March 27, 2021

Suy Niệm Lời Chúa..

by Huệ Minh

CHÚA NHẬT LỄ LÁ 28-3-2021

ĐÓN NHẬN KHỔ ĐAU

          Hôm nay, chúng ta nghe tường thuật sự thương khó Chúa Giêsu, tự bản chất đã chứa đựng rất nhiều điều đáng cho chúng ta suy gẫm. Bởi đó, phải đọc trong tinh thần cầu nguyện, để sống lại những chặng đường Chúa Giêsu đã đi qua, để những khổ đau của Chúa thấm vào tâm hồn chúng ta, cũng như hãy mở rộng cõi lòng để đón nhận sứ điệp của Chúa. Trong một vài phút ngắn ngủi này, chúng ta dừng lại ở kinh nghiệm khác thường của Phêrô, vị tông đồ vừa tự phụ, vừa yếu đuối lại vừa sám hối ăn năn.

          Hình ảnh Chúa Giêsu cỡi trên lưng lừa tiến vào Giêrusalem làm dội lại lời tiên tri Zacaria: “Nào thiếu nữ Sion, hãy vui mừng hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi. Người là Đấng chính trực, Đấng toàn thắng; khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (9,9). Vào thời tiên tri Zacaria cũng như vào thời Chúa Giêsu, con ngựa mới là biểu tượng của sức mạnh, còn lừa là phương tiện của người nghèo. Vì thế hình ảnh Vua Giêsu ngồi trên lưng lừa diễn tả một vị vua hoàn toàn khác. Người là vua của hòa bình, vua của người nghèo, vị vua đơn sơ và khiêm tốn.

          Cũng lúc ấy, chúng ta khám phá lý do tại sao Phụng vụ Lễ Lá được bắt đầu bằng việc tưởng niệm Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem trong vinh quang, rồi được tiếp nối bằng việc công bố bài thương khó. Để thấy rõ hơn chân dung của vị vua hòa bình. Để thấy rõ hơn ý nghĩa của “sự nhiệt thành”, không phải thứ nhiệt thành của bạo lực nhằm xây dựng một vương quốc trần thế, nhưng là sự nhiệt thành của Thập Giá, nhiệt thành của tình yêu tự hiến trọn vẹn.

          Cảnh tượng Chúa Giêsu khải hoàn tiến vào Giê-ru-sa-lem cỡi trên lưng lừa không đơn thuần chỉ là một hình ảnh gây ấn tượng. Nếu Hy tế Thập giá là cả một mạc khải vĩ đại về Thiên Chúa tình yêu và cứu độ, thì hình ảnh ‘cỡi lừa’ này chính là một phần của mạc khải đó (cũng như hình ảnh con rắn đồng trong Ga 3,14-18). Nó nói lên một Thiên Chúa hiền hòa, không kết án, không luận phạt; nó là hình ảnh rất Do Thái về một đấng Mê-si-a hiền hòa và xót thương, cứu vớt và tha thứ; một đấng Mê-si-a, ‘Đấng ngự đến nhân danh Chúa’ phải là như thế, không thể nào khác được!

          Với thánh lễ hôm nay cũng khiến ta phải suy nghĩ không ít vì những biến cố quá trái ngược. Chúa vừa vinh hiển vào thành chưa được bao lâu đã phải tủi nhục chết trên thập giá. Tại cổng thành có biết bao người ra chào đón tung hô, nhưng trên Núi Sọ chẳng còn mấy người theo Chúa. Từ chúa nhật Lễ Lá đến thứ Sáu tuần thánh thời gian không dài, nhưng biết bao người đã thay lòng đổi dạ. Từ cổng thành đến Núi Sọ đường đất không xa, nhưng biết bao người đã rẽ đường, đi ngang, về tắt. Tại sao thế? Ta hãy lần theo dấu vết của những người bỏ cuộc để nhận diện những ngã rẽ cuộc đời. Có ba ngã rẽ tiêu biểu.

          Ngã rẽ của Giuđa. Giuđa là môn đệ trung tín theo Chúa trong suốt 3 năm Chúa đi rao giảng. Ông còn được Chúa tin cẩn trao phó cho công việc quan trọng: nắm giữ tài chánh. Ngày Lễ Lá chắc chắn ông có mặt. Nhưng khi Chúa chịu chết thì ông vắng mặt. Ông đã rẽ sang lối khác. Lối rẽ đuổi theo tiền bạc vật chất. Theo tiếng gọi của tiền bạc, ông đã đưa chân đi những bước xa lạ. Ông đi vào con đường khác. Ông trở thành con người khác. Ông bỏ Chúa vì tiền. Tệ hơn nữa ông bán Chúa để lấy tiền.

          Ngã rẽ của Phêrô. Phêrô là môn đệ rất thân thiết của Chúa. Là người đứng đầu tông đồ đoàn. Ông thề rằng dù mọi người có bỏ Chúa thì ông vẫn trung thành với Chúa. Ngày Lễ Lá chắc chắn ông ở bên Chúa. Nhưng ngày thứ sáu tuần thánh, không thấy ông đâu. Ông đã rẽ sang lối khác: lối rẽ lười biếng và hưởng thụ. Lười biếng vì khi vào vườn Giêtsimani, Chúa kêu gọi ông hãy thức cầu nguyện với Chúa, vậy mà ông cứ ngủ. Hưởng thụ vì trong sân tòa án, thay vì theo dõi cuộc xét xử Chúa thì ông lại vào tìm hơi ấm nơi đống lửa giữa sân. An nhàn hưởng thụ đã kéo ông xa Chúa. An nhàn hưởng thụ đã đẩy ông đến chỗ chối Chúa.

          Ngã rẽ của đám đông. Hàng vạn người đã theo Chúa, mê mệt nghe đến mấy ngày quên ăn, quên về. Biết bao người reo mừng nghênh đón Chúa ngày long trọng vào thành. Thế mà trên Núi Sọ chỉ thấy những người đến sỉ vả, chê bai, nhạo cười. Đám đông đã rẽ sang lối nào? Thưa họ rẽ sang lối dư luận. Thiếu lập trường, chạy theo đám đông. Thấy người ta đi nghe Chúa thì cũng đi. Thấy người ta nhạo cười Chúa thì cũng cười nhạo. Thấy người ta kết án Chúa thì cũng kết án.

           Mỗi khổ đau, mỗi hy sinh chúng ta vui lòng chịu vì lòng yêu mến Chúa sẽ là một góp phần nhỏ bé vào thập giá Đức Kitô để đền bù tội lỗi, cũng như để thu tích công nghiệp cho chính bản thân của mình. Và như thế, đau thương là đường lên ánh sáng, gian khổ là đường về vinh quang và thập giá là đường dẫn tới vinh quang phục sinh.

          Qua cách thức Chúa Giêsu đương đầu với cuộc khổ nạn, ta thấy không một thách thức nào làm cho Người lùi bước; không một đe doạ nào làm cho Người khiếp sợ; không một sỉ nhục nào làm cho Người nổi giận hay mất bình an; không hận thù nào tiêu huỷ được lòng bao dung vô bờ bến của Người…

          Người thắng được bản năng tham sinh úy tử; Người vượt lên trên nỗi sợ mọi thứ khổ đau; Người thắng được lòng hận thù có thể bùng lên khi bản thân mình bị sỉ nhục và bị đối xử rất dã man và tàn ác… Trong cuộc khổ nạn của mình, Đức Giêsu chiến thắng hoàn toàn bản thân mình, vượt qua các thách thức từ mọi phía để hoàn thành mỹ mãn sứ mạng Chúa Cha đã trao ban.

          Chiến thắng cả thiên hạ không bằng chiến thắng chính bản thân mình. Chúa Giêsu đã thực sự chiến thắng bản thân mình, hoàn toàn làm chủ con người mình, bắt thân xác phải vâng phục tinh thần như chiên ngoan. Oai hùng thay! Vinh quang thay!

          Bước vào Tuần thánh là đi vào cuộc hành trình tiến lên đỉnh cao phục sinh với Đức Giêsu. Nhưng sẽ chẳng có Đức Giêsu phục sinh nếu không có Đức Giêsu chịu khổ nạn và chịu chết. Sẽ chẳng có chiến thắng vinh quang, nếu không có chiến đấu gian nan và đau khổ tột cùng trên thập giá. Thật đúng như tục ngữ Hoa Kỳ: “Không có thập giá, không có triều thiên, không có đau khổ, không có thắng lợi. (No cross, no crown, no pain, no gain).

          Đón nhận khổ giá với sức mạnh của tình yêu là đồng hành với Đức Kitô trên con đường cứu thoát chính mình và tha nhân. Như thế, thập giá, tình yêu cứu độ; Thập giá, con đường vinh quang phục sinh.

Huệ Minh 2021

 

Chúa Nhật lễ lá, năm B và Ngày tuần thánh

 

Thứ Hai tuần thánh

Is 42:1-7; Tv 27:1,2,3,13-14; Ga 12:1-11

LẮNG NGHE TIẾNG GỌI CỦA CON TIM

          Chúng ta đang ở trong giai đoạn cao điểm của Năm Phụng Vụ : cử hành Mầu Nhiệm khổ nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô. Cùng với thời tiết mùa hè nóng bức, oi ả, phụng vụ Lời Chúa đưa chúng ta ngày càng tới gần những gay cấn, xô xát,những đụng chạm nảy lửa giữa Chúa Giêsu và dân riêng của Ngài. Cuối  cùng dân của Ngài  cũng  đưa Ngài lên cây thập giá như để thoả mãn cơn ghen tức của con người, như là một kết quả của tội lỗi và đúng hơn như là một biểu hiện tình yêu của Thiên Chúa đối với con người.

Tuần Thánh là tuần lễ quan trọng nhất trong năm phụng vụ, tuần lễ tưởng niệm các biến cố cuối cùng trong cuộc đời Chúa Giê su ở trần gian.

Đây không phải là tuần lễ buồn sầu, rầu rỉ, than van, khóc lóc mà là tuần lễ mời goi mọi người kitô hữu phải biết im lặng sâu xa trong tâm hồn để cảm nghiệm tình yêu Chúa chịu chết để cứu chuộc chúng ta, để lắng nghe tiếng Chúa, hiểu ý Chúa, kết hợp mật thiết với Chúa và sống đẹp lòng Ngài”. Đây là lời mời gọi yêu thương mà chỉ có những “con tim” có cùng chung “nhịp đập” với Chúa mới hiểu được phần nào tâm trạng của Chúa lúc này

Trang Tin Mừng hôm nay, Thánh Gioan cho chúng ta thấy Chúa Giêsu đã bắt đầu nghĩ đến giờ của Ngài. Giờ mà Ngài phải bỏ thế gian đến cùng Chúa Cha (x. Ga 16,28) khi cô Maria, chị của Ladarô đem bình dầu thơm cam tùng hảo hạng, nguyên chất và quý giá tiến đến quỳ bên chân Chúa, đổ cả bình dầu lên chân Ngài, khiến cả nhà nực mùi thơm, rồi lấy tóc lau chân Ngài (Ga 12,1-8;Mt 26, 6-13; Mc 14,1-9)

 Sau khi Chúa Giêsu cho Ladarô sống lại từ cõi chết và thời điểm là gần Lễ Vượt Qua,  (trong lễ này, người Do Thái mừng kỷ niệm việc Thiên Chúa đưa dân Người ra khỏi cảnh nô lệ Ai Cập ).

Chúa Giêsu và các môn đệ đang trên con đường lên  Jérusalem. Giờ đã điểm. Giờ mà Con Thiên Chúa được giương cao trên Thập giá và Thiên Chúa tôn vinh Con của Ngài. (Pl 2,8-11 ). Giờ mà ánh sáng chiếu dọi và xua tan bóng tối. Giờ mà Ngài bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha (Ga 17,28 ).

Lần này Chúa Giêsu tự nguyện lên Jérusalem. Ngài không rút lui, không chạy trốn, không đi một cách bí mật, nhưng như con chiên hiền lành sẵn sàng cho người thợ xén lông, không kêu ca hay chống cự.

Có lẽ, Maria đã làm với một tấm lòng yêu mến, đáp trả lại tình yêu thương của Chúa “Tình yêu, đáp đền tình yêu”. Bởi gia đình cô thật diễm phúc được Chúa viếng thăm, em cô vừa được Ngài cho sống lại từ cõi chết (Ga 11,1-44) và chính cô được Chúa đưa ra khỏi cái quá khứ đen tối, đầy tội lỗi. Chứ Maria cũng không hiểu thấu tâm trạng Chúa lúc này, Ngài đang xao xuyến trong tâm hồn biết chừng nào?

Trước hành động của Maria, Giuđa người môn đệ cùng ở với Chúa. Hàng ngày đồng bàn với Ngài. Nhưng không đồng lòng với Ngài, không đón nhận lời yêu thương từ nơi Ngài. nên chẳng những ông không nhìn thấy nỗi lo lắng thẳm sâu trong lòng Chúa để đồng cảm, yêu thương. Trái lại, ông chỉ thấy tiếc xót bình dầu và trách cứ Maria đã phung phí (Ga 12,5). Tiền bạc đã làm ông mù quáng, đã dẫn ông đến chỗ phản bội Thầy sau này (Ga 12,4)

Thầy Giêsu bênh vực cho cô Maria khi nói lên ý nghĩa việc làm của cô. Hành vi chuẩn bị mai táng phải được đặt trên hành vi bố thí giúp người nghèo. Hơn nữa, “người nghèo thì lúc nào cũng có, còn Thầy, anh em không có mãi đâu.” Chúa Giêsu ám chỉ cái chết sắp đến của mình.

Ngược lại tâm tình quảng đại của cô Maria, là thái độ cau có bực dọc của Giuđa. Bởi vì anh không cảm nhận được thế nào là tình yêu. Anh nhìn mọi chuyện dưới lăng kính thực dụng. Anh ở bên cạnh Thầy nhưng lòng anh xa vời vợi với những suy nghĩ của Thầy. 

Thánh sử Gioan còn kể một chi tiết cụ thể về anh, là người giữ tiền của cả nhóm, nhưng lại thường ăn cắp để dùng riêng (c.6). Có thể đồng tiền đối với anh là quá lớn, lớn hơn cả tình Thầy Giêsu yêu mến anh. Có thể anh phản bội Thầy mình vì đồng tiền hay cũng có thể anh không cảm nhận thế nào là lòng mến mà Thầy dành cho anh.

Người Do Thái tuôn đến chỉ : nhìn tận mắt anh Ladarô, người đã chết mà nay đã sống lại và  chỉ muốn giết anh mà thôi ( c 9-10 ). Chúng ta thấy dã tâm của con người nay đã lộ rõ ràng: Chỉ vì muốn lấy lại địa vị, danh vọng, tình yêu của người khác mà người Do Thái có những hành vi sát nhân ( c.11).

Khi miêu tả hành vi lên Jérusalem của Chúa Giêsu, Bốn tác giả Tin Mừng đều nói rõ mục đích của người Do Thái : Muốn giết Chúa Giê su vì ghen tỵ lòng ghen tỵ sẵn sàng triệt hạ người khác bằng bất cứ giá nào.

Con người ngày nay cũng vậy. Họ kiếm tiền bằng mọi cách, mọi thủ đoạn để đạt được “ ghế này, ghế nọ”. Họ sẵn sàng hy sinh thời gian, sức khoẻ và ngay cả người thân... để đạt được ý nguyện. Thật là ích kỷ và tàn nhẫn !. Họ mãi chạy theo một thần tượng, sẵn sàng làm nô lệ cho dục vọng, danh vọng... để cuối cùng tự nhắm mắt xuôi tay, họ để lại tất cả nói đúng hơn, họ không thể mang theo được gì.

Phần Chúa Giê su, Ngài đang nghĩ đến cái chết gần kề. và việc xức dầu của cô Maria là dấu chỉ việc ướp xác Ngài. Ngài liên tưởng đến cái chết vì yêu, yêu đến cùng, một tình yêu vâng lời tuyệt đối để đáp trả “lời mời gọi yêu thương” từ nơi Chúa Cha, và để thi hành trọn vẹn Thánh ý Cha hầu cứu chuộc nhân loại.

Chúng ta đang sống tâm tình nào đối với Thầy Chí Thánh Giêsu. Tâm tình quảng đại dâng hiến của Maria hay thái độ từ khước tình yêu của Giuđa. Cả hai nhân vật đều là những người nắm giữ đồng tiền. Một người đã biết cho đi tài sản vì lòng mến Chúa. Một người vì đồng tiền mà phản bội Chúa. Và kết cục cuộc đời Giuđa như thế nào chúng ta đã biết. Mong rằng mỗi tín hữu biết chọn lối sống khôn ngoan là dùng tiền bạc mà diễn rả tình yêu như cô Maria.

Hơn bao giờ hết, những ngày này Chúa cần các môn đệ lắng nghe tiếng nói yêu thương từ con tim của Ngài. Chúa cần sự cảm thông, yêu mến nơi mỗi tâm hồn chúng ta. Vậy là môn đệ Chúa, những người mang danh Kitô hữu, chúng ta cần có tâm tình, thái độ thế nào khi lắng nghe và thực hành lời Chúa trong tuần Thánh này?

 

thứ ba tuần thánh

Is 49:1-6; Tv 71:1-2,3-4,5-6,15,17; Ga 13:21-33,36-38

PHẢN BỘI !

Chúng ta đang sống trong những ngày cuối cùng của mùa chay, trong những giờ phút thánh thiêng của mầu nhiệm vượt qua; Cùng nhau sống và tái hiện mầu nhiệm sự thương khó của Đức Giêsu trong nhiệm cục cứu độ; Chiêm ngắm tình yêu, lòng nhân từ, bao dung, nhẫn nại của Thiên Chúa được tỏ lộ nơi khuôn mặt của Đấng cứu thế - Một tình yêu vô bờ không bao giờ ngơi nghỉ trước tội lỗi, sự yếu đuối và bất trung của con người. Trang thuật Tin mừng hôm nay cho chúng ta chiêm ngắm chỉ một chút thôi, nhưng cũng quá đủ để ta có thể vững tin vào tình yêu Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta.

Khi ấy “Đức Giêsu cảm thấy tâm thần xao xuyến. Người tuyên bố: "Thật, Thầy bảo thật anh em: có một người trong anh em sẽ nộp Thầy." (c. 21) Cũng như một con người, đứng trước tội lỗi, bất trung, sự phản bội, sự đau khổ, nhục hình, cái chết, tâm hồn Đức Giêsu thực sự xao xuyến buồn rầu. Cái buồn thâm sâu rúng động của một tình yêu dâng hiến bị chối từ, bị phản bội.

Không gì đau đớn cho bằng bị người thân yêu phản bội. Điều đó giúp ta hiểu nỗi lòng của Chúa Giêsu, Ngài đã xao xuyến khi phải đối diện với sự thật phũ phàng : sự phản bội. Thật xót xa khi thầy trò đang sống trong khung cảnh ấm cúng thân thương, những giây phút ngắn ngủi bên nhau trước giờ chia ly, mà phải nói lên sự thật : một trong anh em sẽ là kẻ nộp thầy ! Và sau đó lại phải tuyên bố với Phêrô: Thầy bảo thật cho anh biết : gà chưa gáy, anh đã chối Thầy ba lần !

Phêrô và Giuđa đều là những tông đồ được Chúa Giêsu thương yêu cách đặc biệt : được giao cho chức vụ Quản lý và được chọn làm Tông đồ trưởng. Nhưng cả hai đã lợi dụng chính tình thương, sự tin tưởng của Thầy để phản bội : sự tham lam và lòng tự mãn. Tiền bạc đã làm mờ mắt lương tri của Giuđa; lòng kiêu hãnh đã khiến Phêrô mất cảnh giác, không thấy được sự bất toàn yếu đuối của chính mình, thiếu lòng cậy trông vào Chúa để rồi sẽ sa ngã cách thảm thương.

Đau khổ và bẽ bàng trước lòng người sao quá chai cứng, trí người sao quá cằn khô, tâm người sao quá phù du. Đôi tay cứu thế vươn ra, dang rộng, nhưng con người lại trốn chạy theo những gọi mời giả trá. Hơn nữa, những  môn đệ đã cùng Người gắn bó, cùng chung chia thâm tình cuộc sống bao tháng ngày, được Người dạy dỗ cách đặc biệt rồi cũng sẽ phản bội – không phải chỉ riêng Giuđa, nhưng là hầu như tất cả sẽ chối và phản bội (Giuđa rắp tâm bán thầy, Phêrô môn đệ thân tín sẽ chối thầy, các môn đệ khác sẽ bỏ trốn) đã làm cõi lòng Người rối bời tan nát. Thế nhưng, dẫu nỗi sầu nhức nhối con tim, Đức Giêsu vẫn ở đó, bày tỏ tình yêu trong bữa ăn sau cùng…

Lúc Giuđa nhận mẩu bánh, quỉ nhập vào lòng ông. Thật khủng khiếp khi tiếng gọi của tình yêu thương biến thành động lực của lòng ghen ghét. Đó là việc ma quỉ có thể làm. Nó có thể lấy những điều đẹp đẽ đáng yêu nhất để bẻ cong thành tay sai cho hỏa ngục. Nó có thể lấy tình yêu để biến thành dục vọng, lấy sự thánh khiết để biến thành kiêu ngạo, lấy kỷ luật để biến thành tàn ác gây đau đớn, lấy sự trìu mến biến thành sự dễ dãi gây tai hại. Chúng ta phải thận trọng cảnh giác để ma quỉ không thể lấy những điều đẹp đẽ, đáng yêu nhất để sử dụng cho những ý đồ riêng của nó.

Tuy trái tim tình yêu của Người quá đau khổ và tan nát, nhưng ý chí vững vàng không lay chuyển vâng theo thánh ý và kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa Cha, dẫu rằng có phải chết, vì Người biết đó là lúc mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa được tôn vinh: Khi Giuđa đi rồi, Ðức Giêsu nói: "Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người, (32) Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người”. 

Như chúng ta đã biết “Giờ” trong Tin mừng Gioan là lúc Đức Giêsu chịu khổ nạn và chết trên Thập tự giá để cứu độ con người, thế nhưng Người lại gọi đó là giờ “Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người.” Thật là lạ lùng phải không! Vì có ai trong chúng ta cho rằng khi mình bị bắt bớ, xỉ nhục, bị hại là điều tốt, điều lành, là vinh quang? Thường thì không, ngàn vạn lần không! Mà ngược lại chúng ta cho đó là những điều xúi quẩy, là “sao quả tạ chiếu.” Chúng ta làm mọi cách hết sức có thể để tránh nó. Chúng ta phản ứng bất bình để chống lại….

Vâng, vì đau khổ tự thân chẳng có gì tốt lành. Tuy nhiên, Thiên Chúa có thể vẽ đường thẳng trên những nét cong, Ngài có thể dùng đau khổ để làm ích cho chúng ta; vâng, nếu chúng ta biết lợi dụng đau khổ, thì đó là phương tiện để chúng ta huấn luyện mình, đó là lửa tinh luyện, loại đi những cặn bẩn và làm cho vàng thêm tinh ròng, thêm sáng hơn. Nói như thánh Phao-lô: “Vì danh Đức Ki-tô, tôi đành mất hết tất cả, tôi coi mọi sự như cỏ rác…” (x.Pl. 3,8); hay như các thánh Tử đạo: chấp nhận khổ hình để đạt triều thiên bất diệt; hoặc như các thánh coi những đau khổ, hy sinh , trái ý mà mình chịu vì yêu mến Chúa như những hạt ngọc, viên kim cương đính trên áo, gắn trên triều thiên của mình.

Bước theo Đức Giêsu là chấp nhận bước đi trên con đường của Ngài; dõi bước chân mình theo vết chân Người – là chấp nhận uống chén đắng với Người; chấp nhận nhục hình và hiến thân mình vì anh em. Nhưng cảm thông với thân phận con người, Đức Giêsu vẫn chấp nhận tiến trình chậm chạp của chúng ta, như Người đã nói với Phêrô: “Nơi Thầy đi, anh không thể theo đến được, nhưng sau này anh sẽ đi theo.” (c. 36) Có thể chúng ta cũng sẽ nói rất hay như Phêrô: "Thưa Thầy, sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được? Con sẽ thí mạng con vì Thầy!" (c.37). Tuy nhiên  Đức Giêsu biết rõ thiện chí và cũng biết rõ con người chúng ta là thế nào: "Anh sẽ thí mạng vì Thầy ư? Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: gà chưa gáy, anh đã chối Thầy ba lần. (c.38).

Và rồi chúng ta hãy đề cao cảnh giác trước những nguy hiểm của chức vụ mà chúng ta lãnh nhận, nó có thể biến chúng ta thành kẻ phản bội, nếu chúng ta không dùng những phương tiện ấy để phục vụ Chúa , phục vụ tha nhân mà chỉ lo vun quén cho bản thân.  

Hãy khiêm tốn thấy được giới hạn của bản thân để trông cậy vào Chúa và nghe theo sự hướng dẫn của hội thánh, sự dạy dỗ của vị bề trên, sự góp ý của các bè bạn, nhất là luôn đặt mình sống trong ánh sáng của Lời Chúa để luôn biết tự kiểm xét mình, gạt bỏ đi những tăm tối của dục vọng của đam mê len lỏi phá hoại cả những công việc đạo đức nhất. Sống được như thế, chúng ta sẽ không làm cho Chúa phải đau lòng xao xuyến nữa, mà sẽ trở thành những môn đệ trung tín, vững bước theo Chúa Giêsu trên con đường thập giá, để cùng Ngài sống lại trong vinh quang.

Mỗi người chúng ta có thể nhìn lại hành trình theo Đức Kitô của mình; cũng như Phê-rô, chúng ta nói hay, tuyên bố hùng hồn, quyết tâm chắc chắn, nhưng khi gặp thử thách, bách hại chúng ta buông ‘vũ khí’ chuồn lẹ để ‘bảo vệ lấy thân’; hoặc chối Chúa bằng cuộc sống phản chứng của mình. Nhưng nếu có như thế, chúng ta cũng đừng bao giờ tuyệt vọng thôi tin vào tình yêu Thiên Chúa.

Thật vậy, khi chiêm ngắm tình yêu nhân từ, bao dung, quảng đại của Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi sám hối và canh tân cuộc sống của mình cho phù hợp với đường lối Tin mừng của Thiên Chúa mà Đức Giêsu Kitô đã dạy chúng ta.

 

thứ tư tuần thánh

Is 50:4-9; Tv 69:8-10,21-22,31,33-34; Mt 26:14-25

ĐỪNG HÈN NHÁT NHƯ GIUĐA

Chúng ta đang sống trong những ngày cao điểm của năm Phụng vụ. Trong những ngày này, Hội Thánh long trọng cử hành cuộc khổ nạn và sự Phục sinh vinh hiển của Đức Kitô. Biến cố Đức Giêsu Kitô Phục sinh giải thoát nhân loại khỏi ách thống trị của tội lỗi, cho chúng ta sự sống đời đời và hy vọng vào một tương lai bất diệt.

Hôm nay, khi suy niệm về cuộc khổ nạn của Ngài, phụng vụ Lời Chúa gọi mời chúng ta suy nghĩ về ơn gọi của người Kitô hữu trong tương quan với Đấng chịu khổ hình. Trước hết là tương quan giữa ta với Chúa. Kế đến, tương quan của ta với tha nhân và sau cùng là tương quan với chính bản thân mỗi người.

Trang Tin Mừng theo thánh Matthêu hôm nay thuộc về chương đầu trong phần “Thương khó và Phục Sinh” của Chúa Giêsu.

Các môn đệ chủ động đến hỏi Đức Giêsu về nơi chốn để mừng lễ Vượt Qua (c.17), khi đã trả lời cho họ địa điểm rồi, Ngài còn nhắn thêm với chủ nhà: “Thời của Thầy đã gần tới (c.18).

Đây như một lời tiên báo và cũng là ý thức của Chúa Giêsu về cuộc khổ nạn mà Ngài sắp Vượt Qua. Lúc này, các môn đệ không thắc mắc, không bàn hỏi như họ có linh tính sắp có chuyện gì đó xảy ra. Họ tuân lệnh Chúa và làm y theo lời Ngài dặn.

Trước khi bước vào cuộc Thương khó, có nhiều đám mây đen tối bao phủ trên Chúa Giêsu và nhóm 12- nhóm môn đệ thân tín của Ngài. Sự phản bội không đến từ những kẻ căm ghét, thù hằn nhưng lại xuất phát từ cõi lòng xấu xa, tội lỗi của đám bạn bè thân tín “cùng sống, cùng chết” trong sứ mệnh của Ngài. Chúng ta hãy cùng bước vào tâm tình của Chúa Giêsu, khi Ngài đứng trước những đau khổ ấy.

Thật vậy, Tin mừng ngày hôm nay cho chúng ta thấy ai là người cộng tác trực tiếp vào cái chết của Chúa Giêsu. Hẳn người ấy phải là Giuđa (Mt 26,15). Giuđa, người quản lý của nhóm, người kề vai sát cánh cùng Thầy, người được Chúa dạy dỗ, hướng dẫn... và ắt hẳn Chúa cũng mong muốn Giuđa trở thành người phụ tá đắc lực trong cánh đồng truyền giáo cũng như trung thành tuyệt đối với ơn gọi của mình. Nhưng không, hai thứ tội: tội tham tiền (Ga 12,6) và sự thất vọng không tin vào tình thương của Chúa (Mt 27, 3-5) đã đưa Giu-đa đến việc phản thầy, bội bạn.

Vào chiều hôm ấy, khi ngồi vào bàn tiệc và giữa bữa ăn Chúa Giêsu bộc lộ tâm tinh: “Thầy bảo thật, một người trong anh em sẽ nộp Thầy” (c.21). Một lời nói được cất lên giữa một bữa ăn quan trọng, thì điều đó là sự thật, mà là một sự thật đau lòng, đến nỗi “các ông buồn rầu quá sức và lần lượt hỏi: Thưa Ngài, chẳng lẽ con sao?” (c.22). Một lời cảnh báo của Chúa Giêsu khiến các tông đồ xét lại lòng mình. Có lẽ ai cũng thấy lòng trung thành và yêu mến của mình quá mỏng manh và e rằng sẽ có nguy cơ phản bội, nên lần lượt từng người xưng thú tội lỗi “chẳng lẽ con sao?”.

Sự dữ len lõi vào tâm hồn con người, khiến mỗi người nghi ngờ chính mình và nghi ngờ bạn mình. Chúa Giêsu không trả lời theo niềm chua xót của Ngài “kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, là kẻ nộp Thầy” (c.23).

Đúng vậy, kẻ nộp Thầy không phải là người xa lạ, nhưng là một kẻ trong số những con người đã từng chia sẻ cuộc sống thân thiết với Đức Giêsu. Và ngay bây giờ, kẻ ấy vẫn đang ngồi chung bàn với Thầy: bề ngoài thì thông hiệp với Thầy, nên đồng bạn nhưng trong lòng lại nhen nhúm một âm mưu bội phản. Chúa Giêsu thấy rõ hậu quả của sự dối trá ấy, Ngài thở dài “khốn cho kẻ đó…thà đừng sinh ra thì hơn” (c.24).

Khốn ở đây nói lên hậu quả đời sống mai sau của Giuđa nhưng cũng là một nỗi đau đớn khôn cùng của Chúa Giêsu. Ngài không nguyền rủa, không lên án Giuđa, chỉ tiếc thay cho một cuộc đời không biết dừng lại, không cần ăn năn trở về. Ngay cả khi Giuđa cũng hỏi Thầy một câu tương tự như các anh em, Đức Giêsu đã cảnh báo “Chính anh nói đó!” (c,25), Giuđa vẫn không thức tỉnh, vẫn chai lỳ trong tội của mình mà không chạy đến lòng thương xót của Thiên Chúa.

Từ tội lỗi của Giuđa, mỗi người chúng ta cũng được gọi mời, xét mình, nhìn lại tương quan của ta với Chúa trong đời sống mỗi ngày. Chúng ta có yêu mến và chu toàn đúng bổn phận của người Kitô hữu không? Chúng ta đã chu toàn 10 điều răn của Chúa và 6 điều răn Hội thánh như thế nào? Chúng ta đã thực sự đủ mến Chúa yêu người? Chúng ta có thực hành đúng với những gì Hội thánh khuyên hạy? Hay chúng ta đã nhắm mắt, làm ngơ, đánh rơi ơn Chúa để chiều theo những sở thích cá nhân thấp hèn. Như thế, đó cũng là một cách ăn cắp ơn thánh và chiều theo mặc cảm cá nhân khi không mạnh dạn tín thác vào sự quan phòng của Con Ngôi Hai.

Trong tương quan với tha nhân, chúng ta đã sống đạo, thi hành Lời Chúa như thế nào với anh chị em của mình? Thay vì dùng các ơn Chúa ban như tài năng, đức độ, thông minh và lòng nhiệt thành để nâng đỡ, động viên những người kém may mắn để họ có một cuộc sống tốt lành hơn. Trái lại, chúng ta dùng quyền hành, dùng tiền bạc, dùng danh lợi mà Chúa đã ban để trù dập, để hù dọa và đẩy anh chị em đồng loại vào bước đường cùng. Như thế, đó cũng là một trong những hình thức đánh cắp ơn Chúa ban và kiêu ngạo khi không đủ trung thành với ân nghĩa Ngài.

Cuối cùng trong tương quan với chính bản thân, luật Chúa dạy chúng ta phải tôn kính và thờ phượng một mình Ngài mà thôi. Thế nhưng chúng ta nhiều lần phản bội Ngài khi xem tướng, chọn thầy, mê tín...

Chúng ta đã để cho sự yếu đuối bản thân lấn án sự tín trung nơi Chúa và Hội thánh. Thay vì cần mặc lấy tâm tình của Phêrô, mạnh dạn rũ bỏ quá khứ, cậy trông vào lòng xót thương của Chúa để được cứu, chúng ta lại giống như Giu-đa cứng đầu, ương ngạnh và chai lỳ trước tội lỗi. Như thế, đó cũng là một cách thức đánh cắp ơn Chúa để chiều theo những sở thích và yếu đuối cá nhân. Tệ hại hơn, chúng ta đã không trọn tín nghĩa với lời hứa trong ngày lãnh nhận Bí tính Thanh Tẩy.

          Tam Nhật Thánh đã gần bên, Hội Thánh cho ta nghe lại đoạn Tin Mừng nói về việc Giuđa phản bội để muốn nói với mỗi người chúng ta rằng: trong cái chết đau thương của Chúa, cũng có bàn tay của chúng ta nhúng vào bằng tội lỗi của chính mình. Chúng ta có thể kết án Giuđa bán Chúa, kết án các Tông Đồ đã hèn nhát bỏ trốn, kết án dân Do Thái phản bội, kết án quân dữ quá dã man…nhưng người mà chúng ta cần kết án trước tiên đó là chính mình : bởi tôi và do tội lỗi của tôi mà Chúa đã phải chịu chết thê lương dường ấy.

 

THỨ NĂM TUẦN THÁNH

Is 61:1-3,6,8-9; Tv 89:21-22,25,27; Kh 1:5-8; Lc 4:16-21; Xh 12:1-8,11-14; Tv 116:12-13,15-16,17-18; 1 Cr 11:23-26; Ga 13:1-15

BÀI HỌC YÊU THƯƠNG

trong khung cảnh ấm cúng của bữa Tiệc Ly, trước khi bước vào cuộc khổ nạn ta thấy Chúa Giêsu đã diễn tả tình yêu khiêm hạ của mình cho các môn đệ yêu quý.

Và rồi hết sức đặc biệt, qua hành vi cúi mình rửa chân cho các Tông Đồ, một lần nữa, Chúa Giêsu đã minh chứng rằng Người đến trần gian không phải để được người ta phục vụ, nhưng đến để phục vụ mọi người. Hành động rửa chân cho các môn đệ còn là bài học sống động mà Chúa Giêsu muốn truyền lại cho những ai muốn đi theo Người. Đó là bài học khiêm tốn phục vụ mọi người trong yêu thương: “Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau”.

          Đức Giêsu đã chỗi dậy ra khỏi bàn ăn. Ở đây nói lên sự vượt qua của Ngài khác nào dân Do Thái khi xưa đi qua biển đỏ. Vượt qua đối với Chúa Giêsu không có nghĩa là trở về cùng Chúa cha nhưng còn có nghĩa trao ban thịt máu, là thí mạng vì đoàn chiên. Chính vì thế, Gioan đã tả lại hành vi của Đức Giêsu: Chúa Giêsu chỗi dậy, cởi áo ra.

Đây là hành vi lột bỏ tất cả, trở thành nô lệ để phục vụ như người nô lệ. Hành vi rửa chân của Chúa Giêsu gợi lại hình ảnh Ngài sẽ hư vô hóa đời Ngài trên thập giá. Việc Ngài cầm chậu quỳ gối rửa chân cho các môn đệ cho thấy sự tự hủy của Ngài như thánh Phaolô đã viết cho tín hữu Philip:”…Người đã lĩnh lấy thân phận tôi đòi”…Chúa Giêsu cũng trở nên nghèo khó để làm cho người khác nên giầu có. 

Việc rửa chân của Chúa Giêsu còn diễn tả”tình yêu cho đến cùng của Chúa Giêsu”. Chúa là Thầy và là Chúa mà đã nêu gương và dậy các môn đệ và chúng ta cũng làm như vậy. Điều đáng lưu ý trong việc rửa chân cho các môn đệ là thái độ của Chúa Giêsu trước Giuđa Iscariốt kẻ phản bội Ngài. Chúa Giêsu đã tỏ ra nhân đạo và tự chủ hết mình trước kẻ phản bội. Ở đây chúng ta nhận ra một điểm sâu xa khác là Ngài hạ mình ngay cả trước kẻ sẽ phản bội Ngài. Cử chỉ này của Đức Giêsu đã tỏ rõ nét Chúa yêu thương môn đệ cho đến cùng.

Hiểu được việc rửa chân của Chúa Giêsu cho các môn đệ chiều nay, chúng ta mới hiểu rõ hơn việc Ngài thiết lập Bí Tích Thánh Thể trong khung cảnh Ngài tự hủy mình.Chúa Giêsu đã chọn khung cảnh lễ vượt qua của người Do Thái để thiết lập Bí Tích Thánh Thể, Bí Tích Tình Yêu.

Trong lễ vượt qua của người Do Thái, người ta ăn bánh không men,rau diếp đắng, nhưng còn sát tế chiên con, lấy máu bôi trên cửa để Chúa không giết các con đầu lòng của người Do Thái, con chiên được người ta nướng mà ăn. Con chiên người Do Thái ăn lễ vượt qua chính là hình bóng của Đức Giêsu chiên vượt qua của chúng ta. Là chiên vượt qua Chúa Giêsu đã trở nên của ăn của uống cho ta và gánh tội cho ta. Ngài đã thực hiện điều đó trong đêm Ngài bị nộp.

Bao lâu ta còn chưa chịu để cho Chúa ‘rửa chân’ cho, bấy lâu ta còn thi hành một thứ bác ái trịch thượng của bậc kẻ cả, phục vụ đấy mà trên thế thượng phong ban phát. Riêng với các linh mục cảm nghiệm này còn phải cụ thể và thường xuyên hơn nữa; chẳng hạn, có bao giờ linh mục ngồi vào tòa giải tội trong tư thế mình còn thấp hèn hơn cả các hối nhân tới xưng tội, hoặc tiến ra cử hành Thánh Lễ mà cảm thấy Chúa đang cúi xuống rửa chân cho mình…, hoặc khi rước mình và máu thánh Chúa mà nghiệm thấy quá bất xứng vì  được Chúa biến thành miếng ăn nuôi sống con người tội lỗi và bất toàn như mình chăng?

Nhiều lần khi cho rước lễ tôi đã tận mắt chứng kiến việc Chúa đi vào các môi miệng, được trao vào các bàn tay mà đôi khi chính bản thân mình còn cảm thấy rờn rợn? Thế đấy, chính vì ‘để Thày rửa chân cho’ thường xuyên bị lãng quên mà bác ái phục vụ rất ít khi thực sự là quên mình, là cúi xuống; Thánh Lễ lúc đó sẽ nặng về tính thờ phượng kính tôn hơn là “Người yêu thương đến cùng”, ‘Alter Christus’ mang nặng nội dung chức thánh địa vị hơn là ‘mục tử tự hiến’, “vào chung phần với Thầy” được cắt nghĩa là vào hưởng vinh quang thiên quốc hơn là tham dự vào tình yêu thập giá tự hủy của Đức Ki-tô, và còn nhiều điều khác nữa…

“Yêu đến cùng”, một mặt muốn diễn tả sự chung thủy của tình yêu – yêu cho đến chết; mặt khác, “yêu đến cùng” còn muốn nói lên tính vượt trội, nghĩa là vượt trên tất cả những gì con người có thể tưởng tượng được để bày tỏ tình yêu. Đức Ki-tô đã yêu thương những kẻ thuộc về Ngài bằng một tình yêu như thế. Để biểu lộ tình yêu cao độ này: Ngài đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ; 

          Chúa Giêsu đã nêu gương yêu thương. Đó là yêu thương bằng sự phục vụ trong âm thầm và khiêm tốn. Chúa Giêsu không chỉ dạy ta yêu thương qua việc rửa chân cho các Tông Đồ hôm xưa, mà hôm nay, qua phép Thánh Thể, Chúa Giêsu hiện tại hóa tình yêu của Ngài cho nhân loại. Bằng việc trao ban chính mình, hiến thân trọn vẹn dưới hình bánh rượu, Chúa Giêsu thông ban sự sống thần linh cho chúng ta. Đón rước Mình và Máu Chúa Kitô, mỗi người chúng ta được mời gọi trao ban chính mình cho tha nhân, cúi mình phục vụ anh chị em với lòng mến, cụ thể trong môi trường ta đang sống hằng ngày, là gia đình, giáo xứ, trường học, công xưởng và xã hội.

Mỗi người chúng ta ngày hôm nay cũng được mời gọi bắt chước thái độ “yêu đến cùng” của Chúa, khi biết khiêm tốn phục vụ trong những điều nhỏ bé nhất một cách không tính toán; không quảng đại dấn thân vì Tin Mừng; chấp nhận sống cảnh âm thầm, vô danh. Chúng ta cũng được mời gọi để sẵn sàng chấp nhận phần thiệt thòi để người khác được nhiều phần lợi hơn.

Bài học ‘rửa chân’ thật mấu chốt và quan trọng biết bao! Thế nhưng thật đáng tiếc nó thường bị coi (kể cả bởi các chủ tế cử hành) chỉ như một biểu tượng cá biệt hơn là diễn tả hoàn hảo một mạc khải về tình yêu trao hiến phục vụ đích thực. Tệ hơn nữa nó còn bị thu hẹp thành một nghi thức phụng vụ được cử hành trong Thánh Lễ ngày Thứ Năm Tuần Thánh… và sau đó là kết thúc luôn, không còn được thực thi cách cụ thể trong cuộc sống đức tin của cuộc sống thường ngày.

 

March 27, 2021