April 17, 2018

suy niệm Lời Chúa..

by Huệ Minh

 

CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH, NĂM B

Cv 3:13-15,17-19; Tv 4:2,4,7-8,9; 1 Ga 2:1-5; Lc 24:35-48

LÀM CHỨNG VỀ THẦY

 

Có thể nói vấn nạn lớn nhất của người Kitô Hữu đó là niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh.  Là con người, ai ai cũng phải giới hạn bởi sự chết. Và đối diện với cái chết, khi con người nhắm mắt xuôi tay rồi, không ai có thể sống lại được.  Rõ ràng rằng, trong cuộc đời mỗi người chúng ta, những người đã chết chúng ta thấy chẳng ai sống lại cả. Và ngay cả Lazarô chết, được Đức Kitô cho phục sinh nhưng rồi sau đó Lazarô cũng phải chết.

 Thế nhưng rồi, nơi Đức Kitô Ngài đã phục sinh.  Ngài đã dùng nhiều cách để bày tỏ cho các môn để biết rằng: Ngài đã sống lại.

Sự kiện mà cái Ngôi Mộ trống đó  chưa phải là bằng chứng của Đức Kitô đã phục sinh.  Nhưng rồi, sự kiện mà ngôi mộ trống đó đã mời gọi mỗi người chúng ta suy nghĩ về niềm tin của mỗi người chúng ta.

Chúa Giêsu phục sinh đã hiện ra cho Maria Madalena, với 11 môn đệ, và cho đám đông 500 người còn sống.Và như thế, chúng ta không thể nào gọi là ảo giác, bởi vì tất cả những người đó đã thấy được Đức Kitô phục sinh.

Và thánh Luca thuật lại, thì các ông tưởng thầy mình là ma. Chúng ta thấy ma làm gì có xương có thịt.  Và đặc biệt, Chúa Giêsu củng cố niềm tin cho các môn đệ, Ngài đã cho các môn đệ xem thương tích nơi tay chân để chứng tỏ Ngài có xương có thịt, chứ không phải là một Oan Hồn hay là một Vong Hồn.

Và rồi hình như các môn đệ vẫn nghi ngờ và Người lại đề nghị cho họ sờ chân tay để kiểm chứng và thấy họ hoài Chúa Giêsu lại ăn miếng cá nướng trước mặt họ để chứng tỏ cho họ thấy rằng Ngài đã phục sinh. Thật sự nếu mà làm là ma nếu mà là vong hồn thì không thể nào mà nhai, nuốt như vậy!  Cách diễn tả như thế để cho chúng ta thấy rằng: một Đức Kitô Phục Sinh đã đến với các môn đệ. Đức Kitô Phục Sinh đã khắc niềm tin nơi các ông: Cho xem cạnh sườn luôn! bởi vì cạnh sườn bị dấu đinh đóng là cái kết quả của sự gian ác của con người và rồi chúng ta thấy:

Với Máccô khi nói về các lầm lỗi của các môn đệ thì Ông chẳng che giấu và nói toạc móng heo. Thánh Luca thì luôn luôn bênh vực các môn đệ. Những lỗi lầm của các môn đệ thì Luca luôn tìm cách để che đậy!  Ở đây cũng vậy, Luca luôn luôn bao che cho các môn đệ, lý do rằng các ông chưa tin Chúa Giêsu phục sinh là vì các ông mừng quá đấy thôi!  chứ không phải các ông yếu tim.

Thế nhưng mà, chúng ta thấy tâm tình quý trọng các môn đệ nơi thánh Luca rất là đặc biệt. Và ngày hôm nay chúng ta thấy Chúa Giêsu đã phục sinh thực sự.  

Và lời mời gọi của Chúa Giêsu phục sinh ngày hôm nay rất tuyệt vời cụ thể nơi bài đọc thứ nhất.  Thánh Phêrô kể ra một cách cụ thể để mà làm chứng Đức Giêsu phục sinh đó là cái cách chúng ta Sám Hối :

“Hỡi anh em, thế nhưng tôi biết rằng anh em đã hành động vì không biết như  các thủ lãnh anh em đã làm. Thiên Chúa đã hoàn tất việc Người dùng miệng ngôn sứ mà báo trước, Đức Kitô của Người đã chịu khổ hình. Vậy anh em hãy ăn năn hối cải, ngõ hầu anh em được xóa bỏ  tội lỗi”

Sự thật rõ ràng là : tôi đã làm chứng. chúng ta đánh mất một đức tin nơi Thiên Chúa, nơi Đức Kitô phục sinh. Vì thế, chính vì tội đã làm cho con người ta không còn tin vào Chúa nữa. Và vì thế cần phải ăn năn sám hối, để chừa bỏ tội lỗi chứ thường thì, những người quen phạm tội thì dần dần mất đức tin, và nếu còn đức tin thì rất yếu ớt khi gặp sóng gió giữa cuộc đời. Do đó Câu hỏi đặt ra lúc đầu về sự nghi ngờ về Đức Kitô phục sinh và sự Phục Sinh Của Đức Kitô không phải là không có lý do vậy Muốn nhìn thấy niềm tin của mình còn vững chắc hay không thì theo Thánh Phêrô xét xem mình có phạm tội hay không và biết ăn năn sám hối hay không?

Sám hối là gì ? Anh em đã chối bỏ Đấng Thánh là Đấng công chính mà tha cho kẻ sát nhân.

Sám hối là chúng ta thay đổi cách nhìn về Chúa Giêsu. Từ đóng đinh, giết chết, treo trên thập giá  mà nay chúng ta phải tin Ngài là Đấng Công Chính chúng ta phải thay đổi cách nhìn về Chúa Giêsu, thay đổi cái đời sống chúng ta. 

Và rồi chúng ta được mời gọi rao giảng về Đức Kitô Phục Sinh, là trước hết chúng ta phải Sám Hối. Bản thân của chúng ta Sám Hối, bản thân của chúng ta thay đổi về cái nhìn của Chúa Giêsu phục sinh.  

Cùng với Chúa Giêsu phục sinh chúng ta thay đổi về cái nhìn của giá trị, tận tâm can của chúng ta. Nó thực tế, vì trong kinh Tin Kính chúng ta đọc: " Tôi tin xác loại người ngày sau sống lại." Tuyên xưng như vậy có rất nhiều câu hỏi nơi mỗi người chúng ta. 

Và cái niềm tin của chúng ta tin vào Chúa Kitô phục sinh sống đó, nó phải diễn tả trong đời thường của chúng ta, chứ không phải ở trên môi trên miệng trên lời nói của mỗi người chúng ta . Và rất, rất khó khăn, bởi vì ngày hôm nay,  giữa một cái trào lưu của một thế giới hưởng thụ, văn minh lên cao; con người thích lợi nhuận, thích tìm những việc thực tế,  con người ưa thực dụng hơn là suy nghĩ động não, thì Tin Mừng hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta, chúng ta hãy làm chứng cho Người . 

Chúng ta làm chứng cho Đức Kitô là : chúng ta giới thiệu một Đức Kitô đã sống lại và đang hiện diện với con người,  với nhân loại. Và làm chứng rằng cho thế giới biết rằng: Chúa Giêsu phục sinh không đòi hỏi lợi nhuận tiền bạc, nhưng chúng ta sống bằng chính cái đời sống đức tin của chúng ta.  Và đặc biệt, đó là sống cái niềm tin của chúng ta bằng đời thường, bằng lòng mến, bằng lòng bác ái của chúng ta.  

Thì chúng ta nhìn vào các môn đệ, chính các môn đệ đã chấp nhận  đòn roi khổ cực, tù ngục và sẵn sàng chết vì Đức Kitô . Ngày hôm nay, chúng ta không phải đối diện bằng những cái chết tử đạo, bách hại đạo như các thánh tử đạo ngày xưa, nhưng chúng ta được mời gọi loan báo Tin Mừng Chúa Kitô Phục Sinh bằng đời sống yêu thương, bằng đời sống tha thứ, bằng những việc làm cụ thể.  Đức Cố giáo hoàng Phaolô 6 nói: ngày hôm nay, người ta cần những chứng nhân chứ không cần những thầy dạy nữa! 

Mà quả thật những thầy dạy nghiên cứu về thánh kinh về thần học, về triết học về khoa bảng quá nhiều! Ngày hôm nay những người làm chứng về Chúa Kitô phục sinh bằng đời sống của mình rất hiếm. Nhưng mà «hiếm», nhưng mà có! chứ không phải không! 

Chúng ta hãy nhìn nơi gương của Mẹ Têrêsa Calcutta, một người phụ nữ tiều tụy ốm yếu, đau khổ,  nhưng mẹ đã có một trái tim của Giêsu, mẹ mang trong mình trái tim của Giêsu: một trái tim yêu thương. 

Chúng ta nhìn vào gương của một Phanxicô khó khăn, đã chấp nhận, đã từ bỏ tất cả sự giàu có vinh hoa phú quý của gia đình, để sống nghèo, để yêu thương và lo lắng cho người nghèo. Hay đơn giản, chúng ta có thể nở một nụ cười, nở một nụ cười như Đức Cố Giáo hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhất. Và đặc biệt gương của lòng tha thứ gương của sự vị tha còn đó nơi Đức Cố Giáo hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, cái sự tha thứ đã làm nên khuôn mặt của ngài, ngài đã yêu thương đã diễn tả lòng thương xót.

 Tất cả những chứng nhân đó tất cả những vị thánh đó làm chứng cho một Đức Kitô Phục Sinh.  Thật sự ra, nơi con người của chúng ta vẫn là những con người yếu đuối, chúng ta vẫn mang trong mình cái phận người. Nói yêu thương, nói tha thứ, không phải là chuyện đơn giản. Đó là những cái thách đố của cuộc đời chúng ta. 

Thế nhưng, không phải là không làm được! và không bao giờ làm được! Làm được, Nếu có ơn Chúa! Đặc biệt chúng ta biết kết hợp vào với Đức Kitô Phục Sinh, nơi mỗi thánh lễ chúng ta tham dự. Khi chúng ta tham dự thánh lễ, là chúng ta rước Đức Kitô Phục Sinh vào trong cuộc đời của mỗi người chúng ta. Để rồi khi CHÚA ở trong ta, ta ở trong CHÚA. Chúng ta kết hợp với Đức Kitô, thì chính khi ấy Chúa  sống trong ta và ta sống trong Chúa .

Nhờ vào ơn Chúa  chúng ta sẽ diễn tả cái đời sống Yêu Thương,  bác ái đó cho anh chị em chúng ta, nơi những người chúng ta gần gũi.

Có thể chúng ta còn nghèo, có thể chúng ta không có tiền bạc, có thể chúng ta không có tài sản; nhưng mỗi người chúng ta vẫn có một nụ cười. Mỗi người chúng ta vẫn có một lòng vị tha. Mỗi người chúng ta vẫn có ánh mắt nhân từ,  để tha thứ cho anh chị em những người làm tổn hại chúng ta, những người sát hại chúng ta và những người gây đau khổ cho chúng ta.

Thế đấy, một Đức Kitô Phục Sinh đã, đang, và đã sống lại, và mời gọi chúng ta hãy lên đường làm chứng về Thầy, làm chứng về Đức Kitô Phục Sinh. Là người Môn Đệ của Đức Kitô, chúng ta luôn luôn được mời gọi để sống Tin Mừng Phục Sinh đó, trong cuộc đời của chúng ta. 

Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta, để đặc biệt, trước hết, chúng ta sám hối về tội lỗi của chúng ta. Vì chúng ta đã đóng đinh Đức Kitô vào thập giá, và chúng ta lại lên đường loan báo một Đức Kitô Phục Sinh đã yêu thương chúng ta khi chúng ta còn là tội nhân. Chúng ta lên đường loan báo một Đức Kitô Phục Sinh yêu thương, và tha thứ cho những người xúc phạm, cho những người giết hại mình, bằng chính đời sống Yêu Thương, phục vụ và tha thứ, là chính lúc chúng ta tuyên bố Đức Kitô Phục Sinh rõ nét nhất trong cuộc đời chúng ta.

Xin Đức Kitô Phục Sinh đến, ở lại với mỗi người chúng ta.  Và xin cho chúng ta luôn luôn biết kết hợp với Đức Kitô Phục Sinh để chúng ta diễn tả đời sống của một Đức Kitô Phục Sinh trong lời ăn, tiếng nói, trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người chúng ta. Amen.

by Huệ Minh

THỨ HAI TRONG TUẦN 3 PHỤC SINH

Cv 6:8-15; Tv 119:23-24,26-27,29-30; Ga 6:22-29

BÁNH HẰNG SỐNG

Trang Tin Mừng của thánh Gioan hôm nay, ta thấy Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy tìm kiếm cho mình một thứ lương thực ban lại sự sống và hạnh phúc đời đời, đó chính là mình thánh Ngài qua biến cố Phục sinh. "Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận" (Ga 6,27).

Những nhu cầu như ăn, uống, ngủ và giải trí là những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Mọi người luôn cố gắng tìm đủ mọi cách làm sao cho những nhu cầu đó ngày càng một gia tăng hơn trong cuộc sống. Những người đủ ăn thì cố gắng làm để ăn ngon hơn và mặc ấm hơn. Còn những người đã có những đồ ăn ngon thì muốn mặc đẹp hơn, thời trang hơn và tìm kiếm những nhu cầu giải trí nhiều hơn. Đây cũng là một điều hết sức bình thường trong cuộc sống.

Trang Tin Mừng này Chúa Giêsu muốn cảnh báo cho chúng ta về những nhu cầu này và chỉ cho chúng ta một loại lương thực không bao giờ hư mất và rất quan trọng trong đời sống thể xác cũng như thiêng liêng của chúng ta. Chúa Giêsu cảnh báo cho chúng ta về thứ lương thực thường ngày mà mọi người đang tìm kiếm như của ăn, tiền tài, danh vọng. Tuy chúng cần thiết cho sự tồn tại của chúng ta nhưng chúng chỉ là những thứ chóng qua không mang lại hạnh phúc đích thực và không khéo chúng ta sẽ coi chúng là mục đích sống cuối cùng của mình trên đời này.

Chúa Giêsu Kitô luôn yêu thương chúng ta, tình thương của Ngài dành cho chúng ta hơn cả tình thương của người cha dành cho người con. Chúa Giêsu không chỉ nói cho chúng ta biết chính Ngài là bánh hằng sống đem lại hạnh phúc và sự sống đời đời, là cùng đích cuối cùng để chúng ta tìm kiếm mà Ngài còn hướng dẫn chúng ta con đường đi đến cùng đích này là hãy tin vào Đức Kitô Phục sinh. "Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến" (Ga 6,29).

Ðám đông được Chúa Giêsu cho ăn no nê ngày hôm trước, ngày hôm sau vẫn còn đứng bên kia bờ Biển hồ. Chúa Giêsu đã đọc được động lực thúc đẩy họ tìm kiếm Ngài, họ đã đi tìm kiếm Ngài không phải vì Ngài là đối tượng của khát vọng tìm kiếm của họ, mà chỉ vì đã được Ngài cho ăn no nê; họ đi tìm kiếm không phải vì đã nhận ra ý nghĩa của phép lạ nhân bánh và cá ra nhiều; họ đi tìm kiếm Ngài không phải vì chính Ngài đã mang lại ý nghĩa và giá trị cho cuộc sống của họ; họ đi tìm kiếm Ngài không phải vì giáo huấn của Ngài; họ đi tìm kiếm Ngài không phải vì những giá trị cao quí của cuộc sống mà Ngài đến để bày tỏ. Cái đám đông ấy bị lôi kéo bởi những cái hời hợt, nhất thời và chóng qua là cơm bánh. Ðây chính là bi kịch đã xảy ra cho Chúa Giêsu. Ðám đông đã khước từ Ngài và treo Ngài lên thập giá chỉ vì họ đã không hành động theo những xác tín thâm sâu thể hiện trên đạo lý, trên tiếng gọi của lương tâm, mà chỉ sống theo cảm tính và những xu thế mù quáng. Ðây cũng chính là nguy cơ mà người tín hữu Kitô có thể rơi vào.

Với phép lạ này, Chúa chỉ giúp họ khỏi đói trong vài giờ, và đây là cái đói của thân xác. Phép lạ này dù lớn, nhưng chỉ nuôi được một đám đông vài ngàn người, vẫn còn bao người trên thế giới cần được nuôi ăn. Đức Giêsu mong nuôi được nhiều người hơn, nuôi được mọi người. Không phải chỉ nuôi về thân xác, mà nhất là về tinh thần. Không phải chỉ nuôi bằng thức ăn trần thế là bánh và cá, mà nuôi bằng giáo huấn của mình, bằng chính con người mình. 

Sau phép lạ bánh hóa nhiều, khi đám đông định tôn Đức Giêsu lên làm vua, chắc họ đã nghĩ đến sự bảo đảm về mặt vật chất mà Ngài mang lại. Lúc nào cũng có bánh ăn no nê, đó là ước mơ của nhiều người nghèo thời ấy. Nhưng Chúa Giêsu đã từ chối đứng lên khởi nghĩa giành độc lập. Ngài không phải là một Mêsia làm chính trị. Bánh và cá mà Ngài giúp họ tạm thời vượt qua cơn đói chỉ là thứ lương thực mau hư nát dành cho xác thân (c. 27). Lương thực đó là dấu chỉ cho một thứ lương thực khác Ngài sắp ban. Đó là lương thực thường tồn đem lại sự sống vĩnh cửu (c. 27). Hẳn nhiên, lương thực sau này quan trọng hơn nhiều. 

Chúa Giêsu là Bánh Hằng sống. Không những Lời của Người là lương thực nuôi dưỡng tâm linh mà Người còn ban chính Thân Thể Cực Thánh của Người làm bánh dưỡng nuôi linh hồn. Khi tham dự Thánh lễ và lãnh nhận Thánh Thể Chúa trong niềm tin, chúng ta cũng được mời gọi sống tình hiệp thông huynh đệ, trở nên tấm bánh bẻ ra cho mọi người; chúng ta có nhiệm vụ làm cho cuộc sống trở nên phong phú và xây dựng hạnh phúc cho con người.

Chúa Giêsu mở đấu bài tường thuật về bánh Hằng Sống. Ta thấy được ban đầu họ khao khát tìm kiếm Chúa Giêsu, và đến với Ngài chỉ là do lợi lộc cá nhân. Liên tưởng đến cuộc sống chúng ta nhiều lúc cũng giống như họ, chỉ chạy đến Chuá khi buồn phiền hay khi gặp khó khăn, chạy đến Ngài để cầu xin ơn này đến ơn khác, chứ chưa thật sự vì lòng mến yêu Ngài. Do đó điều chúng ta cần làm là phải: " hãy ra công làm việc không phải vì lương thực hay hư nát " . Điều này đòi hỏi chúng ta hãy ý thức mỗi khi chạy đến với Chuá khổng chỉ vì phần xác mà chính là phần hồn. Tiêu biểu là bánh Hằng Sống chúng ta lãnh nhận mỗi ngày qua thánh lễ.

Ta là Bánh hằng sống, là Bánh ban xuống bởi Trời. Ta là Bánh trường sinh. Ai ăn sẽ sống muôn đời. Đây mình Ta chính là của ăn và máu Ta thật là của uống. Người ăn bánh này không còn đói khát chi. Người uống máu này sẽ được trường sinh.

Lạy Chúa Giêsu, trong từng giây phút của cuộc sống xin cho chúng con luôn ý thức được tầm quan trọng của Bí tích Thánh Thể và năng chạy đến với Bí tích tình yêu này. Để từ đây, trong cuộc sống chúng con luôn có hiện diện và đồng hành ở bên. .

 

 

THỨ BA TRONG TUẦN BA PHỤC SINH

Cv 7:518; Tv 31:3-4,6-7,8,17,21; Ga 6:30-35

NẾM THƯỞNG BÁNH TRƯỜNG SINH

Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, uy tín và tiếng đồn về Chúa Giêsu ngày một vang xa.Một số người vì óc tò mò kéo nhau đến theo Chúa để tìm hiểu thực hư thế nào Một số người tỏ ra ngưỡng mộ quyền năng của Chúa. Thế nhưng còn một số vẫn chưa thỏa mãn, họ muốn đòi thêm một bằng chứng khác phi thường hơn nữa. Họ bắt đầu so sánh việc làm của Chúa với tổ tiên của họ, bánh của Chúa có gì khác với man-na của cha ông họ.

Chúa Giêsu giải thích cho họ biết “không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian”. Chúa Giêsu còn khẳng định: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!”

Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy qua những nhu cầu vật chất đời thường, Đức Giê-su mời gọi con người tin và đón nhận Ngài như thần lương nuôi sống linh hồn để đạt được sự sống đời đời, sự sống vĩnh cửu không bao giờ hư mất.

Con người ta thường hiếu kỳ, thích dấu lạ (c.30). Chẳng phải chỉ những người đương thời Chúa Giêsu mà người thời nay cũng thế, mỗi khi nghe ở đâu có sự lạ là người ta ùn ùn kéo đến; lắm khi phải vượt đường xa vạn dặm, tốn tiền, tốn của, người ta cũng vẫn sẵn sàng để được chứng kiến dấu lạ, mà thường khi họ lại chẳng thấy gì hết.

Do đó, việc hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng của Chúa Giêsu là sự lạ khá hấp dẫn đối với người Do Thái đương thời; bởi chẳng phải cũng vì cơm bánh mà người ta phải lao tâm khổ trí, vất vả nhọc nhằn đó sao. Họ liên tưởng đến tổ tiên họ đã được ăn manna – bánh từ trời rơi xuống; và sự kiện này xem ra còn kỳ diệu hơn cả phép lạ Chúa Giêsu đã làm. Họ chất vấn Chúa Giêsu: “Ông sẽ làm gì đây?” Theo người Do Thái thì một ngôn sứ đích thật phải làm được dấu lạ nào đó cho họ tin. Ở đây, họ muốn so sánh Chúa Giêsu với ông Môsê; Môsê đã cho tổ tiên họ manna, còn Chúa Giêsu, Ngài làm được gì? Câu hỏi dường như có ngầm ý khích Chúa Giêsu tỏ uy quyền của Ngài và làm cho họ những cái lời lớn hơn.

Chúa Giêsu cho người Do Thái biết không phải ông Môsê cho họ bánh bởi trời mà chính Thiên Chúa ban cho họ; Bánh manna thực sự chỉ là một tiên báo về Chúa Giêsu – bánh đích thực Thiên Chúa sẽ ban cho con người. Con người nhắm vào vật chất, nhưng Chúa Giêsu muốn đưa người ta lên cao hơn, đó là đời sống đức tin. Thánh Phaolô thường khẳng định: “Nhờ tin mà anh em được cứu độ” (Ep 2,8). Từ lương thực chóng hư, Chúa Giêsu hứa ban lương thực không bao giờ hư nát là chính mình Người (c.35). Tuy nhiên với đầu óc u mê, cặp mắt thiển cận, người ta chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt mà không nhìn thấy cái lợi trăm vạn lần hơn, đó là được chính Thiên Chúa. Người ta chỉ quan tâm đến nhu cầu của thân xác hay chết mà ít quan tâm đến nhu cầu tinh thần, nhu cầu đem đến sự sống muôn đời cho con người.

Chúa Giêsu chính là bánh hằng sống từ trời xuống, ai tin và đón nhận Ngài sẽ không hề phải đói khát bao giờ (c.35). Đến với Chúa Giêsu, chúng ta sẽ có lương thực nuôi sống linh hồn; Ngài sẵn sàng ban cho chúng ta Lời của Ngài, như kim chỉ nam dẫn lối và thân thể Ngài như của ăn để chúng ta tiến bước về quê hương đích thật. Có Ngài cùng đồng hành trong cuộc sống chúng ta chẳng còn phải lo lạc lối hay đói khát tinh thần.

Và rồi, trong cuộc sống lắm khi những nỗi vất vả và lo toan làm chúng ta quên Chúa; nhưng Chúa Giêsu, Ngài đã nói: “Hỡi những ai vất vả gồng gánh nặng nề, hãy đến với ta, ta sẽ nâng đỡ và  bổ sức cho các ngươi”. Con người đói khát thể lý đã bi thảm, nhưng con người đói khát tinh thần càng vạn lần bi thảm hơn. Hầu hết những đau khổ của con người từ vật chất đến tinh thần đều có nguyên nhân từ việc đói khát tinh thần mà ra. Thế giới ‘vắng bóng’ Thiên Chúa, thì trở thành tranh dành, hận thù, ích kỷ, huynh đệ tương tàn, con người không có Thiên Chúa, trống vắng tâm linh thì dầu cho có lắm của cải vật chất, địa vị, danh vọng… cũng không bao giờ thỏa mãn được.

Khi khẳng định “Chính tôi là bánh trường sinh”, Chúa Giêsu cũng khẳng định quyền năng và tình thương yêu của Thiên Chúa. Vì chỉ Thiên Chúa mới có được sáng kiến và quyền năng làm cho loài người được sống và sống bất diệt. Vì quá yêu thương thế gian nên Thiên Chúa đã sai Con Một đến để ai tin vào Người Con ấy thì không phải chết nhưng sẽ được sống đời đời. Như vậy điều kiện để sống đời đời không phải chỉ ăn thứ bánh vật chất nhưng phải có lòng tin.

Tin nhận Chúa Giêsu là để cho Người đi vào trong cuộc sống của chúng ta, là chấp nhận tất cả những thách đố của Tin Mừng, là đón nhận thánh giá như món quà của tình yêu, là đón nhận được ánh sáng rạng ngời của sự sống mới trong bóng đêm của cảnh chết chóc. Tin nhận Chúa Giêsu là chấp nhận sự “điên rồ” của thập giá trong cái khôn ngoan của Thiên Chúa.

Trong đời sống thiêng liêng, niềm tin là điều cần thiết để chúng ta nhận ra sự hiện diện Thiên Chúa, nhận ra tình yêu thương Ngài đã dành cho chúng ta. Giáo lý Công giáo dạy chúng ta rằng đức tin trước tiên là ơn ban đến từ Thiên Chúa. Vì như Chúa Giêsu khẳng định rằng: “Không ai có thể đến với Tôi, nếu Cha Tôi không lôi kéo người ấy” (Ga 6, 44).

Đức tin là một ân sủng, là một ơn huệ mà Chúa ban cho ta, theo bản tính tự nhiên ta không thể đòi hỏi, có chăng là chỉ cầu mong và hy vọng được ban cho ơn ấy. Đức tin là ánh sáng chiếu soi cho ta thấy Thiên Chúa và các điều kín ẩn của Người. Đức tin từ trời cao ban xuống, là trí tuệ và tình yêu của Thiên Chúa ban để soi sáng trí khôn con người.

Chúng ta tự vấn lương tâm xem thử trong cuộc sống chúng ta đặt niềm tin nơi đâu? Nơi của cải vật chất, danh vọng địa vị… hay nơi Đức Giêsu Ki-tô – con Thiên Chúa, Đấng đem ơn Cứu độ và sự sống đích thật, sự sống thần linh cho con người. Thiết tưởng nếu chúng ta chỉ chăm lo đến cuộc sống tạm bợ, nay còn mai mất mà không quan tâm đến cuộc sống vĩnh cửu thì còn gì ngu dại bằng. Xin Thiên Chúa ban thêm đức tin cho chúng ta, để trong mọi hoàn cảnh cuộc sống chúng ta biết chạy đến với Ngài, cậy dựa vào Ngài. Xin cho chúng ta biết quí trọng, yêu mến, và năng lãnh nhận Thánh Thể Chúa, để chúng ta có thêm sức mạnh vượt qua những cam go thử thách trong hành trình tiến về quê hương đích thật là nước trời.

Mỗi người chúng ta luôn được mời gọi đến thưởng nếm bánh trường sinh để được sống trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa. Lạy Chúa, xin trao về Chúa trọn vẹn con người, trái tim, mọi ước muốn và bước đường tương lai của chúng con. Xin dẫn chúng con tới đồng cỏ xanh tươi, cho con được no thỏa bên dòng suối mát vì Chúa chính là niềm hạnh phúc đích thực.

THỨ TƯ TRONG TUẦN 3 PHỤC SINH

Cv 8:1-8; Tv 66:1-3,4-5,6-7; Ga 6:35-40

HÃY ĐẾN ĐỂ ĂN BÁNH TRƯỜNG SINH

Ta thấy Thánh Gioan trong Tin Mừng của Ngài ở chương 6 nói về Diễn từ “Bánh Trường Sinh”. Đây là một chương đặc biệt nói về Bí Tích Thánh Thể và đã được Giáo Hội chọn dùng trong dịp đại lễ Kính Mình Máu Chúa. Mở đầu chương 6 với phép lạ Hóa bánh ra nhiều, Chúa Giêsu như muốn giới thiệu và khai mở một mầu nhiệm Tình yêu cao siêu, đó là : chính Ngài trở nên Bánh nuôi dưỡng con người. Một thứ Bánh thần lương có đủ mùi vị thơm ngon, làm no thỏa lòng người.

Mở đầu trang Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe đó là lời xác định “Chính tôi là Bánh trường sinh”. Một lời quả quyết chắc chắn cũng chính là lời tự nguyện mang sự an vui đến cho con người : “Ai đến với Tôi, không hề phải đói, ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ” (c. 35).

Ta thấy nhu cầu thiết yếu để tồn tại của sinh vật trên trái đất chính là ăn uống. Từ thời hoang sơ khi con người chưa biết đến sách vở, chưa biết đến ti vi, hon đa, xe hơi, vi tính… thì con người đã biết làm sao để sinh tồn, đấu tranh để sinh tồn – đó chính là tìm kiếm lương thực để ăn. Do đó cơm bánh là nhu cầu thể lý thiết yếu để con người có thể sống. Con người có thể thiếu sách vở, thiếu ti vi, thiếu hon đa; con người có thể không xem phim, không có những phương tiện giải trí đủ loại; nhưng con người không thể không có cơm bánh.

Và rồi Đức Giê-su đã ví Người là ‘Bánh’ – Bánh trường sinh – Bánh ban sự sống đời đời –  cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của Ngài trong cuộc sống chúng ta. Cũng như sự sống thể lý con người cần cơm bánh, thì trong lãnh vực đời sống tâm linh chỉ Đức Giê-su mới thỏa mãn được cơn đói khát của con người; và chính đời sống tâm linh là yếu tố chi phối toàn bộ đời sống con người - nếu đời sống tâm linh sung mãn thì cuộc sống con người mới thực sung mãn.

Một lời hứa đem lại sự sống qua việc giải quyết những vấn nạn tự nhiên của con người như đói, khát. Đó cũng là nhu cầu sinh tồn của mọi sinh vật…. Chúa Giêsu biết dù Ngài có nói thật về con người và sứ mạng của Ngài, thì người Do thái vẫn cứng lòng “các ông đã thấy tôi mà không tin” (c.36). Người Do thái đã thấy, biết và chứng kiến bao điều kỳ diệu Ngài thực hiện vì tình yêu, nhưng họ vẫn bưng tai, bịt mắt để khỏi nghe, khỏi nhìn. Họ vẫn thờ ơ, thậm chí chai lỳ chống lại lời mời gọi tình yêu của Thiên Chúa.

"Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói ; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” Trải qua hơn hai ngàn năm, Đức Giê-su đã là lương thực nuôi dưỡng nhân loại qua Lời hằng sống của Người. Lời của người ảnh hưởng trực tiếp trên những kẻ tin yêu và lắng nghe, đồng thời dán tiếp ảnh hưởng đến tất cả mọi môi trường có chứng nhân của Lời hiện diện. Lời của người là Lời tình yêu Thiên Chúa gửi đến cho nhân loại; là Lời có khả năng thỏa mãn cơn đói khát tình yêu của con người; một cơn đói khát quyết định sự sống còn của nhân loại. Chối bỏ Lời, con người ngày nay đắm chìm trong một nền văn hóa chết chóc, có xu hướng đề cao chủ nghĩa cá nhân, hưởng thụ ích kỷ, chạy theo vật chất, bành trướng cái tôi… là một lối sống làm sói mòn tâm linh và ý nghĩa thiêng liêng cao cả của cuộc sống con người. Chỉ khi nghe và thực hành Lời người – như ‘ăn’ và ‘tiêu hóa’ – thì cuộc sống thế giới mới trở nên phong phú, cuộc đời con người mới có hạnh phúc thật.

“Chính tôi là bánh trường sinh.” Yêu ai thì khát khao muốn nên một với người mình yêu. Tình yêu làm phát sinh sáng kiến – Đức Giê-su vì quá yêu thương con người nên đã tự nguyện trở nên bánh để ở với con người, nên máu thịt của con người, dưỡng nuôi tâm linh và ban cho họ sự sống bất diệt: “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì có sự sống đời đời và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết. Vì thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống” (Ga 6, 54 – 55). Bởi chính thế mà Đức Giê-su đã thiết lập bí tích Thánh Thể để ở lại với con người, dưỡng nuôi và đồng hành với con người trên đường tiến về quê hương đích thật trên trời.

Chúa Giêsu vẫn không nản lòng, lùi bước trước sự cứng lòng của họ. Ngài mở ra cho họ thấy lòng quảng đại từ tâm của Thiên Chúa, đối với những ai sẵn sàng cộng tác và tiếp nhận Ngài “Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi, đều sẽ đến với tôi”. Những người này được Thiên Chúa dẫn dắt hay đúng hơn họ để cho Thiên Chúa thực hiện công việc của Ngài trên cuộc đời họ. Và Chúa Giêsu khẳng định về cuộc sống của họ sau này “Ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài” (c.37). Họ sẽ được sống mãi với Ngài trong vinh quang. Đó là phần thưởng dành cho những người được Thiên Chúa yêu thương. Phần thưởng đó là do thánh ý Chúa Cha và Chúa Giêsu là người được sai xuống trần gian để thực hiện thánh ý này “vì tôi từ trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi” (c.38).

Ta thấy Chúa Giêsu không dừng lại mà Ngài chỉ rõ ý của Chúa Cha, đó là “Những kẻ mà Chúa Cha ban cho Chúa Giêsu, Người hứa sẽ giữ gìn và bảo tồn cuộc sống đời đời cho họ và nhất là họ sẽ được sống lại trong ngày sau hết, ngày thẩm phán chung cuộc của thế giới này, ngày mà Chúa Giêsu sẽ xuất hiện lần thứ hai trong vinh quang rạng rỡ.

Ở câu 40, Chúa Giêsu nhấn mạnh hành vi cho những ai muốn có sự sống đời đời, muốn được hưởng ơn cứu độ đó là “thấy Người Con và tin vào Ngài”. Một hành vi nghe chừng đơn giản và dễ dàng nhưng không dễ thực hiện trước những thử thách của cuộc đời; trước những cám dỗ của ma quỷ, thế gian; trước những tự do phóng túng của con người trong thời đại ngày nay.

Mãi đến ngày hôm nay Đức Giê-su vẫn tiếp tục hiến mình cho nhân loại qua thánh lễ mà Giáo hội cử hành mỗi ngày khắp nơi trên thế giới. Cảm nhận hồng ân cao cả Thiên Chúa tặng ban cho nhân loại, Giáo hội trung thành, hân hoan thiết đãi và mời gọi con cái mình đến dự bàn tiệc Lời Hằng sống và Thánh Thể Chúa Giêsu qua thánh lễ hằng ngày. Vì thế Ki-tô hữu chúng ta cần ý thức và siêng năng tham dự thánh lễ với lòng vui mừng và biết ơn Chúa, biết ơn Giáo hội. Chúng ta cần tham dự hy lễ tạ ơn này cách sinh động với lòng thành, không câu nệ, không máy móc. Đừng làm người khờ dại chỉ đi dự tiệc cho có mặt mà không ăn tiệc (không chú tâm nghe Lời Chúa, không lãnh nhận Thánh Thể Chúa), chúng ta cần biết lắng nghe Lời hằng sống của Đức Ki-tô và đón rước mình Thánh của người làm của ăn nuôi dưỡng tâm hồn; để đời sống của Đức Giê-su, tinh thần của Người thấm nhập vào trong con người và cuộc đời của mỗi người chúng ta, hầu chúng ta trở nên cánh tay nối dài của Người trong công cuộc dựng xây vương quốc nước trời nơi trần gian và được sống hạnh phúc muôn đời bên Chúa.

Ngày hôm nay con người vẫn đứng trước thách đố của niềm tin : tin vào sự hiện diện của Chúa, tin vào tình yêu của Chúa dường như trở nên không thực tế với người thời đại. Xin Chúa cho mỗi người chúng ta tuy rằng chúng ta là những người đã tin theo Chúa một quãng đường dài (20, 30, 40, ….80, 90 năm …), thế mà niềm tin của chúng ta còn bị chao đảo, vùi giập giữa bao sóng gió, bão tố của cuộc đời. Xin nâng đỡ chúng ta. Xin ban thêm niềm tin cho chúng ta để khi Con Người đến, Ngài còn thấy niềm tin trên mặt đất này. (x.Lc 18,8). Amen.

THỨ NĂM TRONG TUẦN 3 PHỤC SINH

 

 

 

April 17, 2018