của Thánh sử Maccô. Đây là một cuộc tranh luận quan trọng giữa Chúa Giêsu và phái Xađốc, một giáo phái phủ nhận đời sống mai hậu, đời sống vĩnh cửu. Phái Xađốc, về mặt chính trị, họ theo bọn xâm lược, còn về mặt tôn giáo họ rất bảo thủ. Lề luật của họ chỉ theo 5 cuốn sách mà chúng ta gọi là Ngũ thư. Họ phủ nhận mọi giáo thuyết của các nhà hiền triết và các ngôn sứ giảng dạy. Điển hình là việc kẻ chết sẽ sống lại trong ngày sau hết.

Và rồi ta bắt gặp một nhóm người rất khó đón nhận niềm tin phục sinh, đó là nhóm Xađốc. Có lẽ, không phải họ không tin nhưng chưa dám tin vào niềm xác tín ấy của Đức Giêsu. Bởi lẽ, những người nhóm này đa phần thuộc giới tư tế, nên họ rất rành rẻ về phụng tự và giáo lý của Thiên Chúa. Cũng như những người Do thái khác, họ tin rằng các tổ phụ như Ábaham, Isaác, Giacob không chết nhưng đang sống bên cạnh Thiên Chúa. Tuy nhiên, họ nhận thấy lòng tin vào sự sống lại tạo nên những hoàn cảnh phức tạp khó gỡ ở bên kia thế giới, và do đó, đối với họ sự sống lại trở nên là một điều phi lý, khó chấp nhận.

Ở câu 18, thánh sử giới thiệu về các nhân vật. Đó là nhóm Xađốc và Chúa Giêsu. Thánh sử cũng nói về quan điểm và niềm tin của nhóm này: không tin có sự sống lại. Chúng ta cũng theo dõi cuộc tranh luận gay go này trong câu tiếp theo. Phái Xađốc mở đầu bằng một vấn nạn mà trong luật Môsê cho phép : khi người chồng chết, nếu vợ của anh ta vẫn chưa có con trai, thì người anh hoặc em trai của người chết đó phải cưới bà này để nối dõi tông đường (Dnl 25, 5-10).

Luật này khá phổ biến trong thời bấy giờ nhằm đáp ứng nhu cầu duy trì nòi giống và đảm bảo việc thụ hưởng tài sản kế thừa: “Nếu anh hay em của người nào chết đi, để lại vợ mà không để lại con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình” (c.19). Kế đó, họ giả thử một trường hợp nhà có 7 anh em trai, lần lượt cưới người vợ của người đi trước, rồi tất cả đều chết mà không có mụn con nào và sau đó người phụ nữ ấy cũng chết, thì ở đời sau, bà ta sẽ là vợ của người nào, vì cả 7 anh em đều lấy nàng làm vợ” (c.20-23). Một vấn nạn hy hữu được đặt ra từ cửa miệng của các Xađốc với mục đích bôi nhọ và nhạo báng niềm tin vào cuộc sông mai sau của nhóm biệt phái và của Chúa Giêsu.

Trước tình huống này chúng ta thấy giáo thuyết về sự sống lại như lâm vào ngõ cụt. Chúng ta hãy xem Chúa Giêsu giải thích vấn nạn này thế nào:

“Chúa Giêsu nói: Chẳng phải vì không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa mà các ông lầm sao?” (c.24). Chúa Giêsu cho họ thấy niềm tin của họ vào Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa chỉ là hình thức, ngoài môi miệng. Vì nếu họ đọc Kinh Thánh, hẳn họ đã thấy các tổ phụ, cha ông họ tin vào sự sống lại. Ở đây, chính họ xem nhẹ quyền năng Thiên Chúa. Thiên Chúa có quyền năng tạo dựng muôn vật, muôn loài từ hư không, bằng chính Lời của Ngài. Vậy bây giờ, Ngài lại không đủ quyền phép để cho con người có cuộc sống vĩnh cửu hay sao? Đến câu 25, chúng ta thấy Chúa Giêsu khẳng định con người từ cõi chết sống lại sẽ bước vào một đời sống mới, đời sống tinh thần chứ không dựng vợ gả chồng như họ đã sống trong cuộc sống trần gian tạm bợ này. Sự liên kết theo xác thịt không có ở nơi cuộc sống mai sau nữa. Cách thế tồn tại của con người đã được biến thể.

Chúa Giêsu còn dẫn chứng Kinh Thánh qua Sách Xuất hành là cuốn sách mà họ công nhận. Trong chương 3 có nói về bụi gai bốc cháy, nơi Thiên Chúa gặp gỡ Môsê. … để khẳng định niềm tin sai lệch của họ. Thiên Chúa phán với Môsê: “Ta là Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaác, Thiên Chúa của Giacob”. Theo truyền thống xa xưa, các tổ phụ là những người đối thoại với Thiên Chúa trong khoảnh khắc, khi đó họ bước vào đời sống thân mật với Thiên Chúa. Chúa Giêsu khẳng định: Người là Thiên Chủa của kẻ sống, chứ không của kẻ chết (c.27) và Ngài đúc kết bằng một lời cứng cõi, đanh thép: Các ông lầm to!

Với Chúa Giêsu thì không gì là không thể. Ngài đã cho họ thấy sự sống đời sau không giống như sự sống đời này, mà là tình trạng hạnh phúc tuyệt đối vì được ở bên Chúa. Mà Thiên Chúa hằng hữu đời đời. Vì vậy đối với Thiên Chúa không có cái chết, chỉ có sự biến đổi từ trạng thái này qua trạng thái khác. Nếu chúng ta sống tốt lành ở cuộc đời này thì sau sự biến đổi của cái chết, chúng ta cũng sẽ tiếp tục hạnh phúc ở đời sau. Vì thế chúng ta không được trốn tránh sự sống đời này.

Chúa Giêsu đã dùng thêm một ví dụ khác trong Cựu ước, có liên quan mật thiết đến niềm tin của họ. Đó là, hình ảnh về Môsê khi diện đối diện với Thiên Chúa, qua bụi gai đang cháy. Ngài đã nói cho Môsê biết Ngài là Thiên Chúa, là Thiên Chúa hằng hữu, Thiên Chúa của các tổ phụ Abraham, Isaác, Giacob, Thiên Chúa của cha ông họ. Theo niềm tin của người Do thái, các tổ phụ của họ không hề chết, các ngài đang sống bên Thiên Chúa. Chính lẽ đó, họ luôn tin Thiên Chúa luôn đồng hành với họ, Thiên Chúa của kẻ sống chứ không phải thiên chúa của kẻ chết là vậy. Đến đây, thì họ đã rõ, sự sống lại là hoàn toàn có thể tin được, vì sự sống với Thiên Chúa của cha ông họ, của chính bản thân họ, họ cảm nhận cách rất rõ ràng và sống động.

Văn hóa Việt Nam, vẫn luôn tin Trời bằng chứng là đa số các gia đình lương dân có “bàn thờ Thiên” đặt trước nhà; họ tin có ông Trời, tin có Thiên Chúa ấy chứ. Cũng vậy, hầu hết mọi gia đình Việt đều có bàn thờ gia tiên, nơi tỏ lòng hiếu thảo với tổ tiên, ông bà, cha mẹ mình. Họ vẫn cúng quải, đốt nhang để nói chuyện thì thầm với tổ tiên họ, nhờ tổ tiên hộ phù cho gia tộc, cho gia đình. Như vậy, rõ ràng đối với họ, chết đâu phải là hết, còn một thế giới bên kia của sự chết nữa, nhưng họ chưa biết gọi đó là thế giới gì.

Thật vậy, với niềm tin của người Công Giáo xác tín cách mạnh mẽ vào thế giới của Thiên Chúa, nơi mà khi con người chết đi được trở về với Đấng mà nhờ đó họ được tạo thành. Sau cái chết thể lý, không phải là dấu chấm hết, nhưng là một gạch nối để bước đến, chạm vào, thông phần vào sự vĩnh hằng của Thiên Chúa, nơi mà con người không còn bạn tâm về cơm – áo – gạo – tiền, không còn bận tâm về sự thù hận và đau khổ.

Qua sự kiện này Chúa Giêsu cho ta thấy  thể thức của sự sống lại, thì các định luật cũ của sự sống thể xác không còn giá trị nữa, nhưng giống như Thiên thần. Điểm đến Ngài trưng dẫn trong Sách Xuất Hành; Thiên Chúa đã cho Môsê biết: “Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Ábraham, Thiên Chúa của Isaác, Thiên Chúa của Giacóp.” (Xh 3,6) Nếu Chúa là Thiên Chúa của các Tổ phụ ấy, điều ấy có nghĩa là các vị ấy vẫn sống, vì Thiên Chúa là Đấng Hằng sống. Thiên Chúa của kẻ sống.

Thiên Chúa không phải của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống: Chúa Giêsu nói họ không hiểu Kinh Thánh đúng đắn, vì Kinh Thánh đã nói về sự sống lại rồi. Khi Thiên Chúa hứa với Abraham sẽ ban cho ông một dòng dõi và đất làm gia sản. Ngài hứa cho Abraham, chứ không phải chỉ cho dòng dõi của ông. Abraham phải sống để nhìn thấy dòng dõi và hưởng đất làm gia sản; nếu không, ông làm sao biết lời hứa của Thiên Chúa được thực hiện. Lý luận tương tự như thế cho những lời Thiên Chúa hứa với Isaac, Jacob, và vua David.

Là Kitô hữu, ta phải tin có sự sống lại của mình; để biết sống thế nào cho xứng đáng trước mặt Thiên Chúa và tha nhân. Trong niềm tin, ta không có sự tan biến vào hư không, nhưng sẽ nhận lãnh những gì đã sống; để sống và đặc biệt sẽ sống lại trong ngày sau hết để hưởng Nhan Thánh Chúa.

 

THÁNH BONIFACIO, GMTD

2 Pr 3:12-15,17-18; Tv 90:2,3-4,10,14,16; Mc 12:13-17

CỦA THIÊN CHÚA TRẢ CHO THIÊN CHÚA

Với Tin mừng hôm nay, thiết tưởng chúng ta không cần phải nói nhiều về cái bẫy mà Pha-ri-sêu và nhóm Hê-rô-đê đưa ra nhằm hại Đức Giê-su và sự tuyệt vời trong cách thức Đức Giê-su vượt bẫy như thế nào, mà chúng ta sẽ cùng suy gẫm về giáo huấn của Đức Giê-su dạy chúng ta phải sống như thế nào cho đúng hợp ý Thiên Chúa.

Thời Chúa Giê-su, nước Do-thái bị đế quốc Rô-ma đô hộ; người Do-thái phải nộp thuế cho chính quyền Rô-ma bằng đồng tiền lưu hành có hình và hiệu của Xê-da, tên chung để gọi hoàng đế Rô-ma. Người Do-thái phản đối, cách công khai hoặc ngấm ngầm việc đóng thuế cho ngoại bang. Lợi dụng tình thế đó, nhóm Pha-ri-sêu và phe Hê-rô-đê, vốn kình địch với nhau, đã cấu kết để giăng ra cái bẫy nhằm hại Chúa Giê-su. Họ hỏi Ngài: Có phải nộp thuế cho Xê-da không? – Nếu nói không, Ngài sẽ bị cho là phản loạn, chống lại hoàng đế; còn nói có, thì hẳn Ngài không tránh khỏi sự la ó của dân chúng - đường nào Ngài cũng bị sập cái bẫy hai tròng này! Chúa Giê-su không bận tâm đến câu hỏi có-hay-không này: “Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.” Ngài đặt họ trước đòi hỏi phải phân định: cái gì thuộc về Thiên Chúa, cái gì thuộc về Xê-da, và từ đó nhìn nhận chủ quyền tối thượng của Thiên Chúa trên muôn vật muôn người.

Với cái nhìn của họ, Chúa Giêsu là nhà cách mạng thuộc dòng tộc Ðavít, chắc hẳn Ngài sẽ bảo họ không nộp thuế cho César, và thế là sa bẫy họ, lúc đó, họ sẽ có lý do để bắt bớ, giải nộp và giết Ngài. Nhưng đối với Chúa Giêsu, cái bẫy của họ không có gì là nan giải, vì khôn ngoan của loài người chỉ là dại khờ trước mặt Thiên Chúa. Mặc dù biết rõ ý đồ của họ, Chúa Giêsu vẫn tỏ ra hết sức chân thật; Ngài còn nhân cơ hội này để đưa ra một bài học: Ngài bảo họ cho xem đồng tiền và sau khi được biết hình và dấu trên đồng tiền là của César, Ngài nói tiếp: "Của César, trả về César; của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa".

Nói cách khác, một khi đã được hưởng nhờ ơn lộc của ai, thì phải đền ơn đúng nghĩa, họ đã nhờ bổng lộc của César, thì có bổn phận đền đáp cho César; nhưng Chúa cũng nhắc thêm bổn phận của con người đối với Thiên Chúa: con người đã nhận lãnh nhiều ơn huệ của Thiên Chúa, nên cũng phải đền đáp ơn Ngài. Chúa Giêsu nhìn nhận vai trò đúng đắn của của quyền bính trần thế: "Của César, trả về César", nhưng Ngài thêm: "Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa". Chúa nhắc nhở rằng quyền bính trần thế không phải là quyền bính duy nhất trên con người, mà còn có quyền bính của Thiên Chúa nữa.  

“Của Xê-da trả cho Xê-da”. Xê-da – Hoàng đế La-mã – vị vua ‘bách chiến bách thắng’ ở đây có thể nói là biểu tượng cho sức mạnh, sự giàu sang, và quyền uy phù phiếm của trần tục. Xê-da đã qua đi cũng đồng nghĩa với việc mọi sức mạnh, vinh quang, giàu sang phú quí vật chất rồi cũng sẽ qua đi, bởi vì ‘phù vân nối tiếp phù vân, trần gian hết thảy chỉ là phù vân’ (x. Gv…).

Tuy nhiên, Chúa cho phép tất cả những phù vân đó được có giá trị và tồn tại khi nó qui về Thiên Chúa trong đức ái. Khi Đức Giê-su nói “của Xê-da trả về cho Xê-da” thì mặc nhiên Ngài đã xác định thế quyền và những cơ cấu tổ chức xã hội có vị trí của nó trong sinh hoạt đời sống con người, và con người sống trong tổ chức xã hội nào thì có quyền lợi và bổn phận đối với xã hội mình đang sống, miễn là nó không đi ngược với đường lối của Thiên Chúa.

Do đó, mọi nghĩa vụ và quyền lợi mà các cơ chế tổ chức, xã hội, con người đặt ra đều tốt đẹp, có ý nghĩa khi nó nhằm phát triển xã hội, xây dựng con người và làm cho thế giới tốt đẹp. Vì vậy mà đối với Giáo hội, mọi hình thức trốn thuế hay thâm lạm của công… đều lỗi đức công bằng và là hành vi tội lỗi. Bởi vì con người đã hưởng quyền lợi từ các cơ chế tổ chức thì cũng có bổn phận và nghĩa vụ phải đóng góp, xây dựng nó là lẽ đương nhiên của cuộc sống.

“Của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa”. Như đã nói: Có gì dưới gầm trời này mà không thuộc về Thiên Chúa. Vì thế cuộc đời con người là một cuộc hành trình tìm kiếm và đi về với Thiên Chúa. Con người với linh hồn, thể chất, tài năng, sức khỏe, và những điều kiện vật chất như tiền bạc, của cải, những ân huệ thiêng liêng của linh hồn, những ân huệ tự nhiên phong phú của vũ trụ, môi trường sống… tất cả là để phục vụ hạnh phúc con người, và con người có bổn phận phục vụ và tôn vinh Thiên Chúa để đáp lại muôn ngàn hồng ân Chúa đã thương ban bằng cả cuộc sống mình. Vì vậy, con người không nên, không được phép chạy theo, tôn thờ sức mạnh, quyền lực, của cải và coi nó là mục đích cuộc đời mình, hay phục vụ cơ chế chỉ vì cơ chế, nhưng biết dùng nó như phương tiện để thực hiện ý muốn của Thiên Chúa.

“Của Xê-da trả cho Xê-da, của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa”, khi nói điều này, Đức Giê-su còn có ý minh định con người đừng đem chính trị xen vào tôn giáo, cũng đừng hạ tôn giáo xuống thành những tổ chức chính trị trần tục; Nhưng như tâm linh hướng dẫn hành vi con người, tinh thần đạo đức tôn giáo do ánh sáng của Lời Thiên Chúa sẽ giúp con người có những hành động đúng khi thi hành chính trị.

Ngoài ra giáo huấn “của Xê-da trả cho Xê-da; của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa” cũng dạy chúng ta biết thực hiện đức công bằng trong cuộc sống; không xâm phạm quyền lợi cũng như của cải của tha nhân; đồng thời biết sống yêu thương và tôn trọng những giá trị của nhau, biết trau dồi và phát huy khả năng riêng của mình. Vì Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta theo hình ảnh Người - mỗi người có một giá trị riêng biệt; nhưng như Ba Ngôi là một, Thiên Chúa sáng tạo chúng ta khác nhau, là để chúng ta cần đến nhau, bổ túc cho nhau, tạo nên sự hiệp nhất và cùng nhau xây dựng cuộc sống phong phú và hạnh phúc.

Và rồi ta thấy cuộc đời có biết bao chia rẽ, bất công và xung đột là bởi chúng con chưa thấm nhuần chân lý Chúa dạy “của Xê-da hãy trả cho Xê-da, của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa”. Có khi vì thủ lợi, chúng ta còn trốn tránh nghĩa vụ và trách nhiệm xây dựng xã hội; đồng thời mặt khác chúng ta lại biển thủ ăn cắp của Chúa, kể cả linh hồn của chúng ta để phục vụ cho Xê-da. Xin Thần Khí Chúa soi sáng trí lòng, để trong cuộc sống chúng ta biết minh định hầu sống tốt đạo đẹp đời, đồng thời cùng nắm tay nhau tiến về nhà Cha trên trời, nơi chúng ta được hoàn toàn thuộc về Chúa và thuộc về nhau trong hạnh phúc.

Người Ki-tô hữu khi tin nhận, tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa của mình, là chủ tể của trời đất vạn vật, thì mặc nhiên công nhận chủ quyền của Thiên Chúa trên tất cả mọi sự. Bởi đó, trong vũ trụ, dưới gầm trời này có gì mà không thuộc về Thiên Chúa. Vậy nên trong tất cả mọi sự, con người phải qui về Thiên Chúa là nguồn cội của mình, hầu thực hiện ý định yêu thương của Người khi tạo thành thế giới.

 

Thứ Năm tuần X TN

2 Tm 2:8-15; Tv 25:2-5,8-9,10,14; Mc 12:28-34

LỆNH TRUYỀN GIÊSU

Tin Mừng hôm nay tường thuật về cuộc trao đổi thân tình và cởi mở giữa Đức Giêsu và một kinh sư về một chủ đề thần học rất quan trọng của Do Thái giáo và cũng là của Kitô giáo. Câu hỏi được vị kinh sư đặt ra là “Trong mọi điều răn, điều răn nào đứng hàng đầu? tức điều răn nào quan trọng nhất?” Đức Giêsu trả lời cho ông biết một điều cốt lõi của luật đó là: “Điều răn đứng hàng đầu là: Nghe đây hỡi Israen, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, là Đức Chúa duy nhất. Người phải yêu mến Đức Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: ngươi phải yêu mến người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều răn đó”.

Trải qua biết bao nhiêu thăng trầm của lịch sử cứu độ, ta thấy Do Thái được mệnh danh là dân riêng được Thiên Chúa tuyển chọn và ưu ái ban cho Bộ luật Torah như là bảo chứng của lòng trung thành giữa Dân với Thiên Chúa. Người Do Thái tôn thờ Luật Chúa, họ đặt cuốn sách luật ở chỗ cao nhất trên bàn thờ và hàng ngày cầu nguyện bằng Torah. Nếu họ không giữ luật có nghĩa là họ phản bội Thiên Chúa của họ.

Trong sách Torah ghi nhận gồm có 613 điều luật dạy, nhưng thời Chúa Giêsu người Do Thái chỉ còn giữ khoảng 300 điều. Vì vậy họ dễ bị rơi vào “mê cung” của luật lệ, họ không thể nào nhớ hết tỉ mỉ từng điều từ luật kính thờ Giavê Thiên Chúa cho đến luật giữ ngày sabát, luật thanh tẩy...Một lần nữa Chúa Giêsu gỡ cho họ một mối thắc mắc lớn, một đáp số chính xác nhất, một hướng sống minh bạch nhất trên hết các điều luật đó là “Mến Chúa và yêu người”.

Vì sao chúng ta lại phải “yêu mến Đức Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực”. Địa lý Do Thái nằm trong vùng lưỡng hà địa, cái nôi của những nền văn minh và các tôn giáo lớn.

Vì thế người Do Thái thời Cựu Ước tiếp cận với rất nhiều tư tưởng, triết thuyết và nhiều thần giáo, họ dễ bị lẫn lộn giữa Giavê Thiên Chúa với các vị thần khác. Người kinh sư đặt ra một câu hỏi thật xác đáng và Chúa Giêsu cũng đã chỉ rõ điều luật quan trọng nhất đó là “Kính mến Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn”. Đây là điều răn quan trọng và cũng là điều khó thực hiện. Vì bản tính con người là thích chạy theo tà thần với vẻ hào nhoáng bên ngoài, những vị thần của quyền lực, tiền bạc, dục vọng …có khả năng làm thỏa mãn những nhu cầu của con người.

Lệnh truyền yêu mến Thiên Chúa và yêu người anh em mà Đức Giêsu trả lời cho vị Kinh sư cũng như dạy cho tất cả mọi người không chỉ là một yêu cầu hay một bổn phận. Không ai có thể yêu đơn giản chỉ vì anh được bảo làm như thế! Nhưng bởi vì tình yêu là lẽ sống, là con đường đưa tới hạnh phúc cho con người. Nói cho cùng, yêu mến Thiên Chúa là một đặc ân, một mối quan hệ mà Thiên Chúa khởi xướng khi chúng ta chịu phép rửa, và nó phát triển, lớn lên khi chúng ta chấp nhận Lời của Ngài, và mở lòng ra cho tình yêu của Ngài. Nó phát triển khi chúng ta sắp xếp ý chí của chúng ta trung thành với những điều răn lớn nhất này, đồng thời đưa ra những quyết định hàng ngày để phản ánh tình yêu bằng lời nói và hành động của chúng ta.

Đòi hỏi của Thiên Chúa có tính quyết liệt, dứt khoát phải tôn thờ Thiên Chúa trọn cả con người với mọi ước muốn thâm sâu trong tâm hồn và thể xác. Con người thường có thái độ “chân trong chân ngoài”, nghĩa là theo Chúa nhưng còn tìm kiếm và chạy theo những vị thần khác. Những vị thần có hình tướng và cả những vị thần vô hình vô tướng, đó là một thứ thần nguy hiểm và đáng sợ. Đó là thần tham lam dối trá, ghen ghét, thù hận, đam mê xác thịt, hưởng lạc và nhiều những thói hư tật xấu khác. Đó là những thứ thần ngấm ngầm ăn sâu vào tận xương tủy con người. Hơn ai hết Chúa Giêsu hiểu được rằng con người dễ chạy theo những quyến rũ của thế gian mà lãng quên hoặc tôn thờ Chúa một cách nửa vời, đó là một mối nguy hiểm.

Điều thứ hai không kém phần quan trọng đó là “yêu người thân cận như chính mình”. Chúng ta phải kính mến Thiên Chúa vì Người là Đấng sáng tạo và làm chủ muôn vật muôn loài, trong đó con người được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, được Thiên Chúa cứu chuộc bằng giá máu và mạng sống của Đức Giêsu Con Một yêu dấu của Thiên Chúa. Kính mến Thiên Chúa cụ thể là yêu thương tôn trọng con người. Cả cuộc đời của Đức Giêsu chỉ canh cánh có một điều là yêu thương và cứu chuộc loài người. Thiên Chúa là Đấng quyền năng đã hạ mình xuống mang thân phận con người để cứu chúng ta khỏi ách tội lỗi và sự chết. Yêu người một cách “sơ sơ” thì dễ nhưng “yêu như chính mình” thì thật khó.

Thật vậy, yêu thương những người nổi tiếng, lịch sự, xinh đẹp, giàu có thì dễ, nhưng thật khó biết bao khi yêu thương những người nghèo khổ, dốt nát, người hay gây phiền toái cho ta. Yêu thương những người mang lợi lộc đến cho ta thì dễ nhưng khó mà yêu thương kẻ thù của ta, những người hàng xóm khó tính, keo kiệt, những người nghèo lang thang đầu đường xó chợ…Đòi hỏi của Chúa thật quá khó, điều răn ấy đụng chạm và cứa vào cái tôi ích kỷ của con người. Chỉ với ơn Chúa giúp chúng ta mới sống được điều răn Chúa dạy. 

Trong Tin mừng, hơn một lần Chúa Giêsu đã nói: “Không phải cứ kêu lạy Chúa, lạy Chúa là được vào nước trời mà là kẻ ‘nghe và thực hành lời Thiên Chúa” (x. Mt 7, 21; đồng thời Thiên Chúa chẳng ở đâu xa, chỉ cần mở lòng mình ra một chút, vận dụng trí óc một chút, ta có thể thấy Thiên Chúa sống động qua thiên nhiên, vũ trụ, qua các kỳ công của Người, và nhờ đức tin vào Lời Chúa dạy thì tha nhân chính là hình ảnh sống động của Thiên Chúa và Thiên Chúa đã muốn đồng hóa mình với họ (x. Mt 25, 31 - 46). Tuy nhiên điều quan trọng trong việc yêu mến tôn thờ Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực hệ tại ở việc chúng ta luôn biết yêu mến, kiếm tìm và thực thi thánh ý Chúa, thực thi điều Chúa dạy. Và tất nhiên khi đã yêu mến Chúa thì chúng ta sẽ yêu tha nhân như chính mình vì đó là điều Chúa muốn và dạy chúng ta phải thi hành.       

Thiên Chúa luôn đưa tay ra cho chúng ta, và mỗi khi chúng ta quay lại với Người, chúng ta sẽ lãnh nhận được tình yêu của Người cách sâu xa. Và một khi đã cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa sẽ khiến chúng ta yêu mến Người đồng thời chia sẻ tình yêu này với người khác. Đúng là chúng ta phải quyết định tìm kiếm Thiên Chúa và đáp trả lời mời gọi của Người, nhưng mọi quyết định đều có thể phát xuất từ mối quan hệ yêu thương với Thiên Chúa và nó được lớn lên khi tình yêu được chia sẻ. Do đó, mến Chúa yêu người là hai vế không thể tách rời của giới răn yêu thương - giới răn gồm tóm mọi lề luật; và với sự hướng dẫn của Thánh Linh, trong tình yêu mến này chúng ta sẽ biết chúng ta phải làm gì. 

June 7, 2018