Chúa Nhật III Phục Sinh Năm B
 
 



CÁC CON SẼ LÀM CHỨNG NHÂN

 

Trích đoạn Tin Mừng Chúa Nhật III Phục Sinh theo chu kỳ Phụng Vụ năm B của Thánh Ký Luca đã kết luận bằng một câu làm cho Kitô hữu chúng ta phải suy nghĩ là: “Còn các con, các con sẽ làm chứng nhân về những điều ấy” (Luca 24:48). Những điều ấy là những gì?

Đối với hai môn đệ vừa về lại Giêrusalem, thì những điều ấy là:

  • “Các việc đã xẩy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Ngài lúc bẻ bánh như thế nào” (Luca 24:35). Mà những chuyện xẩy ra dọc đường là việc hai ông hoài nghi về cái chết và cuộc phục sinh của Ngài. Việc Ngài giải thích Thánh Kinh cho hai ông. “Rồi bắt đầu từ Maisen và các tiên tri, Ngài giải thích tất cả những gì Thánh Kinh đã chỉ về Ngài” (Luca 24:27), khiến tâm hồn các ông nóng cháy lên.
  • Và nhất là việc Ngài bẻ bánh trước mặt hai ông.

Đối với các môn đệ có mặt tại Nhà Tiệc Ly hôm nay cũng vẫn là:

  • Việc các ông hoài nghi về cái chết và sự phục sinh của Ngài. Ngài phải trấn an các ông và cho thấy con người bằng xương, bằng thịt của Ngài: “Ma đâu có xương thịt như các con thấy Thầy có đây” (Luca 24:39).
  • Việc Ngài ăn uống trước mặt các ông. Một hình ảnh nhắc lại việc bẻ bánh trong Bữa Tiệc Ly.

Tóm lại, điều mà Thánh Ký nói đến ở đây khi đề cập đến hành động hay lối sống chứng nhân mà Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ, đó là:

  • Làm chứng cho sự xuất hiện của Ngài trên dương thế.
  • Làm chứng cho cái chết nhục nhã của Ngài trên thập tự giá.
  • làm chứng cho sự sống lại phục sinh của Ngài.

Tất cả Thánh Kinh cựu cũng như tân ước, và mọi lời tiên tri chỉ gồm tóm lại 3 điểm này: Chúa nhập thể để ở giữa chúng ta. Chúa hy sinh chịu chết vì chúng ta. Và Chúa đã sống lại cũng vì chúng ta.

Nhưng làm sao chúng ta có thể làm chứng nhân cho Ngài một khi chúng ta còn hoang mang, lo sợ và chán nản như hai môn đệ trên đường về Emmau. Làm sao chúng ta có thể nói về Chúa Giêsu phục sinh khi Chúa đứng giữa chúng ta, mà chúng ta lại cứ tưởng đó là ma? Ở đây chúng ta thấy có hai yếu tố quan trọng mà Thánh Ký đã ghi nhận về sự gặp gỡ và tiếp nhận này.

Ở nơi hai môn đệ Emmau thì việc Ngài diễn giải Thánh Kinh và bẻ bánh của Ngài là chìa khóa khai tâm của các ông. Việc các ông được nghe và hướng dẫn lời Thiên Chúa và việc Chúa Giêsu đồng bàn bẻ bánh với các ông nói lên ý nghĩa của Thánh Lễ và Thánh Thể. Trong Thánh Lễ việc nghe và suy ngắm lời Chúa cũng như việc đón nhận Mình Máu Thánh Chúa là hai việc làm song song với nhau. Người tín hữu được nuôi dưỡng bằng hai hình thức của ăn tâm linh là Thánh Kinh và Thánh Thể. Do đó, việc đọc Thánh Kinh, suy gẫm và sống Thánh Kinh là một phần trong toàn bộ sức sống tâm linh mà Thiên Chúa muốn dùng để tăng bổ sức sống thần linh của chúng ta trên hành trình Emmau về quê hương vĩnh cửu. Đồng thời cũng được nuôi dưỡng bằng chính Mình và Máu Chúa Giêsu trong Thánh Thể.

Tóm lại để Kitô hữu chúng ta có thể trở thành chứng nhân cho Chúa Giêsu, thì trước hết chúng ta phải có Ngài trong cuộc đời bằng cuộc sống kết hợp với Ngài bằng lời Ngài soi sáng là Thánh Kinh và của ăn thần linh là Mình và Máu Ngài, không chỉ để nuôi dưỡng chúng ta, mà còn biến đổi cuộc đời chúng ta thành sự kết hợp với chính Thiên Chúa, cho phép chúng ta được hòa tan, và trở thành nên giống như Chúa.

Nhưng với các môn đệ như Thánh Ký Luca thuật lại đều bị chao đảo, sợ hãi, Và ở điểm này, việc đón nhận Thần Khí của Ngài, để không chỉ bắt kịp với lời Ngài giảng dậy, mà còn am tường đủ để có thể ra đi và làm “chứng nhân” cho những gì mình biết, dĩ nhiên là những gì mình cảm nhận và sống nữa. Vì đối với đời sống tâm linh và vai trò người làm nhân chứng thì “biết” vẫn chưa đủ, mà phải “cảm nhận”“sống” với những gì mình biết và nói. Nhưng liệu chúng ta biết gì, cảm gì và sống như thế nào đối với những mầu nhiệm của Tin Mừng mà Thánh Ký vừa ghi lại, và những gì mà Chúa Giêsu đã làm và đã muốn các môn đệ của Ngài phải làm.

1. Biết Chúa: Nếu chúng ta hỏi mình câu: “Tôi biết Chúa Giêsu được bao nhiêu?” Thì câu trả lời có lẽ khiêm tốn lắm. Ngoại trừ một số những điều đã ghi lại trong Thánh Kinh về thân phận, gia phả, và cuộc sống vỏn vẹn 33 năm trần thế của Ngài, tôi còn biết được gì về Ngài nữa không? Điều này khiến chúng ta phải suy nghĩ nhiều về sự hiểu biết của mình đối với Chúa. Và nó cũng nhắc nhở chúng ta rằng, bổn phận học hỏi, trau dồi và tìm hiểu Thánh Kinh, tìm hiểu đạo giáo, cũng như tìm hiểu về điều mình tin nhận là một bổn phận rất cần thiết và quan trọng.

Nhưng liệu chúng ta biết được bao nhiêu về mầu nhiệm Nhập Thể, mầu nhiệm Thương Khó, và mầu nhiệm Phục Sinh. Nhưng điều mà chúng ta vẫn cho rằng rất quan trọng cho phần rỗi của chính mình và của nhân loại. Nếu có ai hỏi chúng ta về những điều ấy lúc này, chúng ta sẽ nói gì với họ. Hoặc giả, chúng ta cũng chỉ biết, chỉ nghe, chỉ nói lơ mơ vậy. Biết, nghe rồi nói mà không hiểu gì về những điều mình biết và nói. Chúng ta liệu có phải nghe lời Chúa Giêsu đã trách mắng hai môn đệ trên đường về Emmau, những người mà đã có lần gặp gỡ, gần gũi, và chia sẻ hầu hết những biến cố quan trọng của Ngài. Chính họ cũng đã không hiểu, và không biết. Và chính họ đã bị Chúa Giêsu chê thậm tệ: “Hỡi những kẻ ngu độn và lòng trí chậm tin vào những lời tiên tri đã nói” (Luca 24:25).

“Vô tri bất mộ”. Nếu chúng ta không biết, thì không mong gì chúng ta sẽ làm chứng cho Chúa. Vậy bổn phận của chúng ta là phải tìm hiểu, phải học hỏi, và phải đào sâu kiến thức của mình về Chúa Giêsu, về ý nghĩa của cuộc nhập thể, cuộc khổ nạn, và việc Ngài phục sinh. Bằng sách vở, bằng cầu nguyện, và bằng việc chăm chỉ học hỏi, suy niệm Thánh Kinh.

2. Cảm nhận: Nếu đã biết về Ngài, và đã có công học hỏi về Ngài, thì chúng ta cảm nhận được Ngài như thế nào trong cuộc sống và ơn gọi của mình. Ngày tận thế, như Chúa Giêsu đã nói, sẽ có nhiều người nói với Chúa rằng họ đã nhân danh Ngài mà trừ quỷ, làm phép lạ, và rao giảng. Nhưng như Thánh Kinh ghi nhận, Ngài từ chối sự hiểu biết ấy bởi lẽ, sự hiểu biết của những người này chỉ nhằm thỏa mãn khối óc, thỏa mãn tính tò mò, và thỏa mãn tự ái cá nhân. Những người này hiểu và học hỏi về Chúa để khoe khoang, để chứng tỏ mình thông thái. Họ biết Chúa như những Pharisiêu, như những thượng tế, như những luật sỹ, như những kỳ lão thời Ngài đã biết Ngài. Biết để bắt bẻ, biết để phê phán, biết để ghen tỵ. Những người này không biết để hâm mộ, để yêu mến, và để theo Ngài.

Trong đời sống tâm linh, sự hiểu biết của tri thức giữ nhiệm vụ khai mở, còn việc cảm nhận và hấp thụ tình yêu Thiên Chúa, đón nhận Ngài vào trong tâm hồn và trong nếp sống của mình là phần của con tim. Chính vì thế, Chúa Giêsu đã có lần cảm tạ Chúa Cha thay cho những kẻ bé mọn và thiếu kiến thức thông thường, nhưng lại giầu cảm nhận và mau mắn đón tiếp Ngài vào tâm hồn họ. Ngài gọi họ là những tâm hồn bé nhỏ. Những tâm hồn mà Chúa Cha khai mở để họ có thể hiểu và yêu mến Thiên Chúa qua việc đón nhận và tuân theo những giáo huấn của Ngài: “Lậy Cha là Chúa trời đất, Con ngợi khen Cha vì cha đã che dấu những kẻ thông thái mà mặc khải cho những kẻ bé mọn hay”. Sự thông thái và thái độ khiêm tốn của những tâm hồn thơ ấu Phúc Âm khác nhau ở chỗ cảm nhận và dễ dàng với lời dậy của Thiên Chúa.

3. Sống: Nhưng tính thuyết phục cao nhất của những kẻ làm nhân chứng là sống điều mình nói. Nói điều mình sống. Thánh Gioan Vianey, một linh mục đọc không thông, viết không thạo tiếng mẹ đẻ mình mà đã trở thành thu hút với sức cuốn hút kỳ diệu nhờ Ngài đã nói điều mình sống, và sống điều mình nói. Mẹ Têrêsa Calcutta, một nữ tu tầm thường nhỏ bé, sống gần với chúng ta đã trở thành một biểu tượng chứng nhân sống động cho Giáo Hội và toàn thế giới vì đã sống điều mình nói, và nói điều mình sống. Đức Gioan Phaolô II cũng đã sống và hành động tương tự. Đức Gioan Phaolô II đã phong Chân Phước cho Mẹ Têrêsa, còn phần mình Đức Gioan Phaolô II vẫn còn chờ đợi để được như Mẹ. Điều này đã cho thấy hấp lực và khả năng chinh phục của những chứng nhân bằng hành động.

Nói điều mình biết, và biết điều mình nói đã là khó, nhất là khi những điều này thuộc về đời sống tâm linh. Tuy nhiên, nói điều mình sống và sống điều mình nói về tâm linh lại càng khó hơn

* * *

Như vậy, việc Chúa Giêsu đã thôi thúc các môn đệ Ngài trong lần hiện ra qua trích đoạn Tin Mừng hôm nay mà Thánh Luca đã ghi lại, chính là Ngài muốn nhắc nhở mọi Kitô hữu rằng, Ngài đã hoàn thành sứ mạng được Cha trao phó. Ngài đã đến và ở giữa con người. Ngài đã chết và đã sống lại với các nhân chứng rõ ràng, và qua những nhân chứng này, Ngài cũng muốn mỗi người chúng ta cũng phải trở thành những nhân chứng cho Ngài. Nhưng chắc chắn một điều là nếu chúng ta không biết Ngài, không cảm nhận – tức là yêu mến Ngài – và không có Ngài trong cuộc đời chúng ta, thì chúng ta không thể nào hoàn tất sứ mạng chứng nhân mà đã trao cho chúng ta: “Còn các con, các con sẽ làm chứng nhân về những điều ấy” (Luca 24:48).


Trần Mỹ Duyệt

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)