Huệ Minh 2018

Chúa Nhật Tuần XXX Mùa TN B

Gr 31, 7-9; Dt 5, 1-6; Mc 10, 46-52

XIN CHÚA CHỮA MÙ CHO TA

Qua trang Tin Mừng hôm nay, ta bắt gặp anh mù ngồi bên vệ đường, ăn xin, sống nhờ lòng thương của con người. Nếu ai đã từng bị sống trong tăm tối hay quan sát người mù, sẽ thấy bị mù cực khổ như thế nào! Phải ăn xin cũng là một nỗi khổ, và hơn nữa phải tùy thuộc người khác trong nhiều lãnh vực: đi lại và những nhu cầu tối thiểu của con người. Không phải chỉ có bệnh mù về thể lý, nhưng còn có mù về thiêng liêng nữa. Mù thể lý ngăn cản người ta thấy những gì là vật chất, còn mù thiêng liêng ngăn cản người ta thấy sự thật. Mù làm khổ mình và khổ cả người khác nữa.

Tình trạng của anh hết sức tồi tệ: rách rưới bẩn thỉu, ngồi ăn xin bên vệ đường, nhưng dường như không ai quan tâm. Khi nghe biết Chúa Giêsu Nazareth đi ngang qua, anh đã kêu lên: Lạy ông Giêsu, con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi. Lời kêu xin này cho thấy con mắt đức tin của anh đã bắt đầu hé mở. Anh gọi Chúa Giêsu là con vua Đavít, tức là anh đã tin Ngài chính là Đấng các tổ phụ các tiên tri đã loan báo, là Đấng cứu thế. Đức tin của anh vừa hé mở thì đã bị bóng tối của những người chung quanh lấn lướt.

Anh đã kêu cầu Đức Giêsu với tước hiệu “con vua Đavít”, là tước hiệu được các ngôn sứ  loan báo và muôn dân mong đợi. Đây vừa là lời van xin, vừa là lời cầu nguyện với tâm tình tín thác cậy trông. Người mù thành Giêricô nài xin lòng thương xót của Chúa, vì anh chắc chắn Chúa Giêsu có quyền năng chữa lành và ban cho anh những điều anh đang mong đợi. Là một người ăn xin, hôm nay, khi gặp Chúa Giêsu, anh không cầu xin tiền bạc như mọi ngày, mà cầu xin được sáng mắt.

Những người đang hiện diện ở đó đòi người mù im lặng, nhưng anh ta lại càng la to hơn. Tại sao những người ở đó đòi anh mù im lặng? Có thể họ nghĩ tiếng kêu của anh mù vô ích, vì chẳng ích lợi gì? Chúa Giêsu làm gì có tiền mà bố thí cho anh mù! Và hơn nữa, làm sao Chúa Giêsu có thể chữa cho anh mù thấy được? Có lẽ không phải họ không thương anh mù cho bằng họ nghĩ Chúa Giêsu chẳng giúp gì được cho anh mù. Anh ta nên im đi thì tốt hơn.

Dù bị ngăn cản và phản đối, anh mù vẫn la, và càng la to hơn. Anh ta hy vọng tiếng kêu của anh ta tới tai Chúa Giêsu và được Ngài thương xót: “Lạy Con Vua Đavit, xin thương xót tôi”. Anh ta là người tin vào Chúa Giêsu, chờ đợi và hy vọng nơi Đức Giêsu hơn bất cứ ai trong trường hợp này. Và tiếng kêu của anh ta đã lọt vào tai Chúa Giêsu, và Ngài đã bị “đáng động” bởi tiếng kêu này. Chúa Giêsu rung động trước nỗi khổ của con người.

Chúa Giêsu nói với anh : “Anh hãy đi. Lòng tin của anh đã cứu anh”. Như thế, lòng tin làm cho anh thấy được và bước đi, không phải chi thấy được mọi sự như những sự vật để thụ hưởng hay loại bỏ, nhưng như là quà tặng, là kỉ niệm nói lên sự hiện diện của ai đó, là ơn huệ của Thiên Chúa, là dấu chỉ nói lên sự hiện diện của Thiên Chúa. Lòng tin làm cho anh thấy được, không phải chỉ thấy được những con người ở vẻ bề ngoài và như đối tượng để thỏa mãn nhu cầu của lòng ham muốn, nhưng như là những ngôi vị tự do, như là hình ảnh của Thiên Chúa, là con Thiên Chúa, là anh chị em của mình, có lòng ước ao, có ơn gọi riêng, có quá khứ và những vấn đề riêng, có hành trình riêng cần tôn trọng.

Và lòng tin làm cho anh thấy được, không phải chỉ thấy sự thật trần trụi ở bình diện hành vi, nhưng còn nhìn ra sự thật về ngôi vị, sự thật về một con người bất hạnh đang đau khổ. Bởi vì, đôi mắt của chúng ta được dựng nên, có ơn gọi không phải là nhìn thấy những điều hữu hình, nhưng là nhận ra những thực tại vô hình.

Qua cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và anh mù, chúng ta cũng còn thấy được quyết tâm và niềm tin vững mạnh của anh. Anh không muốn bất cứ sự gì ngăn cản anh trong việc đến với Chúa. Khi Chúa Giêsu đứng lại và nói với người ta gọi anh mù đến. Phản ứng của anh mù ra sao? Chúng ta thấy phản ứng của anh rất rõ ràng và quyết liệt: “Anh ta liệng áo choàng, đứng dậy, đến cùng Chúa Giêsu.” Và khi nghe Chúa Giêsu hỏi: “Anh muốn Ta làm gì cho anh?” Anh mù đáp không một chút do dự và mạnh mẽ thưa: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy.” Tức khắc, anh nhìn thấy được, cũng như nhìn thấy con đường Chúa đang đi, và cũng từ lúc đó, anh quyết định đi theo con đường Chúa đi.

Con đường Chúa Giêsu đi là con đường sự thật và chân lý: Thầy là đường là sự thật và là sự sống. Anh Bartimê đã bước theo con đường và giáo huấn của Ngài là bước theo sự thật và sống theo cách sống của Ngài, trở thành môn đệ của Chúa Giêsu. Con đường Chúa Giêsu đi là con đường lên Giêrusalem để hoàn tất thánh ý của Thiên Chúa Cha muốn. Thiên Chúa muốn Ngài yêu thương tới cùng, phục vụ cho tới cùng và đón nhận thập giá với tình yêu mến và vâng phục Chúa Cha trọn vẹn, để quy tụ và đưa mọi người về với Thiên Chúa.

Thiên Chúa vẫn thương cảm trước nỗi khổ của con người. Ngày xưa dân Do Thái khi bị nô lệ cực khổ bên Aicập, họ đã kêu lên Thiên Chúa, và Ngài đã thương giải phóng họ khỏi Aicập. “Những ai vất vả và gánh nặng, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ bổ sức cho” (Mt 11, 28): Chúa Giêsu cũng luôn thương cảm trước nỗi khổ của con người.

Thật thế, nhìn vào thực tại của cuộc đời, ta thấy rằng hầu hết chúng ta đều là những người mù đáng thương về mặt tâm linh. Vì vậy, chúng ta hãy khiêm tốn chạy đến với Chúa để người chữa trị. Người sẽ giúp chúng ta nhìn thấy chân lý toàn vẹn. Người sẽ giúp chúng ta nhận ra Thiên Chúa là Cha của chúng ta và mọi người là anh em của ta. Người sẽ giúp ta nhận ra con đường tiến về nhà Cha trên Trời. Con đường đó là con đường Chúa Giêsu đã đi và đã tới đích. Và đó cũng là con đường hẹp, con đường ngược dốc, con đường thập giá nhưng là con đường dẫn đến sự sống vinh quang và vĩnh cửu. 

Noi gương anh Bartimê, xin Chúa mở mắt để mỗi người nhận ra sự hiện diện và quyền năng của Chúa trong cuộc đời. Thiên Chúa vẫn hiện diện và chờ đợi chúng ta mở cửa lòng để cho Ngài bước vào. Ngài vẫn kề bên mỗi người để giúp chúng ta giải gỡ những khó khăn và giúp chúng ta thành công. Vì thế đừng bao giờ tỏ ra vô ơn trước ân huệ của Thiên Chúa.

CHÚA NHẬT XXX TN
Gr 31, 7-9; Dt 5, 1-6; Mc 10, 46-52
ÔI LẠY CHÚA XIN MỞ CHO CON ĐÔI MẮT

         Vài ngày trước đây, thức giấc là mắt trái mở không lên vì ướt và ghèn ! Khó chịu vô cùng và hỏi thăm bác sĩ quen về mắt để bác sĩ cho thuốc nhỏ đỡ vì chưa có dịp về thành phố. Có công có việc gì mới đi để kèm theo chứ chẳng lẽ con mắt đau một tí là chạy về. Chạy đi chạy về vừa mệt vừa tốn tiền xe nữa.

         Con mắt có vẻ thốn và khó chịu vô cùng. Có lẽ, cảm nghiệm này không phải của riêng người bệnh này nhưng là cảm nghiệm của những ai đã hơn một lần đau mắt.

         Đau mắt thôi đã thấy khó chịu như vậy mà nếu như khi ta khiếm thị, ta không nhìn thấy đường, không nhìn thấy vật thể trước mặt ta nữa thì khó chịu biết bao.

         Mẹ cho đôi mắt sáng ngời, để nhìn đời và để làm duyên
Trời cho em con mắt màu đen để thương để nhớ để ghen để hờn
Đôi mắt em là cửa sổ tâm hồn,
là bài ca hay nhất, là tuyệt tác của thiên thu.

         Con mắt chính là cửa sổ tâm hồn, là cửa sổ để thu tất cả những hình ảnh, những cảnh vật vào tâm hồn con người. Và vì thế, con mắt phải nói đóng vai trò rất quan trọng trong cơ thể của con người. Con mắt đui mù quả là khiếm khuyết lớn cũng như làm cho con người bị giới hạn và thiệt thòi nhiều.

         Ngày hôm nay, ta bắt gặp hình ảnh anh chàng mù thành Giêricô con ông Timê tên là Bartimê. Anh ta mù nhưng may mắn là anh còn nghe được. Vì mù, chẳng biết làm gì và cũng chẳng làm gì nên chỉ còn cách duy nhất là ăn xin. Đang ngồi ăn xin nhưng anh nghe biết đó là  Chúa Giêsu Nadarét, liền kêu lên rằng: "Hỡi ông Giêsu con vua Đavít, xin thương xót tôi".

         Thấy anh kêu như vậy và vì anh là người khuyết tật nên người ta ăn hiếp anh và ta bắt gặp nhiều người mắng anh bảo im đi. Trước thái độ
của những người sáng mắt ngăn cản, anh càng kêu to hơn: "Hỡi con vua
Đavít, xin thương xót tôi".

         Hẳn nhiên là lời kêu của anh đã đến tai Chúa Giêsu, không chỉ tai mà còn đập vào mắt Chúa Giêsu hình ảnh của một con người khuyết tật để rồi Chúa Giêsu không đi nữa mà đã dừng lại và truyền mọi người gọi anh đến. Đơn giản, Chúa Giêsu nói với anh : "Hãy vững tâm đứng dậy, Người gọi anh".

         Nghe Chúa Giêsu nói và anh ta liệng áo choàng, đứng dậy, đến cùng Chúa Giêsu.

         Bấy giờ Chúa Giêsu bảo rằng: "Anh muốn Ta làm gì cho anh?" Người mù thưa: "Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy". Chúa Giêsu đáp: "Được, đức tin của anh đã chữa anh". Tức thì anh ta thấy được và đi theo Người.

         Quá tuyệt vời ! Anh mù đã thấy và đã đi theo Ngài.

         Dừng lại một chút vì ta choáng. Ta phải đưa ta trở về với thực tại Tin Mừng ngày hôm đó ta mới cảm nhận được sức mạnh của Lời Chúa, của phép lạ mà Chúa Giêsu làm.

         Quá sức tưởng tượng với niềm tin của anh chàng Bartimê.
Và, ta cũng có dịp nhìn lại niềm tin của ta.

         Niềm tin của ta dường như nó sao sao í ! Và nhất là khi ta đủ hai con mắt sáng và rất sáng nữa. Giản đơn là Chúa ban cho ta đôi mắt sáng đó nhưng ta có cảm nhận được đó là quà tặng, là ơn của Chúa đâu. Nếu có thì ta đã cảm nhận và cảm tạ chứ đâu có ai oán là sao Chúa để cho con thế này thế kia ? Chúa cho sáng mắt, đó phải chăng là một hồng ân, một quà tặng quá lớn của Chúa không ?

        Sáng con mắt nhưng mù tâm hồn. Chính vì mù tâm hồn nên đâu có nhìn thấy được ơn Chúa.

        Bài hát mà Cha Bạch Văn Lộc khi còn sống rất thích hát và mời mọi người cùng hát. Khi đó, còn bé, nghe thì nghe, hát thì hát đó nhưng
cũng chưa hiểu tâm tình của Cha cố Henry :

Lạy Chúa, xin mở mắt con
Biết nhìn kỳ công của Ngài
Trời xanh, tinh tú long lanh
Hoa ngàn cùng muôn muông thú
Ðồi kia ai đắp nên non
Sông dài, trùng dương mênh mông
Biết rằng Ngài đã thương con
Thế mà con đâu có hay!
EPHATA Hãy mở! Mở ra!
EPHATA Hãy mở ra!
EPHATA, EPHATA

         Ta phải xin Chúa mở con mắt ta để ta thấy kỳ công của Chúa, kỳ diệu của Chúa ít là ngay bên đời ta thôi.

         Thử nhìn lại đi, cách đây 10 năm, 20 năm, 30 năm ... cuộc sống của ta như thế nào ? Ngày nay ta có nhiều lắm đó chứ ! Nhìn lên ta không bằng ai nhưng khi nhìn xuống ta lại chợt thấy có nhiều người không may mắn như mình.

         Ở gần Mẹ, mỗi tuần lại được nhìn thấy những lời khấn, những lời xin của con cái Mẹ từ khắp nơi về lại thấy có điều gì đó man mác buồn.
Mẹ ơi ! Xin Mẹ cho con được ơn, được tiền để trả nợ Mẹ ơi ! Chồng của con vướng vào ma túy, xin Mẹ cho anh ơn hoán cải.Mẹ ơi ! Con của con mê chơi game, xin Mẹ cho con của con đừng mê game nữa.
Mẹ ơi ! Mẹ ơi ...

         Nhìn lại mình, dĩ nhiên vẫn còn đó những chứng bệnh như rối loạn tiền đình, như viêm tai ... nhưng, vẫn may mắn là còn tiền và có tiền để đi khám và chữa bệnh. Cũng như may mắn hơn nữa là có người này người kia là nhân viên ở các bệnh viện thấy khờ khờ từ quê lên tỉnh nên chỉ vẽ, hướng dẫn cho để khỏi bị la. Vào bệnh viện, dễ bị người này người kia ăn hiếp vì khờ khạo lắm vì nhà quê lên tỉnh.

         Nhìn lại thì thấy sao Chúa thương mình và không xin cho mình hết bệnh mà xin cho mình đủ sức để gánh bệnh và gánh bệnh cho biết với người ta.

         Nói đến đây lại nhớ có vài lần vào bệnh viện, người quen dù biết mình bận rộn, dù cũng thương và lo cho mình đó nhưng lại bảo là cứ chờ để cho biết người người nghèo !

         Hay ! Đúng ! Có khi phải chờ, phải đợi như thế mới có cái cảm của người nghèo chứ không thì không có cơ hội để cảm cái khó khăn của người nghèo khi vào bệnh viện.

         Và cũng vui là có lần vào viện, tưởng là được khám ngay nhưng không, bị vịn lại vì huyết áp cao quá. Nhân viên bảo là nhiều khi được thương chưa hẳn là tốt, mấy em nó đưa đi vội vội và lên cầu thang nên huyết áp cao mà cái huyết áp này là huyết áp giả nên rất khó để khám bệnh.

         Thế đó, phải chờ, phải đợi để có cái cảm với người nghèo, người khác.

         Đời ta, ta may mắn, ta hạnh phúc hơn nhiều người nhưng đôi mắt của ta vẫn không thấy, vẫn chưa thấy. Ngày nào mang nỗi đau tôi mới hổi nỗi đau là gì, ngày nào trong khát khô tôi mới hiểu phận người ăn xin, chỉ cần một ly nước thôi, chỉ cần bát cơm vơi ...

         Ta còn may mắn, ta con hạnh phúc hơn nhiều người nhưng con mắt đức tin của ta khép lại, mù quáng vì ta chạy theo vất, của thế gian và phù hoa. Khi ta để cho tiền của, quyền lực, danh vọng lâp đầy lòng ta, lấp đầy mắt ta thì khi đó ta không còn thấy Chúa nữa. Và khi đó, ta lại
thủ thỉ, thỏ thẻ với Chúa :

Ôi lạy Chúa, mở cho con đôi mắt,
Thấy tình yêu kỳ diệu Chúa khắp nơi.
Con mù lòa, bên vệ đường hành khất,
Xin chữa con để nhìn thấy mặt Ngài.

 

 

Thứ Hai Tuần XXX TN

Ep 4, 32 - 5, 8; Lc 13, 10-17

ĐỪNG VỤ LUẬT

Hẳn ta còn nhớ với truyền thống của người Do Thái, Sabát là một ngày có ý nghĩa rất lớn ghi nhớ ngày thứ bảy trong cuộc sáng tạo của Thiên Chúa (Xh 31, 17).

Ngày Sabát còn nhắc nhớ biến cố dân Israen được giải thoát khỏi kiếp nô lệ Ai Cập (Đnl 5, 15) và hướng tới sự thành toàn viên mãn trong Trời Mới Đất Mới (Is 65, 17). Người Do Thái giữ luật ngày Sabat rất chặt chẽ và tỉ mỉ.Trong ngày đó mọi người kể cả nô lệ đều được nghỉ ngơi, gác hết mọi việc đồng áng và chăm sóc gia súc, họ tới hội đường để cầu nguyện và nghe đọc Sách Thánh.

Vào một ngày sabát nọ, Chúa Giêsu tới hội đường giảng dạy. Trông thấy một người phụ nữ bị tàn tật mười tám năm, Người chạnh lòng thương gọi bà lại và chữa cho bà khỏi bệnh. Người đàn bà hết sức vui mừng và đám người chứng kiến phép lạ thì tỏ vẻ ngạc nhiên.

Thế nhưng việc làm của Chúa Giêsu lại gây sốc và dấy lên nỗi tức giận cho giới lãnh đạo Do Thái, họ lên án trách móc dân chúng gay gắt: “Đã có sáu ngày để làm việc, thì đến mà xin chữa bệnh những ngày đó, đừng có đến vào ngày sabát!”

Nghe vậy Chúa Giêsu liền giải thích cho họ biết đừng vì luật lệ mà không thi hành đức yêu thương bác ái đối với người khác. Chúa Giêsu cũng tuân giữ ngày sabát và công nhận đó là ngày thánh, đồng thời Người hướng chúng ta đến giá trị thiêng liêng cao đẹp hơn, đó là ngày dành để thờ kính Thiên Chúa, Người nói: “Ngày sabát có vì người ta chứ không phải người ta có vì ngày Sabát” (Mc 2, 27).

Khi khẳng định điều đó, Chúa Giêsu muốn mọi người phải nhìn nhận quyền năng của Thiên Chúa vượt lên trên mọi luật lệ, lên mọi định kiến và sự hẹp hòi ích kỷ của loài người. Qua đó Chúa Giêsu cũng cho biết sứ mệnh của Người là đến thế gian để cứu vớt những ai đang lầm than vất vả, đang mang gánh nặng nề của đau khổ và tội lỗi.

Ông trưởng hội đường tức tối vì Chúa Giêsu đã chữa bệnh vào ngày Sabát. Ông lên tiếng nói với đám đông rằng : “Đã có sáu ngày để làm việc, thì đến mà xin chữa bệnh những ngày đó, đừng có đến vào ngày Sabát !” Chúa đáp : “Những kẻ đạo đức giả kia ! Thế ngày Sabát, ai trong các người lại không cởi dây, dắt bò lừa rời máng cỏ đi uống nước ? Còn bà này, là con cháu ông Ápraham, bị Satan trói buộc đã mười tám năm nay, thì chẳng lẽ lại không được cởi xiềng xích đó trong ngày Sabát sao ?” (Lc 13, 14-16)

Ông trưởng hội đường tức tối vì Chúa Giêsu đã vi phạm luật Môsê: chữa bệnh trong ngày Sabát. Chúa Giêsu không vi phạm luật Môsê. Chính Chúa đã khẳng định: Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn lề luật (x. Mt 5,17). Chúa kiện toàn bằng cách thổi vào lề luật một tinh thần yêu thương. Thánh Phaolô khẳng định: “yêu thương là chu toàn lề luật” (Rm 13,10).

Nói cách khác: cùng đích của lề luật là phải giúp người ta sống trọn tình yêu. Lề luật ra đời vì lợi ích của cộng đồng và để thăng tiến cá nhân. Cộng đồng và cá nhân thăng tiến đúng đắn khi hướng đến cuộc sống đầy yêu thương. Như vậy, bản chất và cùng đích của luật là tình yêu. Luật tồn tại vì tình yêu. Đó là lý do khiến Chúa Giêsu không ngần ngại chữa bệnh trong ngày Sabát. Giữ luật kiêng việc ngày sa-bát còn ý nghĩa gì, khi nó cản trở ta làm một việc yêu thương? Tình yêu phải vượt trên lề luật.

Hai thái độ phát xuất từ hai tâm tình trái ngược nhau giữa Chúa Giêsu và ông trưởng hội đường để lại cho chúng ta những bài học đáng suy nghĩ. Thật vậy, trông thấy người đàn bà bị còng lưng, Chúa Giêsu đã chủ động gọi lại rồi chữa cho lành, dù là ngày Sabat. Thế nhưng, hành động đó lại là nguyên nhân khiến ông trưởng hội đường phẫn nộ mà nói: “đã có sáu ngày để làm việc, thì đến mà xin chữa bệnh những ngày đó, đừng có đến vào ngày Sabát!”. Ông tức giận vì Chúa Giêsu đã cứu người và vì ơn lành bệnh người đàn bà nhận được cách vô điều kiện trong “ngày của Chúa”. Ông vịn cớ bảo vệ luật ngày Sabat nhưng không dám trực tiếp chỉ trích hành động của Chúa Giêsu mà quay sang đổ lỗi cho người đến “xin chữa bệnh”.

Ta nhận thấy có một nỗi sợ vô hình nào đó nơi ông trưởng hội đường: sợ Chúa Giêsu có ảnh hưởng lớn trên dân chúng, sợ đám đông, sợ định chế tôn giáo bị lung lay lẫn quyền lợi và địa vị của ông bị giảm thiểu… Phần Chúa Giêsu, Người làm mọi việc vì muốn mang lại hạnh phúc cho cuộc sống con người. Việc Chúa Giêsu biết rất rõ về tình trạng của người đàn bà bị còng lưng cho thấy Chúa Giêsu quan tâm, yêu thương và săn sóc từng con người cụ thể. Và tình thương ấy vạch trần tính ích kỷ hẹp hòi của tất cả những kẻ chống đối Người, khiến họ phải “lấy làm xấu hổ”.

Con người chúng ta bao gồm cả tính thiện và ác. Một mặt chúng ta ước ao làm những điều tốt, mặt khác thói ích kỷ vẫn kéo ghì xuống khiến chúng ta cũng luôn hướng chiều theo những đam mê xấu. Vì thế mỗi ngày chúng ta cần thanh luyện tâm hồn để hướng đến những điều thiện, cần mở rộng con tim để lắng nghe những gợi hứng của Chúa Thánh Thần, để chúng ta đi vào tương quan thân mật với Chúa.

Và rồi chúng ta không phải là thiên thần nên bước chân ta còn nặng nề dễ dàng bị ngoại cảnh tác động và chi phối để rồi tìm cho mình lối đi riêng mà không phải con đường của Thiên Chúa. Hãy bước ra khỏi lối mòn quen thuộc của ù lì lười biếng mà can đảm tiến bước trên con đường Tin Mừng.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến cái chết của Chúa Giêsu, chính là cuộc xung đột giữa Ngài và những người Biệt phái. Những người Biệt phái bám vào việc tuân giữ nghi thức và luật lệ đến độ dẫm lên trên cả mạng sống con người.

Trong khi đó, đối với Chúa Giêsu, cốt lõi của đạo chính là tình yêu. Phân định về việc giữ ngày Hưu lễ, Chúa Giêsu tuyên bố dứt khoát: "Ngày Hưu lễ được làm ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày Hưu lễ". Ngài đã giải thoát một người đàn bà khỏi bị còng lưng trong ngày Hưu lễ, để chứng tỏ sự sống của con người, giá trị của con người, hay đúng hơn, tình yêu thương cao cả hơn tất cả những nghi thức và việc tuân giữ bên ngoài.

Trong cuộc sống thường ngày, lắm khi chúng ta cũng như ông trưởng hội đường: giữ luật một cách máy móc. Vì chưa hiểu tinh thần của luật, nên ta dễ dàng vi phạm, hoặc không tùng phục triệt để những quy định chung. Chúa mời gọi ta hãy nhìn lại giá trị đáng quý và đầy yêu thương của lề luật. Hãy xem việc giữ những quy định chung là cơ hội cho ta sống vì tha nhân. Việc uốn mình trong một khuôn phép kỷ luật cũng thể hiện một nhân cách vững vàng, một tâm hồn khiêm hạ, và một nội tâm đầy tự do với điều thiện. Vì “tự do là khả năng làm điều thiện”, mà ta chỉ thực sự tự do khi ta biết “tự trói mình”.

Hơn ai hết, Thiên Chúa biết rõ những yếu đuối của chúng ta. Người thấu hiểu từng ước muốn, từng nỗi lo âu trăn trở đang giằng xé trong con tim chúng ta. Hãy dâng trao cho Chúa bước đường tương lai và vận mệnh của đời ta để Chúa nâng đỡ. Như tác giả thánh vịnh 37 đã tin tưởng khẩn cầu “Hãy ký thác đường đời cho Chúa. Tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay. Chính nghĩa bạn, Chúa sẽ làm rực rỡ tựa bình minh, công lý bạn, Người sẽ cho huy hoàng như chính ngọ”. Thiên Chúa luôn yêu thương chăm sóc từng người chúng ta, Người luôn hiện diện một cách tròn đầy mới mẻ trong mọi biến cố vui buồn của chúng ta. Vì thế trong mỗi ngày sống, chúng ta đều được mời gọi khám phá sự hiện diện của Thiên Chúa chan chứa tình yêu thương.

 

Thứ Ba Tuần XXX Mùa tn

Ep 5, 21-33; Lc 13, 18-21

SỨC MẠNH CỦA NƯỚC THIÊN CHÚA

Nước Trời không phải là một nơi chốn nhưng là một tình trạng. Nước Trời không mở rộng về số lượng nhưng luôn nhắm tới chất lượng cuộc sống. Chất lượng cuộc sốngđược lượng định bởi tinh thần "Hiến chương Nước Trời”. Và Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh hạt cải, men trong bột để cho chúng ta thấy hình ảnh rất mới về Nước Trời, nhằm khơi lên tinh thần cần thiết để sống thực trạng Nước Trời : "Nước Thiên Chúa giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba đấu bột, cho đến khi tất cả dậy men”.

Dụ ngôn hạt cải nhấn mạnh sự phát triển theo chiều rộng: từ hạt cải nhỏ bé trở thành cây to, đến độ chim trời có thể đến làm tổ được. Dụ ngôn nắm men được đem trộn vào bột nhấn mạnh đến chiều sâu, tức phẩm chất của Nước Chúa: từ một chút men có thể làm dậy cả khối bột. Cả hai dụ ngôn đều nhấn mạnh đến sức mạnh nội tại của Nước Chúa, một sức mạnh chỉ được nhìn thấy bằng đức tin mà thôi.

Nước Thiên Chúa giống như chuyện một hạt cải người nọ lấy gieo trong vườn mình. Nó lớn lên và trở thành cây, chim trời làm tổ trên cành được.” Người lại nói: “Tôi phải ví nước Thiên Chúa với cái gì? Nước Thiên Chúa giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba đấu bột, cho đến khi tất cả bột dậy men.” (Lc 13,18-21)

          Trong hành trình rao giảng Tin Mừng, ta thấy Chúa Giêsu đã lấy một vài vật bình dị, điển hình trong cuộc sống làm ví dụ như hạt cải, nắm men để nói về sức mạnh và sự phát triển của nước trời. Như hạt cải là tinh hoa mầm sống của cây cải, nó chỉ như hạt tấm nhỏ nhưng lại có khả năng phát triển thành cây cải cao lớn (cây cải ở Palestine không phải như cây rau cải bé nhỏ bình thường ở Việt Nam, nó có thể cao tới 3m) làm nơi ẩn náu cho chim trời; hay như nắm bột men nhỏ người đàn bà vùi vào ba đấu bột – men ở trong bột thì người ta không thể nhìn thấy nó, nhưng nó lại có khả năng làm cho cả khối bột dậy men; thì nước Thiên Chúa cũng thế, ban đầu rất nhỏ bé nhưng vẫn âm thầm phát triển lớn mạnh và sự hiện diện của nước Thiên Chúa có khả năng làm biến đổi thế giới. Như hạt là tinh hoa của cây, tinh hoa của nước Thiên Chúa chính là tình yêu.

Hai dụ ngôn: Hạt Cải và Nắm Men trong bột, gởi đến chúng ta một sứ điệp hy vọng, nhất là khi phải đương đầu với trở ngại, thử thách trong đời sống đức tin. Nhìn thấy những điều tiêu cực luôn xảy ra trong Giáo Hội và trên thế giới, chúng ta có thể tự hỏi: Những hạt cải giá trị Kitô liệu còn có thể mọc lên và phát triển trong một thế giới ngày càng bị tục hóa và bị nhiễm tinh thần đối nghịch với Thiên Chúa không?

Khi so sánh thực tại Nước Trời với hạt cải nhỏ bé mọc thành cây lớn và nắm men làm dậy cả khối bột, Chúa Giêsu hướng con người đến một đặc tính của Nước Trời, đó là khởi sự trong âm thầm, bé nhỏ và khiêm tốn, nhưng phát triển mạnh mẽ, lan rộng và có sức biến đổi kì lạ, đưa đến kết quả mà con người không bao giờ nghĩ tới.

Kết quả ấy không phải ngày một ngày hai có thể thấy được, nhưng do tình thương và sự can thiệp diệu kì của bàn tay Thiên Chúa. Đó cũng là điều được chính Thánh Phaolô cảm nghiệm và xác tín trong thư thứ nhất gửi cho dân thành Côrintô: “Tôi trồng, Apôllô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên”. Đây cũng là hình ảnh Giáo Hội của Chúa, một Giáo Hội trải qua bao thăng trầm thử thách, bao sóng gió biển đời, nhưng vẫn đứng vững và lớn lên từng ngày vì Giáo Hội có Đức Kitô, Đấng thiết lập và ở cùng Hội Thánh mọi ngày cho đến tận thế.

Ngôi Lời như hạt giống tình yêu được gieo vào lòng thế giới. Và Lời tình yêu đó vẫn tiếp tục được rao truyền và vang xa mãi đến tận cùng trái đất. Đức Giêsu Ngôi Lời nhập thể đã chẳng nói chính Người là nước trời đó sao (Mt 12, 28; Lc 11,20) Nước của Người là nước Tình yêu. Những biểu hiện của tình yêu thường rất tinh tế, nhạy bén qua sự hy sinh, xả thân, khiêm nhu, chịu lụy, khoan dung…. Người ta có thể rất mạnh mẽ ở những lãnh vực nào đó nhưng lại rất mềm yếu trong Tình yêu. Một viên tướng có thể thét ra lửa trước mặt binh sĩ, nhưng lại trở nên mềm mại yếu đuối trước người yêu - một nữ nhân vạn lần yếu đuối hơn ông ta. Tuy nhiên tình yêu có sức mạnh mãnh liệt như sách Diễm ca có nói: “Nước lũ không thể dập tắt tình yêu, sóng cồn chẳng tài nào vùi lấp” (Dc 8,7).

Chính vì thế mà Đức Giêsu Kitô – tình yêu nhập thế đã cam chịu chết vì yêu. Trước mặt người đời Người có thể bị coi là điên dại, là yếu đuối, là thất bại, nhưng kỳ thực Người đã chiến thắng sức mạnh của hỏa ngục là hận thù và sự chết để đưa con người tới sự sống bất diệt; nước tình yêu của Người vẫn kiên cường đứng vững và phát triển qua bao sóng gió, bão táp của kẻ thù bách hại và tồn tại đến thiên thu vạn đại.

Nếu suy nghĩ theo lý luận tự nhiên, chúng ta có thể dễ dàng rơi vào thất vọng. Tuy nhiên, những lời của Chúa Giêsu qua hai dụ ngôn trên đây không cho phép chúng ta bi quan ngã lòng. Chúng ta không nhìn thấy tương lai Nước Chúa sẽ như thế nào nhưng Chúa muốn chúng ta cộng tác vào đó, bằng sự cầu nguyện và dấn thân làm những gì có thể với ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần.

Nhìn vào lịch sử của Giáo Hội, ta nhận thấy rất rõ sự lớn mạnh này. Khởi đi từ một nhóm môn đệ ít ỏi và lại gặp biết bao thử thách từ trong trứng nước như: cấm cách, bắt bớ và giết chết bằng những hình thức hết sức tàn bạo, dã man... Tuy nhiên, càng thử thách bao nhiêu, càng phát triển bấy nhiêu, đôi khi có lúc âm thầm, nhưng như than hồng rực nóng hơn nhiều lần ngọn lửa thế nào thì Đạo của Chúa cũng mạnh mẽ và mãnh liệt như vậy. Lịch sử Giáo Hội Việt Nam của chúng ta cũng chứng minh rất rõ điều đó!

Khi kể hai dụ ngôn này, Chúa Giêsu không nhằm đến diễn tiến Nước Chúa đang xảy ra như thế nào trong lịch sử, mà chỉ nhằm nhấn mạnh đến tình trạng hoàn tất chung cuộc vào lúc cuối lịch sử: mặc cho những thử thách, những ngăn trở, Nước Chúa dù được bắt đầu một cách khiêm tốn nhỏ bé, nhưng chắc chắn sẽ đạt đến mức phát triển trọn vẹn.

Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta biết cậy dựa và đặt niềm tin nơi Chúa. Tin tưởng rằng mình chẳng là gì, rất bé nhỏ, nhưng một khi đã gắn kết với Chúa trong sự khiêm tốn thì chắc chắc Chúa sẽ dùng vào những chuyện lớn lao cho chương trình của Ngài. Ví dụ như Phêrô; Phaolô; Augustino...Với trang Tin Mừng này, Giáo Hội mời gọi chúng ta suy niệm hai dụ ngôn về Nước Trời: hạt cải và nắm men. Cả hai dụ ngôn làm nổi bật khởi điểm khiêm tốn nhỏ bé của Nước Chúa nhưng vẫn phát triển và cuối cùng thành công nhờ quyền năng của Thiên Chúa.

 

Thứ Tư Tuần XXX TN

Ep 6, 1-9; Lc 13, 22-30

HÃY BƯỚC QUA CỬA HẸP

Ta có thể hình dung Nước Trời như là nhà của Chúa. Lúc này cửa nhà ấy đang mở để chúng ta vào. Nhưng nó hẹp. Người ta phải cố gắng mà lách vào; kẻo khi chủ nhà đứng lên và đóng cửa lại, không ai còn vào được nữa. Chúng ta có thể hình dung hơn nữa: Nước Trời là nhà Chúa đang mở tiệc cưới. Người ta phải mau mau đi qua cửa hẹp mà vào, kẻo đến khi khai tiệc, cửa sẽ đóng lại và không ai ra vào nữa.

Cửa hẹp không phải vì Nước Trời chật hẹp. Nước Trời rộng mênh mông, có thể đón tiếp tất cả mọi người. Nhưng không phải tất cả mọi người vào được, vì vào Nước Trời đòi có những điều kiện cần thiết. Cửa hẹp chính là để tuyển lựa những người có phẩm chất thích hợp với Nước Trời. Ai muốn vào Nước Trời phải phấn đấu.

Con đường hẹp là con đường Thập giá mà Đức Giêsu đã đi. Nhưng xem chừng, con đường hẹp như thế này không mấy hấp dẫn đối với nhiều người hôm nay, nhất là khi cuộc sống của họ đã quá đầy đủ và giàu sang! Theo lẽ thường, ai cũng thích bước đi trên con đường rộng rãi, phẳng phiu và dễ dãi. Đó là con đường tự do để hưởng thụ, tự do làm những gì mình thích bất chấp hậu quả. Qua cử hẹp là thi hành ý Chúa, là từ bỏ mình vác thập giá mình mà theo Chúa, là dám bán tất cả những gì mình có để làm phúc bố thí cho những kẻ nghèo túng, là liều mất mạng sống mình vì người khác.

Trong cuộc chiến đấu để được vào Nước Trời sẽ không có ưu tiên dành cho những người có lý lịch tốt, hay đúng hơn, có gốc gác tốt. Ở đây Chúa Giêsu muốn nhắm đến những người Do Thái cứng lòng tin. Họ suy luận rằng: Tước hiệu dân riêng của Chúa, tước hiệu con cháu của Abraham, là một bảo đảm chắc chắn, là một tấm giấy ưu tiên để được vào Nước Trời. Thế nhưng tiên tri Isaia đã từng loan báo về cách xử sự của Thiên Chúa trong thời cứu chuộc, trong ngày phán xét: Ngài sẽ quy tụ mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ, Ngài sẽ dẫn đưa mọi người từ các dân nước mà đến.

Đức Giêsu đã mở đường về Nước Trời. Muốn vào Nước Trời chẳng có con đường nào khác ngoài con đường Đức Giêsu đã đi. Chẳng có cửa nào khác ngoài khung cửa hẹp mà Đức Giêsu đã qua. Con người đến với Thiên Chúa cũng phải qua khung cửa hẹp. Ai muốn qua đó cũng phải noi gương Đức Giêsu hạ mình xuống và bé nhỏ đi. Chỉ những ai hạ mình khiêm tốn và từ bỏ hết cái tôi cồng kềnh ích kỷ mới qua được khung cửa hẹp mà vào Nước Thiên Chúa.

Vấn đề không phải là khung cửa hẹp mà chính là bản thân mình quá cồng kềnh với những thứ danh vọng chức quyền tiền bạc. Chấp nhận thanh tẩy cần thiết, trút bỏ vướng víu để nhẹ nhàng qua khung cửa hẹp mà đến với sự sống đời đời. Sau khung cửa hẹp là tình thương đẹp ngời Thiên Chúa mở ra cho vận mệnh con người.

 Và rồi trước tiên phải phấn đấu hạ mình xuống. Ở đời người ta thường phấn đấu để vươn lên. Người ở địa vị thấp phấn đấu để được địa vị cao. Người hèn kém phấn đấu để được trọng vọng. Người phải phục vụ phấn đấu để được người khác phục vụ mình. Nhưng trong Nước Trời thì ngược lại. Phải phấn đấu để đi xuống. Phải phấn đấu để tìm chỗ thấp hèn nhất. Phải phấn đấu để phục vụ anh em. Như lời Chúa dậy: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống. Ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên”(Lc 14,11). “Khi anh được mời, hãy ngồi vào chỗ cuối”(Lc 14,10). “Ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ”(Lc 22,26). “Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào”(Mc 10,15).

Sau đó phải phấn đấu để bé nhỏ lại. Thông thường ở đời người ta phấn đấu để to ra. Ai có nhà nhỏ phấn đấu để có nhà lớn hơn. Ai có ruộng vườn nhỏ cũng phấn đấu để vườn ruộng lớn rộng thêm. Ai cũng phấn đấu để có nhiều của cải hơn, có nhiều bằng cấp hơn, có nhiều đặc quyền đặc lợi hơn. Trái lại, người muốn vào Nước Trời phải phấn đấu để trở nên bé nhỏ. Phải phấn đấu để trở nên nghèo. Phải phấn đấu để bỏ bớt của cải đi. “Hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi” (Mt 19, 21). “Phúc thay ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3).

Ngày nay, nhiều người bi quan khi nhìn vào những bản thống kê về tôn giáo, chẳng hạn số người đi tham dự thánh lễ quá ít, số ơn gọi linh mục tu sĩ giảm sút. Nhiều nơi nhà thờ, nhà dòng đã được hiến cho những tổ chức hoặc cho những tư nhân để sử dụng vào việc khác. Từ đó họ kết luận: Sẽ đến một lúc không còn đức tin trên cõi đời ô trọc này nữa.

Nếu mỗi người chúng ta hôm nay cứ sống buông thả theo bản năng của mình mà không đi theo đường hẹp Chúa vạch ra cho chúng ta, tức là tuân giữ các giới răn, thì số phận chúng ta cũng như con tàu đi trật đường rầy, chúng ta sẽ lãnh lấy thảm họa. Mai đây, chúng ta có van nài với Chúa rằng: ‘Thưa Ngài, xin mở cho chúng tôi vào!’, thì Chúa sẽ bảo: ‘Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính!’ và “Bấy giờ chúng ta sẽ khóc lóc nghiến răng, khi thấy các ông Abraham, Isaac và Giacóp cùng tất cả các ngôn sứ được ở trong Nước Thiên Chúa, còn mình lại bị đuổi ra ngoài.”

Đời sống Kitô hữu là một hành trình thiêng liêng đi qua cửa hẹp. Đức Giêsu muốn nhấn mạnh đến nỗ lực, nhiều nỗ lực để có thể vượt qua cánh cửa hẹp. Để có được một đời sống hạnh phúc, một gia đình tốt đẹp… chúng ta cần đi qua “cửa hẹp”, cần nhiều nỗ lực, cần hy sinh, cần chiến đấu, “Ai muốn theo Tôi, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mà theo Tôi”.

Ta thấy cửa hẹp này chỉ được mở từ bên trong, vào một lúc nào đó. Chỉ một mình Thiên Chúa mới quyết định mở và mở lúc nào, tức là Người quyết định tất cả. Thiên Chúa mở cánh cửa hẹp, bởi vì cánh cửa tâm hồn chúng ta còn hẹp. Để đi vào vương quốc Tình yêu, chúng ta cần loại bỏ sự hẹp hòi, kiêu ngạo, những gì chống đối lại tình yêu. Nói khác, cánh cửa tâm hồn chúng ta có rộng mở thì cánh cửa vương quốc Tình Yêu mới rộng mở. Đó là lý do tại sao lối vào vương quốc của Thiên Chúa đòi cố gắng và hy sinh.

Hãy bước theo Đức Kitô. Hãy trở nên giống Ngài bằng cách chấp nhận những thử thách, những thập giá. Vì đó là khung cửa hẹp, chúng ta cần phải bước qua để tiến vào cõi sống vĩnh cửu, đón nhận vinh quang phục sinh. Một cuộc “chiến đấu” để cuối cùng có thể nói được như thánh Phaolô: “Tôi đã chiến đấu trong cuộc sống chính nghĩa; đã chạy đến cùng đường; kiên vững trong lòng tin. Giờ đây, triều thiên công chính được dành sẵn cho tôi, và Thiên Chúa, Đấng phán xét chí công, sẽ hoàn lại cho tôi trong ngày ấy, không chỉ cho tôi mà thôi, nhưng còn cho hết mọi người đã đầy lòng mến yêu trông đợi Ngài xuất hiện”(2Tm 4,6-8)

Thứ Năm Tuần XXX Mùa tn

Các Thánh Nam Nữ

Kh 7, 2-4, 9-14; 1 Ga 3, 1-3; Mt 5, 1-12a

LỜI MỜI GỌI NÊN THÁNH

Trong kinh Tin Kính mà mỗi Thánh Lễ Chúa nhật hay Lễ Trọng ta đọc, ta long trọng tuyên xưng bốn đặc tính của Giáo Hội: Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền. Thánh thiện vừa là ơn gọi của người tín hữu, vừa là một đặc tính nổi bật của cộng đoàn những người tin vào Chúa Kitô. Chính sự thánh thiện đã tô điểm hình ảnh của Giáo Hội và làm cho Giáo Hội trường tồn với thời gian.

Ngay từ thời Giáo Hội sơ khai, những ai tin vào Chúa Giêsu đã được gọi là “các thánh” (x. Cv 9,13; 1 Cr 6,1), và các cộng đoàn Đức tin cũng được gọi là “cộng đoàn các thánh”. Đương nhiên, khi dùng khái niệm này để chỉ các tín hữu, các tác giả không có ý “phong thánh” cho mọi tín hữu, nhưng muốn nhắc tới một danh dự và bổn phận: danh dự vì họ được mang tên Đức Kitô; bổn phận, vì họ phải cố gắng mỗi ngày để nên giống Đức Kitô, Đấng Thánh của Thiên Chúa.

Các Thánh trên trời không phải là những con người hoàn toàn hoàn hảo, thánh thiện, tinh tuyền, không vướng mắc lỗi lầm, thiếu sót hay tật xấu nào trong cuộc sống nơi trần gian này. Không ai bẩm sinh đã là Thánh. Các Thánh cũng không phải là những siêu nhân, hay những con người phi thường vượt trên đám đông nhân loại. Các Thánh càng không phải là những người bất thường kỳ dị. Các Thánh là những con người bình thường như mọi người chúng ta, nhưng các ngài đã “sống những điều tầm thường một cách phi thường.”

Lễ các thánh là lễ của niềm vui. Chúng ta vui mừng vì các thánh chính là thân nhân của chúng ta, là tổ tiên, ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn bè chúng ta.

Mừng lễ hôm nay, không phải là lúc chúng ta suy tôn công trạng của các ngài, vì Chúa mới là Đấng thánh, Chúa chính là Đấng cứu độ trần gian, tất cả các thánh dù thánh thiện đến đâu cũng chỉ phản ánh đời sống thánh thiện của Chúa. Ai thực hiện bài giảng trên núi, hoặc biết sống giá trị của Tin mừng, người ấy sẽ nên giống Chúa Kitô và đáng được gọi là con Thiên Chúa. Khi đưa ra các mối phúc, Chúa Giêsu không nhằm đặt để chúng ta vào một khuôn mẫu nhất định, nhưng là kêu gọi mỗi người hãy để Chúa biến đổi nên xứng hợp với tình yêu thương của Chúa.

Lễ kính các Thánh kêu gọi mỗi người Ki-tô hữu chúng ta nhìn vào đời sống, xét mình soi gương xem chúng ta có thật sự đang trở nên giống hình ảnh Thiên Chúa và các Thánh không. Các bài đọc lời Chúa hôm nay nhắc nhở và giúp chúng ta tự xét mình. Bài đọc I cho chúng ta biết các Thánh là những người trung thành với Thiên Chúa sau khi đã trải qua những cơn thử thách lớn lao. Cuộc sống của họ đã được giặt sạch và tẩy trắng trong máu Con Chiên. Các Thánh là những người đã sống một cuộc đời như Chúa Giê-su đã dạy. Họ đã từ bỏ lối sống ích kỷ của bản thân, hy sinh chấp nhận mọi gian khổ ngay cả cái chết để làm chứng cho Thiên Chúa. Bài đọc II nhắc nhở chúng ta ơn gọi làm con Chúa mà chúng ta đã lãnh nhận trong ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Chúng ta có bổn phận và trách nhiệm làm vinh danh Thiên Chúa, để chúng ta được vinh danh trên Nước Trời. 

          Các thánh là những người đã đi theo Chúa Giêsu trên con đường thanh luyện. Các ngài đã giặt áo trong máu Con Chiên nên áo của các ngài trắng như tuyết. Các ngài được hưởng hạnh phúc Nước Trời vì các ngài đã chịu thanh luyện trong cuộc sống trên trần gian. Các ngài được chính Chúa vì các ngài đã từ chối không ham mê dính bén những của cải trần gian.

Trở nên giống Chúa Giêsu, trở nên trọn lành như Chúa Cha ở trên trời, trở nên thánh, đó là ơn gọi của mọi người Kitô hữu chúng ta, và đó cũng là sứ điệp Chúa Giêsu và Giáo Hội muốn nhắn gửi qua ngày lễ kính Các Thánh Nam Nữ. Mừng lễ Các Thánh Nam Nữ, chúng ta cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho con người nhân loại ân sủng kêu gọi trở nên thánh, và đã ban cho chúng ta mẫu gương thánh thiện là Chúa Giê-su Ki-tô để chúng ta noi theo.

ta cũng hân hoan chúc tụng các Thánh là những người bạn của chúng ta, và xin các ngài cầu thay nguyện giúp cho chúng ta, để chúng ta nhận ra mình cũng được Chúa mời gọi trở nên thánh như các ngài, và cố gắng vươn lên giống như các ngài. Nguyện xin các Thánh Nam Nữ giúp chúng ta tập sống mỗi ngày, thăng tiến trên con đường trọn lành như lời mời gọi của Chúa Giêsu: các con hãy nên Thánh như Cha trên trời là Đấng Thánh.

Các thánh là những con người, không ai có thể nên thánh nếu không đi qua cuộc sống làm người với những khổ đau, không đi qua đau khổ thì không thể trở thành một thánh nhân, bởi vì chính Đấng cứu chuộc nhân loại là Chúa Giêsu Kitô đã làm như thế: bị đánh đòn, bị đóng đinh vào thập giá và cuối cùng chết trên thập giá.

Các thánh nam nữ là những con người như chúng ta, khi còn sống ở thế gian các ngài cũng có tham sân si, cũng có kiêu căng, có giận hờn, có ghét ghen, có tham lam, có những tội lỗi mà chúng ta đã phạm hôm nay, nhưng các ngài biết cậy vào ơn Thiên Chúa và biết quyết tâm đứng lên cố gắng làm lại cuộc đời mình, biết chiến đấu với những cám dỗ để rồi hôm nay các ngài được hưởng phúc với Thiên Chúa và các thiên thần của Thiên Chúa trên thiên đàng.

Các thánh nam nữ là những con người như chúng ta, có vị đã từng làm vua, có vị đã từng làm quan lớn quan nhỏ, làm bác sĩ, làm kỹ sư, làm thấy giáo, làm nô lệ, có vị làm giáo hoàng, có vị làm giám mục, làm linh mục, phó tế, có các vị là nam nữ tu sĩ. v.v… nghĩa là các ngài đủ mọi thành phần giai cấp trong xã hội có những đời sống và hoàn cảnh khác nhau, nhưng các ngài đã có một mục đích để sống, đó chính là phải trở nên thánh, phải trở thành những bạn hữu của Thiên Chúa trong chính bổn phận của mình.

          Sống thánh thiện và trở nên con người thánh thiện không phải là đặc quyền của riêng ai, nhưng là dành cho tất cả mọi người. “Tất cả họ mặc áo trắng, tay cầm cành lá thiên tuế” cho thấy dù họ là ai, dù sống trong hoàn cảnh nào, miễn họ vẫn giữ được tâm hồn trung thành với Chúa, giữ cho tấm áo trắng của ngày rửa tội được tinh tuyền, thì họ được kể là các thánh.

          Ai cũng phải nên thánh. Nên thánh trong bổn phận. Nên thánh trong hy sinh vì lợi ích tha nhân. Nên thánh trong việc đón nhận thánh ý Chúa với lời xin vâng trọn vẹn. Nên thánh giữa dòng đời tục lụy là điều rất khó nhưng không phải là không có thể.

Mừng kính lễ các thánh nam nữ hôm nay, chúng ta cùng nhau tạ ơn Chúa đã ban cho Giáo Hội những gương sáng ngang qua cuộc đời của các thánh, từ đó trở thành động lực cho mỗi chúng ta phấn đấu trên con đường nên thánh. Đồng thời, mỗi khi mừng kính các thánh, chúng ta cũng tạ ơn Chúa đã ban nhiều ơn thánh trợ giúp, để: con cháu, anh chị em chúng ta cùng nên thánh.

Nên thánh là bổn phận của người tín hữu. Hãy nghe Thánh Phêrô nói với chúng ta: “Bởi vì Đấng kêu gọi anh em là Đấng Thánh, anh em cũng vậy, anh em hãy nên thánh trong mọi hành động của anh em, như đã được viết: Các ngươi hãy nên thánh, vì Ta là Đấng Thánh” (1 Pr 1,15). Như vậy, trong cuộc đời của chúng ta, nếu không thiện chí cố gắng để được nên thánh, thì đó là một thiếu sót. Bởi lẽ khi lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy, chúng ta được trao sứ mạng nên thánh, tức là nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu.

Nên thánh là lời mời gọi của Chúa. Nên thánh cũng là một bổn phận của chúng ta. Đó là mục đích căn bản và cốt lõi của đời sống Kitô hữu. Nhờ cuộc sống thánh thiện, chúng ta thuộc về Chúa là Đấng Chí Thánh, trở nên hình bóng của Ngài. Và như thế, chúng ta đã nếm hưởng hạnh phúc đời sau, ngay khi chúng ta còn sống trong cõi đời tạm này.

 

Thứ Bảy Tuần XXX Mùa Thường Niên Năm chẵn

Pl 1, 18b-26; Lc 14, 1. 7-11

KHIÊM HẠ THEO CHÚA

Khiêm tốn có nghĩa là bắt chước sống như Chúa, không sống cho riêng mình, nhưng sống cho người khác, dùng tài năng của mình để phục vụ, không phải cho bản thân và lợi ích riêng của cá nhân, mà là cho người khác và những nhu cầu của họ.

Vì thế Chúa Giêsu đã khuyên ta nên biết khiêm nhường. Đi ăn tiệc cứ chọn chỗ cuối cùng mà ngồi. Nếu được chủ nhà mời lên thì thật vinh dự. Tự cho phép mình ngồi chỗ trên hết, lỡ bị chủ nhà mời xuống thì thật xấu hổ.

Sách Trang tử thuật chuyện: Dương Chu sang nước Tống vào một trọ nhà kia. Chủ nhà có hai nàng hầu, một đẹp, một xấu. Để ý quan sát, Dương Chu thấy trong nhà ai cũng quý trọng nàng hầu xấu mà khinh rẻ nàng hầu đẹp. Lấy làm lạ, Dương Chu hỏi thằng bé trong nhà. Chú bé nói: Người thiếu đẹp tự cho mình là đẹp nên mất đẹp. Chẳng ai nhìn thấy cái đẹp của nàng nữa. Còn người thiếp xấu tự biết mình xấu mà quên xấu. Không còn ai nhìn thấy cái xấu của nàng nữa. Dương Chu liền gọi học trò đến dặn: Các con nhớ ghi lấy. Giỏi mà bỏ được cái thói tự cho mình là giỏi, thì đi đâu mà chẳng được người ta yêu quý tôn trọng.

Trang Tin Mừng hôm nay cũng là bài học khiêm nhường. Bài học này có lẽ đã làm cho nhiều người ăn mất ngon và hẳn nhiều ông đã mất mặt vì Chúa quá thẳng tính. Chúa Giêsu không chỉ nhận xét về khách dự tiệc mà còn thẳng thắn đưa ra một bài học khác cho chủ nhà, bởi vì ông này mở tiệc đãi khách, thực ra không hpải vì khách mà vì mình.

Thật vậy, cái thói mời người có chức quyền, mời người giàu sang để khoe rằng mình quen biết lớn, giao thiệp rộng, rằng bè bạn của mình toàn là những ông to bà lớn. Cái thói này ở mọi nơi, mọi thời đều rất thịnh hành. Ông chủ nhà hôm nay cũng là một trong những kẻ thích khoe khoang. Ông ta mời Chúa Giêsu có lẽ chẳng phải vì mến phục, nhưng chỉ để khoe với bè bạn về tài giao thiệp của mình, bởi vì lúc bấy giờ Chúa Giêsu đã là một nhân vật nổi tiếng.

Chúa Giêsu đã nhắc nhở: Vì hễ ai nhắc mình lên, sẽ phải hạ xuống và ai hạ mình xuống, sẽ được nhắc lên (Lc 12, 11). Đứng trước quyền năng vô biên của Thiên Chúa, con người là chỉ loài thụ tạo xuất hiện đó rồi tan biến đó. Sự kiêu ngạo làm con người tự cất nhắc mình lên và chiếm hữu đạt quyền của kẻ khác. Chúa phán rằng ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên. Chân lý này có thể áp dụng cho hết mọi người sống trong xã hội. Càng làm lớn, càng biết hạ mình thì càng được tôn trọng và quí mến. Người sống khiêm nhu không phải là người yếu đuối hay tiêu cực. Chúng ta thường nói lấy nhu thắng cương là thế. Không ai chê bai, phản đối hay khinh thường những người biết sống khiêm nhường. Chỉ những ai có tính kiêu ngạo đã không nhận ra được giá trị trân quí của nhân đức này.

Chúng ta được mời gọi để đi theo Chúa, đi vào con đường khiêm nhường thẳm sâu, con đường hy sinh đến tận cùng, con đường phục vụ quên mình.

Cùng với Chúa Giêsu, chúng ta hãy chọn cho mình vị trí cuối cùng trong bữa tiệc cuộc đời để chúng ta sẽ được Thiên Chúa mời lên chỗ cao trọng trong bữa tiệc Nước Trời mai sau.

Bằng những lời khuyên nhủ khôn ngoan, bài trích sách Huấn Ca hôm nay cũng chỉ cho chúng ta thấy con đường khiêm tốn là con đường đẹp đẽ được mọi người quý chuộng và được Thiên Chúa mến yêu. Còn sự kiêu ngạo là con đường dẫn đến tai họa và diệt vong.

Con đường khiêm hạ còn là con đường phục vụ vô vị lợi. Chúa dạy khi mời khách dự tiệc hãy mời những người nghèo khó vì họ không có gì để trả lễ. Chúa muốn dạy chúng ta tinh thần phục vụ vô vị lợi, phục vụ mà không mong được đền đáp, phục vụ trong âm thầm và khiêm tốn.

Lòng khiêm tốn và nhân hậu chính là nền tảng của đạo đức, nên Ngài mời gọi chúng ta hãy noi gương bắt chước Ngài. Thói thường, thì những kẻ làm lớn thì ăn trên ngồi trốc, thống trị mọi người. Còn Chúa Giêsu thì khác, Ngài không đến để được hầu hạ, nhưng đến để hầu hạ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người. Ngài đòi hỏi các môn đệ, những kẻ bước theo Ngài cũng phải sống như vậy. Thế nhưng lòng khiêm tốn phải đi đôi với tình bác ái, với tinh thần phục vụ. Ngài đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ để dạy các ông bài học phục vụ.

Tin Mừng hôm nay nhắc nhở mỗi người chúng ta cần phải biết sống khiêm tốn với mọi người và sống hoà hợp với nhau trong yêu thương chân thành. Người làm lớn phải biết cúi mình phục vụ. Biết khiêm tốn khi sống giữa anh em, biết lấy tình yêu để đối xử với nhau một cách vô vị lợi. Chúa đã kết án thói trưởng giả của những người biệt phái. Ta thấy nhiều người thích dệnh dạng trong đám tiệc. Thích ngồi"mân cao cỗ đầy". Họ dùng quyền bính để được người khác cúi mình phục vụ. Lối sống của họ chẳng có ích cho cộng đoàn mà còn làm khổ anh em.

Chúa còn dạy chúng ta khi đãi tiệc, hãy thiết đãi cả những kẻ không có khả năng mời lại chúng ta một ly rượu. Đừng mời nhau theo kiểu "có qua có lại", mà quan yếu là tình người với nhau. Con người cao qúy hơn tiền bạc, hơn mọi thứ vật chất trần gian, thế nên, phải biết đặt tình người hơn những tính toán lợi nhuận. Đừng vì những lợi nhuận vật chất mà loại trừ anh em, nhưng hãy dùng của cải mà mua lấy bạn hữu Nước Trời.

Hãy nhìn vào gương Chúa Giêsu. Người luôn luôn chọn chỗ cuối cùng. Là Thiên Chúa, nhưng Người không đòi cho mình được ngang hàng với Thiên Chúa, trái lại, Người đã tự huỷ mình, mặc lấy thân phận nô lệ hèn yếu như ta, trừ tội lỗi.


Huệ Minh November 5, 2018