| |
BIẾT VÀ SỐNG
Trong
bậc thang giá trị giữa biết và sống, thì sống có giá trị hơn
biết. Và đây cũng là điều mà chính Chúa
Giêsu đã nói khi đứng trước cái biết mà không thực hành của
một luật sĩ. Thánh sử Marcô ghi nhận, sau cuộc trao đổi về lề
luật
giữa Chúa Giêsu và người luật sĩ, và đứng trước sự hiểu biết
về lề luật của ông, Chúa Giêsu đã nói với ông: “Ông không còn
xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu” (Mc 12:34).
“Ông
không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu”. Nhưng cái bao nhiêu
đó là bao nhiêu thì
ngài lại không cho người
luật sĩ ấy biết. Dường như ngài muốn để chính ông ta tự đo
lường lấy chỗ đứng của mình và khoảng cách giữa nơi đó với nước
Thiên
Chúa. Vì rằng ông đã hiểu biết rất rõ về lề luật. Biết rất
rõ về những gì mình phải làm đối với lề luật.
Ngoài
ra, theo Thánh Ký ghi nhận thì ông cũng là một người rất khôn
ngoan và
lợi khẩu. Nhất là ông đã biết
khen chê người đúng lúc và đúng cách, đến nỗi theo Thánh Ký,
thì ông là người có những “ý kiến khôn ngoan” (Mc 12:34). Không
những thế, ông còn tỏ ra là người rất sành về tâm lý khi áp
dụng lời khen để làm vui lòng Chúa Giêsu trong câu truyện trao
đổi
giữa ông và ngài. Chúng ta hãy nghe lời ông nói với Chúa Giêsu:
“Thưa Thầy, đúng lắm! Thầy dậy phải lẽ khi nói Thiên Chúa là
Chúa duy nhất; và ngoài Người chẳng có Chúa nào khác nữa. Mến
Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức mình, và yêu tha nhân
như chính mình thì hơn lễ vật toàn thiêu, và mọi lễ vật hy sinh”
(Mc 12:32-33).
Người
luật sĩ này phải chăng là hình ảnh của tôi, của bạn, của chúng
ta. Nhiều khi chúng ta cũng tỏ ra rất
khôn ngoan, hiểu biết, và rành rẽ về luật lệ, về giáo lý, và
về Phúc Âm. Như người luật sĩ này, chúng ta cũng biết thế nào
là đường đưa chúng ta đến Nước Thiên Chúa. Thế nào là những
luật lệ đòi hỏi cần thiết để đạt được sự sống đời đời. Nhưng
chúng
ta lại không đến, không lên đó mà chỉ đứng xa nhìn, nói và
nhận xét về Nước Thiên Chúa. Tức là không bước vào thực tế với
những
gì mình biết, đó là “Mến Chúa hết lòng, hết trí khôn, hức sức
mình, và yêu tha nhân như chính mình”.
Mến
Chúa và yêu tha nhân. Hai giới luật cần thiết để vào Nước Thiên
Chúa tức chiếm
hữu Nước Trời, chiếm hữu
Thiên Đàng, là những gì mà người luật sĩ này đã tóm lược từ
câu trả lời của Chúa Giêsu khi ông hỏi ngài về giới luật trọng
nhất
trong lề luật. Ngài đã trả lời ông: “Giới răn trọng nhất là:
Hỡi Israen, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta là Chúa
duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết
linh
hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi. Còn đây là giới răn thứ
hai: Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi. Không có
giới
răn nào trọng hơn hai giới răn đó” (Mc 12:29-31).
Và
như vậy là rõ ràng, không còn giới luật nào trọng hơn hai giới
luật trên.
Đó là hai mặt của đồng tiền,
hai mặt của bàn tay. Đó là đôi chân tinh thần để chúng ta đi
tới với những người khó nghèo và cùng cực. Đó là đôi tay tinh
thần để chúng ta xoa dịu những đau khổ, rộng rãi bố thí cho
những anh chị em gặp túng nghèo, thiếu ăn, thiếu mặc. Đó là hai
con
mắt tinh thần để chúng ta nhìn thấy những nỗi bất hạnh của
những người chung quan mình mà rộng rãi giúp đỡ, an ủi. Và đó
là đôi
tai tinh thần để chúng ta nghe được những tiếng rên rỉ, tiếng
nức nở của những kẻ bị hà hiếp, những kẻ bị đời bạc khinh mà
rộng lòng xót thương giúp đỡ.
Nói
hai giới luật “mến Chúa và yêu người” là đôi chân tinh thần,
là đôi tay tinh thần, là cặp
mắt tinh
thần, và đôi tai tinh thần vì chỉ trong cái ý nghĩa tâm linh
và cao cả ấy, chúng ta mới thật sự cảm được, nghe được, hiểu
được, nhìn được Thiên Chúa qua tha nhân để rồi rộng rãi hy
sinh và giúp đỡ. Và cũng chỉ có lòng kính mến Thiên Chúa và đức
ái
thực hành mới đem ta vào được Nước Thiên Chúa, nơi chúng ta
được hạnh phúc và bình an vì được sống trong tình yêu thương
của Thiên
Chúa và anh chị em mình.
Tai
và mắt tự nhiên chỉ nhìn, chỉ nghe những cái tự nhiên. Cũng vậy,
tay và chân tự nhiên chỉ làm
những việc
tự nhiên, và đi tới những nơi mà con người tự nhiên muốn tới.
Trong ngày chung thẩm, chúng ta sẽ bị phán xét theo hai điều
răn này. Được thưởng Nước Trời hay bị loại ra khỏi Nước Trời
là do có thực tâm yêu kính Thiên Chúa và bác ái với tha nhân
hay không: “Khi ta đói các ngươi cho ta ăn, ta khát cho ta
uống, ta là khách các ngươi tiếp rước, mình trần cho ta áo
mặc, đau ốm các ngươi an ủi, tù tội các ngươi thăm hỏi” (Mt
25:35-36). Theo Chúa Giêsu, Đấng sẽ phán xét chúng ta, thì
khi ta làm những việc ấy hoặc không làm những việc ấy cho
những anh chị em mình với lòng yêu mến Thiên Chúa, nhân danh
tình
yêu ngài, thì ngài kể là làm cho chính ngài hoặc không làm
cho chính ngài.
“Ông
không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu” (Mc 12:34). Hẳn là khi
Chúa nói câu này với người luật sĩ, ngài
cũng đã nhìn thấy cái yếu tố có thể đem ông lại gần và vào
được Nước Trời, bởi vì ông đã hiểu và đã biết. Chỉ tiếc một điều,
là có thể, trong thực tế ông ta đã làm ngơ, hoặc rất thiếu
sót
thi hành những điều ấy. Có thể ông đã nhận ra đâu là những
cận thân, anh chị em mà ông cần giúp đỡ, và đôi lúc ông cũng
đã làm
một vài việc bố thí nhỏ, nhưng cốt lõi có lẽ ông không giúp
đỡ, thăm hỏi, và ủi an thật tình. Ông sợ mất thời giời, tiền
bạc,
sức khỏe và danh giá. Cũng có thể ông đã nghĩ đến địa vị và
vai trò luật sĩ của mình nên sự hòa mình và rộng rãi, thân mật,
xót
thương người cùng khổ, người sa cơ, lỡ bước, lầm đường là điều
khó vì ông nhìn họ với cái nhìn của một luật sĩ.
“Ông
không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu” (Mc 12:34). Ứng dụng
vào đời sống đức tin và việc thực hành bác
ái của Kitô hữu, chúng ta cần tự hỏi: “Câu nói này có phải là
câu nói mà Chúa Giêsu cũng muốn nói với tôi không?”. Bởi vì tôi
cũng như người luật sĩ kia rất sợ mất mặt, mất thế giá. Sợ người
đời dị nghị. Sợ mất mối làm ăn. Sợ mất cơ hội làm giầu. Sợ giúp
một người thì nhiều người khác sẽ tìm đến, sẽ làm phiền. Và cứ
thế tôi đã nhắm mắt, bịt tai trước những nỗi đau khổ và tiếng
kêu cứu của tha nhân. Và cứ thế tôi co rúm đôi tay không vươn
ra giúp đỡ, và tự xích đôi chân không đi tới những nơi mà những
nỗi khổ đau đang diễn ra, những tiếng kêu rên xiết đang vang
vọng đến trời cao, đến những nơi bất hạnh, bùn lầy nước đọng,
những căn nhà ổ chuột hôi thối nơi anh chị em tôi đang sống và
đang cần được giúp đỡ. Và nếu đó là nước trời, là Nước Thiên
Chúa, thì thực tôi đã đứng tại sân nhà bạc triệu của mình, ngồi
trong chiếc xe bóng loáng của mình, mà nhìn vào Thiên Đàng, vào
Nước Trời chứ không bước tới. Như thế, tôi không còn phải là “xa Nước Thiên Chúa” mà là không muốn vào đó, và
cũng không có điều kiện để vào. Bởi vì tôi không thật lòng yêu
mến Thiên Chúa và thiếu hẳn đức ái thực hành: “Mến Chúa hết lòng,
hết trí khôn, hết sức mình, và yêu tha nhân như chính mình thì
hơn lễ vật toàn thiêu, và mọi lễ vật hy sinh” (Mc 12:33).
“Ông
không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu” (Mc 12:34). Cũng như
người luật sĩ trong Tin Mừng, tôi cũng đã
nghe, đã đọc, và đã biết về Nước Thiên Chúa, nhưng liệu tôi
có muốn thực hành, muốn sống những điều mình đã nghe, đã đọc
và
đã biết để đạt được Nước Thiên Chúa không? Biết và sống là
hai thái cực khác nhau của cuộc đời.
T.s.
Trần Quang Huy Khanh
|
|