| |
NƠI CON
TRẺ ĐANG NẰM TRONG HANG BÒ LỪA
THIÊN CHÚA ĐÃ CHIẾU TỎA VINH QUANG NGÀI
Bài
giảng Thánh Lễ Nửa Đêm trong đêm áp lễ Giáng Sinh 2005 của Đức
Thánh Cha Bênêđíctô XVI tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô.
“Thiên
Chúa phán cùng tôi: Con là con Cha, hôm nay Cha đã sinh ra con”.
Với những lời này trong Thánh Vịnh thứ hai, Giáo Hội bắt đầu Thánh
Lễ Vọng Giáng Sinh, ở đó, chúng ta cử hành việc hạ sinh của Chúa
Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc chúng ta nơi hang bò lừa tại Belem.
Thánh vịnh này là một phần của lễ nghi trao vương miện của những
vị hoàng đế Giuđa. Dân Isreal, qua cách thức tuyển chọn, bằng
một cách thế đặc biệt đã tự coi mình là con của Thiên Chúa, được
Ngài nhận làm dưỡng tử. Như một hoàng đế là đại diện của một dân
tộc, việc lên ngôi báu của mình cũng được xem như một hành động
trang trọng của việc thừa nhận do Thiên Chúa, bởi đó, vị hoàng
đế trong một cách thức đặc biệt tham dự vào mầu nhiệm của Thiên
Chúa. Trong đêm Belem, những lời này hơn nữa còn là một dẫn giải
của hy vọng hơn là một thực tại hiện hữu., mang một ý nghĩa mới
và bất ngờ. Con Trẻ đang nằm trong máng cỏ đó chính là Con Thiên
Chúa. Thiên Chúa không đời đời cô độc, nhưng hơn thế là một tiếp
nối của tình yêu và sự trao ban hỗ tương. Ngài là Cha, Con và
Thánh Thần.
Nhưng
hơn thế nữa: Trong Đức Giêsu Kitô, Con của Thiên Chúa, Thiên Chúa
đã hóa thân làm con người. Chúa Cha đã nói với ngài: “Con là Con
Ta.” Đời đời “hôm nay” của Thiên Chúa đã xuống với cái hôm nay
thời gian của thế giới và đã nâng cái hôm nay tạm thời của chúng
ta thành cái hôm nay đời đời của Thiên Chúa. Thiên Chúa quá vĩ
đại mà đã thể trở thành nhỏ bé. Thiên Chúa quá quyền năng mà đã
tự biến mình thành mỏng dòn và đến với chúng ta như một trẻ thơ
bất lực, để nhờ đó chúng ta có thể yêu mến ngài. Thiên Chúa quá
tốt lành đến nỗi ngài có thể tự hủy bỏ vinh quang thiên tính của
mình, và ngự xuống trong một hang bò lừa, để chúng ta có thể tìm
gặp ngài, để sự tốt lành của ngài có thể chạm đến được với chúng
ta, trao ban nó cho chúng ta và tiếp tục hoạt động qua chúng ta.
Đây chính là Lễ Giáng Sinh: “Con là con Ta, hôm nay Ta đã sinh
ra con”.
Thiên
Chúa đã trở nên một con người trong chúng ta, nhờ đó chúng ta
có thể trở nên một với ngài và nên giống như ngài. Như một dấu
chỉ, ngài đã chọn hình hài Con Trẻ nằm trong máng cỏ: Điều này
cho biết Thiên Chúa như thế nào. Làm thế nào chúng ta biết được
ngài. Và nơi mỗi con trẻ ấy đã chiếu sáng phần nào hào quang của
“hôm nay” đó, của sự gần gũi của Thiên Chúa mà chúng ta yêu mến
và nhờ đó, chúng ta phải khuất phục - nó chiếu sáng trên mọi trẻ
em, ngay cả những em còn trong lòng mẹ.
Chúng
ta hãy lắng nghe một câu khác từ phụng vụ của đêm thánh này, trích
từ sách Tiên Tri Isaia: “Một luồng sáng lớn đã chiếu soi cho những
người còn đi trong bóng tối” (Isaia 9:1). Từ ngữ “ánh sáng” xâm
nhập toàn phụng vụ của Thánh Lễ đêm nay. Nó cũng được thấy ở đoạn
trích thư Thánh Phaolô gửi Titô: “Ân sủng của Thiên Chúa đã xuất
hiện” (2:11). Từ ngữ “đã xuất hiện” trong nguyên ngữ Hy Lạp đồng
nghĩa với những từ trong tiếng Do Thái là “một luồng sáng đã chiếu
soi”: “xuất hiện” này – “hiển linh” này – là một sự xâm nhập của
ánh sáng Thiên Chúa trên một thế giới bị chìm ngập trong tối tăm
và những vấn nạn không thể giải quyết.. Rồi Tin Mừng liên kết
vinh quang Thiên Chúa xuất hiện với các mục tử và “chiếu sáng
quanh họ” (Luca 2:9). Nơi đâu vinh quang Thiên Chúa xuất hiện,
ánh sáng tràn ngập trái đất. Thánh Gioan nói với chúng ta rằng
“Thiên Chúa là ánh sáng và trong ngài không có bóng tối” (1 Gioan
1:5). Ánh sáng là căn nguyên của sự sống.
Nhưng
trước hết, ánh sáng mang ý nghĩa hiểu biết; có nghĩa là sự thật,
như trái ngược với bóng đêm của tình trạng lỗi lầm và khinh xuất.
Ánh sáng cho chúng ta sự sống, nó dẫn đường chúng ta đi. Nhưng
ánh sáng, như một nguồn của sức nóng, cũng có nghĩa là tình yêu.
Ở đâu có tình yêu, ánh sáng chiếu soi vào thế giới; ở đâu có hận
thù, thế giới còn nằm trong tối tăm. Trong hang bò lừa ở Belem
nơi đó đã xuất hiện nguồn sáng vỹ đại mà thế giới đang mong chờ.
Nơi Con Trẻ đang nằm trong hang bò lừa, Thiên Chúa đã tỏ vinh
quang ngài – vinh quang của tình yêu, mà nó tự ban phát, tuớc
bỏ chính mình khỏi mọi cao cả để chỉ cho chúng ta con đường tình
yêu. Ánh sáng của Belem không bao giờ bị dập tắt. Quan mọi thời
đại nó đã động chạm đến mọi người nam nữ, “nó đã chiếu tỏa quanh
họ”.
Bất
cứ ở đâu con người đặt niềm tin vào Con Trẻ ấy, đức ái cũng triển
nở – bác ái đối với những người khác, sự quan tâm âu yếm đến với
những ai yếu đuối, đau khổ, ân sủng của sự tha thứ. Từ Belem một
nguồn sáng, tình yêu, và sự thật chiếu tỏa qua muôn thế hệ. Nếu
chúng ta nói về những vị thánh – từ thánh Phaolô, Augustinô, tới
thánh Phanxicô và Đaminh, từ thánh Phanxicô Xavie và thánh Têrêsa
d’Avila đến Mẹ Têrêsa Calcutta – chúng ta thấy sự ngập lụt của
thiện hảo này, con đường của ánh sáng này luôn được thắp sáng
một cách mới mẻ do mầu nhiệm của Belem, bởi việc Thiên Chúa trở
thành một Con Trẻ. Nơi Con Trẻ ấy, Thiên Chúa đã đảo ngược sự
dữ của thế giới này với sự thiện của chính người. Ngài kêu gọi
chúng ta bước theo Con Trẻ đó.
Bên
cây thông Giáng Sinh, những người bạn Áo quốc của chúng ta đã
đem về ngọn lửa cháy sáng từ Belem, như để nói rằng mầu nhiệm
thật của Giáng Sinh là ở trong chính ánh sáng chiếu ra từ Con
Trẻ này. Nguyện xin ánh sáng từ bên trong ấy chiếu tỏa trên chúng
ta, và thắp sáng trong tim chúng ta ngọn lửa của sự thiện hảo
của Thiên Chúa; ước gì mọi người chúng ta, bằng tình yêu thương
của mình, mang ánh sáng đến cho thế giới! Chúng ta hãy giữ ngọn
lửa ánh sáng trao ban khỏi bị vụt tắt bởi những cơn gió lạnh của
thời đại chúng ta! Chúng ta hãy canh giữ nó một cách thành tín
và trao ban nó cho những người khác. Trong đêm nay, khi chúng
ta hướng về Belem, chúng ta hãy cầu xin một cách đặc biệt cho
nơi sinh trưởng của Đấng Cứu Thế của chúng ta và cho những ai
đang sống và chịu đau khổ tại đó. Chúng ta hãy thành khẩn nguyện
cầu cho nền hòa bình ở Thánh Địa: Xin hãy nhìn đến, Lậy Chúa,
từ phần đất của thế giới này, quê hương của ngài, cũng là phần
đất rất thân thương của ngài! Chớ gì ánh sáng của ngài chiếu soi
trên đó! Chớ gì nó hiểu được hòa bình!
Từ
ngữ “bình an” đem chúng ta lại ý nghĩa thứ ba của phụng vụ đêm
thánh này. Con Trẻ được tiên báo bởi Isaia được gọi là “Hoàng
Tử Thái Bình” Vương quốc của Ngài được gọi là vương quốc “muôn
thuở thái bình”. Các mục đồng trong Tin Mừng đã nghe được tin
vui: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời cao thẳm” và “bình an dưới
thế....” mà đã có lần chúng ta thường đọc: “cho người thiện tâm”.
Ngày nay chúng ta đọc “cho người Chúa yêu”. Sự thay đổi này có
nghĩa gì? Phải chăng thiện tâm không còn quan trọng nữa? Tốt hơn,
chúng ta nên hỏi: Ai là người được Chúa yêu, và tại sao Ngài yêu
thương họ? Chúa cũng có những sở thích? Ngài chỉ yêu một số người,
trong khi bỏ qua những người khác?
Tin
Mừng trả lời những câu hỏi này bằng cách chỉ cho thấy một số người
được Chúa yêu. Đó là những người, giống như Đức Maria, Giuse,
Ziacaria, Simêon, và Ana. Những cũng có hai nhóm người nữa: các
mục đồng và những người thông thái từ phuơng Đông, những “đạo
sỹ”. Đêm nay, chúng ta hãy nhìn vào các mục đồng. Họ là những
người như thế nào? Trong thế giới ở vào thời điểm của họ, những
mục đồng bị coi rẻ, họ bị coi là vô dụng, và không được công nhận
như những nhân chứng trước toà án. Nhưng thực tế, họ là ai? Chắc
chắn một điều, họ không phải là những vị đại thánh, theo như từ
ngữ chúng ta dùng để nói về những người với nhân đức anh hùng.
Họ là những tâm hồn đơn sơ. Tin Mừng chiếu giãi ánh sáng trên
một đặc tính mà sau này, qua những lời của Chúa Giêsu, mang một
tầm quan trọng đặc biệt: Họ canh giữa đoàn vật của mình trong
đêm. Nhưng cũng rất thật trong một ý nghĩa sâu thẳm: Họ sẵn sàng
đón nhận lời của Thiên Chúa. Cuộc sống của họ không gắn liền với
chính nó; trái tim họ rộng mở. Bằng một hình thức nào đó, tự trong
thẳm sâu, họ đang chờ đợi ngài.
Việc
canh thức của họ là một hình thức sẵn sàng – một thái độ sẵn sàng
để lắng nghe và ra đi. Họ đang mong đợi ánh sáng dẫn đường cho
họ. Đây là những gì quan trọng đối với Thiên Chúa. Ngài yêu thương
mọi người, bởi vì mọi người là tạo vật của ngài. Nhưng một số
người đã đóng cửa lòng của họ; họ không có cửa để qua đó tình
yêu của ngài có thể vào được. Họ nghĩ rằng họ không cần Chúa,
và họ cũng không muốn ngài. Một số người khác, những người từ
một quan điểm luân lý mà có lẽ tuy nhiều xấu xa và tội lỗi, ít
nhất cũng đã cảm nhận được sự thống hối. Họ đang mong đợi Chúa.
Họ nhận thức rằng họ cần sự tốt lành của ngài, mặc dù họ không
có một ý niệm rõ ràng về ý nghĩa này. Trong trái tim ngưỡng vọng
của họ, ánh sáng Thiên Chúa có thể ngự trị, và với ánh sáng ấy,
là sự bình an của ngài. Thiên Chúa kiếm tìm những tâm hồn có thể
chứa đựng và ra đi ban phát sự bình an của ngài. Chúng ta hãy
cầu xin để ngài không nhìn thấy tâm hồn chúng ta đóng kín. Chúng
ta hãy phấn đấu để trở thành nguồn ban phát sống động sự bình
an của ngài – trong thế giới hôm nay.
Riêng
đối với những Kitô hữu, từ ngữ “bình an” có một ý nghĩa riêng
rất đặc biệt: Nó đã trở thành tên gọi của Thánh Thể. Ở đó sự bình
an của Đức Kitô ngự trị. Trong tất cả mọi nơi ở đâu Thánh Thể
được cử hành, một hệ thống bình an vỹ đại tỏa rộng trên khắp thế
giới. Những cộng đoàn vây quanh Thánh Thể làm nên vương quốc của
bình an cũng rộng lớn như thế giới tự nó vậy. Khi chúng ta cử
hành Thánh Thể, chúng ta bắt gặp chúng ta đang ở hang Belem, trong
“ngôi nhà của bánh”. Chúa Kitô trao ban chính ngài cho chúng ta,
và để làm thế, đã ban cho chúng ta sự bình an. Ngài ban nó cho
chúng ta để chúng ta có thể mang ánh sáng bình an trong ta và
trao ban nó cho những người khác. Ngài ban nó cho chúng ta để
chúng ta cũng có thể trở nên những kẻ kiến tạo hòa bình và xây
dựng hòa bình trên thế giới. Và vì thế chúng ta cầu xin: Lậy Chúa,
hãy hoàn tất lời ngài đã hứa! Ở đâu có bất hòa, xin hãy ban sự
bình an! Ở đâu có hận thù, xin hãy làm cho tình yêu nở rộ! Ở đâu
có tối tăm bao trùm, xin chiếu sáng! Xin làm cho chúng con trở
thành người công bố bình an của Chúa! Amen.
T.s.
Trần Quang Huy Khanh, chuyển ngữ
|
|