| |
Đối tượng ưu tiên trong sứ mạng của Đức
Giêsu
là những người nghèo hèn, đau khổ, tội lỗi
ĐỌC LỜI CHÚA
• Is 9, 1-3. 5-6: (3) Cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống
vai họ, ngọn roi hà hiếp họ, Ngài đều bẻ gãy. (4) Vì mọi giầy
lính nện xuống rần rần và mọi áo choàng đẫm máu sẽ bị Ngài đem
thiêu, làm mồi cho lửa.
• Tt 2, 11-14: (14) Người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta thoát
khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta, khiến chúng
ta thành Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện.
•
TIN MỪNG: Lc 2, 1-14
Đức Giêsu ra đời. Những người chăn chiên đến viếng thăm
(1) Thời ấy, hoàng đế Augúttô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân
số trong khắp cả thiên hạ. (2) Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên,
được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyri. (3) Ai
nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi. (4) Bởi thế, ông
Giuse từ thành Nadarét, miền Galilê lên thành vua Đavít tức là
Bêlem, miền Giuđê, vì ông thuộc gia đình dòng tộc vua Đavít. (5)
Ông lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà
Maria, lúc ấy đang có thai. (6) Khi hai người đang ở đó, thì bà
Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. (7) Bà sinh con trai đầu
lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà
không tìm được chỗ trong nhà trọ.
(8)
Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức
đêm canh giữ đàn vật. (9) Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh
quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi
hùng. (10) Nhưng sứ thần bảo họ: «Anh em đừng sợ. Này tôi báo
cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân:
(11) Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành
vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa. (12) Anh em cứ dấu này
mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm
trong máng cỏ». (13) Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần
cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: (14) «Vinh danh Thiên Chúa
trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương».
CHIA
SẺ
Câu hỏi gợi ý:
1.
Tại sao Thiên Chúa lại để hoàn cảnh lịch sử gây khó khăn đau khổ
cho Giuse và Maria, là những người đang cộng tác vào công việc
quan trọng của Ngài? Ngài có thật sự thương các vị ấy không? Sao
Ngài lại làm như vậy?
2. Tại sao Con Thiên Chúa vô cùng giàu sang lại sinh ra trong
cảnh cơ cực, nghèo nàn và nhục nhã đến như vậy? Muốn người mình
yêu thương được hạnh phúc nhưng ta không chấp nhận đau khổ cho
họ thì có được không?
3. Tại sao thiên sứ lại báo tin cho các mục đồng mà chẳng hề báo
tin cho các vị lãnh đạo tôn giáo Do Thái? Thiên Chúa hành động
ngược đời quá chăng?
4. Đối tượng cần được quan tâm phục vụ nhất của những người theo
Chúa, những người loan báo Tin Mừng là hạng người nào? Thực tế
thế nào?
Suy tư gợi ý:
1.
Sự việc xảy ra trong lịch sử không vượt ra ngoài sự an bài của
Thiên Chúa
Việc
Đức Giêsu sinh ra ứng nghiệm những lời tiên báo trước đó về Đấng
Cứu Thế: Ngài là con người chứ không phải thiên thần (x. St 3,15;
Dt 2,16), là người Do Thái, con cháu Abraham, chứ không phải dân
tộc khác (St 12,1-3; Ds 24,17), thuộc dòng tộc Giuđa (St 49,10),
là con cháu Đavít (2Sm 7,1-17), sinh tại Bêlem (Mk 5,2) bởi một
người nữ đồng trinh (Is 7,14). Sự việc hoàng đế Augúttô ra lệnh
kiểm tra dân số khiến Giuse và Maria phải rời Nadarét ở miền Bắc
để vào Bêlem, quê hương của Giuse ở miền Nam, để khai tên tuổi
xem ra là ý muốn của vị hoàng đế này. Điều này khiến gia đình
vừa thành lập của Giuse và Maria phải điêu đứng khổ sở, và Đức
Giêsu cũng phải chịu cực theo từ khi còn nằm trong bụng mẹ. Nhưng
sự việc này không nằm ngoài sự xếp đặt của Thiên Chúa. Ngài là
chủ tể của lịch sử, là Đấng điều khiển lịch sử. Nhờ đó, lời tiên
tri nói Ngài sẽ sinh ra tại Bêlem mới ứng nghiệm. Ta nên nhận
ra thánh ý và cách thế hành động của Ngài qua những biến cố lịch
sử.
Qua sự việc trên, ta nhận ra rằng có những sự việc đời ta và trong
lịch sử có vẻ hết sức phi lý dưới con mắt loài người, nhưng chúng
không bao giờ vượt khỏi quyền năng và sự an bài khôn ngoan kỳ
diệu của Thiên Chúa. Cũng qua sự việc này, ta thấy cách Thiên
Chúa huấn luyện những người mà Ngài đặc biệt yêu thương như thế
nào. Gia đình Ngài yêu thương nhất mà còn phải trải qua biết bao
thử thách, đau khổ và nhục nhã như thế để được thánh hóa, để góp
phần vào công việc cứu chuộc của Thiên Chúa, lẽ nào chúng ta muốn
nên hoàn thiện, muốn góp phần vào việc của Ngài lại không phải
trải qua đau khổ?
2. Tại sao Đức Giêsu sinh ra nghèo hèn, nhục nhã như thế?
Điều đáng chúng ta suy nghĩ là Ngôi Hai Thiên Chúa giàu sang vinh
hiển vô cùng lại hạ sinh làm người trong một hoàn cảnh nghèo khổ,
cơ cực nhất trần gian. Ngài đã giáng sinh trong một chuồng súc
vật hôi hám, lấy máng ăn dơ bẩn của chúng làm nôi để nằm. Tự đặt
mình trong hoàn cảnh của Ngài, chắc chắn chúng ta sẽ cảm thấy
nhục nhã lắm! Ngài chấp nhận như thế chỉ vì yêu thương con người,
vì muốn nâng con người lên và muốn họ được hạnh phúc. Thánh Phaolô
viết: «Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo
khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở
nên giàu có» (2Cr 8,9). Thật vậy, muốn tha nhân hạnh phúc mà mình
lại không muốn hy sinh, không chấp nhận ít nhiều đau khổ vì họ,
thì đó là một ước muốn không tưởng! Muốn nâng người khác lên mà
lại cứ muốn trèo lên đầu lên cổ họ là một ước muốn phi lý! Người
thật sự theo Chúa không thể hành động ngược lại với phương cách
mà Ngài đã dùng. Nếu không theo cách của Ngài, ta chỉ là một kẻ
theo Chúa giả hiệu mà thôi.
3. Tại sao các mục đồng lại được loan báo đầu tiên?
Tại sao tin mừng về việc Đức Giêsu sinh ra lại được loan báo trước
tiên cho các mục đồng chứ không phải là các thượng tế, giới chức
sắc và kinh sư trong tôn giáo? Đúng ra giới lãnh đạo Do Thái giáo
phải được loan báo tin này trước nhất mới phải chứ? Thiên Chúa
không hành động như thế. Các mục đồng tượng trưng cho giai cấp
thấp hèn nhất, bị bỏ rơi nhất trong xã hội và tôn giáo. Điều này
cho thấy trước rằng sứ mạng của Đức Giêsu là đến vì những người
nghèo khổ, bị áp bức, những kẻ thấp cổ bé miệng nhất trong xã
hội… Tin Mừng Ngài đem đến là thứ tin mừng giải phóng, chỉ những
ai đang bị áp bức, bị giam hãm trong đau khổ, tội lỗi, mới cần
được giải phóng. Vì thế, nó phải được loan báo đặc biệt ưu tiên
và trước tiên cho những hạng người này. Cũng như Đức Giêsu, các
ngôn sứ đích thực đều ưu tiên phục vụ, tranh đấu, lên tiếng bênh
vực những người nghèo hèn, bé mọn hoặc tội lỗi. Hành động như
thế thường gây bất lợi cho giới cầm quyền trong xã hội cũng như
tôn giáo, vì thế các ngôn sứ thường bị họ căm ghét, mạ lị và bách
hại (x. Lc 6,23).
Chỉ
có các ngôn sứ giả mới ưu tiên phục vụ những kẻ giàu sang, quyền
thế, nhờ vậy mà họ được giới này ca tụng và ưu đãi (x. Lc 6,26).
Họ chỉ muốn phục vụ cho cơ cấu hay tập thể đang đem lại địa vị,
sự ưu đãi và quyền lợi cho họ. Phục vụ Thiên Chúa hay phục vụ
tha nhân nhiều khi chỉ là chiêu bài họ dùng để được quần chúng
ủng hộ mà thôi. Họ chỉ quan tâm phục vụ và củng cố những cơ cấu
đem lại lợi ích trần tục cho họ, chứ không thật sự quan tâm phục
vụ Thiên Chúa hay những người cùng khổ. Ngôn sứ thật và ngôn sứ
giả khác nhau ở điểm này, mặc dù bên ngoài họ không mấy khác nhau.
Tuy nhiên phân biệt ngôn sứ thật và ngôn sứ giả rất dễ, chỉ cần
nhìn vào việc làm hay cách hành xử của họ là nhận ra ngay. Đức
Giêsu nói: «Hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả
xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể
sinh quả tốt» (Mt 7,17-18). Những ai chỉ ưu đãi hoặc coi trọng
những người giàu sang quyền thế, đồng thời coi thường hay bạc
đãi những người nghèo hèn khốn khổ, chắc chắn không thể là một
ngôn sứ đích thực.
Ngôn
sứ thật thì hành động như Đức Giêsu: luôn luôn dành thì giờ và
năng lực của mình ưu tiên cho những người bé mọn, hèn kém, đau
khổ. Tâm tư Ngài lúc nào cũng hướng đến hạng người này, luôn tìm
cách nâng đỡ, bênh vực họ. Dấu hiệu để nhận ra Ngài có phải là
Đấng Cứu Thế hay không, được chính Ngài xác nhận: «Các anh cứ
về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người
mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được
nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng» (Mt 11,5-6).
Ngài thường tự đồng hóa mình với người nghèo hèn đau khổ, đến
nỗi ai làm gì cho những người này là làm cho chính Ngài (x. Mt
25,40.45). Ngài đòi hỏi những ai muốn theo Ngài phải yêu thương
người nghèo như một điều kiện tiên quyết phải có để theo Ngài
và để có sự sống đời đời: «Hãy đi bán tài sản của anh và đem cho
người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo
tôi» (Mt 19,16.21; x. Mc 10,17.21). Các ngôn sứ đích thực xưa
nay đều có tinh thần ấy. Trong thời đại chúng ta, vẫn luôn có
những con người như Martin Luther King (Mỹ da đen), ĐGM Oscar
Romero (Salvador), LM Jer zy Popieluszko (Ba Lan)… Các vị này
đã coi việc bênh vực người nghèo, người bị áp bức quan trọng hơn
cả sự an toàn bản thân, thậm chí hơn cả mạng sống mình. Họ chính
là gương mẫu của những người theo Chúa đích thực.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, Đức Giêsu đã sinh ra nghèo hèn, đã sống như người nghèo,
đã chịu biết bao đau khổ, đã bị bách hại áp bức. Ngài đã yêu thương
người nghèo khổ, tội lỗi, đã ưu tiên dành thì giờ và sức lực để
phục vụ họ. Con là một Kitô hữu, một người muốn theo Ngài. Xin
giúp con nhận thức được rằng, theo Đức Giêsu không phải chỉ là
lãnh nhận bí tích rửa tội, thêm sức hay bất kỳ bí tích nào khác.
Không phải chỉ là vào một hội đoàn, một dòng tu hay chủng viện.
Cũng không phải chỉ là làm một giáo dân, linh mục hay tu sĩ, v.v…
Mà là sống theo tinh thần của Ngài, tức tinh thần từ bỏ mình,
quên mình, để xả thân cho anh chị em mình, nhất là những người
đau khổ, nghèo hèn, thấp cổ bé miệng. Chính Đức Giêsu là gương
mẫu cho con về tinh thần này, suốt từ khi sinh ra nghèo hèn đến
khi chết thê thảm trên thập giá. Xin giúp con bắt chước Ngài,
sống đúng tinh thần của Ngài. (JK)
Nguyễn
Chính Kết
|
|