dongcong.net
 
 

Suy Niệm và cầu nguyện

CNhư hạt lúa gieo vào lòng đất và chết đi
Lm Jude Siciliano OP3/19/2015

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY (B)
Giêrêmia 31: 31-34; T.vịnh 50; Do Thái 5: 7-9; Gioan 12: 20-33

NHƯ HẠT LÚA GIEO VÀO LÒNG ĐẤT VÀ CHẾT ĐI

Thiên Chúa không dễ gì bỏ rơi chúng ta. Đó là những gì ngôn sứ Giêrêmia nói với chúng ta hôm nay. Thiên Chúa đã lập giao ước với dân Người tại núi Xinai (Xh 31,18). Giao ước đã được khắc vào hai tấm bia đá; một sự cam kết giữa Thiên Chúa và dân Israel. Sự che chở của Thiên Chúa tùy thuộc vào sự trung thành của dân với giao ước. Các ngôn sứ, như ngôn sứ Giêrêmia, luôn kêu gọi dân trở về với Thiên Chúa bất cứ khi nào họ rời bỏ mối tương giao với Người.

Ngôn sứ Giêrêmia đã thấy những sai phạm của dân và trách mắng họ lòng chai dạ đá. “Nhưng lòng dân này thật ngoan cố, lì lợm; chúng tự tách rời và bỏ đi luôn” (Gr 5,23). Họ có Lề Luật, nhưng giao ước của họ với Thiên Chúa phải được đào sâu hơn nữa; nó phải tuôn trào từ trái tim khao khát.

Hôm nay chúng ta nghe những lời tiên báo của ngôn sứ Giêrêmia về giao ước mới của Thiên Chúa với dân Người. Không giống như trước đây, giao ước này không còn được khắc ghi trên bia đá nhưng là vào lòng dạ của mỗi người. Với Lề Luật được ghi vào tâm khảm, mỗi người sẽ tự động thực thi ý Chúa. Họ sẽ sống những đòi hỏi của giao ước một cách cụ thể, không phải là từ những gì đã được viết ra nhưng là tuôn trào từ tâm hồn luôn hướng về Chúa.

Xưa kia, những đòi hỏi của giao ước phải được truyền đạt cho từng thế hệ. Tuy nhiên giờ đây, giao ước hứa rằng sẽ có một người thầy mới, đó chính là Thiên Chúa. “Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của ta”.

Thiên Chúa dường như vẫn còn đang ghi vào lòng dạ con người. Họ thuộc về mọi dân tộc, tôn giáo và quốc gia khác nhau. Có bao nhiêu người tốt chúng ta đã từng biết hoặc nghe, họ là những người đã dành trọn cuộc đời của mình để phục vụ tha nhân? Chẳng hạn như các bác sĩ và y tá đã đến Châu Phi để giúp các bệnh nhân bị nhiễm Êbôla. Những người này đã từ bỏ quê nhà êm ấm và sự nghiệp vững vàng của mình; họ đã bất chấp cả mạng sống của mình để đến với những con người đã mất hết niềm hy vọng. Một số người đã hành động vì niềm tin tôn giáo, số khác thì không. Điều gì đã khiến họ sẵn sàng hy sinh như thế? – Chính Thiên Chúa, Đấng đã khắc ghi vào lòng dạ chúng ta Lề Luật của Người, biến đổi họ.

Đó có phải là sợi dây liên kết giữa bài đọc thứ nhất và bài Tin Mừng không? Phải chăng Thiên Chúa cũng đã ghi khắc vào con tim của những người Hy Lạp đến với ông Philipphê và xin rằng, “Thưa ông, chúng tôi muốn gặp ông Giêsu?”.

Người ta nghĩ rằng thánh Gioan đã viết Tin Mừng này ở Êphêxô, vào khoảng năm 70 sau khi Chúa Giêsu chịu chết. Êphêxô là thành phố phồn thịnh, một trung tâm buôn bán, học thức, chính trị và tôn giáo. Nhưng đây cũng chính là nơi mà những Kitô hữu tiên khởi bị bách hại và tử đạo. Thậm chí một số người trong Giáo Hội đã phản bội những thành viên trong cộng đoàn của mình; nhưng những người khác vẫn kiên trung với niềm tin và sau đó đã lấy mạng sống của mình để làm chứng cho niềm tin ấy. Vì những đau khổ của họ thường là hệ quả của việc tuyên xưng niềm tin Kitô giáo, nên không lạ gì khi thánh Gioan thường xuyên đề cập đến những khổ đau người Kitô hữu phải chịu ở đời này và vinh quang đang chờ đợi họ ở đời sau. “Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”. Rõ ràng thánh Gioan không đơn thuần đề cập đến một hiện tượng trong nông nghiệp.

Tử vì đạo không phải một thực tế mà các thế hệ Kitô hữu đầu tiên phải sợ hãi. Trong chuyến viếng thăm lần này của Đức Giáo Hoàng Phanxicô tới vùng Trung Mỹ, tiêu điểm một lần nữa lại được nhắm đến những người Kitô hữu trung thành đã làm chứng bằng chính mạng sống mình trong những thập niên gần đây. Theo dự kiến, Đức Thánh Cha sẽ nâng đức Tổng Giám mục Oscar Romero, giám mục tử đạo của El Salvador, lên bậc hiển thánh khi người đến thăm đất nước này. Đức Tổng Giám mục đã bị các điền chủ giàu có và tập đoàn quân phiệt sát hại, vì họ coi người là một tên cộng sản. Giờ đây, họ sẽ phải gọi người là thánh Oscar Romero. “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi… ”

Ngày 12 tháng 2 kỷ niệm 10 năm vụ giết hại nữ tu Dorothy Stang, người dấn thân bênh vực không mệt mỏi cho dân nghèo Brazil hơn 30 năm qua. Chị đã bị chống đối và đe doạ từ những điền chủ độc ác, những người này đã chặt phá rừng nhiệt đới Amazon rồi xua đuổi những người nông dân ra khỏi đấy. Đang khi những kẻ ám sát tiến đến chị trên một con đường hẻo lánh, chị đã lấy quyển sách Kinh Thánh ra và đọc lớn tiếng đoạn Tám mối phúc. Chúng bắn chị. “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi…”

Bộ phim “Selma” nhắc nhở chúng ta về những người nam nữ anh dũng đã diễu hành với tiến sĩ King từ Selma đến Montgomery cách nay 50 năm. Nhiều người trong số họ là linh mục, tu sĩ nam nữ và các giáo hữu từ khắp nước Mỹ đã tham gia vào đoàn diễu hành đó. Một số bị cảnh sát đánh đập vào ngày 7 tháng 3 năm 1955, “ngày Chúa Nhật Máu”, ở Edmund Pettus Bridge. Cũng trong tháng đó, trong số những người xuống đường vì quyền dân sự, mục sư James Reeb, mục sư Hội thánh Phổ quát Độc vị đã bị sát hại. “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi…”

Có nhiều hình thức tử đạo khác nhau. Kẻ chịu tử đạo là người biết chấp nhận những hy sinh và đau đớn vì muốn trung thành với Đức Kitô và đường lối của Người. Đức Giêsu mời gọi các môn đệ của mình vác thập giá và bước theo Người. Nhiều khi chúng ta phải chịu đau khổ và mất mát vì những thử thách Chúa gửi đến. Tôi có thể trao tặng gì nữa cho những người đang thiếu; điều gì tôi sẽ không làm trong công việc và trong đời sống xã hội vì niềm tin của tôi; tôi dành bao nhiêu thời gian và các nguồn lực của mình cho giáo xứ và cộng đoàn; tôi sẽ bênh vực ai khi những người bạn của tôi lại dán nhãn và chụp mũ tha nhân; tôi sẽ từ bỏ điều gì để dành nhiều thời gian hơn cho gia đình…?

Đức Giêsu đã cho chúng ta thấy cái giá phải trả khi trung tín với thánh ý Chúa. “Con biết nói gì đây? Lạy Cha xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến”.

Bài Tin mừng hôm nay mở đầu bằng lời thỉnh cầu của mấy người Hy Lạp với ông Philípphê, một môn đệ của Đức Giêsu. “Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu.” Họ đâu muốn gặp người đại diện, song là muốn gặp chính Đức Giêsu bằng xương bằng thịt. Trong Tin Mừng Gioan, “gặp” tượng trưng cho việc đón nhận đức tin. Thánh Gioan cho rằng những người ngoại đang mong muốn “gặp”, tin vào Đức Giêsu.

Đức Giêsu dành cả cuộc đời mình chỉ để phục vụ cho dân Người (x.Rm 15,8). Những người Hy Lạp xin gặp Đức Giêsu biểu trưng cho toàn thể dân ngoại. Làm sao mà họ có thể tin vào Đức Giêsu? Đức Giêsu nói, “Một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”. Đức Giêsu không còn hiện hữu bằng xương bằng thịt như chúng ta đây. Qua tác vụ, lời và thành tựu của cộng đoàn Kitô hữu xưa cũng như nay, người ta sẽ đến và “gặp” được Đức Giêsu.

Năm 1982, thần học gia và nhà giảng thuyết lỗi lạc dòng Tên, Walter Burghardt, cho xuất bản một quyển sách bài giảng vơi nhan đề là: “Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu: Những Bài Giảng Từ Đỉnh Đồi”. Trong phần giới thiệu, ông nói rằng mỗi tòa giảng cần phải được khắc câu này: “Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu”, bởi vì câu trích này nhắc cho những nhà giảng thuyết biết đó chính là sứ mạng của họ, tức là giúp cho người nghe “gặp”, tin vào Đức Giêsu.

Chuyển ngữ: AE. HV. Đaminh Gò-Vấp

5th SUNDAY OF LENT (B)
Jeremiah 31: 31-34; Psalm 51; Hebrews 5: 7-9; John 12: 20-33

God simply does not give up on us. That’s what Jeremiah is telling us today. God initiated a covenant with the people at Sinai (Exodus 31:18). It was engraved on stone tablets; a mutual agreement between God and the Israelites. God’s protection would be conditioned on the people’s loyalty to the covenant. Prophets, like Jeremiah, called the people back to God whenever they wandered from their relationship with God.

Jeremiah had observed the people’s breaches and he blamed it on their hard and unresponsive hearts. "But this people’s heart is stubborn and rebellious: they turn and go away" (5:23). They had the law, but their covenant with God had to go deeper; it had to flow from a willing heart.

Today we hear Jeremiah’s anticipation of God’s new covenant with the people. Unlike the previous one, it would not be an exterior code of behavior. God would write this covenant by hand on each person’s heart. With the law written on the heart each person would act instinctively in God’s ways. They could live out the covenantal requirements in exterior acts, but the source would not be a written code. Instead, the people’s acts would flow from a heart turned to God.

Formerly the requirements of the covenant had to be taught to each new generation. But the promised covenant would have a new teacher, God. "I will place my law within them and write it upon their hearts."

God still seems to be writing on people’s hearts. These people belong to every race, religion and nation. How many good people have we known, or heard about, who have dedicated their lives to helping others? The doctors and nurses who went to Africa to help Ebola patients come to mind. They left their comfortable homes and careers and risked their lives to help a desperate people. Some did so out of religious convictions, others did not. They just wanted to serve humans in severe need. What could stir each of them to make such sacrifices? – the God who writes on our hearts and transforms them.

Is that the connection between our first reading and the gospel? Had God also written on the hearts of those Greeks who came to Philip and asked, "Sir, we would like to see Jesus?"

It is thought that John wrote his gospel in Ephesus, about 70 years after Jesus’ death. Ephesus was a sophisticated city, a center for trade, learning, government and religion. But it was also a place where early Christians were persecuted and martyred. Some in the church had even betrayed their own members; but others stayed loyal to their faith and subsequently suffered martyrdom. Since their suffering was often the consequence of professing their Christian faith, it’s no wonder John frequently alludes to the sufferings Christians must bear in their lives and the glory that awaits them in the next. "I say to you, unless a grain of wheat falls to the ground and dies, it remains just a grain of wheat. But if it dies it produces much fruit." It’s clear, John wasn’t just referring to an agricultural phenomenon.

Martyrdom isn’t just a reality the first generation Christians had to fear. With Pope Francis’ upcoming visit to Central America, focus once again has been placed on those faithful Christian witnesses who have been martyred there in recent decades. It is anticipated that the Pope will raise Archbishop Oscar Romero, the martyred bishop of El Salvador, to sainthood when he visits the country. He was killed by wealthy land owners and military people who called him a communist. Now they will have to speak of him as St. Oscar Romero. "Unless the grain of wheat dies...."

February 12 was the 10th anniversary of the murder of Sr. Dorothy Stang. For over 30 years she was a tireless advocate for the poor of Brazil. She was opposed and threatened by the ruthless land owners who were stripping the Amazon rainforest and displacing the peasants there. As her assassins approached her on an isolated road she pulled out her Bible and read aloud from the Beatitudes. They shot her. "Unless the grain of wheat dies…."

The movie "Selma" reminds us of the brave women and men who marched with Dr. King 50 years ago from Selma to Montgomery. Many were clergy, nuns, and church members from around the country who joined the marchers. Some were beaten by the police on March 7, 1955, "Bloody Sunday," at the Edmund Pettus Bridge. In the same month Rev. James Reeb, a Unitarian Universalist minister among the civil rights marchers, was murdered. "Unless the grain of wheat dies…."

There are many different forms of martyrdom. A martyr is one who accepts the sacrifices and pain which come from being faithful to Christ and his ways. Jesus invited his disciples to take up the cross and follow him. He challenges each of us to make choices that might be painful or costly. What extras will I forgo so I can give to those who lack; what will I not do in my work and social life because of my faith; how much of my time and resources go to my church and community; whom will I defend when my companions label or stereotype; what will I give up so that I can spend more time with my family, etc.?

Jesus has modeled for us the costs of being faithful to God’s will. "Yet what should I say, ‘Father save me from this hour?’ But it was for this purpose that I came to this hour."

Today’s gospel passage begins with a request put to Philip, a follower of Jesus, by some Greek inquirers. "Sir, we would like to see Jesus." They were not asking to see a painting of him. They wanted to see him in the flesh. In John’s Gospel "seeing" symbolizes coming to faith. John is suggesting that outsiders were hoping to "see," come to believe in Jesus.

In his own lifetime Jesus’ ministry was almost exclusively confined to his own people. (Romans 15:8). The Greeks who came asking to see Jesus represented the Gentile world. How would they come to believe in Jesus? Jesus said, "And when I am lifted up, I will draw everyone to myself." Jesus is no longer in the world in the flesh; but we are. Through the ministry, the words and works of the Christian community, back then and right now, people will come to "see" Jesus.

In 1982, the great Jesuit theologian and homiletician Walter Burghardt, S.J., published a book of his homilies entitled, "Sir, We Would like to See Jesus: Homilies from a Hilltop." In the Introduction he said that every pulpit should have that quote inscribed on it. "Sir, we would like to see Jesus," because that tells the preachers what their task is – to help listeners "see," come to faith, in Jesus.

CN 5 mùa chay  29-03-2009
Gr 31: 31-34; Tv 51; Dt: 5: 7-9; Gioan 12: 20-33

HY SINH GIÚP ĐỞ THA NHÂN:
HOA TRÁI DÂNG CHÚA

Anh chị em thân mến,
Tôi vừa giảng xong tuần tĩnh tâm ở một giáo xứ. Trong lúc trao đổi với giáo dân sở tại, tôi được nghe và thấy nhiều mẫu gương hy sinh đáng khâm phục: Một phụ nữ chăm sóc cho mẹ già tật nguyền đến khi mẹ mất, rồi bây giờ lại phải săn sóc người anh đang gần chết. Trong khi chăm sóc, người phụ nữ đó vẫn vui tươi. Chuyện một người sắp chết vì ung thư lại luôn an ủi những người đến thăm ông. Có người nói: "Ông ta không bao giờ than trách Chúa về nỗi bất hạnh của mình". Và ông luôn có vợ ở bên cạnh săn sóc. Môt bà cụ lớn tuổi nhờ người đưa bà đến viện dưỡng lão để bà có thể giúp đẩy xe lăn cho những người trong viện, trong số đó có người còn trẻ hơn bà. Một phụ nữ trong giáo xứ tình nguyện làm người bênh vực cho những bệnh nhân bị bệnh tâm thần. Bà nói, những bệnh nhân đó khi nhập viện bị người ta cho thuốc quá nhiều, rồi lại gởi trả về nhà nên: "tôi bênh vực quyền lợi cho những bệnh nhân đó, vì không ai làm việc này cả".
 
Cũng như anh chị em, tôi thấy khâm phục những hy sinh cao cả ấy, hy sinh thời giờ, sức lực và tiềm năng của họ. Ngay cả những người đau yếu, họ vẫn chọn được cách sống phục vụ như họ muốn. Họ đã quyết định là sẽ vượt qua sự đau yếu như thế nào, nhờ vậy họ trở nên gương sáng cho kẻ khác. Tất cả những người tôi gặp không nghĩ những việc họ làm là điều quan trọng. Một người bảo: "Tôi không nghĩ đó là sự hy sinh. Mà chỉ là cách sống của tôi". Tuy thế, cũng có lúc những người nầy cảm thấy chán nản, mệt mỏi, và tuyệt vọng.
 
Tôi và anh chị em hẳn đã có lúc chúng ta gặp những người này, việc làm của họ như một sợi chỉ vàng vắt qua đời sống. Và họ cảm thấy được vinh dự, vui sướng khi làm những việc đó. Không chỉ là nụ cười thoáng qua "ha,ha,ha..", nhưng là cả một nỗi vui sướng tràn đầy ý nghĩa. Và lời Chúa Giêsu trong Phúc âm rền vang trong tâm trí chúng ta :"hạt lúa gieo vào lòng đất, phải chết đi mới sinh được nhiều hoa trái" cho người khác và cho chính chúng ta nữa.
 
Có những tấm gương khác về gia đình: Như một người cha hay mẹ không muốn thăng tiến thêm trong việc làm ăn để cho gia đình khỏi phải di dời chổ ở.  Có đôi vợ chồng kia điều là cán sự xã hội, quyết định dọn nhà từ ngoại ô vào sống gần xóm lao động nghèo mà họ đang phục vụ. Người khác đứng ra bênh vực quyền lợi của một đồng nghiệp bị áp bức, làm bản thân bị mất dịp được tăng lương. Một giáo chức nhận mức lương thấp hơn để dạy ở trường công giáo của một giáo xứ có nhiều người di cư nghèo, v.v..
 
Nhìn thoáng qua những câu chuyện trên, chúng ta thấy chỉ là những trường hợp ít gian nan thử thách và không là những hy sinh cao cả. Tuy nhiên, chính hy sinh ấy đem lại hiệu quả như Chúa Giêsu nói "nhiều hoa trái", và giúp cho những người đó có được "sự sống đời đời". Trong Phúc âm thánh Gioan, thành ngữ "sự sống đời đời" không có ý nghĩa là sự sống đời sau, nhưng là sự sống đời này. Sự hy sinh đó hàm ý là chúng ta múc lấy nước từ nguồn sâu thẳm của sự sống và nhờ đó chúng ta cảm thấy niềm vui sướng khôn tả mà tự sức chúng ta không hề có được. Hạt lúa giống chết đi và sinh nhiều hoa quả. Nếu chỉ nghe qua lời Chúa Giêsu, chúng ta không thể hiểu được. Nhưng, những ai thực hiện được lời dạy đó thì mới hiểu trọn được ý nghĩa của lời Chúa.
 
Chúng ta có cảm nhận được hoa quả những hy sinh của cha mẹ, ông bà, bạn hữu và láng giềng chúng ta không? Những người làm việc miệt mài để giúp chúng ta có nơi trú ngụ, những người đã hy sinh thời giờ để giúp khi chúng ta cần đến họ?
 
Khi những người Hy-lạp tìm đến xin gặp Chúa Giêsu, Ngài đáp "Đã đến giờ Con Người được tôn vinh" (Ga.12:23). "Giờ" trong Phúc âm thánh Gioan  là giờ Chúa chịu khổ hình và được vinh quang. Để có thể hiểu được ý nghĩa từ "giờ" trong Phúc âm này, chúng ta hãy xét lại trong kinh nghiệm của mỗi chúng ta. Khi một người nói: "giờ" của ông đã đến chính là lúc ông ta bị mất việc khi ông báo cáo lên cấp trên việc lừa dối khách hàng của hãng bảo hiểm mà ông đã khám phá được. Một thiếu niên nói em không muốn bắt chước thói quen say sưa của các bạn. Kết quả: em đó mất bạn. Giờ ở đây không có nghĩa là sáu mươi phút. Giờ chúng ta đến, có nghĩa là khi việc chúng ta làm đến lúc được tiết lộ, khi chúng ta cần phải hy sinh, hay cần quyết định một việc gì khó khăn. "Giờ" thường chỉ lúc chúng ta không gặp may với người khác, và chúng ta phải quyết định đứng dậy hay chịu chết vì điều chúng ta tin tưởng.
 
Những người Hy-lạp tìm gặp Chúa Giêsu, có lẽ họ muốn biết về những điều họ nghe được. Phúc âm không nói rõ những người Hy-lạp đó là ai, họ là người Hy-lạp hay là người Do-Thái nói tiếng Hy-lạp? Họ có phải là những người đến tham quan, có thiện cảm với đạo Do-Thái, hay đến tham dự lễ hội của thành phố? Họ chính là chúng ta trong thế giới người ngoài, tìm đến Chúa Giêsu. Họ và chúng ta sẽ được gặp Chúa Giêsu trong "giờ" Ngài chịu khổ hình và vinh quang. Họ sẽ thấy Ngài không rút lui, nhưng Ngài tiến đến "giờ" của Ngài một cách tự do.
 
Ngay cả sự sợ hãi cũng không khuất phục được Ngài. Trong Phúc âm thánh Gioan, Chúa Giêsu kiên định mọi việc. Không có chuyện Ngài hấp hối trong vườn Giêt-sê-ma-ni. Nhưng tâm hồn Ngài có “xao xuyến" xúc động khi sự chết đến gần. Chúa Giêsu đang nhìn thẳng vào "giờ" vinh quang của Ngài, không phải là không biết sợ. Nhưng Ngài vẫn dấn bước theo đường Ngài đang đi, và "bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống.." xác nhận sự lựa chọn của Ngài. Chúng ta thừa hưởng việc vui lòng chọn "giờ" của Chúa Giêsu. Ngài sẽ đi vào và đi qua "giờ" hoàn toàn theo thánh ý Thiên Chúa và như người phục vụ cho chúng ta. Thế nên Ngài nói "Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi".
 
Chúa Giêsu và các môn đệ Ngài không giảng dạy cho những người Hy-lạp tìm gặp Ngài. Họ tự tìm đến Ngài. Vậy việc gì đã lôi kéo họ đến với Ngài?  Chúng ta cũng như những người đó được Chúa lôi kéo nên giờ này trở nên là tôi tớ trung thành của Thiên Chúa. Một Đấng rất khoáng đạt, sẳn sàng ban tặng mọi sự cho chúng ta mà không giữ lại một tí gì cho mình. Ngài còn cho chúng ta thấy những phần thưởng ẩn sau những thất bại và ngay cả sự chết, khi chúng ta đến hồi sau hết và mất cả niềm tin. Ngài cho chúng ta hy vọng, ngay cả khi các cửa đều khép kín, khiến chúng ta muốn xuôi tay vì thất vọng và sẵn sàng theo vào cõi chết trong nấm mồ. 

Chuyển ngữ FX Trọng Yên, OP

Lm. Jude Siciliano, OP

 

CHÚA NHẬT V CHAY(B) - 25-3-2012
Giêrêmia 31: 31-34 Tv 51 Do Thái 5: 7-9
Gioan12: 20-33
Lm. Jude Siciliano, OP

TÌNH YÊU CỦA ĐỨC KITÔ XUA TAN BÓNG TỐI
Người đọc Kinh thánh đều đặn sẽ  nhận thấy chủ đề lập đi lập lại trong toàn bộ kinh thánh Cựu ước và Tân Ước: sự lầm lỗi và yếu đuối của con người. Thực ra, chúng ta chẳng cần đọc Kinh thánh mới thấy điều này chính trong phận con người chúng ta. Chúng ta thấy lầm lỗi và yếu đuối trong chính mình và thế giới quanh ta. Đôi khi cảnh tượng này có thể khá nghiệt ngã và chán nản.

Một hôm, tôi đọc truyện đọc nửa chừng của câu chuyện trong tờ tin hằng ngày. Nó nói về một cuộc đánh bom thảm sát, nạn nhân là những thường dân ở Afghanistan. (Hôm nay, tin tức cho hay một binh lính tại đó tiếp tục việc sát hại điên cuồng khiến 16 người dân, kể cả trẻ em thiệt mạng!) tôi vừa hay được một cuộc đấu súng ở Juarez, Mexico. Những kẻ này đã dùng vũ khí lậu mua từ biên giới Mỹ. Những trang thương mại đã không còn chỗ nữa. Người ta bàn về mô hình Ponzi khác đưa đến những thất bại trong việc cứu sống các nạn nhân. Tôi tự hỏi, phải làm gì, chỉ đọc truyện tranh thôi sao – và chẳng còn gì nữa? không xem truyền hình nữa? không lên Internet nữa?

Kinh thánh không biện minh cho tình trạng mỏng giòn của chúng ta. Chẳng hạn, ngôn sứ Giêrêmia cảnh cáo Giuđa rằng dân Babilon sẽ phá hủy đất nước vì Giuđa đã phá bỏ Giao ước với Thiên Chúa. Dân Babilon đã đến, đánh chiếm đất nước và bắt dân làm nô lệ. Yếu đuối và lầm lỗi con người, cùng với những hậu quả cay đắng - chẳng có gì mới mẻ trong đó cả.

Tuy nhiên, có một đề tài bao quát khác xuyên suốt toàn bộ Kinh thánh. Sau khi chỉ rõ sự bất trung của dân, ngôn sứ Giêrêmia cho biết điều Thiên Chúa sẽ thực hiện. Nó được khởi đi bằng liên từ “nhưng” và công bố rất rõ ràng rằng cho dù tội của họ có thế nào, Thiên Chúa vẫn ký với dân một giao ước mới. Thiên Chúa không ruồng bỏ chúng ta, nhưng Người vẫn trở lại với những kế hoạch yêu thương mới.

Chúng ta đang ở trong mùa Chay và, nếu chúng ta luôn cầu nguyện và phản tỉnh, chúng ta vẫn có thể đón nhận những đường lối mà chúng ta đã kết ước với Thiên Chúa. Trong đoạn văn cổ điển hôm nay, ngôn sứ Giêrêmia cho chúng ta niềm hy vọng – chẳng có gì chúng ta thực hiện hay không thực hiện có thể làm cho Thiên Chúa không hiện hữu trong chúng ta. “…Ta sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa”. Kinh thánh cho thấy Thiên Chúa dường như rất hay tha thứ và cứ mỗi lần như vậy chúng ta lại được nhắc nhớ rằng Thiên Chúa sẽ “không nhớ” đến lỗi lầm của chúng ta nữa. Chúng ta sẽ tín thác vào Lời Chúa và đón nhận sự tha thứ từ Thiên Chúa, Người không chấp tội chúng ta?

Các bài đọc trong thư Hippri nhắc chúng ta nhớ rằng Đức Giêsu không phải là một tạo vật thuộc thế giới khác được cải trang như một con người. Người không sống bên ngoài thế giới xác phàm, tách khỏi đau khổ và những giới hạn. Nhưng, Người mang lấy tình trạng con người, cùng chia sẻ phận người với chúng ta – kể cả cái chết. Thực vậy, Người đã “kêu lớn tiếng” khi cầu nguyện với Chúa Cha; như cách chúng ta làm khi cuộc sống đè bẹp chúng ta. Tiếng kêu của Người kêu lên cùng với nước mắt. Dù cho Thiên Chúa nghe lời khẩn nguyện của Người, thì vẫn không giải thoát Người khỏi đau khổ. Người đã cầu nguyện, không xin tránh khỏi đau khổ, nhưng Tình yêu Thiên Chúa sẽ ngập tràn trong Người. Và Thiên Chúa đã ra tay.

Dù chúng ta muốn nó điều ấy khác đi thế nào, thì khi chúng ta chấp nhận thập giá và lối sống của Đức Giêsu, chúng ta cũng không thể tránh khỏi đau khổ. Nhưng thư Hippri cũng khuyên khích chúng ta khi đón nhận thập giá, chúng ta sẽ được biến đổi tâm trí nên giống tâm trí Đức Giêsu. Thánh Phaolô cũng nói chúng ta được đào luyện trong Đức Kitô và mặc lấy tinh thần của Đức Kitô; đó là, chúng ta sẽ nghĩ và hành động hướng đến tha nhân như Đức Kitô (Pl 2,1-11).

Xuyên suốt Tin mừng Gioan, Đức Giêsu đã nói rằng “giờ” của Người chưa đến. Người không lúc nào cũng nhìn lên mặt trời để đếm thời gian. “Giờ” của Người ám chỉ đến giờ vinh quang, khi Người về cùng Cha bằng hành trình trải qua đau khổ, cái chết và phục sinh. Hôm nay, Người công bố: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”. Điều gì đã khiến Người công bố vào lúc này? “Những người Hy lạp”, từ thế giới văn hóa cổ Hy lạp (đại diện cho thế giới bên ngoài Do thái giáo), đã tìm đến Người. Ở câu trước những người Pharisêu đã thành thật nói ra: “Thấy chưa, các ông chẳng làm nên trò trống gì cả. Kìa Thiên hạ theo ông ấy hết!”)

Nhưng việc đến được với thế giới Dân ngoại sẽ chỉ diễn ra sau cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu. “hạt lúa mì” trước hết phải chết đi mới sinh được “nhiều hạt” khác. Cả nhân loại sẽ được cứu nhờ cái chết và sự tuyên dương của Đức Giêsu. Thiên hạ đến tìm kiếm ánh sáng trong bóng tối và chúng ta, được thắp sáng bằng niềm tin của mình, miễn là ánh sáng qua sự hy sinh của chính chúng ta cho hạnh phúc của tha nhân. Điều Đức Giêsu nói với chính Người, cũng là nói với các môn đệ: “ Hạt lúa mì phải chết đi mới sinh nhiều hạt khác”. Vì vậy, những người Dân ngoại mà hỏi xin “gặp Đức Giêsu”, sẽ khám phá ra ánh sáng của Người trên chúng ta và họ sẽ “thấy” Chúa.

Đức Giêsu nói rằng ai muốn phục vụ Người phải đi theo Người. Làm thế nào chúng ta đến được với Chúa vinh quang? Không phải qua các hiện tượng hay phép lạ, nhưng trước hết bằng việc đón nhận Tin mừng và rồi, đáp trả điều chúng ta nghe, qua một đời sống phục vụ và chết đi cho chính mình. Đức Giêsu dạy rằng chúng ta đánh mất cuộc sống mình khi chúng ta bám vào nó và dành được cuộc sống khi chúng ta từ bỏ nó. Người đang mời gọi các môn đệ hãy đi theo con đường phục vụ của Người trong vinh quang.

“Vinh quang Thiên Chúa” ở đây có nghĩa là khám phá ra sự hiện diện của Thiên Chúa, đầu tiên, bị ẩn dấu. Chúng ta nhìn vào những nơi lầm lỗi bằng những mong ước lầm lỗi. Tin mừng mời gọi chúng ta hãy nhìn Thiên Chúa chiếu sáng nơi khổ hình thập giá của Đức Giêsu; Thiên Chúa bày tỏ cho chúng ta bằng yêu thương phục vụ cho nhân loại. Chúng ta không muốn biến đau khổ đau khổ của Đức Giêsu ra như một điều lãng mạn. Người đã chết trong bạo lực và tàn nhẫn. Những thế lực của bóng tối đã tiêu diệt Người. Tuy nhiên, trên thập giá, thế giới bóng tối đã bị tình yêu của Đức Kitô đánh tan.

Trái với tất cả trực giác thông thường và những kết luận hợp lý của chúng ta, Đức Kitô mời gọi chúng ta hãy theo Người cả khi những đường lối của Người xem ra ngờ nghệch và thất bại. Để thuộc về Đức Kitô có nghĩa là sẵn lòng tham dự vào “giờ” của Người để biết rằng sự phục sinh, ra như không thể xảy ra được, lại là vinh quang chung quyết mà chúng ta sẽ chia sẻ. Chúng ta, được thanh tẩy trong sự sống và cái chết của Đức Kitô, có cái nhìn phục sinh. Chúng ta không ngại ngần bước theo Đức Giêsu chết đi cho mỗi ngày vì chúng ta “thấy” kết cục của câu truyện rồi - sự phục sinh của Người và của chúng ta.

Lm. Jude Siciliano, OP

Chuyển ngữ:: Anh em HV Đaminh Gò-Vấp

 

5th SUNDAY OF LENT(B)- March 25, 2012
Jeremiah 31: 31-34 Psalm 51 Hebrews 5: 7-9
John 12: 20-33
By Jude Siciliano, OP

A regular Scripture reader will notice a repeating theme throughout both Testaments: that of human sin and failure. Actually, we don’t need to read the Bible for that insight into our human condition. We meet sin and failures in ourselves and the world around us regularly. At times the picture can be quite grim and discouraging.

The other day I stopped reading the daily newspaper mid-story. It was about another suicide bombing with civilian victims in Afghanistan. (Today news came of a soldier there who went on a killing spree and killed 16 civilians, including children!) I had just finished reading about a shoot-out in Juarez, Mexico. The gangs used weapons smuggled across the border from America. The business pages were no refuge, they spoke of another Ponzi scheme resulting in losses of victims’ life savings. What to do, I wondered, just read the daily comics – and nothing more? Not watch any television? Not turn on the Internet?

The Scriptures don’t whitewash our broken condition. For example, Jeremiah had warned Judah that the Babylonians would destroy the nation because Judah had forsaken her covenant with God. The Babylonians did come, defeated the nation and took the people off to slavery. Human sin and failure, with resulting bitter consequences – nothing new in that.

However, there is another motif throughout both Testaments. After naming the people’s infidelity the prophet Jeremiah introduces what God will do. It begins with "But" and pronounces quite clearly that despite their sin, God is going to make a new covenant with the people. God doesn’t give up on us, but keeps coming back with new proposals of love.

We are well into Lent and, if we have been praying and reflecting, we have probably been made aware of ways we have fallen short in our covenant with God. In today’s classic passage Jeremiah offers us hope – nothing we have or haven’t done can turn God away. "… I will forgive their evildoing and remember their sin no more." God seems to do a lot of forgetting in the Bible and once again we are reminded God will "remember" our sin no more. Shall we trust God’s Word and receive forgiveness from our God who takes on a willing amnesia for us?

Our readings from Hebrews reminds us that Jesus was not an other-worldly creature disguised as a human. He did not live above the world of the body, detached from suffering and limitation. Instead, he took on our human state sharing with us our common lot – even unto death. Indeed, he prayed with "loud cries" to God; the way we do when life presses us down. His cries were accompanied by tears. His prayers, though heard by God, did not spare him from suffering. He may have prayed, not to escape suffering, but that God’s love would support him in it. And God did.

As much as we would like it to be otherwise, when we accept the cross and Jesus’ way of living, we cannot escape pain. But Hebrews also suggests to us that by accepting the cross we will be transformed into the mind and heart of Jesus. Paul would say we are educated in Christ and have put on the mind of Christ; that is, we will think and act towards one another like Christ (Philippians 2:1-11).

Throughout John’s Gospel Jesus had been saying that his "hour" had not yet come. He wasn’t continually looking up at the sun to reckon the time. His "hour" refers to his hour of glory, when he would return to his Father by his passage through suffering, death and resurrection. Today he announces, "The hour has come for the Son of Man to be glorified." What caused him to make that announcement at this time? The "Greeks," from the Hellenistic world (representing the world beyond Judaism), had come seeking him. In the preceding verse the Pharisees spelled it out, "See, this is getting us nowhere. Look how the whole world has gone after him!")

But the outreach to the Gentile world would only happen after Jesus’ death and resurrection. The "grain of wheat" must first die in order to produce "much fruit." All humanity will be saved by Jesus’ death and glorification. The world comes looking for light in its darkness and we, illumined by our faith, provide that light by the sacrifice of ourselves for the well-being of others. What Jesus said of himself, is also said of his followers, "The grain of wheat must die in order to produce much fruit." Then the Gentiles, who asked, "to see Jesus," will discover his light in us and they will "see" the Lord.

Jesus says that those who wish to serve him must follow his path. How do we gain access to our glorified Lord? Not primarily through the occasional phenomena of visions and miracles, but first by accepting the gospel and then, in response to what we have heard, by a life of service and dying to self. Jesus teaches that we lose our life when we cling to it and win our life when we are ready to give it up. He is inviting his disciples to follow his path of service into glory.

The "glory of God" here means discovering the presence of God who, at first, is hidden. We look in the wrong places with the wrong expectations. The gospel invites us to see God shining forth in Jesus’ crucifixion; God shown to us in loving service for all humankind. We don’t want to romanticize Christ’s suffering. He died in a cruel and agonizing way. The forces of darkness crushed life out of him. Yet on the cross the world’s darkness was defeated because of Christ’s love.

Contrary to all our usual instincts and logical conclusions, Christ invites us to follow him even when his ways seems foolish and defeated. To belong to Christ means a willingness to participate in his "hour" so as to come to know that resurrection, as improbable as it may seem at times, is the final glory in which we will share. We, baptized into Christ’s life and death, have resurrection-lens. We don’t shrink from following Jesus into the daily dyings because we already "see" the end of the story – his and our resurrection.

Fr. Jude Siciliano, OP


Lm Jude -dongcong.net

 

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)