dongcong.net
 
 

Suy Niệm và cầu nguyện

LỄ CHÚA BA NGÔI (B) – 03-06-2012
Đnl 4: 32-34, 39-40; Tv 33; Rôma 8: 14-17;
Matthêu 28: 16-20
Lm. Jude Siciliano, OP

HÃY ĐI VÀ LÀM CHO MUÔN DÂN TRỞ THÀNH MÔN ĐỆ

Sách Đệ nhị luật hôm nay mở đầu bằng cặp câu hỏi: “có bao giờ đã xảy ra chuyện vĩ đại như thế? hay có ai đã nghe điều giống như vậy chăng?” Có lẽ chúng ta nên đổi dấu câu sau hai câu này; không phải dấu hỏi nhưng đúng hơn là một khẳng định về sự kiện và phân vân. Chúng nên được chấm vài dấu chấm cảm, vì chúng bày tỏ sự kinh ngạc, sửng sốt. “Có bao giờ đã xảy ra chuyện vĩ đại như thế!!! Hay có ai đã nghe điều giống như vậy chăng!!!” Những dấu chấm cảm còn tiếp theo, “có thần nào đã ra công đi chọn lấy cho mình một dân tộc!!!” Không phải là những câu hỏi, nhưng là một lời tuyên xưng vui tươi về đức tin.

Thiên Chúa của chúng ta như thế nào? Đó là Đấng khơi lên biết bao dấu chấm cảm trong ký ức và cảm xúc của chúng ta. Ôi chao! Làm sao một kết luận như thế có thể định nghĩa về Thiên Chúa được? “Chao ôi!”

Mười Điều Răn và cách mà dân đáp trả lại những đòi hỏi ấy, mãi tới chương sau của Đệ nhị luật mới xuất hiện. Dân cần được nhắc nhớ rằng Thiên Chúa khoan dung độ lượng với họ và vẫn luôn trung tín. “Vậy hôm nay, anh (em) phải biết và để tâm suy niệm điều này: trên trời cao cũng như dưới đất thấp, chính ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa, chứ không có thần nào khác nữa”. Chỉ một từ “Chao ôi!” Nay chúng ta biết phải làm sao để đáp lại Thiên Chúa khoan dung rộng lượng của chúng ta. Do đó, Điều Răn không chỉ là một bản liệt kê những điều không được làm, nhưng còn là sự đáp lại với Thiên Chúa, Đấng hằng quan tâm đến chúng ta, Đấng là sự che chở, hướng dẫn và sức mạnh của Chúng ta. Thiên Chúa của chúng ta không phải là người lặng lẽ đứng ngoài quan sát, nhưng là Đấng lên tiếng “giữa ngọn lửa” và chúng ta đã nghe thấy và sẵn lòng đáp lại.

Trong thư Rôma, chúng ta được khích lệ tự tin quay lại với Thiên Chúa vì Thánh Thần đảm bảo với chúng ta rằng chúng ta là con cái dấu yêu của Thiên Chúa. Hôm nay là đại lễ của sự tương quan – tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa và giữa Thiên Chúa với chúng ta. Đó là mối tương quan duy nhất. Thánh Phaolô nói cho tín hữu Rôma biết họ không phải là những nô lệ khom lưng cầu xin lòng thương xót hay được để được nhận lời, nhưng họ là con. Đế quốc Hylạp và Rôma được xây dựng trên cơ cấu chủ-nô. Thử tưởng tượng xem tin này vui biết chừng nào đối với dân chúng, những người quá quen với việc làm nô lệ và sống giữa những người nô lệ, nay được nghe thánh Phaolô nói rằng chúng ta không phải là những người nô lệ, nhưng là dưỡng tử của Thiên Chúa. Làm sao chúng ta dám chắc điều này, nhất là khi chúng ta chưa cảm nhận được một tương quan khắng khít như thế với Thiên Chúa? Khẳng định đó là công trình của Thánh Thần. “Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa…” Lắng nghe tiếng của Thánh Thần trong chúng ta, đảm bảo với chúng ta rằng: “Ngươi là con yêu dấu của Thiên Chúa”.

Hôm nay, chúng ta không cử hành mừng một tín điều của đức tin, nhưng mừng vì; từ trong Đức Kitô; chúng ta có  một tương quan đặc biệt với Thiên Chúa; chúng ta là  con Thiên Chúa và “đồng thừa tự với Đức Kitô”. Chúng ta không cần phải sợ một Thiên Chúa chung chung và xa xôi, vì Thiên Chúa là “Cha” của chúng ta, người cha đã đến cứu và nhận chúng ta làm con. Thư Phaolô nhắc chúng ta biết rằng trong mắt Thiên Chúa, chúng ta được xem như một  nhân vị khác, “Chao ôi!”

Trong thế giới của chúng ta, việc chúng ta là ai phụ thuộc rất nơi quốc gia và nguồn gốc gia đình, những thành tích kinh tế và giáo dục. Những người nào đứng nhất sẽ được biết đến và kính trọng; những người chẳng có gì sẽ chỉ là  thành phần của đại đa số thường dân. Chúng ta là con cái Thiên Chúa, được thực hiện bởi Thiên Chúa nơi Đức Kitô, trong sức mạnh của Thánh Thần. Là con Thiên Chúa, chúng ta được Thánh Thần tác động để sống căn tính của chúng ta: để nhìn người khác qua đôi mắt của Thiên Chúa, là anh chị em của ta.

Thánh Phaolô kêu gọi chúng ta lưu tâm đến anh chị em chúng ta trong cộng đoàn Kitô hữu. Chung ta thuộc về  gia đình của Thiên Chúa và cảm thương chăm sóc lẫn nhau, không phải như những nô lệ khúm lúm làm theo mệnh lệnh, nhưng như “dưỡng tử”. Vì thế, chúng ta phục vụ không phải vì sợ hãi, hay bị ép buộc nhưng như con cái Thiên Chúa được đảm bảo chắc chắn về phận vị của mình trước Thiên Chúa. Thánh Phaolô đảm bảo rằng là con cái Thiên Chúa, chúng ta “được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Ki-tô”. Là người thừa kế, chúng ta mong chờ gia sản mà chúng ta chưa có. Niềm hy vọng đó kiện cường chúng ta để chúng ta có thể chịu đựng và vượt qua những khốn khó hiện nay.

Thời các môn  đệ, các ngài cảm nghiệm được những xung đột giữa họ khi sứ vụ vượt ra khỏi khuôn khổ  của những người Dothái để đi ra với thế  giới Dân Ngoại. Chúng ta cũng phải đối mặt với những khó khăn tương tự khi vươn ra với những nền văn hóa đa dạng và những kiểu giải thích đức tin cũng như thực hành tôn giáo của họ. tại sao chúng ta vượt qua những khó khăn và phải đón nhận những yêu cầu quá sức như thế? Vì lời Đức Giêsu trong Tin mừng Mátthêu là “làm cho muôn dân trở thành môn đệ”. Không có một nhóm nào trên thồ gian được gọi là “môn đệ hạng nhất”. Không nên có những phân biệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác hay giàu nghèo. Tất cả chúng ta đều lãnh nhận Phép Rửa của các môn đệ và được kêu gọi để thông dự trọn vẹn vào cộng đoàn Kitô hữu.

Làm sao các môn  đệ biết được khi nào thì lời dạy của họ  được những người nghe đón nhận? điều kiện tiên quyết  ở giai đoạn này không phải là vấn đề giáo lý nhưng là thái độ luân lý. Những người được rửa tội và được nghe các môn đệ rao giảng thực hành những gì Đức Giêsu dạy các môn đệ: yêu mến Thiên Chúa và bày tỏ tình yêu đó qua việc yêu mến người thân cận. Những gì chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin kính hôm nay không chỉ là tuyên xưng mang tính giáo lý, nhưng là sự xác quyết về Thiên Chúa, Đấng là nguồn mạch và tất cả cuộc sống của chúng ta được quy hướng về Ngài.

Trong bài Tin mừng hôm nay, thánh Mátthêu đưa chúng ta trở lại Galilê nơi các môn đệ đầu tiên được mời gọi. Khung cảnh diễn ra trên núi, cũng như những biến cố quan trọng khác trong sách thánh. Trong Tin mừng của Mátthêu, núi cao là nơi Đức Giêsu rao giảng, nơi Người biến hình và nay là lần hiện ra cuối cùng của Người. 

Câu chuyện nghe giống như một trong những lần hiện ra sau phục sinh. Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ; họ nhận ra Người va họ thờ lạy Người – “nhưng họ  hoài nghi”. Rồi Đức Giêsu tuyên bố quyền năng của Người và lệnhcho các môn đệ: “…hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em".

Phép rửa là cách mà những ai không được kinh nghiệm trực tiếp về Đức Giêsu nay có thể gặp gỡ Đức Kitô và được đưa vào trong cộng đoàn tín hữu. Tuyên tín trong phép rửa nhấn mạnh niềm tin Chúa Ba Ngôi của Giáo hội sơ khai. Sau khi rửa tội, các môn đệ còn phải giảng dạy. Hoán cải và thánh tẩy là quan trọng, nhưng không phải là những bước duy nhất trong tiến trình. Việc giảng dạy cũng cần thiết sau đó để những thành viên mới được hiểu sâu hơn về những gì Thiên Chúa đã thực hiện trong đời họ. Tin mừng Mátthêu kết thúc với lời hứa của Đức Giêsu ở lại với các môn đệ, “cho đến tận thế”.

Lm. Jude Siciliano, OP
Chuyển ngữ:: Anh em HV Đaminh Gò-Vấp

 

HOLY TRINITY (B) - June 3, 2012
Deuteronomy 4: 32-34, 39-40; Psalm 33; Romans 8: 14-17;
Matthew 28: 16-20

By: Jude Siciliano, OP

 

The book of Deuteronomy begins with a couple of questions today: "Did anything so great ever happened before? Was it ever heard of?" We should change the punctuation marks after these sentences; not questions, as much as statements of fact and wonder. They should end with multiple exclamation points, for they express wonder and amazement. "Did anything so great ever happen before !!! Was it ever heard of !!!" The exclamation points continue, "Did any god venture to go and take a nation for (him)self !!!" Not questions, but ecstatic declarations of faith.

What kind of God do we have? One who stirs up exclamation points in our memories and feelings. Wow! How’s that for a summary definition of our God? "Wow!"

The Ten Commandments and how the people are to respond to them, will not appear until the next chapter in Deuteronomy. The people first need to be reminded that God was gracious to them and will continue to be faithful. "This is why you must now know and fix in your hearts that the Lord is God in the heavens above and on earth below and that there is no other." In a word, "Wow!" Now we are ready to hear how we are to respond to our gracious God. Thus, the Commandments will not merely be a list of restrictions, but a joyful response to our God who has noted us and is our protector, guide and strength. Our God has not been a silent observer, but has spoken from "the midst of fire" and we have heard and are ready to respond.

 

In Romans we are encouraged to turn with confidence to God because the Spirit reassures us that we are God’s beloved children. Today is the feast of relationship – our relationship with God and God’s with us. It is a unique relationship. Paul tells the Romans that they are not slaves groveling for mercy and a hearing, but are children. The empires of Greece and Rome were based on an economy of slavery. Imagine the good news people, who were so accustomed to being slaves or surrounded by slaves, heard in Paul’s proclamation that we are not slaves, but adopted children of God. How can we be assured of this, especially when we may not feel in such close relationship to God? That reassurance is the work of the Spirit. "The Spirit’s very self bears witness with our spirit that we are children of God…." Listen to the Spirit’s voice within, assuring us, "You are a beloved child of God."

Today we do not celebrate a doctrine, but the heart of our faith: in Christ we have a special relationship with God, we are children of God and so "joint heirs with Christ." We don’t have to fear an impersonal and distant God, because God is our "Abba," the parent who has come to our rescue and adopted us. Paul’s reminder of our special standing in God’s eyes deserves another, "Wow!"

In our world so much of who we are is dependent on nation and family of origin, economic and educational achievement. Those with the most are well known and esteemed; those without are just part of the masses. But Paul tells us that we have our identity as a gift from God – whatever our origins or achievement. We are children of God, made so by God in Christ, in the power of the Holy Spirit. As God’s children we are stirred by the Spirit to live out our identity: to see others through God’s eyes, as our brothers and sisters.

Paul calls our attention to our brothers and sisters in the Christian community. We belong to the household of God and are moved to care for one another, not as subservient slaves who follow orders, but as "children of adoption." So, we serve not in fear, or under compulsion, but as God’s children secure in our status before God. Paul assures us that as God’s children we are "heirs of God and joint heirs with Christ." As heirs we look forward to an inheritance we don’t yet have. That hope can be a strength for us as we endure present sufferings.

In their time the disciples experienced conflicts among themselves as their ministry spread beyond their original Jewish circle into the Gentile world. We continue to face that challenge as we reach out to include diverse cultures and their expressions of faith and liturgical practices. Why go through the trouble and adaptations such outreach demands? Because Jesus’ last instruction in Matthew’s Gospel was to "make disciples of all nations." This charge means an openness and an outreach "without borders." There is no one group in the world who are "first class disciples." There should be no racial, gender, age or economic distinctions. All are to be recipients of the disciples’ baptizing and instructing and all welcomed into full participation in the Christian community.

How will the disciples know when their teaching "takes" in those who hear it? The prime requisite at this stage isn’t doctrinal information, but moral behavior. Those who are baptized and taught by the disciples practice what Jesus commanded his disciples: to love God and show that love by loving neighbor. What we profess in our creed today isn’t just a doctrinal profession, but an affirmation of the God who is our source and towards whom our whole life is oriented.

In today’s gospel, St. Matthew takes us back to Galilee where the first disciples heard their call. The scene takes place on a mountain as did other important biblical events. In Matthew’s Gospel mountains were the places for Jesus’ sermon, his Transfiguration and now his final appearance.

The story sounds like another resurrection appearance. Jesus appears to the disciples; they realize it is he and worship him – "but they doubted." Then Christ declares his authority and charges his disciples to: "… make disciples of all nations, baptizing them in the name of the Father, and of the Son, and of the Holy Spirit, teaching them to observe all that I have commanded you."

Baptism was the way those who did not have first-hand experience of Jesus would encounter Christ and be brought into the believing community. The baptismal confession underlines the Trinitarian belief of the early church. After baptizing the disciples are charged to teach. Conversion and baptism are important, but not the only steps in the process. Teaching must follow so that new members will come to a deeper understanding of what God has done in their lives. The gospel of Matthew ends with Jesus’ promise to be with his disciples, "until the end of the ages."

Fr. Jude Siciliano, OP 2012

 

Thiên Chúa Ba Ngôi, Ngài là ai ?

Lm Jude Siciliano OP

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA BA NGÔI (B)

Đnl 4: 32-34, 39-40; Tv 33; Rôma 8: 14-17; Mt 28: 16-20

Anh chị em thân mến,

Tên ngày lễ hôm nay có thể khó hiểu cho giáo dân và cho cả người giảng lễ. Ngày hôm nay, chúng ta không chỉ mừng một tín điều quan trọng của Giáo Hội mà còn thờ phượng tín điều ấy khi chúng ta họp nhau cử hành Phụng vụ. Hôm nay cũng không phải là ngày để giảng giáo lý về vấn đề tại sao Một Thiên Chúa lại có ba ngôi vị, và ba tên khác nhau. Tôi cũng không có ý định dùng cỏ tam diệp, rồi phân tách ra để giảng vì sao Thiên Chúa lại có thể là ba trong một cùng một lúc.

Có người nói "Hễ ai nói về Chúa Ba Ngôi thì nên nói đến cây Thánh giá của Chúa Giêsu thay vì nói những mầu nhiệm khó hiểu ở trên trời" (rất tiếc, không còn nhớ ai đã nói câu nầy). Các Kitô hữu hiểu biết Thiên Chúa qua kinh nghiệm đời sống của mình, những điểm chúng ta nên chia sẻ với Chúa là sự đau khổ và cây Thập giá. Tôi biết một bà đã 56 tuổi. Bà rất thương mến gia đình và gia đình cũng rất yêu thương bà. Các người con xem bà như là một giềng mối liên kết mọi người trong gia đình. Bà bị đau lưng khủng khiếp, và phim X quang cho biết bà ta bị nứt một đốt xương sống.

Đến khi giải phẫu, bác sĩ mới biết bà bị ung thư, và hơn nữa, qua xét nghiệm, bệnh đã di căn đến phổi. Cô con gái bà gọi cho một người bạn khóc nức nở và nói rằng "Tại sao Thiên Chúa lại để mẹ tôi như vậy?" Đó là câu hỏi mà chúng ta thường nghe trong những trường hợp khó khăn và biết đâu đó cũng là câu hỏi của chúng ta khi gặp nhiều trường hợp khó khăn tương tự trong đời sống của chúng ta, cũng như lúc gặp những rối loạn trong đời sống đức tin.

Đó mới thật sự là câu hỏi về Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa là ai? Thiên Chúa chúng ta như thế nào? Đó không phải là câu hỏi về tín điều hay những điều bí ẩn trên trời. Trong vườn Giết-sê-ma-ni, Chúa Giêsu nghĩ đến khổ hình mà Ngài sẽ phải chịu, để rồi run sợ thưa với Chúa Cha: "Cha ơi, nếu được, xin cất cho con khỏi chén này…". Nhưng Ngài muốn chịu đựng cùng với chúng ta, nên tự chuốc lấy đau khổ ấy. Nếu Ngài cất được chén đắng ấy, chắc chúng ta sẽ thấy cô độc trong cuộc chiến đấu với khổ đau ở thế gian này. Trái lại, nhờ sự vâng phục của Ngài, Ngài luôn đồng hành với chúng ta trong mọi đau khổ từ thể xác đến tâm hồn, vì Ngài đã không lạ gì với những khổ đau ấy. Chúa Giêsu đã khóc, không phải chỉ vì sự đau đớn thể xác, nhưng vì sự sầu khổ trong tâm hồn trên Thập giá như lời Kinh Thánh đã nói.

Trong Kinh Thánh, không có chuyện Thiên Chúa gởi đau khổ đến để thử thách đức tin của chúng ta; có cha me nhân từ nào lại nỡ làm điều này với con cái mình; và chúng ta tin thật Thiên Chúa thương yêu chúng ta, vì chúng ta là con cái của Người chăng? Trong thơ gởi tín hữu Rô-ma, thánh Phaolô đã nhắc là "Thần khí làm cho anh em nên nghĩa tử. .."(Rm 8, 15)

Trong Kinh Thánh không có ghi chép điều gì để an ủi những người đau khổ vì "Thiên Chúa không bao giờ gởi cho chúng ta những đau khổ quá sức chịu đựng của chúng ta". Khi nói những điều này, tôi cứ nghĩ Thiên Chúa đang nhìn và muốn thử thách đức tin một người nào đó, nhưng không đến nỗi nặng nề cho lắm. Thật là một Thiên Chúa khó khăn! Đó không phải là Thiên Chúa Ba Ngôi mà chúng ta mừng ngày hôm nay. Một lời khác: "Thiên Chúa chỉ giúp cho những ai đã tự giúp mình". Tôi nghe câu nói này không biết bao nhiêu lần rồi khi nghe trong nhóm học Thánh Kinh muốn diễn tả về Thiên Chúa. Họ nói câu ấy được đọc từ trong Thánh Kinh. Vậy, nếu chúng ta tự giúp mình được thì cần gì đến sự giúp đỡ của Thiên Chúa? Khi chúng ta đang chống chọi với đau khổ và cảm thấy cô đơn, chúng ta sẽ không cần đến Thiên Chúa giúp nữa, vì chúng ta đã tự cố gắng giúp mình rồi mà!.

Không đâu, đời sống có biết bao thử thách, đôi khi nặng nề hơn sức chịu đựng của chúng ta. Thiên Chúa là Đấng giúp chúng ta chịu khó gánh vác những đau khổ ấy. Không phải Ngài chỉ giúp chúng ta tự làm được mà thôi, nhưng Ngài còn giúp chúng ta có thể chịu đựng mạnh hơn khi gặp đau khổ, nhờ đó được trưởng thành hơn. Đó chính là Chúa Ba Ngôi mà Chúa Giêsu gởi đến để giúp các Môn đệ Ngài đi khắp cùng thế giới để rao giảng Tin mừng.

Khi Chúa Giêsu gởi các Môn đệ ra đi làm phép Rửa nhân danh "Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần", Ngài cho chúng ta biết: Thiên Chúa, Đấng tạo dựng, nguồn mạch sự sống; Đấng thương yêu những tạo vật Ngài đã dựng nên. Chúa Kitô, Thiên Chúa làm người như chúng ta, Ngài cùng sống với chúng ta cho đến chết và đã sống lại. Chúa Thánh Thần, nguồn trợ lực của Thiên Chúa mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta hôm nay, để chúng ta hiệp thông cầu nguyện và vui mừng.

Vậy Chúa Ba Ngôi là như thế nào? Chúa Giêsu đã nói với chúng ta "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế"(Mt28, 20). Ngài đã cho chúng ta khái niệm về Thiên Chúa. Vậy khi có ai gọi chúng ta để than vãn rằng "Tại sao Chúa lại làm như vậy cho tôi? Tôi đã làm gì để phải chịu khổ cực như thế này?". Chúng ta có thể trả lời như với người phụ nữ tôi đã kể ở trên là "Tôi không hiểu hết những điều này. Nhưng tôi biết Thiên Chúa không đặt những điều đó trên mẹ cô. Thiên Chúa ở với chúng ta và chính Chúa cũng đã cùng khóc với chúng ta". Câu trả lời này do một cô bạn trẻ tốt nghiệp trung học, có ba người con. Cô đang nách con bên hông và trả lời cho bạn mình. Đấy, cô ấy là một nhà thần học, giải thích về Thiên Chúa Ba Ngôi một cách dể hiểu như thế.

Chuyển ngữ FX Trọng Yên, OP

Lm Jude Siciliano OP 2012

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)