December 9, 2016

LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ
Kh 7, 2-4, 9-14; 1 Ga 3, 1-3; Mt 5, 1-12a    
NÀY LÀ DÒNG DÕI NHỮNG NGƯỜI TÌM CHÚA

           Ta vừa nghe tác giả sách Khải Huyền (được cho là Gioan) viết về viễn cảnh của ngày cánh chung như thế này : Tôi là Gioan đã nhìn thấy một thiên thần khác từ phía mặt trời mọc đi lên, tay cầm ấn Thiên Chúa hằng sống, và lớn tiếng kêu gọi bốn thiên thần được lệnh tàn phá đất và biển mà rằng: "Chớ có tàn phá đất, biển và cây cối trước khi ta đóng ấn trên trán những tôi tớ của Thiên Chúa chúng ta". Và tôi đã nghe biết số người được đóng ấn là một trăm bốn mươi bốn ngàn người, thuộc mọi chi tộc Israel.

Sau đó, tôi đã nhìn thấy đoàn người đông đảo không thể đếm được, họ thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng. Họ đứng trước ngai vàng và trước mặt Con Chiên, mình mặc áo trắng tinh, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tung hô rằng: "Kính lạy Thiên Chúa chúng tôi, Đấng ngự trên ngai vàng, và Con Chiên".

           Rồi tất cả các thiên thần đến đứng chung quanh ngai vàng, và các trưởng lão cùng bốn con vật sấp mình xuống trước ngai mà thờ lạy Thiên Chúa rằng: "Amen! Chúc tụng, vinh hiển, khôn ngoan, cảm tạ, vinh dự, uy quyền và dũng lực cho Thiên Chúa chúng tôi muôn đời. Amen". Rồi một trong các trưởng lão lên tiếng hỏi rằng: "Những người mặc áo trắng này là ai vậy? Và họ từ đâu mà đến?" Tôi đáp lại rằng: "Thưa ngài, hẳn ngài đã rõ". Và người bảo tôi rằng: "Họ là những người từ đau khổ lớn lao mà đến, họ giặt áo và tẩy áo trắng trong máu Con Chiên".      

Viễn cảnh mà Gioan nhìn thấy đó chính là Nước Thiên Chúa - nơi mà những người được tẩy áo trắng trong máu Con Chiên và từ đau khổ lớn lao mà đến. Những người đó, như Gioan nói đó chính là những con người đi trong đau khổ, đi qua đau khổ đời mình và nói cách khác là vác thập giá đời mình để đi theo Con Chiên và được Con Chiên cứu độ để hưởng vinh quang Thiên Quốc.


Những người đau khổ nhuốm áo mình trong máu Con Chiên đó chính là các thánh nam nữ của Thiên Chúa mà chúng ta mừng kính hôm nay.


Họ, là những vị thánh tử đạo, ẩn tu, hiển tu, khổ tu ... Và, trong đời sống thường này, họ là những người bình thường và hết sức bình thường và có khi tàm thường nữa. Thế nhưng, chỉ có điều khác chúng ta để được trở thành Thánh đó là vì họ đã kết hiệp là một sự đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, một sự bén rễ trong ân sủng phép rửa và trong mầu nhiệm vượt qua.


Việc nên thánh trước tiên không phải là hoa trái của các nỗ lực của chúng ta mà do chính Thiên Chúa thánh hóa xuyên qua hoạt động của Thánh Thần của Ngài và xuyên qua việc trao ban sự sống của Chúa Kitô phục sinh.


Các thánh không phải là « những anh hùng », nhưng là những con người đã hành động « cách nhân từ và yêu thương ». Đức ái là linh hồn của sự thánh thiện ! Nó tăng trưởng và sản sinh những hoa trái nơi các tín hữu, nhờ việc lắng nghe Lời Thiên Chúa, tham dự vào các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, vào việc cầu nguyện liên lỉ, sự từ bỏ, phục vụ huynh đệ và thực hành các nhân đức.


Sự thánh thiện không gì khác hơn là đức ái được sống cách trọn vẹn.


Ta bắt gặp tâm tình ở Thánh Vịnh 23 mà chúng ta hát đáp ca hôm nay sao hay quá :  


Này là dòng dõi những người tìm Chúa,
          đây là những người mong bệ kiến Ngài,
          một đời lòng ngay không hề gian dối,
          giữa bao hận thù luôn sống mến yêu
          Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài
          làm chủ địa cầu cùng toàn thể dân cư
          còn nền trái trất Ngài dựng trên biển cả
          và đặt vững vàng trên mặt nước bao la ...
Ai sẽ được trèo lên núi Chúa?
Ai sẽ được dừng bước trong thánh điện?
Đó là người có bàn tay vô tội và tâm hồn trong sạch,
không để lòng xuôi theo sự giả trá. - Đáp.


 Người đó sẽ hưởng phúc lành của Chúa và lượng từ bi của Chúa,


Đấng giải thoát họ. Đấy là dòng dõi của những kẻ tìm Người,
những kẻ tìm tôn nhan Thiên Chúa của Giacóp.
Họ là những người như thế, họ là những người giữa bao hận thù vẫn sống mến yêu, họ tay sạch lòng thanh, họ không để lòng xuôi theo sự giả trá.


Và, Thánh là những người mà ta bắt gặp trong hình ảnh của những người mà được Chúa nói đến trong trang Tin Mừng theo Thánh Matthêu. Những người chấp nhận đau khổ, thiệt thòi, bách hại vì Tin Mừng nghĩa là vì Chúa sẽ có phúc ở Nước Thiên Chúa và sẽ là công dân Nước Thiên Chúa. Nói chấp nhận cũng không đúng, phải nói là đón nhận, đón nhận tất cả những đau khổ, những trái ý trong cuộc sống thường ngày.


Người thường vẫn nghĩ rằng thánh là những người xuất chúng siêu phàm nhưng thật sự có những vị thánh xuất thân từ những người bình thường và rất bình thường.


Chúng ta vừa chứng kiến Đức Thánh Cha Phanxicô đã phong thánh cho cho đôi vợ chồng chân phước hết sức bình thường đó chính là cha mẹ của thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu.
Thánh Louis Martin (1823-1894): 


Louis Martin sinh ngày 22 tháng 8 năm 1823 tại Bordeaux, nước Pháp. Thân phụ là Đại Úy trong đoàn quân pháo thủ bình giặc ở Tây Ban Nha. Năm 19 tuổi thanh niên Martin học nghề chữa đồng hồ. Năm 22 tuổi, xin đi tu, nhưng vì không theo nổi môn Latin, nên phải bỏ cuộc. Về nhà, Marin ra sức học Latin thêm 2 năm nữa, nhưng sau đó không thấy tiến bộ nên quyết định bỏ cuộc. Giấc mơ làm linh mục không thành, Martin đã mở một tiệm đồng hồ tại thị trấn Alencon miền Bắc nước Pháp, và thuộc phía Tây thành Paris. 


Năm 35 tuổi, Louis Martin gặp Zélie Guérin, một thiếu nữ trẻ hơn chàng 8 tuổi làm nghề sản xuất dây giày. Lễ thành hôn Louis-Zélie được cử hành đơn giản ngày 13 tháng 7 năm 1858 tại nhà thờ Đức Bà Alencon. Một chi tiết nhỏ nhưng nói lên sự thánh thiện của cặp vợ chồng trẻ này là mấy tháng đầu họ đã sống với nhau như anh em. Nhưng sau hiểu được ý Chúa, thì cả hai lại sẵn sàng đón nhận những người con mà Chúa ban cho trong đời sống hôn nhân. Trong số 9 người con có 2 trai và 7 gái. Hai người con trai và hai người con gái đầu đã qua đời khi còn rất trẻ. Còn lại 5 người con gái, tất cả đều dâng mình làm nữ tu:    

- Marie-Louise: Nữ tu Dòng Kín Lisieux.
- Marie-Pauline: Bề trên Dòng Kín Lisieux.
- Marie-Léonie: Nữ tu Dòng Thăm Viếng.(Án phong chân phước cho Léonie, cũng đã được mở ở cấp giáo phận vào ngày 24 tháng Giêng năm 2015 tại Lisieux).
- Marie-Céline: Nữ tu Dòng Kín Lisieux.
- Marie-Thérèse: Nữ tu Dòng Kín Lisieux. (Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu)


Sau khi người vợ trẻ qua đời vào năm 1877, ông Marin lãnh lấy trách nhiệm dạy dỗ con cái. Trong số 5 người con gái, ba cô còn ở tuổi thiếu niên, riêng Céline lúc đó mới 8 tuổi, và gái út là Têrêsa mới lên 4. 


Sau khi Bà Zélie qua đời, và theo lời khuyên của bà trước lúc lâm chung, ông Marin đã đem gia đình về Lisieux sống gần gia đình người em trai của bà trong trang trại Buissonnets với hy vọng các con nhận được sự giúp đỡ và an ủi của những người thân yêu. Ông nghỉ không làm nghề sửa chữa đồng hồ và dành trọn thời giờ chăm lo và giáo dục các con. 


Trong sinh hoạt tông đồ, Ông tham gia hội Bác Ái Thánh Vinh Sơn và là một hội viên rất nhiệt thành. Năm 1887, Ông đưa hai con gái út là Céline và Têrêsa đi du lịch một vòng Âu Châu, và trong dịp này, do sự khuyến khích của Ông, Têrêsa đã mạnh dạn xin với Đức Lêô XIII cho phép mình được vào tu dòng kín Camêlô khi mới được 15 tuổi. 


Sau khi các con Ông lần lượt theo nhau vào tu Dòng Kín, Ông còn lại một mình sống âm thầm để chia sẻ con đường Thánh Giá của Chúa Cứu Thế. Năm 1887, Ông bị đột quỵ và chấn thương thần kinh. Ngày 12 tháng 12 năm 1889, Ông nghỉ bệnh tại Bon Sauveur, Caen. Ông phải điều trị 3 năm trong nhà dưỡng lão. Ngày 10 tháng 5 năm 1892, Ông đã được gia đình người em vợ đem về nhà chăm sóc cẩn thận. Thời gian này, Céline ngày đêm săn sóc ba cho đến khi Ông từ trần ngày 29 tháng 7 năm 1894. Sau khi Ông từ trần, cô cũng đã vào tu Dòng Kín Camêlô. 


Thánh Zélie Guérin (1831-1877): 


Sinh ngày 23 tháng 12 năm 1831, là người con thứ hai trong số 3 người con của một cựu chiến binh ở Alencon. Mẹ của Zélie Guérin nổi tiếng là người đàn bà khắc khổ và cứng rắn trong việc giáo dục con cái. Chị cả của cô dâng mình vào nhà tu và trở thành nữ tu. Cô muốn noi gương chị, xin vào dòng Chị Em Bác Ái Thánh Vinh Sơn, nhưng bị từ chối. 


Sau khi biết mình không có ơn kêu gọi trong bậc tu trì, Zélie cầu xin Chúa cho mình một người chồng tốt, đạo đức để tâm giáo dục con cái nên người hữu ích cho Giáo Hội và xã hội. Bà cũng cầu xin Chúa ban cho mình có con, nhất là con trai để sau này dâng cho Chúa làm linh mục thừa sai rao giảng Tin Mừng. Lời cầu xin đã được Chúa nhận lời, và cuộc hôn nhân của Bà đã đem lại 9 người con, nhưng bốn người con đầu trong đó 2 trai và 2 gái đã qua đời trong tuổi thơ. Têrêsa là con út trong số 9 người con sau này được tôn phong Hiển Thánh, làm Bổn Mạng các xứ truyền giáo và làm Tiến Sỹ Hội Thánh. Một vị tiến sĩ trẻ nhất trong 33 vị Tiến Sĩ của Giáo Hội, và là 1 trong 3 vị Nữ Tiến Sĩ.


Bà Zélie qua đời ngày 28 tháng 8 năm 1877 khi vừa tròn 45 tuổi sau 5 năm chịu đựng do chứng bệnh ung thư.  

 
Cha mẹ thánh nữ Têrêsa là những người hết sức bình thường nhưng đã nên thánh một cách phi thường bằng đời sống yêu thương, đón nhận thập giá giữa đời.


Ngày hôm nay, chúng ta mừng các Thánh, chúng ta vui và tin tưởng vì lẽ ta cũng sẽ được trở nên thánh nếu như ta đi trọn vẹn con đường bác ái, yêu thương và gắn kết đời ta mật thiết với Chúa như các thánh đã từng sống. Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để ngày mỗi ngày ta sống, ta diễn tả tình yêu thương đó với những người xung quanh, những người ta gặp gỡ.

 

Huệ Minh 30-10-2015.