March 16, 2018

suy niệm Lời Chúa..

by Huệ Minh

 

Chúa Nhật Thứ III Mùa Chay, năm B

Lời Chúa: Xh 20,1-17; 1Cr 1,22-25; Ga 2,13-25.

THANH TẨY TÂM HỒN 

Có thể nói ngày 12  - 3 - 2000, là 1 ngày lịch sử của Giáo hội Công giáo. Bởi lẽ vào Ngày 12 - 3 – 2000, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã có một cái cử chỉ hết sức đặc biệt ở Roma. Ngài cử hành cái ngày gọi là ngày xin ơn tha thứ. Đức Thánh Cha  đã  nhắc lại nhiều tội lỗi của Giáo hội như là sử dụng bạo lực để phục vụ cho chân lý, và tôn giáo pháp đình. Ngài đã đưa ra nhiều lời xin lỗi của Giáo hội đối với người Do Thái, Galilê, phụ nữ, nạn nhân của những Tòa Án Dị Giáo... những người Hồi giáo bị giết chết trong các cuộc Thập Tự Chinh, và phần lớn là nạn nhân chịu thiệt hại liên quan đến Giáo hội trong lịch sử.  

          Và rồi Đức Giáo Hoàng cũng đã gửi thư hòa giải của các các giám mục Ba Lan đến các giám mục Đức  năm 1965.  Ngài ủng hộ cái lá thư đó và đã công khai xin lỗi hơn 100 lần về những điều sai trái của Giáo hội: những tội lỗi đã diễn ra trong quá trình  chinh phục Châu Mỹ La Tinh  nhân danh Giáo hội, bị kết án bởi nhà khoa học Ý Galilê khi ông là một tín đồ ngoan đạo Đã xin lỗi vào ngày 31- 10- 1992.

          Sự dính líu của Giáo hội về nạn buôn bán Nô Lệ Châu Phi ngày 9 tháng 8 năm  1993. Rồi vai trò của Giáo hội đã thiêu sống những tín đồ dị giáo vào những cái cuộc cải cách, kháng cách, tháng 5 năm 1995.

          Cái cách mà đối xử bất công với phụ nữ, vi phạm nhân quyền của phụ nữ cũng như bôi xấu, dèm pha, phỉ báng phụ nữ . Trong một bức thư gửi cho phụ nữ thế giới trên toàn cầu ngày 10 tháng 7 năm 1995.

          Và sự im lặng của chức sắc Công giáo trước sự hủy diệt của chế độ Phát xít ngày 16 tháng 3 năm 1998 , thừa nhận cái sự sai lầm của Giáo hội trong việc xử tử Gian Hut   ngày 18 -12 - 1999 tại Praha.

          Tội của Giáo hội Công giáo trong việc vi phạm quyền lợi chính đáng của các nhóm sắc tộc.  Và rồi ngày 12 - 3 Đức giáo hoàng đã xin lỗi tập thể trước cộng đồng tại Vatican . Và lớn nhất đó là cái tội mà chia rẽ trong Giáo hội Công giáo, xúc phạm đến các nền văn hóa và tôn giáo và trong đó có thực hiện truyền giáo ở Mỹ Châu và Á Châu,  nhiều tội xúc phạm đến lương tâm con người.

          Và đứng trước cái hoạt động xin lỗi của Đức Giáo Hoàng với nhiều phản ứng khác nhau có người thì cho rằng hành động của Đức Giáo Hoàng như vậy là can đảm, mở ra một đường lối đối thoại với các tôn giáo khác để dẫn tới hòa giải.

          Nhưng có người thì cho ý kiến ngược lại và  rất nhiều ý kiến khác nhau. Một số anh chị em tôn giáo thì hoang mang bởi vì trong đầu có mình ấp ủ rằng Giáo Hội là một Giáo Hội thánh thiện.  Công giáo nghĩ rằng Giáo Hội thân thiện mà tại sao Giáo Hội lại như thế ? mà Tại sao tôi phải tin theo Giáo Hội!  Và có người thì nghĩ rằng Giáo hội thì là bị tấn công!

          Rõ ràng rằng : Giáo hội phải xin lỗi vì những sai lầm của mình.  

          Có nhiều cách đặt vấn đề sâu hơn: thật sự là Giáo hội có lỗi hay không?

          Nếu như chúng ta đứng về thời điểm của thời lịch sử thời hiện tại lúc đó, cách đây 5, 6 thế kỷ thì chúng ta có thể nói rằng là Giáo hội có tội lỗi hay không?

          Khi chúng ta đặt não trạng về:  kinh tế, văn hóa, chính trị của Giáo hội thời đó. Phải chăng là chỉ có một mình Giáo hội vi phạm và chỉ có một mình Giáo hội tội lỗi thôi! Trong khi đó có hàng triệu triệu người Công giáo phải đổ máu đào để mà tuyên xưng niềm tin của mình để mà chấp nhận sự bách hại của những đạo khác.

          Và xem chừng như là lời xin lỗi một chiều ấy như vậy có đúng hay không?  Và sau đó giáo hội đưa ra nhiều tài liệu để mà phân tích cái việc Đức Giáo Hoàng xin ơn tha thứ.

          Nói về cái ý nghĩa của lời tha thứ cũng như mục đích nhắc tới cái sự kiện mà Đức Cố giáo hoàng Phaolô II xin lỗi đó, thì không phải nhắc đến cái chuyện đi tìm ý nghĩa mục đích!

          Nhưng hôm nay, con muốn mời gọi Cộng đoàn chúng ta nhìn lại cuộc đời Kitô hữu của chúng ta là một cuộc đời hành hương.

          Và hành động của Đức Giáo Hoàng là một cái hành động thanh tẩy, sám hối trong cái hành trình hành hương đó!  Và cái hành động sám hối đó là cái hành trình không ngừng trong cuộc hành trình tiến về nhà Cha.

          Với trang Tin Mừng theo Thánh Gioan, đặc biệt Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ Giêrusalem. Trong tiếng Latinh thì ecclesia có hai nghĩa : Nghĩa thứ nhất là nhà thờ xây dựng bằng gạch đá và nghĩa thứ hai đó là Cộng đoàn tín hữu.

          Kinh Thánh nói đến việc Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ tưởng cũng nghĩ rằng nên nhớ đến việc thanh  tẩy  Giáo Hội của chúng ta. Thanh tẩy cộng đoàn Kitô hữu của chúng ta. Tại sao vậy ?

          Bởi vì sự thánh thiện của Công giáo, của Giáo hội mà chúng ta tuyên xưng đó trong kinh Tin Kính: «Giáo hội Công giáo, thánh thiệt tông truyền.» Vì Giáo Hội chắc chắn  là thân mình của Chúa Kitô là đền thờ của Chúa Thánh Thần nên Giáo Hội được gọi là thánh.

          Thế nhưng, trong thực tế Giáo Hội vẫn mang trong lòng mình mỗi một con người chúng ta, mà con người chúng ta lại hội tụ những yếu đuối để làm thành một cái giáo hội. Để rồi chắc chắn Giáo hội vẫn mang trong mình thân phận mỏng dòn và yếu đuối của con người.

Có một người nói rằng:  không có gì là của con người mà xa lạ đối với tôi. Những cái gì mà tham sân si của con người thì không xa lạ với mình bởi vì mỗi lẽ, bởi lẽ mỗi người trong chúng ta, ai ai cũng cảm được cái xấu của mỗi người chúng ta hơn ai hết. Và cái tham sân si của mình thì không ai biết bằng chúng ta.

          Trong lòng Giáo hội là những con người và rồi Giáo Hội mang trong mình sự yếu đuối và thậm chí là tội lỗi, nhưng mà chúng ta nên nhớ rằng giáo hội là một giáo hội mầu nhiệm hiệp thông. Các chi thể trong giáo hội hiệp thông với nhau rất sâu sa, đến nỗi chia sẻ với nhau cả ơn sủng và chia sẻ với nhau cả tội lỗi nữa.

          Chúng ta cầu nguyện cho anh chị em ở bên kia thế giới kể cả: vật chất và hữu hình. Chúng ta có thể cầu nguyện cho người nhà của chúng ta ở bên kia thế giới: ở Mỹ, ở Đức, ở Pháp. Và chúng ta có thể cầu nguyện với anh chị em chúng ta khi anh chị em chúng ta ở trong Luyện ngục.

          Và tội của anh chị em chúng ta và bản thân của chúng ta nữa thì giáo hội phải mang gánh. Như chia sẻ ân huệ thiêng liêng, thì Giáo Hội cũng chia sẻ cái gánh của tội lỗi. Đó là cái cơ sở thần học để chúng ta cùng nhau hiệp ý xin Chúa tha thứ tội lỗi cho toàn thể Giáo Hội: của quá khứ và của cả hôm nay nữa!

          Nói như vậy thì Giáo hội cần thanh tẩy và mỗi người chúng ta là chi thể trong Giáo Hội, chúng ta cũng cần thanh tẩy. Và mỗi người chúng ta là thành viên trong Giáo Hội, chúng ta cũng cần được thanh tẩy, mà là thanh  tẩy cái gì?  Chẳng lẽ thanh tẩy “tội” theo kiểu nói chung chung!

          Nói chung chung thì cũng dễ nói, nhưng mà khó hiểu! Nhưng mà đi sâu hơn nữa chúng ta quy chiếu về Tin Mừng. Ngày hôm nay Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ Giêrusalem vì người ta buôn bán trong đền thờ. Thật sự ra mà nói, ai mà dám mang chiên, bồ câu, tiền đi vào ngay trong đền thờ mà đổi tiền được, làm gì có!

          Chúng ta nhớ đền thờ Giêrusalem rất là rộng lớn, có mấy sân lận ! Có sân dành cho đàn ông, có sân dành cho đàn bà và có sân dành cho dân ngoại! Dân ngoại thì buôn bán ở bên ngoài , và có chăng người ta buôn bán trao đổi ở bên ngoài thôi!

          Và từ góc độ nào đó, chúng ta thấy việc buôn bán và đổi tiền đã dần dần đổi đi cái mục đích thánh thiện.

Ngày xưa, thật sự mà nói:  đi hành hương làm sao mà  con đường dài, người ta không thể mang chim câu, chiên bò đến để mà dâng của lễ được và chính vì thế phải có một cái dịch vụ kiều hối! Điều đó là điều bình thường thôi!

          Nhưng mà tại sao Chúa Giêsu lại nổi nóng, và đánh lunG tung với những người đổi tiền, những người bán chim bồ câu đó!  Bởi vì cái ý nghĩa, mục đích thánh thiện đã biến mất, và thay vào đó những người buôn bán ở trong sân đền thờ đó không ai khác là các tư tế, gia đình tư tế và họ tạo thành một cái thế độc quyền.

 

Đền thờ với tính cách ban đầu là tinh tuyền, là thờ phượng Thiên Chúa, nhưng mà các tư tế đã thay bằng một mục đích khác, cho lợi nhuận để tìm tiền bạc.  Và chính vì lợi nhuận và tiền bạc đó, đã biến chất đi cái ý nghĩa thiêng liêng của đền thờ.  

          Biết như vậy, Chúa Giêsu đã cảm thấy buồn! Khi người ta biến Thiên Chúa không là chủ đền thờ, mà Thiên Chúa là tôi tớ để phục vụ cho thần tượng của con người, đó là ma men, đó là đô la, đó là tiền bạc.

          Chúng ta thấy, khi mà Giáo Hội cho chúng ta nghe bài đọc thứ nhất trích sách Xuất Hành với mười điều răn. Tội căn bản của con người là gì? Là tội thờ ngẫu tượng.

Con người đã được Thiên Chúa yêu thương chở che giữ gìn, nhưng con người vẫn đi tôn thờ những thần thánh khác.

Thật sự ra mà nói, mỗi người chúng ta , không ai can đảm để mà bỏ Chúa, để đi lấy Đôla đem lên  cái bàn thờ, thờ đâu! Chúng ta cũng không bao giờ dám bỏ Thập Giá Chúa xuống để lấy tờ đôla lên  thờ .

Thế nhưng  rồi, trong từng giây, từng phút của cuộc đời chúng ta, trong cái suy nghĩ và trong chọn lựa của chúng ta, chúng ta vẫn chọn lựa đôla, tiền bạc, quyền lực thay vào thờ phượng Thiên Chúa.  

          Chúng ta lấy mục đích đời của ta, khác với Thiên Chúa, và rồi từ những cái suy nghĩ đó tương quan của Thiên Chúa và tương quan của chúng ta nó thay đổi.

           Thay vì chúng ta sống công bằng với anh chị em chúng ta, thì chúng ta sống chiếm đoạt. Thay vì chúng ta sống trung thực với người đồng  loại,  thì chúng ta gian dối.  Thay vì yêu thương thì chúng ta chà đạp.

 

 Thanh tẩy và hoán cải lòng chúng ta, không phải là hoán cái một cách chung chung, mà là cái cách chúng ta lựa chọn đời sống căn bản.  Căn bản của chúng ta, chúng ta chọn Chúa hay chúng ta chọn tiền bạc đổi chác, để làm thành trung tâm điểm đời sống của chúng ta.

          Và điều quan trọng hơn nữa đó chính là cái sự ngụy trang trong đời sống thiêng liêng. Đền Giêrusalem sinh hoạt rầm rộ.  Như nhiều nhà thờ, như nhiều đền thờ chúng ta thấy:  nhưng ý nghĩa bên trong đã thay đổi.

          Ở đây, lẽ ra làm vinh danh Thiên Chúa, nhưng rồi người ta đã tôn vinh con người lên để làm chủ và làm chúa đó chính là cái sự khốn nạn nhất của đời người.

 

          Chúng ta thấy Giuđa đó! Cái nụ hôn rất đẹp! Cái nụ hôn  là dấu chỉ của tình yêu, tình thương của con người, của người Nam người nữ dành cho nhau và của anh chị em dành cho nhau. Đó là quy ước của tình yêu, tình thân . Nhưng Giuđa đã biến đổi thành quy ước của sự bội phản.

Ngày hôm nay cũng có rất nhiều nụ hôn, người ta trao cho nhau.  Nhưng cái nụ hôn đó chỉ là cái nụ hôn của giả tạo, của phản bội, của lừa lọc nhau.

          Căn bản con người không phải là hành động, mà mặc cho cái hành động tội lỗi đó! ngụy trang  cái hành động tội lỗi đó!  Khoát cho cái hành động tội lỗi đó một cái rất đẹp bên ngoài, nhưng mà thực chất chỉ là đóng kịch.

 

Nhiều lần nhiều lúc trong cuộc đời của chúng ta, chúng ta đóng kịch riết rồi chúng ta không còn ý thức cái tình trạng vong thân và tha hóa với nội tâm của chúng ta nữa!

          Và khi đó thanh tẩy không chỉ là thanh từ bên ngoài Đền thờ, rửa dọn chùi lau,  nhưng thanh tẩy là thanh tẩy tận bên trong đáy lòng của mỗi người chúng ta.

          Có một câu nói rất là dễ thương:  đời đâu có cho ta cát sê đâu mà sao ta diễn hay quá! nhiều khi ta mặc lấy những cái giả dối, những cái lừa lọc, những cái oán thù đó!  Bằng những lời nói thật hay, thật đẹp! Bằng những bông hoa, bằng những quà tặng. Nó  lấp liếm đi cái sự thật bên trong gian ác của chúng ta

          Thanh Tẩy không ngừng, bởi vì mỗi người chúng ta có cái kinh nghiệm: ngày nào chúng ta cũng đối diện trước sự cám dỗ của phạm tội, ngày nào chúng ta cũng đối diện với những đau khổ của cuộc đời.  

          Rồi chúng ta cần phải xin  thanh tẩy, ngày này qua ngày khác. Và thanh tẩy đó là cái hành trình suốt cả cuộc đời của chúng ta. Đặc biệt trong mùa chay thánh này!

          Hội  thánh mời gọi chúng ta cũng như tạo cơ hội cho chúng ta sống cái lời thanh tẩy đó!  Một cách cụ thể và sâu sắc hơn.

          Chúng ta cầu nguyện cho nhau, chúng ta cầu nguyện cho mỗi người chúng ta để chúng ta sống đúng ý nghĩa các sự thanh tẩy tâm hồn của chúng ta, mỗi người chúng ta và thanh tẩy cái đền thờ tâm hồn, mà nơi đó Chúa Giêsu là Đấng ngự trong lòng chúng ta. Amen.   

Thứ Hai trong tuần thứ Ba Mùa Chay

2 V 5:1-15; Tv 42:2-3; Lc 4:24-30

VỮNG BƯỚC TRONG SỰ THẬT

Trang Tin Mừng hôm nay nằm trong văn mạch nói về việc rao giảng của Chúa Giêsu tại miền Galilê- quê hương xứ sở của Ngài. Não trạng của người Do Thái không chấp nhận hình ảnh về một Đấng Messia như Chúa Giêsu đang khắc họa, một Đấng Messia có nguồn gốc xuất thân từ quê hương của họ. Họ đinh ninh rằng chỉ mình họ là dân riêng của Thiên Chúa, họ không tin nhận ơn cứu độ sẽ dành cho dân ngoại.

Sau khi mọi người lắng nghe, thán phục, tôn vinh Chúa Giêsu, thì  ngay lặp tức họ liền bàn tán xôn xao về thân thế sự nghiệp của Ngài. Ý chính của bài Tin Mừng Luca 4, 24-20 nói lên việc dân làng từ chối tiếp nhận Lời Ngài, nói rõ hơn họ từ chối chấp nhận con người của Ngài và phản ứng của Chúa Giêsu trước sự chai lỳ cứng lòng của họ.

Người Do thái trong hội đường Nazareth đã tìm cách hãm hại Chúa Giêsu khi Ngài lên tiếng chê trách niềm tin của họ. Có lẽ ai trong chúng ta cũng bất bình về việc làm của những người này. Nhưng kỳ thực trong cuộc sống, lắm lúc chúng ta đã sao chép lại nguyên bản việc làm ấy: tự hào là người Kitô hữu, là người nắm giữ niềm tin, nhưng rồi với một mớ lễ nghi hình thức, niềm tin trong chúng ta chỉ là ngọn đèn leo lét chực tắt trước gió. Chỉ là thân cây mất hết nhựa sống chờ ngày gẫy đổ

Chẳng có một tiên tri nào được tiếp đón tử tế ở quê hương mình. Lời tựa của Tin mừng Gioan ghi rằng “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11), buồn thay đã được minh họa nơi dân chúng tại Nagiarét, nơi Đức Giêsu lớn lên. Họ tức giận khi nghe Đức Giêsu nhắc đến sứ điệp về lòng quảng đại của Thiên Chúa trải rộng đối với lương dân, và họ muốn giết Ngài.

Biến cố này chuẩn bị cho chúng ta việc chính dân riêng của Chúa khước từ Đức Giêsu sẽ xảy ra tại Giêusalem. Đức Giêsu đã đau khổ nhiều vì những lần bị khước từ trong cuộc đời rao giảng của Ngài.

           Khởi đầu câu 24 là một nhận định của Chúa Giêsu khi thấy dân làng mình xầm xì bàn tán “Tôi bảo thật, không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình” lời nhận định này nói lên một kết quả “đau thương” mà bất cứ một vị ngôn sứ nào cũng phải trải qua. Ông bà ta có câu “Gần chùa gọi bụt bằng anh” hoặc “Bụt nhà không thiêng” cũng mang ý nghĩa tương tự. Vì sao ngôn sứ không được chấp nhận?

Chúa Giêsu lên tiếng giảng giải cho họ bằng một định đề và hai ví dụ minh họa. Ngài nêu định đề trước : “Không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình”. Rồi Ngài lấy hai ví dụ dẫn chứng về hai ngôn sứ lớn Êlia và Êlisa được sai đến với hai người dân ngoại đó là bà góa thành bà goá thành Xarépta miền Xiđon và ông Naaman người xứ Xyria. Định đề và hình ảnh minh họa này đã làm cho đám người Do Thái khó chịu. Họ bực tức vì Chúa Giêsu đã khen dân ngoại ngay trước mặt họ, họ cảm nhận như thể dân ngoại đã được Thiên Chúa ưu đãi hơn chính họ. Họ đã phản ứng, và cách họ phản ứng thật đáng cho chúng ta quan tâm : Họ “đầy phẫn nộ”, “lôi Người ra khỏi thành”, “kéo Người lên tận đỉnh núi”, “để xô Người xuống vực”... Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã “băng qua giữa họ mà đi”.

          Có lẽ vì ngôn sứ nói lời của Chúa, chứ không chiều theo sở thích toàn dân. Có lẽ vì người ta thường nhìn đến thân thế, dòng họ hơn là tài năng Thiên Chúa ban cho con người. Họ có định kiến từ trước, một lập trình có  sẵn trong tư tưởng “Người này không phải là con bác thợ mộc, con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse , Simon và Giuđa sao?” (Mt 13, 55).

Có lẽ họ biết Chúa Giêsu rất rõ bằng con mắt trần thế, nên họ “Bị mù” về con mắt thiêng liêng khi không nhận ra vị tiên tri cao cả đang ở với họ. Vì thế Chúa Giêsu đã nói thẳng, nói rõ cho họ về cách đồi xử của dân làng đối với một vị ngôn sứ, chứ Ngài không xác định mà chỉ là ám chỉ Ngài là vị ngôn sứ đang bị chính dân làng, bị chính dân tộc Israel ruồng bỏ.

Để xác minh cho vấn đề mình đưa ra, Chúa Giêsu đã dẫn chứng hai ví dụ cụ thể trong Cựu Ước nói lên sự cứng lòng của dân Israel và Thiên Chúa đã quay lưng với họ. Ngài chúc lành cho dân ngoại là những người tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa.

           Câu 26, Chúa Giêsu dẫn chứng về truyện ngôn sứ Êlia đã cứu sống bà goá thành Xa-rép-ta và đứa con trai của bà (1v 17, 7-24 ). Bà goá dân ngoại này đã nhận ra Êlia là vị ngôn sứ của Thiên Chúa, là người của Thiên Chúa. Bà đã tin và làm theo lời ông Êlia truyền dạy và bà được tưởng thưởng xứng với lòng tin của bà. Câu 27 nói về việc ông Na-a-man, một tướng chỉ huy quân đội của Vua A-ram được chữa lành. Ông là người dân ngoại bị mắc bệnh phong cùi. Ông được khỏi bệnh vì ông đã lắng nghe đầy tớ đề nghị, khuyên răn ông làm theo lời của Ngôn sứ Êlia. Ông thay đổi cái nhìn, hoán cải nội tâm và ông được chữa lành (2V 5,1-14 ).

Chúa Giêsu đứa ra 2 điển tích trên như một lời cảnh tỉnh lòng dân miền Galilê. Thiên Chúa sẽ thương xót và ban ơn cho những ai thành tâm kêu cầu Ngài, mặc dù người đó không phải là dân Ngài tuyển chọn (dân Israel) không phải là dân được cắt bì hay tuân giữ luật Mô-sê.

             Phản ứng của người dân Galilê thế nào khi đứng trước những lời tố cáo, vạch trần bộ mặt thật của Chúa Giêsu đối với họ?. Trong câu 28 và 29, Thánh sử Luca đã nêu rõ những hành vi đầy giận dữ của họ: “phận nộ”, “lôi ra”,  “kéo lên” “xô xuống”, toàn là những hành động biểu lộ thái độ đầy ác tâm. Họ muốn khai trừ Chúa Giêsu chỉ vì Ngài quá biết rõ họ. Phản ứng bên ngoài để lộ tâm tà ác ý bên trong. Nếu tâm của họ tốt, ý của họ lành... thì họ đã kịp ăn năn sám hối, nhận ra lỗi lầm trước lời cảnh báo của Chúa Giêsu. Nhưng ở đây họ biểu lộ thái  độ căm phẫn, muốn loại trừ con người đã biết, đã lên án tâm địa mưu mô của họ.

Đứng trước phản ứng của dân làng, Chúa Giêsu có thái độ rất bình tĩnh. Ngài như đoán trước điều sẽ xảy ra, nhưng “Giờ” chưa đến, Ngài  chưa thể chết khi sứ mệnh chưa hoàn thành. Ngài không thể chết ngoài thành Giêrusalem. Như lời tiên báo của các ngôn sứ. Ngài hiên ngang đi qua giữa họ (c 30). Một thái độ không xao động, không nao núng trước những chống đối có “bạo lực” của dân làng.

              Đó là phản ứng của Chúa. Đó là lối hành xử của người dân làng Galilê. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta có thái độ nào trước những lời góp ý “tận gốc” của anh chị em, trước những sửa dạy của người có trách nhiệm trên ta? Hoặc trước những lời khen, chê , mỉa mai, thậm chí có khi mang tính chống đối, loại trừ của anh em đồng loại?  Hãy nhìn lên Đức Kitô, một Đức Kitô  chịu đóng đinh, một Đức Kitô đội mão gai, chịu đánh đòn, chịu xỉ nhục mắng nhiếc. Ngài vẫn bình tĩnh đón nhận, thậm chí còn cầu nguyện cho những kẻ làm hại Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm”. ( Lc 23,34)

Chúa Giêsu đã mạnh dạn bước trên dư luận, Ngài không bận tâm phản ứng lại đối phương khi họ đang tức giận. Ngài tự tin vì Ngài giữ bên mình một sự thật toàn vẹn. Ngài không cần phản ứng để bảo vệ sự thật, vì sự thật là chính nó, sự thật tự nó đứng vững và sự thật là toàn vẹn. Nếu mỗi chúng ta sống với sự thật, nếu mỗi chúng ta có sự thật trong lòng, chúng ta có thể như Chúa Giêsu, có thể bước qua bất kỳ đám đông nào và băng qua bất cứ phản ứng thắc mắc nào, để hiên ngang bước đi.

Thứ Ba trong tuần thứ Ba Mùa Chay

Đn 3:25,34-43; Tv 25:4-5,6-7,8-9; Mt 18:21-35

THA THỨ LUÔN LUÔN

Câu chuyện nước trời là câu chuyện của mỗi người chúng ta. Món nợ ân sủng, nợ tình yêu mà ta lãnh nhận từ Thiên Chúa làm sao có thể trả nổi. Từ khi thành hình bào thai trong lòng mẹ ta đã mắc nợ rồi - một món nợ tình, nợ ân. Mười ngàn nén vàng là bao nhiêu! Một trăm quan tiền là bao nhiêu! Thế nhưng cuộc sống con người vẫn mãi ích kỷ, so đo tính toán, bởi vì lòng người chai đá không cảm được ân  tình Thiên Chúa, không biết xót thương anh em.

Sống trong xã hội ngày nay, dường như người ta cho rằng lòng tha thứ là một sự yếu kém, ủy mị, nhu nhược ! Ðã có biết bao thảm họa, bi kịch diễn ra mỗi ngày chỉ vì sự trả thù, "ăn miếng trả miếng". Dường như đó là "lẽ công bằng" của cuộc đời ? Là "đấu tranh sinh tồn" ? Thực không dễ dàng gì để thực hiện mệnh lệnh tha thứ này.

Thật thế, để trở thành môn đệ Ðức Giêsu, chúng ta phải tha thứ, phải "chín bỏ làm mười" ; vì đó là một trong những điều tất yếu làm nên đời sống Kitô giáo; vì đó là điều ta phải thực thi trước khi cầu nguyện "xin tha cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người mắc lỗi với chúng con". Nói cách khác, nếu chúng ta cầu xin Thiên Chúa tha thứ cho mình thế nào, thì chúng ta phải biết tha thứ cho người khác như vậy.

Vâng, từ khi là bào thai ta đã mắc nợ; nợ cưu mang chín tháng với bao trìu mến yêu thương ấp ủ Thiên Chúa chuyển trao qua mẹ cha. Mở mắt chào đời, mối ân tình bao bọc vây quanh còn lớn hơn nữa; Bàn tay yêu thương quan phòng của Thiên Chúa vẫn tiếp tục nâng bước đời sống con người: cả bầu vũ trụ vạn vật như những đầy tớ siêng năng, cần mẫn phục vụ, tặng ban cho ta tinh hoa đất trời, tinh hoa con người cho ta được lớn lên thành người, thành con Thiên Chúa. Món nợ ta mang là món nợ tình nên chỉ có thể trả được bằng nghĩa yêu thương. Thiên Chúa đã muốn như thế, vì Ngài đã dựng nên con người giống hình ảnh Ngài có tự do, lý trí và có trái tim yêu. Nhưng tình Chúa mênh mang là thế, còn tình người cho biếu được bao nhiêu?!

Mười ngàn nén vàng – một trăm quan tiền – một so sánh tuy rất sơ tạm nhưng cũng cho thấy một lên tới trời, một ở dưới đất. Nhưng tình vốn dĩ là cho không biếu không: “Tôn chủ của tên đầy tớ ấy liền chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ” (c.27). Thiên Chúa đã tha thứ tội nợ cho chúng ta; và tình yêu vốn dĩ thể hiện cao nhất ở khả năng tha thứ. Nhờ Đức Giê-su Ki-tô chúng ta được tẩy sạch muôn vàn tội lỗi: “Trong Thánh Tử, nhờ máu Thánh Tử đổ ra, chúng ta được cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi theo lượng ân sủng rất phong phú của Người.” (Ep 1,7).

Ta nên nhớ rằng Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân (x. Rm 5,8). Thế có lý do nào miễn cho chúng ta xót thương người anh em? Thế nhưng có câu ‘tình đời bạc đen’. Con người vẫn cứ mê lầm lẩn quẩn trong vòng hỷ, nộ, ai, ái, ố, dục, cụ.

Và người ta cứ thích lấy cái rơm trong mắt người anh em hơn cái xà trong mắt mình (Mt 7, 3 -4). Vì thế, chúng ta sẵn sàng tính sổ với anh em vì một món nợ nhỏ mà không hề mảy may nghĩ đến mình đã được tha một món nợ khổng lồ cách nhưng không. Tên đầy tớ trong dụ ngôn xem ra có vẻ bạc ác, phi lý; nhưng đó lại là thái độ của mỗi người chúng ta.

Dụ ngôn thật thâm thúy, có tính giáo dục cao, nó giống như vở bi hài kịch; nhưng thực tế trong cuộc sống, mấy ai nhận ra được mình đóng một vai diễn chính gây phẫn uất trong đó. Chúng ta sẵn sàng vung dao khi người anh em làm chúng ta xây xát. Chúng ta sẵn sàng đạp người anh em xuống bùn đen, khi họ lỡ làm lòng tự trọng cuả chúng ta bị tổn thương…. Chúng ta thích bắt bẻ người anh em những lỗi lầm mà chính chúng ta vẫn thường khi mắc phải. Và chúng ta thích ngồi chiếc ghế thẩm phán hơn là chiếc ghế của bị cáo.

Mùa chay, mùa của kiểm điểm, sám hối ăn năn. Mỗi người chúng ta ai cũng mong mình được Thiên Chúa tha thứ tội nợ. Ngài đã tha thứ tội nợ cho chúng ta, nhưng việc chúng ta tha thứ cho anh em mình là một hành động mở rộng tấm lòng để ơn cứu rỗi của Thiên Chúa đổ vào tâm hồn chúng ta.

Tha thứ - một hành vi không dễ dàng - Chỉ khi nào có trái tim yêu đích thực người ta mới có thể tha thứ thực sự không tính toán. Hãy lặng thinh, nhìn lên chiêm ngắm Đấng chịu đóng đinh, tuy chịu nhục hình vẫn nói lời tha thứ cho kẻ giết mình, để xin Thiên Chúa hoán cải lòng chúng ta; xin Chúa “cất khỏi mình chúng ta quả tim chai đá và ban tặng cho chúng ta quả tim biết yêu thương” (x.Ed 36,26) để chúng ta có thể tha thứ như lời Thầy Giê-su đã dạy – tha bảy mười lần bảy, tha không giới hạn.

Chúa Giêsu truyền phải tha thứ lẫn cho nhau. Cũng như tình yêu, sự tha thứ này phải vô giới hạn. Chính nhờ vậy, con người trở thành hình ảnh của Thiên Chúa-Tình yêu (chứ không phải của Thiên Chúa-Thẩm phán), và nhờ đó được hưởng lòng thương xót của Thiên Chúa, là hồng ân đặc biệt Thiên Chúa trao tặng trong trật tự tình yêu. Ðây cũng là hình ảnh trung thực của Thiên Chúa mà Ðức Giêsu có sứ mạng tái lập nơi con người.

Một tấm lòng bao dung thật khó kiếm. Bởi thế, mời gọi sự tha thứ đến tận cùng, thánh Mathêu muốn vẽ lên hình ảnh Thiên Chúa đầy lòng xót thương. Ân sủng Người vượt quá mọi ước tính và trí tưởng tượng. Nếu biết điều, con người phải có một thái độ hợp lý. Bài học hôm nay đòi con người phải có một cái nhìn sâu xa vào chính nguồn ân sủng của Thiên Chúa nơi chính mình. Không có đức tin, không thể biết tại sao phải tha thứ cho anh em. Tha thứ là một điều kiện cần thiết để không bị hụt mất những ân sủng lớn lao.

Thứ Tư trong tuần thứ Ba Mùa Chay

Đnl 4:1,5-9; Tv 147:12-13,15-16,19-20; Mt 5:17-19

LUẬT YÊU THƯƠNG

           Nhìn vào xã hội chúng ta đang sống cũng có biết bao nhiêu thứ luật lệ. Thật vậy, luật lệ được đặt ra nhằm đảm bảo cũng như phục vụ cho nhu cầu và lợi ích của con người. Nhưng ngày nay cũng có những điều luật phá vỡ tình người, làm băng hoại đạo đức và đi ngược lại ý muốn của Thiên Chúa như: cho phép ly dị, phá thai, hay chấp nhận hôn nhân đồng tính…

Giáo hội không đồng tình với những đạo luật này. Là những người Kitô hữu, chúng ta có chọn đứng về phía Giáo Hội? Chúng ta có thấy những luật lệ của Giáo hội làm mất sự tự do của chúng ta chăng? Luật giữ ngày Chúa nhật hay luật hôn nhân Công giáo có làm mất đi sự thoải mái của chúng ta trong cuộc sống không? Thái độ của chúng ta trong việc thực thi những điều luật này như thế nào?

Luật Môsê và lời các ngôn sứ là những điều cốt yếu trong Thánh Kinh, nhằm biểu lộ thánh ý của Thiên Chúa, đó là những điều rất cao cả và quan trọng, là thước đo lòng yêu mến của con người đối với Thiên Chúa, là tiêu chuẩn của sự thánh thiện, là con đường đi tới ơn cứu độ. Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu làm sáng tỏ những chiều kích ấy, và Ngài làm cho nó nên trọn hảo, có ý nghĩa chân thực đúng thánh ý Thiên Chúa hơn. Nhờ đó, chúng ta tuân giữ giới luật của Thiên Chúa có giá trị mới mẻ đúng Tin Mừng hơn.

Luật mà Chúa Giê-su đề cập ở đây là Luật của Thiên Chúa ban cho Mô-sê trên núi Si-nai, là Mười Điều Răn. Luật này tóm gọn luật luân lý tự nhiên được Thiên Chúa đặt để trong lương tâm mỗi người, vì thế, Luật này có giá trị muôn thuở, tuyệt đối và đòi buộc tất cả mọi người. Mọi xáo trộn trong các mối tương quan đều do không tuân giữ Luật này. Người Do Thái tưởng Chúa Giê-su đến loan báo một Thiên Chúa nào khác và một thứ luật xa lạ. Nhưng không, Thiên Chúa mà Giê-su loan báo là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp và Lề Luật Ngài kiện toàn là Lề Luật Thiên Chúa ban.

          Đối với Ngài, điều cốt yếu để sống Luật Chúa trọn hảo là thi hành Luật với tình yêu, vì tất cả Luật Mô-sê và các sách Ngôn Sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn: mến Chúa, yêu người (Mt 22,40). Nơi Chúa Giê-su, tình mến Chúa và yêu người được diễn tả trọn hảo. Ngài là hiện thân tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người và là tình yêu của con người phải có dành cho Thiên Chúa. Nếu tình yêu là chìa khóa kiện toàn Luật, thì Luật đã được kiện toàn trong Chúa Giê-su.

Hẳn ta còn nhớ Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bải bỏ luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải để bải bỏ, nhưng là để kiện toàn”. Lời nói ấy Chúa Giêsu có ý biểu lộ mối tương quan và lập trường của Ngài đối với toàn bộ Kinh Thánh Cựu Ước.

Thiên Chúa của chúng ta không phải là con người bảo thủ, cứng nhắc, Ngài cũng không chủ trương cách mạng, thay đổi tất cả nhưng là kiện toàn. Chúa Giêsu đem lề luật đến chỗ thập toàn, đạt được ý nghĩa tròn đầy, đích thực và cánh chung, đúng ý của Thiên Chúa. Chúa Giêsu nói: “Luật dạy người xưa… Còn Thầy, Thầy bảo…” như vậy, chúng ta nhận ra Chúa Giêsu là người lập luật cao hơn Môsê, và Ngài đưa luật về sự tinh tuyền nguyên thủy với những yêu sách trước tiên nơi lòng dạ chính trực của con người. Chúa Giêsu đưa ra vài sự kiện điển hình: Ngài không chỉ kết án tội sát nhân, mà còn những tình cảm trong lòng dẫn đến tội sát nhân, có mức độ tăng dần như nóng giận rồi mắng nhiếc, chửa rủa và án phạt tương ứng tăng dần từ địa phương đến Thượng Hội Đồng, và đến lửa hỏa ngục.

Khi nói đến tội ngoại tình, Ngài nói: Ai nhìn người nữ mà có lòng thèm muốn thì đã phạm tội rồi. Ngài còn đi đến mức dứt khoát: “Nếu mắt ngươi làm cớ cho ngươi phạm tội thì hãy múc nó đi, nếu là tay, là chân thì hãy chặt nó đi”. Chúa cũng phân định luật yêu thương là luật cao hơn mọi luật khác. Do đó chúng ta thấy có một sự nối tiếp và nên trọn từ Cựu Ước sang Tân Ước.

Nhờ đó luật đem lại lợi ích tối đa cho chúng ta là những người tuân giữ luật cách trọn vẹn như Chúa Giêsu đã nói: “Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong luật cũng sẽ không qua đi cho đến khi mọi sự được hoàn thành”, tức là đến lúc Chúa Giêsu thiết lập một trật tự mới. Chúa Giêsu còn đặt để cho luật có một giá trị siêu nhiên: “Ai giữ và dạy người khác như thế, là người lớn trong nước trời”.

Giữ và dạy bằng chính cuộc sống của mình, giữ trọn là giữ cả trong cuộc sống và việc làm, giữ các điều lớn, và điều nhỏ cũng không được bỏ qua, giữ luật và tập các nhân đức nữa. Giữ với tinh thần mới mẻ là đặc quyền ưu tiên cho thái độ nội tâm, giữ luật Tân Ước vượt qua Cựu Ước sâu xa khi người Kitô hữu đặt mình dưới cái nhìn của Thiên Chúa, chứ không phải là cái nhìn của con người.

Làm một người Kitô hữu, chúng ta phải sống trọn vẹn tinh thần của luật Tin Mừng, để làm chứng cho nước Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta, và diễn đạt thánh ý Thiên Chúa qua chính đời sống của mình như là con người của Nước Trời. Khi chúng ta giữ luật Tin Mừng cách trọn hảo đầy đủ, chúng ta làm chứng cách hùng hồn hiệu quả và giá trị của Tin Mừng, chúng ta được trở nên hoàn thiện, nói lên lý tưởng và cùng đích cuộc sống của chúng ta. Chúng ta phải tuân giữ luật Chúa với lòng yêu mến Chúa và tôn trọng luật, vì đó là thánh ý của Chúa. Chúng ta giữ luật không chỉ với mục đích thánh hóa bản thân, mà còn mang ý hướng tông đồ là nêu gương và dạy cho người khác bằng chính đời sống của mình. Trong tâm tình và ý hướng của mùa chay, chúng ta duyệt xét và chỉnh đốn cách giữ luật và tâm tình giữ luật của chúng ta, để chúng ta chỉnh đốn lại hầu đạt được con người mới, con người của Tin Mừng, con người của ơn cứu độ.

Trang Tin Mừng hôm nay, Chúa đã khẳng định một cách rõ ràng rằng Ngài đến không phải để hủy bỏ nhưng để kiện toàn lề luật. Chúa Giêsu đến dạy cho con người biết tình yêu là giá trị và quy luật cao cả nhất của cuộc sống. Chỉ khi có tình yêu thì lề luật mới làm cho con người cảm thấy tự do đích thực. Ngài dạy chúng ta biết giữ luật không phải vì bổn phận nhưng là vì lòng mến. Chúng ta phải giữ luật theo ý hướng của Chúa Giêsu thì mới trở thành công dân Nước Trời.

Ta sẽ chu toàn các giới răn chỉ khi chúng ta vâng giữ bằng tình yêu, vì Chúa Giêsu đã tóm gọn lề luật này cho chúng ta trong lệnh truyền: “Hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi và phải yêu người thân cận như chính mình” (Mc 12, 30-31).

Với tất cả những điều đó, hãy nhớ rằng kiện toàn các giới răn bằng việc tuân giữ với lòng yêu mến, chứ không phải vì sợ bị trừng phạt và hướng dẫn người khác tuân giữ các giới răn với lòng mến. Khi đó, bạn sẽ được gọi là người lớn nhất trong Nước Trời.

 

Thứ Năm trong tuần thứ Ba Mùa Chay

Gr 7:23-28; Tv 95:1-2,6-7,8-9; Lc 11:14-23

ĐỪNG NGOAN CỐ !

Hẳn ít nhiều ta nhớ bài đọc 1, trích trong sách ngôn sứ Giêrêmia (7, 23-28). Với đoạn sách rất ngắn này, người đọc sẽ dễ dàng nhận ra Phụng vụ Lời Chúa hôm nay phác họa Thiên Chúa như một người cha đau khổ, hiểu rõ tâm tính đứa con ngỗ nghịch, ương bướng mà Người chưa thể uốn dạy.

Thật vậy, trải qua những thăng trầm của lịch sử cứu độ, không chạnh lòng, không xót xa sao được khi dân Israel cứ theo những suy tính của mình, theo tâm địa ngoan cố xấu xa, ...Ta nhớ lại từ ngày cha ông chúng ra khỏi đất Aicập tới nay, ngày này qua ngày khác, Ta không ngừng sai tất cả các tôi tớ của ta là các ngôn sứ đến với chúng, nhưng chúng đã không nghe, cũng chẳng để tai, lại ra cứng đầu cứng cổ... Còn nơi trình thuật Tin Mừng, hẳn cũng sẽ có người ít nhiều bức xúc vì sự ngoan cố đến trơ trẽn của một số người chứng kiến Chúa Giêsu trừ một quỷ câm nhưng đã dám cả gan xuyên tạc, vặn vẹo, thách thức Ngài.

Sự ngoan cố này mội người chúng ta nhớ đến tội chống Thánh Thần (Mt 12, 22-32), tội duy nhất không được tha, không phải vì Chúa không tha, mà vì con người không muốn được tha.

Trong thế giới hiện đại, cám dỗ và tội lỗi được mặc dưới những lớp áo hấp dẫn và lôi cuốn. Nó mời gọi con người qua nhiều cách thức, đánh lừa cảm giác của chúng ta, thậm chí đánh lừa cả lương tâm của chúng ta. Như chị thỏ bông bao lần "tặc lưỡi" cho qua, bao lần cảm thấy bứt rứt lương tâm vì đã lỗi phạm nhưng rồi vẫn tiếp tục con đường sa ngã. Những cám dỗ của vật chất, hưởng thụ, cám dỗ của đời sống tầm thường và dễ dãi đang kéo con người xa dần Thiên Chúa. Chúng ta nhiều khi cũng vô tình "tặc lưỡi" để buông xuôi theo tội lỗi. Đó chính là những lúc chúng ta thỏa hiệp cùng ma quỷ, bội phản lại tình yêu của Thiên Chúa dành cho mình.

Tin Mừng cho chúng ta niềm tin Thiên Chúa luôn hiện diện trong cuộc sống, Ngài xua trừ ma quỷ và cứu giúp con người trong mọi cảnh huống. Hôm nay, Ngài trừ một tên quỷ câm, quỷ xuất rồi thì người câm nói được. Nhưng một số người trong đám đông chứng kiến việc Chúa làm thì cho rằng: "Ông ấy dựa thế quỷ vương Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ." Trong suốt hành trình rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu luôn chữa mọi bệnh hoạn tật nguyền cho những người mà Chúa gặp gỡ, đặc biệt những ai có lòng tin vào Ngài.

Tuy nhiên, không phải lúc nào Ngài cũng nhận được sự tán thưởng của dân chúng mà ngược lại, nhiều khi lại bị người Do Thái phản bác. Mọi việc Ngài làm đều tốt đẹp nhưng luôn bị người Phariseu phản đối. Dù thế nào, dù con người nhiều khi không đón nhận thì tình thương của Chúa vẫn dành cho họ, Ngài vẫn chữa lành mọi bệnh tật thân xác cũng như tâm hồn cho họ. Và Ngài cũng khẳng định: "Ai không đi với tôi là chống lại tôi, và ai không cùng tôi thu góp là phân tán ". Dù biết con người chống lại mình và phân tán đấy, nhưng tình thương của Ngài không vì thế mà rút lại, Ngài vẫn hiện diện bên họ và sẻ chia thân phận con người cùng họ.

Thái độ không muốn thể hiện qua việc chối từ đến cùng sự thật mà con người đã thấy, đã biết. Trong khuôn khổ Tin Mừng hôm nay, sự thật ấy chính là Chúa Giêsu có quyền trên ma quỷ, có quyền tha và hằng sẵn lòng tha thứ mọi tội lỗi của con người, nếu con người thành tâm sám hối trở về. Một mặt, điều này không mới lạ, cũng chẳng khó khăn để các Kitô hữu tiếp nhận như một tín điều ; nhưng thực tế đời sống lại cho thấy, đây thật sự là một thách đố mà không phải bất cứ ai đã chịu phép rửa đều có thể vượt qua.

Thay vì thấy phép lạ Chúa Giêsu làm thị thán phục và ca tụng Thiên Chúa thì họ lại cho rằng Chúa Giêsu lấy quyền quỷ cả trừ quỷ con. Chúa Giêsu đưa họ trở về với thực tại là không có nước nào tự chia rẻ được, nước Satan cũng thế và Nước Thiên Chúa đang hiện diện giữa họ đầy uy quyền mạnh mẽ. Qua việc này Chúa muốn cho họ nhận thấy dấu chỉ Nước Thiên Chúa mà tin nhận Chúa. Mặt khác Chúa Giêsu muốn con người ta chọn Chúa hay không chọn Chúa, không có sự ưỡm ờ, bởi đây là lúc quyết định Nước Thiên Chúa đang đến. Tâm hồn không để chỗ cho Chúa ngự thì chắc là không có Chúa.

Thật thế, giữa vô vàn khó khăn, rắc rối, hãi sợ, lo toan giữa dòng đời, nhiều người trong tôi, bạn và anh chị đã không thể vững tin khi Chúa vẫn im lặng, đã vội tìm giải quyết những rắc rối, vội tìm con đường giải thoát khỏi vòng kiềm tỏa của quỷ ma bằng những phương cách đi ngược lại niềm tin Kitô giáo, đi ngược lại mặc khải của Chúa và giáo huấn của giáo hội. Thậm chí, nhiều người trong chúng ta còn rơi vào tình trạng ngoan cố đáng thương khi để mình vấp phạm bởi thiếu sự hiểu biết cần thiết về cơ chế trong giáo hội hoặc bởi thiếu khả năng phán đoán trưởng thành về gương sống chưa lành mạnh của một bộ phận linh mục, tu sĩ, hoặc tông đồ giáo dân.

Hóa ra để thêm chút tro của lòng sám hối, để thêm chút tình của người con nhận ra mình đã làm phiền lòng cha mẹ quá nhiều, để chứng tỏ sự cương quyết trong việc dứt khoát với tội lỗi, bỏ đàng quanh co mà trở về với Chúa, với Lòng Trời, thiết nghĩ ta cần mở lòng để cho Lời Chúa soi dẫn, chất vấn và mời gọi. Biết đâu ta cũng đang ngoan cố không nhìn nhận những phép lạ lớn nhỏ Chúa hằng thực hiện trong đời ta, biết đâu ta cũng đang chai lì trong những toan tính xấu xa, ...? Chúa thấy rõ lòng ta, Chúa biết rõ những toan tính của ta. Chúa biết ta lỗi tội, Chúa biết ta yếu đuối, Chúa biết ta giả dối,… nhưng Người vẫn không ngừng lên tiếng gọi mời và đón đợi. Lòng Thương Xót của Thiên Chúa là như vậy, Tình của người Cha nhân hậu là như thế.

Và rồi ta thấy Mùa chay đã đi qua nửa chặng đường. Qua tâm tình của Tin Mừng hôm nay, ước gì mỗi chúng ta thêm xác tín vào lòng xót thương và sự thông biết vô lường của Chúa, để ta thoát khỏi vết xe đổ ngoan cố của tiền nhân. Xin cho ta biết hoán cải và sớm tìm được nẻo về, sớm xoa dịu Lòng Thương Xót của Chúa vốn thổn thức xót đau quá nhiều vì ta.

 

Thứ Sáu trong tuần thứ Ba Mùa Chay

Hs 14:2-10; Tv 81:6-8,8-9,10-11,14,17; Mc 12:28-34

HÃY YÊU NHƯ THẦY ĐÃ YÊU

Trang Tin Mừng hôm nay tường thuật về cuộc trao đổi thân tình và cởi mở giữa Chúa Giêsu và một kinh sư về một chủ đề thần học rất quan trọng của Do Thái giáo và cũng là của Kitô giáo.

Câu hỏi được vị kinh sư đặt ra là “Trong mọi điều răn, điều răn nào đứng hàng đầu? tức điều răn nào quan trọng nhất?” Chúa Giêsu trả lời cho ông biết một điều cốt lõi của luật đó là: “Điều răn đứng hàng đầu là: Nghe đây hỡi Israen, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, là Đức Chúa duy nhất. Người phải yêu mến Đức Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: ngươi phải yêu mến người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều răn đó”.

Cả hai điều luật này được Chúa Giêsu nhắc lại cho người Do Thái, nhưng thực ra, là lệnh truyền của Thiên Chúa đã dạy từ lâu trong Cựu Ước, qua ông Môsê.

"Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi.. Còn đây là giới răn thứ hai: "Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi".

Là môn đệ của Chúa, chúng ta hiểu Luật Chúa là giới răn quan trọng, nên đòi buộc chúng ta tuân giữ, sống và thực hành trong đời sống của mình hằng ngày. Vì có sống Luật Chúa mới bảo đảm được vào Nước Thiên Chúa.

“Yêu Chúa và yêu người” là bổn phận của chúng ta đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân. Yêu Chúa là yêu hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn. yêu Chúa trên hết mà không chia sẻ cho bất cứ thụ tạo nào khác; Luôn đặt Chúa lên trên hết, và đặt Chúa làm chủ của mình; luôn qui phục một mình Ngài, thờ phượng Ngài, vâng phục Ngài.

Thiên Chúa là Đấng quyền năng đã hạ mình xuống mang thân phận con người để cứu chúng ta khỏi ách tội lỗi và sự chết. Yêu người một cách “sơ sơ” thì dễ nhưng “yêu như chính mình” thì thật khó. Yêu thương những người nổi tiếng, lịch sự, xinh đẹp, giàu có thì dễ, nhưng thật khó biết bao khi yêu thương những người nghèo khổ, dốt nát, người hay gây phiền toái cho ta. Yêu thương những người mang lợi lộc đến cho ta thì dễ nhưng khó mà yêu thương kẻ thù của ta, những người hàng xóm khó tính, keo kiệt, những người nghèo lang thang đầu đường xó chợ…Đòi hỏi của Chúa

Yêu Chúa cũng đòi phải yêu tha nhân. Như Chúa dạy: “Ngươi hãy yêu thương tha nhân như chính mình”. Hẳn ta còn nhớ Đức Khổng Tử cũng khuyên đồ đệ: "Điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác". Còn Chúa Giêsu dạy các tín hữu chúng ta thực hành theo hướng tích cực: "Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Môsê và lời các ngôn sứ là thế đó" (Mt 7, 12).

Người kinh sư đặt ra một câu hỏi thật xác đáng và Chúa Giêsu cũng đã chỉ rõ điều luật quan trọng nhất đó là “Kính mến Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn”. Đây là điều răn quan trọng và cũng là điều khó thực hiện. Vì bản tính con người là thích chạy theo tà thần với vẻ hào nhoáng bên ngoài, những vị thần của quyền lực, tiền bạc, dục vọng …có khả năng làm thỏa mãn những nhu cầu của con người.

Ta thấy đòi hỏi của Thiên Chúa có tính quyết liệt, dứt khoát phải tôn thờ Thiên Chúa trọn cả con người với mọi ước muốn thâm sâu trong tâm hồn và thể xác. Con người thường có thái độ “chân trong chân ngoài”, nghĩa là theo Chúa nhưng còn tìm kiếm và chạy theo những vị thần khác.

Những vị thần có hình tướng và cả những vị thần vô hình vô tướng, đó là một thứ thần nguy hiểm và đáng sợ. Đó là thần tham lam dối trá, ghen ghét, thù hận, đam mê xác thịt, hưởng lạc và nhiều những thói hư tật xấu khác. Đó là những thứ thần ngấm ngầm ăn sâu vào tận xương tủy con người. Hơn ai hết Chúa Giêsu hiểu được rằng con người dễ chạy theo những quyến rũ của thế gian mà lãng quên hoặc tôn thờ Chúa một cách nửa vời, đó là một mối nguy hiểm.

Điều thứ hai không kém phần quan trọng đó là “yêu người thân cận như chính mình”. Chúng ta phải kính mến Thiên Chúa vì Người là Đấng sáng tạo và làm chủ muôn vật muôn loài, trong đó con người được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, được Thiên Chúa cứu chuộc bằng giá máu và mạng sống của Chúa Giêsu Con Một yêu dấu của Thiên Chúa. Kính mến Thiên Chúa cụ thể là yêu thương tôn trọng con người. Cả cuộc đời của Chúa Giêsu chỉ canh cánh có một điều là yêu thương và cứu chuộc loài người.

Thiên Chúa là Đấng quyền năng đã hạ mình xuống mang thân phận con người để cứu chúng ta khỏi ách tội lỗi và sự chết. Yêu người một cách “sơ sơ” thì dễ nhưng “yêu như chính mình” thì thật khó. Yêu thương những người nổi tiếng, lịch sự, xinh đẹp, giàu có thì dễ, nhưng thật khó biết bao khi yêu thương những người nghèo khổ, dốt nát, người hay gây phiền toái cho ta. Yêu thương những người mang lợi lộc đến cho ta thì dễ nhưng khó mà yêu thương kẻ thù của ta, những người hàng xóm khó tính, keo kiệt, những người nghèo lang thang đầu đường xó chợ…Đòi hỏi của Chúa

Chính Chúa là mẫu gương cho chúng ta yêu người, và là dấu hiệu của người môn đệ của Chúa: "Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau" (Mc 13, 34-35).

Ngài đã dám thí mạng sống mình cho người mình yêu (Ga 15, 13). Ngài đã phục vụ ngay cả người môn đệ của mình bằng việc cúi xuống rửa chân cho các môn đệ (Ga 13, 5.13), để làm gương cho chúng ta hôm nay. Là môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta hãy sống như Thầy Giêsu.

Khi thật sự yêu thương là sẵn sàng tha thứ cho tha nhân, sẵn sàng làm hòa với nhau: "Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình" (Mt 5,23-24).

Tình yêu thương nhau phải chân thành, không giả tạo, như Thánh Gioan đã khẳng định: "Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối. Vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy... Ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu thương anh em mình" (1 Ga 4, 20-21). 

Trong thực tế, ta thấy rất rõ rằng tình yêu thể hiện qua việc chia sẻ cho nhưng người nghèo đói: “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm". (Mt 25, 35-36). Thật hạnh phúc cho chúng ta, vì Chúa sẽ ban thưởng cho chúng ta còn hơn gấp bội: "Phúc cho ai biết thương xót thì họ sẽ được Thiên Chúa thương xót" (Mt 5, 7).

Và rồi ta thấy rằng Mùa Chay chính là là thời gian thuận tiện để nhắc nhở chúng ta thực hành giới luật “Yêu Chúa và Yêu người”.

 

Thứ Bảy trong tuần thứ Ba Mùa Chay

Hs 6:1-6; Tv 51:3-4,18-19,20-21; Lc 18:9-14

KHIÊM TỐN CẦU NGUYỆN

Thời gian trôi qua thật nhanh ! Mới hôm nao mà hôm nay chúng ta đã bước vào cuối tuần thứ III Mùa chay. Ngày cuối của tuần III Mùa Chay này ta bắt gặp lời kêu gọi sám hối và tin vào Tin Mừng, canh tân đổi mới đời sống của bản thân và gia đình vẫn khẩn thiết được gửi đến từng người trong chúng ta từ linh mục đến tu sĩ và giáo dân.

Việc sám hối trở về là việc của mọi người, tuy nhiên có nhiều người trong chúng ta vẫn chưa có một quyết định thay đổi cụ thể nào, lý do vì họ không nhận ra những sai lầm thiếu sót của mình, là vì họ làm sai mà cứ cho là đúng, họ để cho sự kiêu căng tự mãn che khuất nên không thể nhìn thấy rõ thực chất tình trạng con người của mình.

Theo quan niệm người ta vào thời bấy giờ, người thu thuế thì bị khinh khi, và họ không thể nào tự mình thưa chuyện với Thiên Chúa bởi vì họ là những kẻ ô uế.  Trong câu chuyện dụ ngôn, Người Biệt Phái cảm tạ Chúa vì ông ta tốt lành hơn những kẻ khác.  

Lời cầu nguyện của ông ta không có gì khác hơn là một lời tự khen ngợi mình, lời đề cao các phẩm hạnh của mình và khinh miệt đối với kẻ khác và đối với người thu thuế.  Người thu thuế thậm chí không dám ngước mắt lên, nhưng ông ta đấm ngực và nguyện rằng:  “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội!”  Ông ta tự đặt vào vị trí của mình, là vị trí của ông ta đứng trước mặt Thiên Chúa.

Tự cho mình là người công chính. Chúa Giêsu đã nêu lên bài học của dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế là: “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”.

Sự kiêu căng tự mãn nó cũng che khuất con mắt của người biệt phái hôm nay, anh ta lên đền thờ với tư thế hiên ngang tự đắc, anh nghĩ rằng các thành tích anh đã làm khiến cho Thiên Chúa phải “nể” anh và mắc nợ anh. Thực sự người biệt phái này không hề cầu nguyện, mà anh đang làm một bản báo cáo thành tích của chính mình và kể lể công trạng trước mắt Chúa: Tôi ăn chay mỗi tuần hai lần, và dâng một phần mười thu nhập hằng ngày.

Việc làm ấy quá tốt, vượt trên cả luật lệ quy định về ăn chay, thế nhưng, anh ăn chay không phải để đền tội hy sinh, cũng không phải để chuẩn bị đón Đấng Mesia như ý nghĩa ban đầu của nó, mà anh ăn chay và giữ luật chỉ để cho thấy anh hơn người khác. Chính vì thế, ngay từ lời mở đầu anh đã có ý so sánh mình với người khác: Lạy Chúa tôi tạ ơn Chúa vì tôi không như bao kẻ khác, tham lam bất chính, ngoại tình hay như tên thu thuế kia.

Tạ ơn Chúa về những việc tốt mà chúng ta làm thì không có gì sai trái. Chỉ sai trái khi chúng ta khoe mình là công chính nhờ những hành động tốt và những nhân đức của bản thân. Tệ hơn nữa là chúng ta lại giống như người Pharisêu đã làm trong lúc cầu nguyện, tự cho mình hơn những người khác và xem thường họ. Tất cả những công việc tốt lành  của chúng ta cũng đều do Chúa hơn là do chúng ta. Chính Thiên Chúa hoạt động nơi ước muốn cũng như nơi thành quả của chúng ta. Thế nên, chúng ta không thể khoe khoang về bất cứ điều gì. Nơi con người chỉ có tội lỗi mà thôi.

Không chỉ so sánh công trạng của mình với ngưới khác, nhưng anh còn tỏ vẻ khinh miệt người thu thuế kia, và cứ như anh đã nói, thì có thể thấy anh coi nhưng người khác là những người tội lỗi và phạm những cái tội mà anh không hề phạm, chứng tỏ anh tốt hơn họ rất nhiều, anh thầm muốn nói điều đó qua lời cầu của mình.

Trong khi đó, người thu thuế nhận ra tình trạng khốn khổ tội nghiệp tội lỗi bất xứng của mình, anh không dám ngửa mắt lên trời, mà chỉ đấm ngực cầu nguyện với lòng sám hối chân thành: Lạy Chúa xin thương xót con là kẻ tội lỗi. Anh không dám kể lể gì, vì anh thấy mình chẳng có công trạng gì, anh đã nhìn thấy sự thiếu sót khiếm khuyết và tội lỗi của mình, anh biết rằng vì nghề nghiệp, vì cuộc sống mà anh đã phải làm một cái nghề bị xã hội đương thời kết án là ô uế tội lỗi, vì anh đã thường xuyên phải tiếp xúc với nhiều người và vì sự cuốn hút của đồng tiền khiến anh cũng không thể cầm lòng được. Chính vì ý thức và nhìn thấy thực trạng con người của mình trước mặt Chúa và trước mặt mọi người, nên anh chỉ còn biết kêu xin lòng thương xót và sư tha thứ của Thiên Chúa.

Về phía Thiên Chúa, Ngài chỉ chờ đợi có như thế Ngài chỉ mong muốn không phải là những thành tích dài dòng, không phải là những báo cáo tổng kết, mà là một “tấm lòng tan nát khiêm cung”, tan nát vì hối hận, vì thấy rằng mình đã làm tổn thương đến tình yêu của Thiên Chúa là Cha, khiêm cung vì nhìn thấy mình hoàn toàn bất xứng đáng bị trừng phạt hơn là được khoan dung, khiêm cung để nhìn thấy được tình yêu và lòng quảng đại tha thứ của Chúa. Thiên Chúa muốn và chờ đợi thái độ như thế, và vì thế, câu chuyện cho thấy Chúa Giêsu tuyên bố: Người thu thuế khi trở về thì được tha thứ và nên công chính, còn người biệt phái thì không.

Đối với Chúa, kẻ ra về được nên công chính, nghĩa là trong một mối quan hệ tốt đẹp với Thiên Chúa, không phải là người Biệt Phái, mà lại là người thu thuế.  Chúa Giêsu làm đảo lộn mọi thứ.  Điều chắc chắn rằng các giới chức tôn giáo của thời ấy đã không hài lòng với sự ứng dụng mà Chúa đã cấu tạo trong dụ ngôn.

Có thể chúng ta chưa sám hối, chưa thay đổi là vì chúng ta cũng giống người biệt phái kia chăng? Chúng ta không nhìn thấy tội lỗi của mình mà chỉ nhìn thấy những thành tích, có khi chúng ta cũng kể lể với Chúa rằng: tôi vẫn đi nhà thờ vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn đóng góp dâng cúng chỗ này chỗ khác, nên không thấy được khuyết điểm của mình, chúng ta ngủ mê trong một vài thói quen đạo đức vô hồn, hình thức bên ngoài mà không có chiều sâu và không có tâm tình yêu mến, hoặc chúng ta đến với Chúa không phải với thái độ của người con, của người cần sự tha thứ, cẩn được yêu thương đổi mới, nên chúng ta không được tha thứ và chưa được đổi mới.

Trong cầu nguyện, Chúa Giêsu đã mật thiết gắn bó với sự kiện cụ thể của đời sống và với các quyết định mà Người phải làm.  Để trung thành với chương trình của Chúa Cha, Người đã tìm cách gặp gỡ riêng với Ngài để lắng nghe lời Ngài.  Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Thánh Vịnh.  

Chúa Giêsu đã làm như bất kỳ người Do Thái sùng đạo khác và Người thuộc lòng chúng.  Thậm chí Chúa Giêsu đã thành công trong việc sáng tác bài Thánh Vịnh của riêng mình.  Đó là Kinh Lạy Cha.  Cả cuộc đời của Chúa là lời cầu nguyện thường trực:  “Người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm!” (Ga 5, 19, 30).  Đối với Người có thể ứng dụng với những gì Thánh Vịnh đã nói:  “Phần con, con chỉ biết cầu nguyện!” (Tv 109, 4).

Chúa Giêsu cầu nguyện rất nhiều và, được nhấn mạnh để cho dân chúng và các môn đệ của Người sẽ làm như vậy, bởi vì từ sự hiệp nhất với Thiên Chúa phát sinh ra chân lý và người ta có thể khám phá và tìm được chính mình, trong mọi thực tế và lòng khiêm tốn.  

 

March 16, 2018