dongcong.net
 
 

Suy Niệm và cầu nguyện

CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN – B
I Các Vua: 17:10-16; Tv 146; Do Thái 9: 24-28; Mark 12: 38-44

THIÊN CHÚA NGHE THẤY TIẾNG KÊU THAN CỦA NGƯỜI NGHÈO

Trước hết chúng ta thấy Êlia giống như một ngôn sứ tự phụ và thiếu nhạy bén. Ông gặp một bà góa đang lượm củi để chuẩn bị bữa ăn cho mình và đứa con trai với chút ít lương thực, và bà nói: “chúng tôi sẽ ăn rồi chết”. Vậy mà ông còn yêu cầu: “hãy mang cho tôi ly tách nước…[và] một chiếc bánh nhỏ”. Quý vị thấy không? Chẳng phải có vẻ vô tâm đó sao?

Thiên Chúa đã nói với Êlia rằng sẽ có một cơn hạn hán trong vùng vì Vua Ahab của Israel đã cưới Jêzebel, một công chúa của Siđon. Jêzebel thuyết phục Ahab thờ thần Baal. Baal là thần làm ra mưa, sấm chớp. Vì thế, Thiên Chúa không cho mưa nữa để cho thấy sự bất lực của Baal: những lời cầu khẩn lên thần Baal không thể làm cho trời mưa xuống và thế là hạn hán.

Jêzebel từ Siđon đến và mang theo thần của mình dẫn dân đến chỗ không thờ phượng Thiên Chúa đích thực. Thật châm biếm, Thiên Chúa làm một điều ngược lại là sai Êlia đến sống ở Xarépta vùng Siđôn (17,8). Một ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến vùng đất của dân ngoại để làm điều lành. Sau này, trong Tin mừng Luca, Đức Giêsu dùng ví dụ về bà góa thành Xarépta để cho thấy Thiên Chúa vượt xa khỏi lãnh địa Israel và mời gọi Israel cũng làm như vậy – trở nên phúc lành cho “mọi dân nước” (St 12,13).

Nhưng, vị ngôn sứ có vẻ rất ngỗ ngược và cao ngạo khi ông xin bà góa dân ngoại phần thức ăn cuối cùng của bà. Khi bà bày tỏ sự miễn cưỡng, Êlia hứa rằng bà và con của bà sẽ có đủ lương thực cho đến khi cơn hạn qua đi và nạn đói chấm dứt. Lời yêu cầu của Êlia mời gọi bà góa tin tưởng vào lời và hành động của Thiên Chúa qua ngôn sứ. Bà chưa kiểm chứng được kết quả của lời của Êlia; nhưng bà tin rằng lời ông nói sẽ thành hiện thực.

Câu chuyện cho thấy Thiên Chúa là nguồn mạch của mọi ân sủng cho tất cả mọi dân. Lời của ngôn sứ Êlia thật hữu hiệu, khi chúng ta lại nghe lần nữa Thiên Chúa chăm sóc kẻ bé nhỏ nhất. Câu chuyện mô tả rất khéo tình trạng khốn khổ của bà góa trong Cựu Ước và Tân Ước. Nếu họ chẳng còn biết cậy nhờ vào ai, thì họ và con cái họ sẽ chết. Một trong những tiêu chuẩn thánh thiện của dân Chúa, cả trong Cựu Ước lẫn trong Tân Ước, là họ đã chăm sóc bà góa con côi thế nào – hay nói cách khác, chăm sóc những kẻ hèn mọn nhất của xã hội ra sao. Cũng lưu ý, trong Giáo hội tiên khởi, mười hai Tông đồ đã chọn bảy người để chăm sóc những bà góa gốc Hylạp bị bỏ quên (Cv 6,1-4).

Câu chuyện giữa ngôn sứ Êlia và bà góa chỉ là chuyện nhỏ xíu trong những nỗi thống khổ mà cơn hạn gây ra cho thế giới thời ấy. Một ngôn sứ giúp một bà góa – một người được xem là “bên ngoài” cộng đồng tôn giáo. Nhưng, Thiên Chúa thấy được sự thiếu thốn cũng như niềm tin của bà nên đã đến giúp. Cho một bà góa và con trai của bà ăn, thực chất chẳng phải là một hành động gì to tát. Nhưng đó là một dấu chỉ mạnh mẽ cho tín hữu thấy tấm lòng Thiên Chúa đang ở đâu. Có nhiều “cơn hạn hán” trong thế giới chúng ta. Chúng ta có nghe được lời mời gọi trở nên dấu chứng của sự chăm sóc của Thiên Chúa dành cho người những người bé nhỏ và những người bị loại ra ngoài, những ai đang trải qua cơn hạn hán cách nào đó hay không?

Khi được rửa tội, chúng ta trở thành tư tế, ngôn sứ và vương đế. Khi chúng ta sống ơn gọi làm ngôn sứ của phép rửa, đến với những ai mà Thiên Chúa sai chúng ta đến để nói một lời khích lệ và nên dâu chỉ cho họ thấy rằng họ không bị bỏ rơi? “Hạn hán” là một dấu hiệu và một lời nhắc nhở chúng ta quan tấm đến những người đang trong cảnh bi đát, đang thiếu thốn: những nhu cầu căn bản như thức ăn chỗ ở; một lời khích lệ; một lời mời vào những nơi đã cấm hay bỏ rơi họ; một sự trân trọng khả năng của họ; và một sự chân nhận phẩm giá con cái Thiên Chúa của họ,…

Nơi Đức Giêsu hiện diện một Thiên Chúa nhân từ, Đấng nhìn thấy và đáp ứng nhu cầu của bà góa con côi. Như ngôn sứ Êlia, Người đi qua các biên giới giữa Israel và Các Dân Ngoại. Bên cạnh việc khen ngợi đức tin của bà góa Xarepta, Người cũng cho thấy lòng thương cảm của Thiên Chúa dành cho những người đói khát bằng cách nuôi đám đông dân chúng (Mc 6,30-44; 8,1-10).

Bài Tin mừng hôm nay từng được mang tên là “đồng xu của bà góa” vì bà góa và số tiền ít ỏi mà bà đóng góp cho đền thờ -- “tất cả những gì bà có để sống”. Nhưng câu chuyện của bà góa trong bối cảnh lớn hơn và khởi đầu với những lời khuyến cáo của Đức Giêsu chống lại các Kinh sư.

Các kinh sư phô trương hết cỡ sự nhiệt thành của mình và dễ dàng để người khác nhận ra và chào hỏi họ nơi công cộng, dành cho họ “ưa chiếm chỗ danh dự trong Hội Đường và thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc”. Giới kinh sư là những chuyên gia tôn giáo thời ấy, dễ thấy vì tác phong và cách ăn mặc của họ. Quý vị có thể nói nhìn vào cách ăn mặc của họ cũng biết họ xa cách thế nào đối với cuộc sống vất vả của đa số dân chúng xung quanh. Họ là những người nhiệt thành hời hợt, thanh thế và quyền lực.


Bên cạnh việc kết án các kinh sư về sự phô trương tôn giáo của họ, Đức Giêsu còn đả kích việc họ lợi dụng các bà hóa, người nhỏ bé nhất và những người nghèo nàn nhất. “Họ nuốt hết tài sản của các bà góa, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ”. Các Kinh sư có lấy tài sản để dành của các bà góa đổi lấy việc cầu nguyện cho họ hay không? Hay thu phì khi các bà đến xin lời khuyên hay không? Họ trục lợi trên sự mất mát của bà góa và Đức Giêsu thấy sự cùng khổ của người nghèo cũng như những kẻ bị lãng quên – như Thiên Chúa luôn thấy.

Bà góa trong bài Tin mừng là hình ảnh của bà góa trong câu chuyện của Êlia; cả hai là những người có niềm tin. Tuần trước (Chúa nhật 31 TN, Mc 12,28-34) Đức Giêsu đã trích lại điều răn quan trọng nhất, “Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi”. Cả hai bà góa đều xuất hiện với những hành động đức tin lớn lao vào Thiên Chúa đầy lòng quan tâm, Đấng không ngừng chăm sóc họ. Họ là gương mẫu cho chúng ta, nhất là trong những “lúc hạn hán”, khích lệ chúng ta giữ vững niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng không bao giờ làm cho ai thất vọng.

Nhưng xin đừng thu nhỏ bối cảnh của bà góa trong Tin mừng. Tôi sẽ không chọn bài đọc ngắn. Đức Giêsu lên án mạnh mẽ giới lãnh đạo tôn giáo, những người lẽ ra phải bảo vệ những kẻ khốn cùng. Nhưng, họ lại thích phô trương thanh thế trong khi quên mất trọng tâm giáo huấn của họ - quan tâm đến bà góa con côi. Trong ý nghĩa của những gì Đức Giêsu nói về việc các kinh sư ăn tươi nuốt sống “tài sản của các bà góa”, chúng ta không chịu được nhưng thắc mắc liệu chỉ có các bà góa mới là nạn nhân của các kinh sư. Tài sản của bà có bị các kinh sư “nuốt sống” hay không?

Nếu thế, bà đã chẳng thể chờ trông được những nhà lãnh đạo tôn giáo bảo vệ như Luật Chúa đòi hỏi họ dành cho người nghèo và những người không thấp cổ bé miệng. Vì thế, bà chỉ còn biết chạy đến với Đấng mà bà tin tưởng, là Thiên Chúa. Sự đóng góp bé nhỏ nhưng đầy ý nghĩa tỏ cho thấy bà tuyệt đối tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng thấu suốt đức tin của bà và giúp đỡ bà.

Thiên Chúa thực sự thấy bà và hoàn cảnh của bà, vì thánh Maccô cho biết rằng Đức Giêsu “ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền thờ và quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao”. Thông thường, khi Tin mừng mô tả Đức Giêsu ngồi là nhấn mạnh đến vai trò thầy dạy của Người. Nhưng những quan tòa cũng ngồi để tuyên án. Đức Giêsu thực hiện cả hai vai trò đó, dạy dỗ và lên án.

Đức Giêsu nói nhiều lần trong Tin mừng “Ai có tai để nghe thì hãy nghe”. Điều mà chúng ta lắng nghe tuần trước “Nghe đây! Hỡi Israel!” Hôm nay, chúng ta có thể nói cách khác “Lắng nghe này!” Tuy nhiên chúng ta diễn tả nó, chúng ta lại được nghe căn cốt của giáo huấn sách thánh: Thiên Chúa nghe thấy tiếng kêu than của người nghèo – chúng ta cũng hãy lắng tai để nghe tiếng họ.

Chuyển ngữ : Anh em HV Đaminh Gò Vấp

32nd SUNDAY IN ORDINARY TIME (B)
I Kings: 17:10-16; Psalm 146; Hebrews 9: 24-28; Mark 12: 38-44

Based on our first impressions, Elijah certainly sounds like a presumptuous, inconsiderate prophet. He meets a widow gathering sticks to prepare a meal for herself and her son from her scant supply and she says, "When we have eaten it, we shall die." Still he asks her, "Please bring me a small cupful of water...[and] a bit of bread. See what I mean? Sounds inconsiderate, doesn’t it?

God had told Elijah that there was to be a drought in the land because the king of Israel, Ahab, had married Jezebel, a princess from Sidon. Jezebel convinced Ahab to worship the god Baal. Baal was a fertility god of the rains, thunder and lightning. So, God withdrew the rains to show Baal’s impotency: prayers to Baal could not produce rain and the result was drought.

Jezebel came from Sidon with her god to lead the people away from worshiping the true God. In a touch of irony God reverses the action and sends Elijah to live in Zarephath in Sidon (17:8). A prophet of God has been sent to do good in a pagan land. Later, in Luke’s Gospel, Jesus will use the example of the widow of Zarephath to show God reaching out beyond Israel and calling Israel to do the same – be a blessing for "all peoples" (Genesis 12:13).

Still, the prophet does seem brash and self-centered as he asks the foreign widow for the last of her food. When she expresses reluctance, Elijah assures her that she and her son will have food until the drought and famine end. Elijah’s request invites the widow to trust God’s speaking and acting through the prophet. She doesn’t yet see the results of Elijah’s word; but she trusts what he says will happen.

The story shows God as the source of blessings for all peoples. The word of the prophet/preacher Elijah is fruitful, as we hear again of God’s concern for the least. The story depicts well the miserable condition of widows in the world of the Old and New Testaments. If they had no one to turn to for help they and their children would perish. One of the measures of the holiness of God’s people in both Testaments is how they care for widows and orphans – i.e. the very least in society. Note also, in the early church the twelve apostles chose seven men to care for the Greek-speaking widows whom, they were told, were being neglected (Acts 6:1-4).


The story of Elijah and the widow seems minuscule in light of the suffering in the drought-stricken world at the time. One prophet helps one widow – who was also an "outsider" to the religious community. Yet, God saw the widow’s need and faith and came to her help. Feeding one widow and her son wasn’t exactly an earth-shattering act. But it can be a powerful sign for believers of where God’s heart lies. There are many "droughts" in our world. Can we hear the challenge to be signs of God’s concern for the least and the outsider who may be suffering in one drought or another?

We were baptized as priests, prophets and royalty. As we live out our baptismal call to be prophets, to whom is God sending us to speak a word of encouragement and to be a sign to them that they are not forgotten? "Drought" is a symbol and a reminder that calls our attention to anyone in dire circumstances, in need of: the basics of food and shelter; a voice of encouragement; a welcome into places that have barred or ignored them; an appreciation of their gifts; a recognition of their dignity as God’s children, etc.

Jesus makes present the God who saw and addressed the needs of the widows and orphans. Like Elijah, he crossed over the dividing line between Israel and the Gentiles. Besides extolling the faith of the widow of Zarephath, he also showed God’s compassion for the hungry by feeding diverse crowds (Mark 6:30-44; 8:1-10).

Today’s gospel used to be called "the widows mite," named for the widow and the small amount she contributed to the temple treasury – "all she had, her whole livelihood." But the story of the widow is in a larger context and begins with Jesus’ warning against the scribes.

The scribes made grandiose displays of their piety and were easily recognized by others who greeted them in the marketplace, gave them "seats of honor in the synagogue and places of honor at banquets." The scribes were the professional religious of the day, highly visible because of their reputation and display of religious garb. You can tell by their manner of dress just how far they were from the daily struggles of the vast majority of the people around. They were men of superficial piety, prestige and power.

Besides accusing the scribes for their religious pomposity, even more severe was Jesus’ diatribe against how they took advantage of widows, the least and the neediest in society. "They devour the houses of widows and, as a pretext, recite lengthy prayers." Did the scribes receive the savings of widows in exchange for prayers? Or, for their advice? They profited on the losses of widows and Jesus noticed the plight of the poor and disenfranchised – as God always does.

The widow in the gospel reflects the widow in Elijah’s story; they are both people of faith. Last week (31stSunday, Mark 12:28-34) we heard Jesus quote the first of all the commandments, "Hear O Israel! The Lord our God is Lord alone! You shall love the Lord your God with all your heart, with all your soul, with all your mind and with all your strength." Both widows revealed by their actions great acts of faith in a caring God who will not overlook them. They are models for us, especially in our "drought times," encouraging us to hold onto our faith in our God, who will not disappoint.

But let’s not minimize the context of the gospel widow’s story. I wouldn’t select the shorter version offered by the Lectionary. Jesus is making a strong condemnation of religious leaders who were supposed to protect the most vulnerable. Instead, they prefer superficial displays of religion while neglecting the very heart of their religion’s teaching – concern for the widow and orphan. In the light of what Jesus says about the scribes devouring "the houses of widows," we can’t help but wonder if this widow was one of the victims of the scribes. Had her house been "devoured" by them?

If so, she couldn’t turn to her religious leaders for the protection God’s Law required them to give to the poor and unprotected. So, she turns to the only One she has on her side, God. Her minuscule, but significant, donation represents her complete trust in God who will see her faith and help her.

God does see her and her situation because Mark tells us that Jesus "sat down opposite the treasury and observed how the crowd put money into the treasury." Often when the gospel describes Jesus seated it is to underline his role as teacher. But judges also sat to give verdict. Jesus is doing both, teaching and passing judgment.

As Jesus says many times in the gospels, "Let those who have ears to hear listen." What we heard last week, "Hear, O Israel!" we might say in another way today, "Listen up!" However we express it, we hear again a core biblical teaching: God hears the cry of the poor – and so should we! Listen up!

Lm Jude Siciliano OP-2012

dongcong.net 2012

 

Chúa Nhật 32 THƯỜNG NIÊN (B-2015)
1 Các Vua: 17:10-16 T.vịnh 145; Do Thái 9: 24-28 ; Máccô 12: 38-44

ĐỪNG GIẢ HÌNH KHI PHỤC VỤ CỘNG ĐOÀN

Tôi tự hỏi giáo dân nghĩ gì khi nghe bài đọc thứ nhất? Họ khó chịu hay không? Họ có ý nghĩ vẫn vơ hay không? Họ coi thường hay không? Họ có thể nói rằng "Tôi không hiểu bài Kinh Thánnh này". Nhủ̃ng ngủỏ̀i đi lễ hằng tuần có thể tụ̉ nhiên thủỏng hại bà góa phụ ngh̀èo và ngủỏ̀i con trai đang đói. Họ có thể quay lại coi thủỏ̀ng ông Êlia "Thật ông ta quá cả gan. Làm sao mà ông ta lại đòi hỏi bà quả phụ nghèo đem cho ông ta bánh và nủỏ́c uống đủọ̉c?" Chúng ta, các thầy giảng, có thể có thái độ nhủ vậy. Vậy chúng ta có thể bỏ qua bài sách này rồi qua ngay bàì phúc âm, và mong rằng các giáo dân không để ý đến bài đọc thủ́ nhất hay không? Chúng ta không nên vội vả bỏ qua bài đọc thủ́ nhất. Trái lại, chúng ta hãy tìm xem có ý nghĩ gì hay trong bài sách thủ́ nhất hay không.

Thiên Chúa đã gỏ̉i ngôn sủ́ Êlia đến Sarepta gần cuối 3 năm hạn hán ỏ̉ Israel. Đến đó, nỏi đất dân ngoại, ông ta gặp một bà quả phụ đang gặp khó khăn. Chồng bà ta đã mất, xã hội chung quah bà ta đang đói khát vì hạn hán. Bà ta sống trong vùng nỏi ngủỏ̀i chồng cai quản mọi sụ̉. Bà ta là quả phụ nên không có nhà ỏ̉, và không có sụ̉ che chỏ̉ của ngủỏ̀i chồng. Bà ta là một ngủỏ̀i rất yếu hèn trong xã hội. Nhủng ngôn sủ́ Elia cũng đang gặp hoàn cảnh đó. Ông ta là một ngủỏ̀i ỏ̉ xủ́ lạ đến, không có thủ́c ăn, nủỏ́c uống, và phải dụ̉a vào một ngủỏ̀i khác hầu nhủ không có gì cả. Ấy thế mà làm sao ông ta lại cả gan đến thế? Ông ta lại không có tâm tình, lại dám đòi hỏi một quả phụ nghèo đem của ăn và nủỏ́c uống cho ông ta?

Ông Êlia là ngủỏ̀i xa lạ. Văn hóa ỏ̉ Trung đông đòi hỏi ngủỏ̀i địa phủỏng phải tiếp đãi ngủỏ̀i khách lạ một cách nồng hậu, mặc dù ngủỏ̀i địa phủỏng đó không có gì nhiều còn để lại cho họ, và đó là hoàn cảnh của bà quả phụ và ngủỏ̀i con trai của bà ta. Nhủng bà quả phụ lại có chút tin tủỏ̉ng vào Thiên Chúa của ông Êlia, theo nhủ việc bà làm đáp lại sụ̉ đòi hỏi của ngủỏ̀i khách. Bà nói "Đức Chúa hằng sống, Thiên Chúa của ngài…" Bà ta có thể không thuộc về tôn giáo của ông Êlia, nhủng bà ta chấp nhận Thiên Chúa hằng sống của ông ta.

Lỏ̀i ông Êlia đáp lại bà quả phụ nhắc đến thái độ Thiên Chúa đối vỏ́i nhủ̃ng ngủỏ̀i cần đủọ̉c giúp đỏ̃ trong Kinh Thánh "Đủ̀ng sọ̉". Chúng ta có thể nói nhủ thế vỏ́i một ngủỏ̀i đang cần đủọ̉c giúp đỏ̃ một cách khẩn cấp. Nhủng ông Êlia là ngôn sủ́ của Thiên Chúa khi ông ta nói thay cho Thiên Chúa., ông diễn tả một lần nữa là Thiên Chúa để ý và hành động để giúp người yêu hèn hay người bị loại ra ngoài. Chúa của bà quả phụ không giúp gì bà ta được. Nhưng Chúa của ông Elya có thể giúp được. Bà quả phụ đi làm theo lời ông Elia và Thiên Chúa hằng sống giúp bà ta. Lời bà ta nói đúng thật "Đức Chúa hằng sống, Thiên Chúa của ngài…"

Thánh vịnh 145 đọc hôm nay là lời chúng ta ca ngợi Thiên Chúa hộ giúp kẻ yếu hèn "Đức Chúa, đấng giữ lòng trung cho đến đời đời, giải oan cho người bị áp bức". Dựa vào điều chúng ta đã nghe trong bài đọc thứ nhất, chúng ta quay qua bài phúc âm, và trông thấy hai bà quả phụ. bà ở Sarepta và trong phúc âm có điều gì tương tự. Cả hai bà cần được giúp đỡ, và Thiên Chúa để ý đến hai bà.

Bà quả phụ nghèo trong phúc âm “đã bỏ vào thùng tiền mọi sự bà ta có, tất cả của độ thân" thường được dùng làm gương cho những người bố thí quá ư rộng rãi. Bà ta là người cho tiền nhiều nhất đến đồng bạc cuối cùng cho tới khi không còn gì nữa. Nhưng, đó có phải là điều mà Chúa Giêsu chú trọng khi Ngài gọi các môn đệ đến để thấy việc bà ta làm phải không?

Hình như Lời Chúa hôm nay có hai phần không liên hệ với nhau: Chúa Giêsu dạy phải canh chừng thái độ giả dối của các kinh sư, và việc bỏ tiền của bà quả phụ vào thùng tiền ở đền thờ. Nhưng, hãy để ý đến điều gì liên kết hai bài sách lại là: cả hai bài đều nói về người quả phụ.

Chúa Giêsu gọi các môn đệ lại và chỉ cho các ông thấy các kinh sư ưa dạo quanh xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi chổ nhất trong đám tiệc. Nhưng, các điều đó khôn quan trọng mấy. Thêm vào đó, họ tỏ vẽ kính sợ Thiên Chúa, nhưng họ lại nuốt hết tài sản các quả phụ là những người Thiên Chúa luôn luôn để ý đến vì họ là những người bé mọn nhất trong xã hội. Tệ hơn nữa là các kinh sư làm điều đó vì danh nghĩa tôn giáo. Các kinh sư là giáo dân, thường họ không có lương bổng, họ sống nhờ vào tiền cúng vào đền thờ như tiền bà quả phụ bỏ vào thùng tiền. Tiền đó giúp vào việc gìn giử đền thờ và giúp các kinh sư.

Bởi thế, hôm nay chúng ta có hai nhóm người được để ý đến là: các kinh sư tỏ vẽ như người giữ lề luật tôn giáo để cho mọi người trông thấy. Nhưng, dưới bộ áo thụng xúng xính, họ là những người nuốt tài sản của kẻ khác. Đằng khác, bà quả phụ bày tỏ thái độ thật tình trong việc giữ lề luật tôn giáo của nhủ̃ng ngủỏ̀i bé mọn, và chủ́ng tỏ lòng tín th́ác lỏ́n lao vào Thiên Chúa.

Có một điều lạ lùng trong phúc âm đối vỏ́i chúng ta là nhủ̃ng ngủỏ̀i có chủ́c vụ về việc giủ̃ lề luật tôn giáo. Dân chúng thủỏ̀ng đối vỏ́i chúng ta một cách kính nể. Nỏi các tiệc củỏ́i, và tiệc lễ, chúng ta thủỏ̀ng đủọ̉c ngồi ỏ̉ đầu bàn vỏ́i nhủ̃ng khách danh dụ̉. Trong khi chúng ta cảm tạ, Đủ́c Thánh Cha Phanxicô nhắc nhỏ̉ chúng ta hãy để ý đến nhủ̃ng ngủỏ̀i nghèo và đủ̀ng để sụ̉ củ xủ̉ trong xã hội làm chúng ta xa các "quả phụ" là nhủ̃ng ngủỏ̀i không ai để ý đến hay bị loại ra ngoài. Bài phúc âm hôm nay thúc đẩy chúng ta quay hẳn về nhủ̃ng ngủỏ̀i mà Chúa Giêsu bảo các môn đệ để ý đến là "bà quả phụ nghèo".

Nhủng, không nhủ̃ng chỉ có chúng ta, nhủ̃ng ngủỏ̀i lãnh đạo, nên cần cảm thấy khó chịu nghe lỏ̀i Chúa Giêsu dạy hôm nay. Chúa Giêsu quỏ̉ trách nhủ̃ng tổ chủ́c tôn giáo nào phân tách ngủỏ̀i lãnh đạo ra khỏi nhủ̃ng ngủỏ̀i nghèo. Chúng ta, nhủ̃ng ngủỏ̀i da trắng, trong giáo hội cần phải nghe lỏ̀i Chúa Giêsu. Chúng ta muốn gìn giủ̃ tổ chủ́c của chúng ta và lãnh nhận nhủ̃ng gì chúng ta đủọ̉c hủỏ̉ng: nhủ địa vị trong cộng đoàn, đủọ̉c ngủỏ̀i ta chú trọng đến, và đủọ̉c vủ̃ng vàng giủ̃ địa vị không lay chuyển. Lịch sủ̉ của giáo hội đã chủ́ng tỏ chúng ta có nhủ̃ng đạo binh bắt ép nhủ̃ng ngủỏ̀i bản xủ́, rao giảng về việc nô lệ và áp bủ́c. Các tổ chủ́c tôn giáo của chúng ta có thái độ đủ́ng vỏ́i Caezar và dụ̉a vào nền kinh tế và chính trị của Cêsar.

Chúa Giêsu buộc tội nhủ̃ng ngủỏ̀i đó và nhủ̃ng tổ chủ́c đã lọ̉i dụng ngủỏ̀i nghèo. Trủỏ́c đó, trong phúc âm thánh Máccô, Đền Thỏ̀ đã trỏ̉ thành "sào huyệt của bọn củỏ́p" (Mc11:17). Chúa Giêsu tiên đoán là Đền Thỏ̀ sẽ bị tàn phá. phúc âm hôm nay cho thấy vì sao sụ̉ tàn phá đó không thể tránh đủọ̉c, vì bao nhiêu tệ đoan đã đủọ̉c dung túng trên tiền bạc của ngủỏ̀i nghèo. "Bà quả phụ nghèo này đã rút tủ̀ các túng thiếu của mình mà bỏ vào thùng tiền tất cả tài sản, tất cả nhủ̃ng gì bà có để sống".

Chúng ta muốn cẩn thận không nên đổ tội tràn trề trên cộng đoàn Do thái và các lề luật tôn giáo của họ, nhủ là nói rằng "Đó là điều xãy ra thỏ̀i đó, nhủng bây giỏ̀ Chúa Giêsu là Đền Thỏ̀ mỏ́i, và nhủ̃ng tệ đoan đó đã đủọ̉c bãi bỏ trong việc thỏ̀ phủọ̉ng và đỏ̀i sống tôn giáo của chúng ta". Không ai lại ngỏ́ ngẩn đến thế. Hãy để ý đến các tệ đoan của các tổ chủ́c và giáo hội địa phủỏng. Chúng ta chú trọng đến kinh mỏ̉ đầu phần phụng vụ thánh lễ "Xin Chúa thủỏng xót chúng con, xin Chúa Kitô thủỏng xót chúng con, xin Chúa thủỏng xót chúng con".

Trong giáo hội, hay trong giáo xủ́ chúng ta, chúng ta nên có bảng viết lỏ̀i chỉ định nhiệm vụ của giáo xủ́. Chúng ta có thể dùng phúc âm hôm nay để diễn tả nhiệm vụ đó. Và bỏ̉i đó chúng ta học đủọ̉c điều là để ý đến nhủ̃ng ngủỏ̀i không ai đoái hoài đến. Hãy chú ý đến sụ̉ họ cần giúp đỏ̃, hãy cùng vỏ́i họ chiến đấu họ đủọ̉c tụ̉ do, và hãy chống lại nhủ̃ng bất công mà họ phải chịu đụ̉ng. Chúng ta chấp nhận điều đó là lỏ̀i Chúa Giêsu mời gọi chúng ta, vì Chúa Giêsu một lần nủ̃a đã "chú ý" đến sụ̉ cách biệt trong xã hội và tôn giáo. Chúa Giêsu đã gọi các môn đệ Ngài chú ý đến việc Ngài làm, và mỏ̀i gọi chúng ta dâng tất cả nhủ̃ng gỉ chúng ta có để phục vụ Đền Thỏ̀ mỏ́i, được xây dụ̉ng bỏ̉i sụ̉ chết và sụ̉ sống lại của Ngài và vỏ́i ỏn huệ Chúa Thánh Thần.

 

32nd SUNDAY IN ORDINARY TIME (B)
1 Kings: 17:10-16 Psalm 146 Hebrews 9: 24-28 ;Mark 12: 38-44

I wonder how people are going to react when they hear today's first reading from I Kings? Annoyed? Confused? Indignant? Will they say, "I just don't understand these biblical readings!" The weekly churchgoers will instinctively react with sympathy for the poor widow and her son who are starving. They might also turn their indignation on Elijah, "The nerve! How could that prophet demand water and food from that desperate woman?" We preachers might initially respond in similar ways. Should we just jump to the gospel and hope the congregation isn't paying attention to the first reading? Let's not skip over this awkward reading too quickly and instead, go digging for gold.

God had sent Elijah to Zarephath towards the end of the three-year drought in Israel. There, in pagan territory, he meets the widow who is no stranger to death and hardship. Her husband has died and the world around her is perishing in withering drought. She lives in a patriarchal land and, as a widow, no longer has the protection of the home she had with her family, nor the protection of her husband. She is one of the most vulnerable in her world. But Elijah is too. He is in a foreign land without food or drink and he must rely on someone who has almost nothing. Yet, how could he be so bold? So seeming heartless in his request for food from this poor widow?

Though Elijah was a foreigner, the middle eastern culture of hospitality required people to provide for a visitor, even if it meant the host would have nothing left for themselves – the widow and her son's predicament. But the widow does have a kind of faith in Elijah's God, shown in her response to his request, "As the Lord, your God, lives.…" She may not be a member of Elijah's faith, but she acknowledges his living God.

Elijah's response to the widow echoes God's response to those in need throughout the Bible, "Do not be afraid." We might say that to a person in severe need. We are well-intentioned, but can't always do much to pull a person out of their dire situation. But Elijah is God's prophet and when he speaks he speaks for God, revealing, once again, that our God notices and acts in favor of the needy and outcast. The woman's pagan gods couldn't help her, but Elijah's God could. The woman followed Elijah's words and the living God came to her rescue. Her acclamation proved true, "As the Lord, your God, lives."

The Responsorial Psalm today is from Psalm 146. It is our response to the graciousness of God who comes to the aid of the vulnerable. "The Lord keeps faith forever, secures justice for the oppressed."
Guided by what we have heard in our first reading we turn now to the gospel and find that our two unnamed widows, the widow as Zaraphath and our gospel widow, have much in common: their need and God's awareness of their plight.

The gospel widow, who "has contributed all she had, her whole livelihood," is often used as an example of super-generous giving. She becomes the example in a pitch for giving more in the collection basket, or some other need. In other words: follow the widow’s generosity and give till it hurts! But is that the point Jesus is trying to make when he calls his disciples together to observe the widow’s contribution to the Temple treasury?

It sounds like today's gospel passage is in two unrelated parts: Jesus' warning about the hypocritical scribes and the widow’s Temple donation. But notice what links the two section – the mention in both parts of widows.

Jesus gathers his disciples and points out to them the ostentatious scribes who went around in public wearing long robes to attract people's admiration and to seek deference in the synagogues and at banquet tables. They may be vain and pompous, but that's not such a big deal. No, but in addition, these pompous scribes who appear pious and God-fearing also exploit the very ones God favors and has consistently shown concern for, the least in society – like widows. What's worse, the scribes not only exploited the vulnerable, they did it in the name of religion. The scribes were religious laymen who did not receive a salary, but relied on donations. So, what the widow donated not only went for the upkeep of the Temple, but for the scribes as well.

So we have two types of observant people mentioned today. The scribes, who seemed to be the epitome of religious observance – very plain for all to see. But beneath their exterior religious garb, they were rapacious. The widow, on the other hand, reveals the true religious practice of those who have little, but express great trust in God.

There is a "squirm factor" in the gospel for those of us who have clerical collars or religious habits. People often treat us with courtesy and privilege. At weddings, banquets and anniversaries we often are seated at the head table with other guests of honor. While we are grateful, Pope Francis has reminded us to keep our eyes on the poor and not to let our institutional status separate us from the "widows" – those overlooked and locked out of the halls of privilege. Hearing today's gospel urges us to turn more fully to those Jesus calls his disciples' attention to, "this poor widow."

But it is not just those of us in leadership roles who should feel uncomfortable hearing Jesus speak to us today. He is indicting any religious system that burdens the poor and separates itself from their plight. We, of the white, mainline churches, need to listen to Jesus's words. We are tempted to preserve our systems and benefit from what they give us: standing in the community, predictability, stability and a blessing of the status quo. The church's history also reveals how we have blessed armies that invaded and enslaved indigenous peoples, preached slavery and oppression. Our religious apparatus has tended to side more with Caesar and with the economic and political world that belongs to Caesar.

Jesus condemns those individuals and institutions that benefit from the burdens put on the poor. He said previously in Mark (11:17) that the Temple had become a den of thieves and not a house of prayer. He predicted it would all come tumbling down. Today's passage illustrates why this destruction was inevitable, because it was corrupt and was supported by the giving of those who had the least, "She, from her poverty, has contributed all she had, her whole livelihood."

We want to be careful not to heap opprobrium on the Jewish community and its religious practices, as if to say, "That's the way it was, but now Jesus is the new Temple and those abuses have been eliminated from our worship and religious life." No one can be that naive! Conscious of our own institutional and local church’s excesses, we take seriously the opening rite at each Eucharistic celebration which implores, "Lord have mercy, Christ have mercy, Lord have mercy"

If the church, or our parish, were to write a "Mission Statement," we could use today's gospel as our inspiration. From it we learn our mission to: notice the unnoticed, see their needs, join their struggle for freedom and fight against the injustice they experience. We accept this, our calling, because Jesus has once again, "observed" the discrepancy in society and religion; "called his disciples" to also observe what he does and invited us to give all that we have in service in the new Temple established by his death and resurrection and gifted with his holy Spirit.

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)