dongcong.net
 
 

Suy Niệm và cầu nguyện

CN31 TN(B) LỄ CHƯ THÁNH 1-11-2015
Khải Huyền. 7: 2-4, 9-14; Tv. 23; I Gioan 3:1-3;
Mátthêu 5:1-12
Lm. Jude Siciliano, OP

TÁM MỐI PHÚC THẬT

Bài phúc âm hôm nay là phần khởi đầu bài Giảng trên núi. Câu mở đầu đã làm cho nhiều người suy nghĩ: bài giảng đó chú trọng về ai? Trước đó thánh Mátthêu nói là có đám đông ngủỏ̀i tủ̀ các vùng lân cận dồn về để nghe Chúa Giêsu. "Thấy đám đông, Đủ́c Giêsu lên núi. Ngủỏ̀i ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên". Vậy "đám đông" đến đó để nghe Chúa Giêsu giảng dạy, hay Chúa Giêsu chú ý dạy các môn đệ?

Nhủng, bài giảng chú trọng về các môn đệ, hay đám đông thì chẳng khác gì cả. Trong bài giảng Chúa Giêsu gồm tất cả các môn đệ và đám đông theo nhủ thánh Máthêu viết sau đó cho cộng đoàn tín hủ̃u.Có thể là để mỏ̉ lỏ̀i mỏ̀i gọi nhủ̃ng ai đến để theo đủỏ̀ng lối Chúa Giêsu.  Bỏ̉i thế, bài giảng chú trọng đến nhủ̃ng ai trong đám đông đã chịu phép rủ̉a, và nhủ̃ng ai nghe bài giảng qua lỏ̀i nói và đỏ̀i sống của cộng đoàn tín hủ̃u.

Cha Fred Craddock trong "Bài giảng suốt năm phụ̣ng vụ A" thêm vào "và nói vỏ́i các ngủỏ̀i theo Chúa Giêsu trủỏ́c mặt đám đông giúp tất cả mọi ngủỏ̀i ngay thật về họ và nhủ̃ng việc họ dấn thân vào. Giáo hội là một cộng đoàn, chủ́ không phải lả một số ngủỏ̀i ẩn dật riêng biệt. Các buổi họp mỏ̉ rộng và chú ý đến thế giỏ́i".

Các mối phúc thật không phải là một lối kitô hủ̃u diễn tả các điều răn. Các mối phúc đó là một cách giảng dạy của Khôn Ngoan, chú ý diễn tả hỏn là cấm đoán. Các mối phúc không dạy chúng ta về việc gì chúng ta phải làm để lên thiên đàng. Chúa Giêsu không dạy cho chúng ta nhủ̃ng điều theo nhân đủ́c, không bảo mọi ngủỏ̀i hãy nghèo khó về tâm hồn, hãy sầu khổ, hãy khiêm tốn, hãy thủỏng xót v.v... Nói cách khác, lỏ̀i dạy của Ngài tỏ lỏ̀i an ủi cho nhủ̃ng ai thật sụ̉ đang sống tâm hồn nghèo khó, thật sụ̉ đang sầu khổ, đang khiêm tốn v.v.. Hay, các lỏ̀i dạy đó là "phúc lành trong ngày cánh chung". Thính giả Chúa Giêsu là ngủỏ̀i Do thái. Họ không còn sống nỏi tù đày, nhủng họ là nô lệ nỏi quê hủỏng họ, dủỏ́i một đế quốc quỷ dủ̉. Lỏ̀i hủ́a củaThiên Chúa qua Chúa Giêsu sẽ đủọ̉c thụ̉c hiện, và Chúa Thánh Thần sẽ xuống tràn trề trên dân chúng (Is 61:1). Chính Chúa Giêsu sẽ thụ̉c hiện nhủ̃ng gì diễn tả trong các mối phúc. Lỏ̀i hủ́a về Triều Đại Thiên Chúa hiện ỏ̉ trong Chúa Giêsu và trong nhủ̃ng ngủỏ̀i Chúa Giêsu gọi là "có phúc" trong các mối phúc.
    
Lời đầu tiên trong các mối phúc diễn tả tâm hồn: dân chúng nghe Chúa Giêsu đủọ̉c cam đoan, và ngay cả đủọ̉c khen ngọ̉i. Mặc dù họ sầu khổ, đau đỏ́n, họ là nhủ̃ng ngủỏ̀i "có phúc". Họ không cần phải đọ̉i lỏ̀i khen ngọ̉i sau này, họ đã có phúc rồi. Họ là nhủ̃ng ngủỏ̀i nghèo khó, ngủỏ̀i không có tiền của trong xã hội. Đây là lần đầu tiên có ngủỏ̀i gọi họ là ngủỏ̀i "có phúc". Họ không phải là nhủ̃ng ngủỏ̀i mà ngủỏ̀i khác cho họ là ngủỏ̀i đủọ̉c "may mắn", hay khen ngọ̉i họ về hoàn cảnh hiện tại của họ nhủ Chúa Giêsu đã làm. Thiên Chúa đã ban ỏn cho dân chúng, và Chúa Giêsu nhận định ỏn huệ đó khi Ngài chúc phúc cho họ là nhủ̃ng ngủỏ̀i đang đủ́ng trủỏ́c mặt Ngài. Ngài nói lỏ̀i chúc phúc và nhủ̃ng ngủỏ̀i chung quanh Ngài lãnh nhận. "Phúc thay ai..."

Chúa Giêsu có dùng thì sai hay không? Ngài không có ý nói: không "đủọ̉c chúc phúc nhủ̃ng ai…", hay hỏn nủ̃a "sẽ đủọ̉c chúc phúc ai..."? Vậy thì tủỏng lai chẳng lẻ có ý nghĩa hỏn trong lỏ̀i chúc vì khi Chúa Giêsu nói vỏ́i dân chúng đang sống ngay trong nhủ̃ng hoàn cảnh đó, Chúa Giêsu gọi họ là: “ngủỏ̀i có phúc"? Dù cách nào đi nủ̃a, nhủ̃ng ngủỏ̀i quay về vỏ́i Chúa Giêsu, họ kinh nghiệm sầu khổ, và bị bách hại, đỏ̀i sống của họ vỏ́i Chúa Giêsu đủọ̉c "phúc thật". Điều đó không có nghĩa là các hoàn cảnh của họ đều ngay thật và công chính cho họ, hay là họ không thể chống lại sụ̉ dủ̉. Dù sao, nhủ̃ng ai tủỏng quan vỏ́i Chúa Giêsu chia sẻ đỏ̀i sống phúc thật là đỏ̀i sống của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là ngủỏ̀i có tâm hồn khó nghèo, thủỏng xót, khiêm tốn, trong sạch và xây dụ̉ng hoà bình. Chúng ta nhận thấy trong các mối phúc, Ngài diễn tả chính Ngài trủỏ́c tiên - Ngài đã hiện thể các mối phúc đó.

Hãy xét một cách khó hỏn: Lỏ̀i bình luận thủỏ̀ng nói ngay là các mối phúc nhấn mạnh thái độ của ngủỏ̀i không bạo động nhủ ngủỏ̀i bị vi phạm. Các mối phúc hình nhủ diễn tả ngủỏ̀i môn đệ "yếu ỏ́t" chỉ lãnh nhận nhủ̃ng gì đến cho họ. Họ không tỏ thái độ chống đối sụ̉ dử (thật ra họ là người "khiêm tốn" phải không?). Họ chỉ chỏ̀ đọ̉i phần thủỏ̉ng hủ́a hẹn trong tủỏng lai. Nhủng, Chúa Giêsu không kêu gọi nhủ̃ng ngủỏ̀i bị ngủỏ̀i khác vi phạm. Chúa Giêsu chúc phúc cho nhủ̃ng ngủỏ̀i vì theo Ngài mà bị đau khổ. "Phúc thay anh em vì Thầy mà bị ngủỏ̀i ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa". 

Giả sủ̉ các mối phúc không diễn tả các đủ́c tính khác của các môn đệ. Giả sủ̉ chúng ta nhìn vào các môn đệ là một đoàn ngủỏ̀i theo Chúa Kitô. Nhủ̃ng ngủỏ̀i theo đó nghèo khó, đặt hết tin tủỏ̉ng vào Thiên Chúa chủ́ không vào quyền uy của ngủỏ̀i phàm. Nhủ thế có thể là họ đã giàu sang theo nhãn quan của Chúa Giêsu, vì đỏ̀i sống họ ỏ̉ trong tay tốt lành, rất an toàn hỏn sụ̉ an toàn nào khác mà họ có thể tìm cho họ. Rồi, họ tin tủỏ̉ng và nhìn vào Thên Chúa, đủọ̉c đầy dẫy lòng ham muốn xem mọi sụ̉ ngay thật.

Trong bài dịch nói là "…ai khát khao nên ngủỏ̀i công chính".  Bài dịch khác lại nói là "…ai khát khao sụ̉ công chính". Sau đó thì họ đủọ̉c tả là "bị bách hại vì sống công chính". Đấy là nhủ̃ng ngủỏ̀i mà Chúa Giêsu nói là họ đã đủọ̉c Nủỏ́c Trỏ̀i và họ ao ủỏ́c trông thấy sụ̉ công chính để trông thấy đỏ̀i sống phản ảnh thánh ý Thiên Chúa cho chúng ta và cho tất cả mọi ngủỏ̀i.

Nhủ̃ng ngủỏ̀i có "tâm hồn nghèo khó" không ngồi yên nhìn lên mây cao. Họ làm việc để mọi sụ̉ trỏ̉ nên công chính bằng cách tỏ cho ngủỏ̀i khác lòng thủỏng xót, xây dụ̉ng hòa bình, nhắm ngay mục đích "nhìn vào phần thủỏ̉ng", mặc dù bị bách hại họ vẫn kiên trì. Họ chính thật là nhủ̃ng ngủỏ̀i "quyết một lòng" không có chúa giả dối nào khác làm họ xao lãng đủỏ̀ng lối của họ.

Nói một cách khác, nếu chúng ta thật lòng nghe các mối phúc, chúng ta không cần đọc xa hỏn là phúc âm. Đó là tin mủ̀ng phúc âm cho chúng ta. Chúa Giêsu "Thiên Chúa ỏ̉ vỏ́i chúng ta" đã hiện thể trong các mối phúc đó, và đã sống toàn vẹn các mối phúc. Nhủ̃ng ai chấp nhận Chúa Giêsu và tin mủ̀ng Ngài đem đến, sẽ đủọ̉c thay đổi đỏ̀i sống, và sẽ đủọ̉c nhãn quan trong sáng hỏn. Và bây giỏ̀ họ trông thấy mọi sụ̉ vỏ́i quan niệm khác: họ sẽ sống trong tủỏng quan tín nhệm vào Thiên Chúa mà họ biết là một ngủỏ̀i cha muốn lập nên một cộng đoàn mỏ́i .

Nhủ̃ng môn đệ này có một thái độ hoàn toàn khác để nhìn thấy, và để sống vỏ́i nhau. Họ sống vỏ́i nhủ̃ng luật lệ khác gọi là Triều Đại Thiên Chúa. Là dân của Nủỏ́c Trỏ̀i họ dấn thân cho Nủỏ̀́c Trỏ̀i, và mỏ̀i gọi nhủ̃ng ngủỏ̀i khác vào Triều Đại đó sống dủỏ́i một Thiên Chúa yêu thủỏng. Vì đỏ̀i sống Chúa Giêsu đã ban cho họ, các mối phúc xây dụ̉ng, thêm quyền năng cho đỏ̀i sống của họ. Bỏ̉i thế, cũng nhủ Chúa Giêsu, họ sẽ kinh nghiệm sỉ vả và bách hại. Đỏ̀i sống của họ không tránh khỏi đau khổ, nhủng họ đủọ̉c tiếp tục có sủ́c mạnh bỏ̉i Đấng ̣đã tuyên xủng họ là nhủ̃ng ngủỏ̀i "có phúc", và phúc đó đủọ̉c giủ̃ bền vủ̃ng cho họ.

Chuyển ngữ: FX. Trọng Yên, OP

FEAST OF ALL SAINTS - November 1, 2015
Rev. 7: 2-4, 9-14; Psalm 24; I John 3:1-3;
Matthew 5:1-12
by Jude Siciliano, OP

Today’s gospel passage is at the beginning of the Sermon on the Mount. The opening line has been a quandary for interpreters: to whom is the Sermon addressed? Previously Matthew told us a crowd from all the regions around had gathered to hear Jesus (4:23-25). "When Jesus saw the crowds, he went up the mountain and after he had sat down, his disciples came to him." Were the "crowds" there to hear his teaching, or did he only intend to instruct his disciples?

What difference does it make to whom his message was addressed: the crowd, or his disciples? By including both crowds and disciples in his opening to the Sermon Matthew, writing for the later community of believers, may be keeping the invitation open to whomever chose to come and follow Jesus’ way. The Sermon is thus directed to those already among the baptized and those who hear the Sermon through the words and lives of the believing community.

Fred Craddock, in "Preaching through the Christian Year: A" (Philadelphia: Trinity Press, 1992, p.100) adds, "And speaking to his followers in the presence of the crowds keeps all of them honest about who they are and where their commitments are. The church is a community, but not a ghetto; meetings are open to, and aware of, the world."

The Beatitudes are not a Christian version of the Commandments. They are a form of Wisdom teaching, meant to describe, rather than to proscribe. The Beatitudes don’t instruct us on what we must do to get into heaven. Jesus is not giving us ethical indicatives, asking people to become poor in spirit, mourning, meek, merciful etc. Rather, they offer consolation to those who are in fact poor, mourning, meek etc. They are, in other words, an "eschatological blessing." Jesus’ audience is the people of Israel; no longer exiled in a foreign land, but slaves in their own land by an evil empire. In Jesus, God’s promises are about to be fulfilled and the Spirit is to be poured out on the people (Isaiah 61:1). Jesus himself fulfills the characteristics described in the Beatitudes. The promised reign of God is present in him and in those he declares "blessed" in the Beatitudes.

The first word of the beatitudes lays out their spirit; the people Jesus is addressing are being assured, even congratulated. Despite their pain and suffering, they are already "blessed." They don’t have to wait for some future congratulatory judgment, they have it already. These are the poor, the "no-accounts" of society. This is the first time anyone has ever called them "blessed." These are not the kind of people whom their contemporaries would consider "fortunate," or congratulate for their current state, the way Jesus is doing. God has gifted a people and Jesus affirms that gift when he blesses those before him. He says the blessing and those around him are the recipients of this blessing, "Blessed are they who...."

Did Jesus confuse his tenses? Did he mean to say, not "Blessed are they...," but rather, "Blessed will they be..."? Wouldn’t the future tense make more sense for reward because he is speaking to people who are presently in dire straits? He calls them "blessed." Somehow those who have turned to Jesus, though they experience suffering and even persecution, their life with Jesus is "blessed." That doesn’t mean things are right or just for them, or that evil should not be struggled against. Yet, those linked to Jesus share in the very life of blessedness that was his. He is the one who was poor in spirit, merciful, meek, single hearted and a peacemaker. One notices in these beatitudes that Jesus is first of all describing himself--- he enfleshes the beatitudes.

Let’s make this harder. The argument is often leveled that the beatitudes reinforce a passive and even a victim-mentality. They seem to describe "milk toast" disciples who simply take what comes their way, and offer no resistance to evil done them (after all they are "meek" aren’t they?). They are just holding out for some future promised reward. But Jesus is not calling people to be victims. He is blessing those who follow him and, as a consequence, suffer. "Blessed are you when they insult you and persecute you and utter every kind of evil against you falsely because of me."

Suppose the beatitudes don’t describe virtues of different types of disciples. Suppose, instead, we look at them as a unit, as descriptions of the follower of Christ. This follower, the poor one, has placed confidence and trust in God and not in any human power. Such a person would be already rich in Jesus’ eyes, for that one’s life is in good hands, more secure than any other security they might try to provide for themselves. Then, the one trusting and looking to God, is filled with a burning desire to see things right.

The translation from our Lectionary is, "...who hunger and thirst for holiness." However, another translation has it, "...who hunger and thirst for righteousness." Later they are described as "persecuted for holiness (righteousness) sake." These are people, Jesus says, who have the reign of God already and have a passion to see things set right, to see life here reflecting God’s will for us and all people.

These "poor in spirit" are not sitting on their hands looking to the clouds. They are working to set things right by showing others mercy, making peace, staying fixed with "their eye on the prize," despite the persecutions they must endure. They truly are "single hearted," having no false gods to distract them from their course.

In some ways, if we really heard the Beatitudes we would need to read no further in the gospels. They convey the whole gospel message for us. Jesus, "God with us," has enfleshed these beatitudes, and lived them to the fullness. Those who accept him and his message have their lives transformed and their vision cleared. Now they see things in another perspective; they live in a trusting relationship to a God they know to be a loving parent who wants to establish a new human community among them.

These disciples have a completely different way of seeing and living with one another; they live under a very different rule called, the reign of God. As citizens of this reign they dedicate themselves to it and invite others into the same reign, under the same loving God. Because of Jesus’ life given for them, the beatitudes shape and empower their way of life. Thus, like him, they experience insults and persecution. Their lives are not free of pain; but their strength to continue comes from the one who has declared them already "blessed" and holds their present blessedness secure for them.

 

Kính Chúa và yêu người
Lm Jude Siciliano, OP 11/1/2012

CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN – B
Đệ nhị Luật 6: 2-6; Thánh vịnh 18; Do Thái 7: 23-28; Máccô 12: 28b-34


KÍNH CHÚA VÀ YÊU NGƯỜI

Trong Tin Mừng chúng ta thường nghe các kinh sư liên kết với các Pharisêu, thượng tế và trưởng lão để bắt bẻ Đức Giêsu (Mc 11,27). Nhưng hôm nay, chúng ta lại gặp một kiểu kinh sư khác. Ông đến để hỏi Đức Giêsu, “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng hàng đầu?” Khi Đức Giêsu trả lời thì ông kinh sư lại khen: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng.” Trong Lề luật, các Rabbi đếm được 613 điều, và vì thế, các cuộc bàn cãi và tranh luận được giải quyết xung quanh việc phân biệt rõ ràng giữa điều răn “nặng” và “nhẹ”. (cũng giống như phân biệt giữa tội nặng và tội nhẹ).

Đức Giêsu bắt đầu trả lời với mệnh lệnh, “Nghe đây, hỡi Israel,” và đưa ra ba trích dẫn (Đnl 6,4-9, 11,13-21; Ds 15,37-41), ba lời trích dẫn này vốn tạo nên các lời cầu nguyện mà những người Dothái nhiệt thành vẫn đọc mỗi ngày ba lần. Đức Giêsu không giới thiệu cho chúng ta một Thiên Chúa mới toanh, nhưng là Thiên Chúa của Israel. Đức Giêsu mời gọi chúng ta hãy yêu mến và thờ phượng Thiên Chúa với tất cả tâm trí, vì Người là Thiên Chúa duy nhất. Một số người lấy làm ngạc nhiên khi thấy có sự phân biệt giữa “Thiên Chúa Cựu ước” và “Thiên Chúa Tân ước”, tựa như Thiên Chúa có sự phân chia về phẩm tính của mình, hoặc có hai bản tính khác nhau! Những người Dothái nghe Đức Giêsu đã nhận ra Thiên Chúa, Người cũng dẫn dắt chúng ta. Cùng với anh chị em Dothái, chúng ta được mời gọi yêu mến và thờ phượng Thiên Chúa “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi.” Nói cách khác, yêu mên Thiên Chúa với bằng con người, không loại trừ, không do dự!

Câu trả lời của Đức Giêsu cho vị kinh sư là một đoạn quen thuộc đối với các Kitô hữu. Thậm chí đối với những ai không tinh thông về Kinh thánh cũng có thể trích dẫn câu trả lời này gần như đúng nguyên văn. Câu trả lời nằm ngay trong trí nhớ chúng ta và gắn ta với những giáo huấn của Đức Giêsu. Có thể đây là lý do khiến chúng ta không thấy nhiều chỉ dẫn liên quan đến tình yêu đối với Thiên Chúa trong Tân ước. Thông thường Tân ước nói về nhận biết, tin và suy phục Thiên Chúa.

Sau khi trích dẫn “điều răn thứ nhất,” Đức Giêsu trích dẫn sách Lêvi (19,18b) rằng: “Ngươi phải yêu thương người thân cận như chính mình.” Vì khi quan tâm, bảo vệ và có thể yêu thương chính mình, thì chúng ta mới thể hiện tình yêu đó đối với người thân cận. Trong những bản văn Hípri cổ, “người thân cận” được giới hạn trong một gia đình hay dân tộc. Chúng ta biết thêm về “người thân cận” từ lời dạy khác của Đức Giêsu, đặc biệt là qua dụ ngôn người Samari nhân hậu. Theo đó, Người đã mở rộng ý niệm về người thân cận khi kể đến những người bên ngoài gia đình, dân tộc, thậm chí là kẻ thù nữa (Xc. Lc 10, 29-37).

Tôi nghĩ rằng vị kinh sư chỉ hỏi về “điều răn đầu tiên” thôi. Thế chẳng phải Đức Giêsu lại trả lời cho ông ta hai điều răn đó sao? Đúng vậy, nhưng hai điều răn đó lại được liên kết với nhau bằng cùng một từ “yêu thương”. Chỉ có một điều răn duy nhất: yêu mến Thiên Chúa và người thân cận. Đó là điều răn Đức Giêsu đã dạy. Về giáo huấn này, vị kinh sư đã lắng nghe và trả lời rằng đây là điều răn thật hoàn hảo, điều răn tình yêu quả là “quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”.

Vị kinh sư đã đặt Đức Giêsu và giáo huấn của Người về nước Thiên Chúa trên cả việc thờ phượng Thiên Chúa trong Đền thờ ở Giêrusalem. Đức Giêsu đã khen ngợi câu trả lời này, không phải vì ông lập lại lời phát biểu của Đức Giêsu, nhưng vì đã nhận ra rằng tình yêu cao hơn hy lễ trong Đền thờ.

Đức Giêsu bảo vị kinh sư rằng: “Ông không còn xa nước Thiên Chúa nữa đâu”. Xa như thế nào? Quả thực, vị kinh sư vừa nhận ra sự trổi vượt trong lời dạy của Đức Giêsu. Câu hỏi được đặt ra là: lúc bấy giờ ông có chấp nhận, trở thành đồ đệ và sống theo điều răn yêu thương như Đức Giêsu đã dạy hay không? Liệu ông có phải là người hâm mộ, tin nhận Đức Giêsu như là vị thầy khôn ngoan và đạo đức, nhưng chỉ dừng lại đó thôi, không tiến xa hơn như những người cùng thời đã làm hay không? Nói cách khác, liệu vị kinh sư đó có thực thi điều mà chúng ta nghe Đức Giêsu truyền dạy cho các đồ đệ của Người thi hành trong những tuần qua là: hãy bỏ lại của cải, phục vụ cộng đoàn và vác thập giá mình mỗi ngày hay không?

Khi chúng ta đã nghe bài đọc hôm nay trong sách Đệ nhị luật, thực sự chúng ta nghe một bài giảng. Cuốn sách được viết ra như một bài giảng của ông Môsê dành cho dân Israel, những người cuối cùng cũng được vào Đất hứa. Ông Môsê được miêu tả là giảng dạy cho dân chúng đang tụ họp tại sông Jordan. Trong sách Đệ nhị luật, ông Môsê dạy bảo dân chúng đừng quên Thiên Chúa, Đấng đã tuyển chọn họ, đưa họ thoát khỏi cảnh nô lệ và bảo vệ họ qua khỏi hành trình dài trong sa mạc. Họ là dân của Thiên Chúa và phải sống xứng với việc Thiên Chúa chọn họ. Dân luôn dễ bị cám dỗ thờ các thần hư ảo. Hành vi và ngôn ngữ của họ phải thể hiện họ là ai – là dân được Chúa tuyển chọn (7,6-11).

Ông Môsê giảng cho dân Israel và bảo họ không bao giờ được quên những gì Thiên Chúa đã thực hiện cho họ, đồng thời kêu gọi họ phải đáp lại ân sủng mà Thiên Chúa đã ban cho bằng cách duy trì mối dây yêu thương với Thiên Chúa. Tình yêu này được diễn tả qua việc vâng phục những gì Thiên Chúa dạy. Thật vậy, giáo huấn ngày hôm nay cho thấy rõ ràng dân Israel phải hoàn toàn kính thờ Thiên Chúa. Nghe có vẻ quen thuộc phải không quý vị? Đức Giêsu mạc khải về Thiên Chúa – ân sủng, Đấng tiếp tục: kêu gọi chúng ta thoát khỏi tình trạng nô lệ, đồng hành với chúng ta qua những hành trình cam go của sa mạc, và cuối cùng đem chúng ta về quê hương tự do. Đức Giêsu nhận thấy tình yêu của Thiên Chúa và tình yêu của người thân cận chỉ là một điều răn, điều răn đó đòi buộc cả lòng mộ mến và sự tuân phục.

Trong khi sách Đệ nhị luật mô tả dân Israel bình an tiến vào vùng Đất hứa, thì sau này, suốt thời quân chủ, sách được viết về thời kỳ thịnh vượng, khi mà dân chúng đã an cư lạc nghiệp. Thời gian này, họ có được sự yên ổn và hạnh phúc, đồng thời họ lại mơ màng về những hành trình trong sa mạc. Chính khi sống trong sự phồn vinh, dân chúng lại sinh ra lơ là bổn phận phụng thờ, và quên rằng chính Thiên Chúa đã đưa họ vào cuộc sống tiện nghi hiện nay, chứ không phải nhờ vào sức mạnh của họ mà có được. Vì thế, sách Đệ nhị luật được viết ra để thức tỉnh họ và giúp họ tập trung vào Thiên Chúa.

Cuốn sách Đệ nhị luật ra đời trong thời lưu đày ở Babylon, và nhắm đến những người đã kinh nghiệm về sự mất mát lớn lao. Bấy giờ, vì cảnh tha hương, nên thông điệp là một trong những niềm cậy trông và hy vọng cho họ. Đó chẳng phải cũng nói cho chúng ta hay sao? Những khi thuận lợi, chúng ta lại quên Thiên Chúa và sự săn sóc của Người dành cho chúng ta trước đây. Lúc khó khăn, chúng ta lại đánh mất niềm hy vọng và cần được nhắc nhở về ý Thiên Chúa muốn và chúng ta có thể bắt đầu lại.

Sách Đệ nhị luật nói với con người cả trong hoan lạc lẫn đau thương, và cho chúng ta biết rằng, “Đừng quên Thiên Chúa của ngươi và những việc mà Người đã làm cho ngươi. Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa và ghi lòng tạc dạ”. Chính Thiên Chúa là trung tâm của toàn bộ Sách thánh và là trọng tâm của cuộc đời chúng ta.

Tháng 11 cũng là tháng chúng ta nhớ về những ai đã ra đi trước chúng ta. Tuần trước, tôi ngồi ghi lại danh sách thân nhân và bạn bè đã an nghỉ giấc ngàn thu. Bởi vì, tôi muốn tưởng nhớ đến họ cách đặc biệt trong tháng này. Danh sách này sẽ còn dài thêm – nó nhắc chúng ta về ngày chết của riêng mình.

Ý thức mọi vật sẽ qua đi khiến chúng ta thắc mắc về di sản đạo đức của mình. Chúng ta sẽ để lại cái gì cho con cháu và thế hệ mai sau? Liệu chúng có nhớ một tình yêu phong phú và tràn đầy mà chúng ta dành cho Thiên Chúa cũng như người thân, hoặc có nhớ đến cách chúng ta thể hiện tình yêu đó hay không? Hiện nay, chúng có đang cảm được tình yêu đó bằng ngôn từ và hành động không? Chúng có biết rằng yêu Thiên Chúa và yêu người thân cận là giá trị căn bản của đời sống chúng ta hay không?

Ngày nay Đức Giêsu mời gọi chúng ta nhận ra rằng chỉ một mình Thiên Chúa là Chúa chúng ta. Chỉ một mình Thiên Chúa mới làm cho cuộc sống có ý nghĩa, và vì thế chúng ta phải yêu mến Thiên chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực. Và khi sống trong tình yêu đó, chúng phải yêu thương chính mình và yêu thương nhau. Không có gì lớn hơn tình yêu đằm thắm này. Dạy cho thế hệ trẻ biết về Thiên Chúa yêu thương là món quà vĩ đại nhất mà chúng ta để lại cho chúng.

Chuyển ngữ : Anh em HV Đaminh Gò Vấp

31st SUNDAY IN ORDINARY TIME (B) -
Deuteronomy 6: 2-6; Psalm 18; Hebrews 7: 23-28; Mark 12: 28b-34

In the Gospels we are used to hearing the scribes teamed up with the Pharisees, chief priests and elders to confront Jesus (11:27). But today we meet a different kind of scribe. He comes inquiring of Jesus, "Which is the first of all the commandments?" When Jesus responds to him the scribe compliments Jesus, "Well said teacher." In the Torah the rabbis counted 613 commandments and so discussions and debates resolved around the distinction between "heavy" and "light" commandments. (It sounds a bit like the distinction between mortal and venial sins.)

Jesus began his response with the command, "Hear, O Israel...," and draws from three quotations (Deut 6:4-9, 11:13-21; Num 15:37-41), which constitute the prayers still said three times a day by pious Jews. Jesus didn’t introduce us to a brand-new God, but the God of Israel. He calls us to love and worship God with our whole being, as the one and only God. Some people make strange distinctions between the "Old Testament God," and the "New Testament God" – as if God has a split personality, or two different natures. Jesus’ Jewish audience would have recognized the God he directs our attention to. Along with our Jewish brothers and sisters, we are called to love and worship God with "all your heart, with all your soul, with all your mind, and with all your strength."In other words, to love God with our whole being – no exceptions, no holding back!

Jesus’ response to the scribe is a familiar passage to Christians. Even those who are not very versed in the Bible probably can quote it more or less verbatim. It is fixed in our memory and ties us to Jesus’ teachings. Perhaps that is why there are not many other references to love for God in the New Testament. Usually the New Testament speaks of knowing, believing and obeying God.

After quoting the "first commandment," Jesus quotes from Leviticus (19:18b), "you shall love your neighbor as yourself." As we care for, protect, and presumably love ourselves, so we should show that same love towards neighbor. In the ancient Hebrew texts the understanding of "neighbor" is limited to one’s family or people. We know from Jesus’ other teachings, especially his parable of the Good Samaritan, that he has widened the notion of neighbor to include the outsider and even the enemy (Luke 10:29-37).

I thought the scribe asked for the "first of all the commandments." Didn’t Jesus just give him two? Yes, but they are linked by the same word, "love." It is the one commandment, love for God and neighbor, that Jesus teaches. The scribe gets it and responds that this dual-faceted, one commandment of love, "is worth more than all burnt offerings and sacrifices."

The scribe has just placed Jesus and his teachings about the kingdom of God, over even the worship paid God in the Temple in Jerusalem. Jesus compliments the man’s response – not the repetition of Jesus’ own statement, but the recognition that love surpasses even sacred Temple sacrifices.

Jesus tells the scribe that he is "not far from the kingdom of God." How far? Well, he has just recognized the superiority of Jesus’ teaching. The question is: will he now accept, become a follower and live out the commandment of love Jesus just gave him? Or, will he just be an admirer, crediting Jesus with being a wise and great religious teacher, and go no further, as so many of our contemporaries do? In other words, will the scribe do what we have heard Jesus instructing his followers to do these past weeks: leave riches behind, be servant to all and take up their cross daily?

As we listen to today’s reading from Deuteronomy we are in fact hearing a preaching. The book is written as if it were a sermon given by Moses to the Israelites, who are finally about to enter the Promise Land. Moses is depicted as preaching to the people gathered at the Jordan. In Deuteronomy he instructs the people not to forget the God who had elected them, brought them out of slavery and sustained them through their long desert journey. They are God’s people and must live up to God’s choice of them. The people were always in danger of falling back to worshiping false gods. Their words and actions must reflect who they are – God’s chosen (cf. 7:6-11).

Moses preaches to the Israelites and tells them they are never to forget what God has done for them and to respond to the grace God has bestowed on them by remaining in a relationship of love with their God. This love is expressed by obedience to what God asks. It’s clear from today’s injunction that Israel’s devotion to God must be total. Sound familiar? Jesus reveals the God-of-grace who continues to: call us out of slavery, travel with us through the arduous journey of our own deserts and finally bring us home to freedom. Jesus saw love of God and love of neighbor as one commandment, which requires total devotion and observance.

While the Book of Deuteronomy describes the Israelites poised to enter into the Promise Land, it was written later, during the period of the monarchy, a prosperous time when the people had grown settled and complacent. They had the security and well-being they daydreamed of during the desert travels. As it is with prosperity, the people grew slack in their religious fervor and forgot it was God, not their own strength, that had gotten them to their present, comfortable life. So, Deuteronomy was written to shake up their consciousness and bring God back into focus.

The final edition of Deuteronomy came during the Babylonian exile and was addressed to the people who had experienced great loss. Now, for these exiles, the message is one of hope and new possibilities. Isn’t that the way it is for us? In good times we can forget God and God’s past care of us. In hard times we can lose hope and need to be reminded what God wants for us and can do again.

Deuteronomy addresses people in both comfort and distress and tells us, "Don’t forget your God, and what God did for you. Love the God you remember with all your being." This is the God who is at the center of our Bible and who should be at the center of our lives.

For us in the northern parts, November is a month that reminds us of the passings and dyings we have experienced. The season is turning cold; the earth is being stripped of its color. It’s a time when we remember our dead as well. Last week I began to make a list of family and friends who have died. I want to remember them in a special way this month. The list keeps getting longer – it is a reminder of the passing of our own days.

This awareness of things passing raises some questions about our legacy. What is it that we are leaving for our children and the next generation? Will they remember the full and rich love we had for God and our neighbor, and the many ways we expressed that love? Are they now experiencing that love by our words and actions? Do they perceive that love of God and love of neighbor is the fundamental value of our lives?

Today Jesus invites us to see that God alone is our God. God alone gives meaning to our lives and so we are to love God totally – all of our heart, soul, mind and strength. And living in that love, we are to love ourselves and one another. Nothing is greater than this embracing love. To teach our young ones about this God is the greatest gift we can leave them.

 

Lm Jude Siciliano OP

 

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)